Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là một trong những chế định pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự (TTDS). Chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Pháp luật tố tụng dân sự (PLTTDS) ghi nhận cách thức giải quyết tạm thời của tòa án khi vụ việc dân sự có tính khẩn cấp, theo đó tòa án sẽ nhanh chóng quyết định áp dụng ngay giải pháp trước mắt theo quy định pháp luật trên cơ sở yêu cầu khẩn cấp của các chủ thể có quyền, lợi ích theo luật định hoặc do chính tòa án xét thấy cần thiết để tạm thời giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, để bảo vệ ngay bằng chứng, tài sản, bảo đảm cho việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự.

Xét về góc độ chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước ta, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng nêu rõ phương hướng “hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”, “tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự”, “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”… Để thực hiện mục tiêu, phương hướng nêu trên thì việc xây dựng các chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng là nhiệm vụ cấp bách để hoàn thiện “thủ tục tố tụng dân sự” nói riêng và góp phần đảm bảo quyền con người, quyền tài sản của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 nói chung.

Trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Chương VIII với 28 Điều quy định 12 Biện pháp khẩn cấp tạm thời và được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao ban hành ngày 27/04/2005. So với Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì Bộ luật TTDS năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2016) đã bổ sung thêm nhiều Biện pháp khẩn cấp tạm thời mới (tổng là 16 Biện pháp khẩn cấp tạm thời), được quy định tại Chương VIII, bao gồm 32 điều luật quy định về nhiều nội dung khác nhau có liên quan về việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong khi giải quyết các vụ án dân sự như quyền yêu cầu, thẩm quyền quyết định áp dụng, trách nhiệm do áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, thủ tục, khiếu nại, kiến nghị…Hiện nay, các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 chưa có bất kỳ văn bản nào hướng dẫn áp dụng. Xét dưới khía cạnh xây dựng pháp luật về Biện pháp khẩn cấp tạm thời và áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời từ BLTTDS năm 2004 đến BLTTDS năm 2015 thì các quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời và áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn rất ít so với các chế định khác. Đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến hậu quả là thực tiễn trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn nhiều khó khăn và chưa có cơ chế đảm bảo thực thi. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 111 BLTTDS năm 2015, theo quy định trên thì các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ thời điểm thụ lý vụ án hoặc trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của BLTTDS năm 2015 đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho tòa án đó. Như vậy, việc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 chỉ được thực hiện trong giai đoạn tố tụng hoặc thực hiện kèm theo vụ kiện chính. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng của Việt Nam cũng xuất hiện không ít những trường hợp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra đương sự chỉ yêu cầu Toà án áp dụng ngay lập tức các biện pháp cần thiết mà không khởi kiện về vụ kiện chính bởi giữa họ không có tranh chấp nào khác hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng sau khi Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp các bên đã tự giải quyết được. Xét một cách tổng quát thì rõ ràng, các quan hệ pháp luật dân sự do chính các đương sự tạo ra trên ý chí của họ và nếu có tranh chấp xảy ra thì theo các nguyên tắc chung ghi nhận trong BLTTDS thì ưu tiên việc các đương sự thỏa thuận giải quyết trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của các bên và đúng pháp luật. BLTTDS năm 2015 không ghi nhận các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời và áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn trước khi khởi kiện để đảm bảo quyền lợi của các bên trong cơ chế giải quyết tranh chấp mà đương sự tự lựu chọn. Có thể nói đây là một vấn đề “còn là khoảng trống” của Luật cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, ghi nhận bổ sung trong luật.

Với tinh thần đó, từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài “Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn quan tâm. Cho đến nay đã có nhiều công trình, bài viết khoa học về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự đã được công bố trên sách, báo pháp lý, tạp chí như: Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, của Nguyễn Văn Pha, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997. Có thể khẳng định trước khi có BLTTDS năm 2004, đây là công trình nghiên cứu hiếm hoi, có ý định nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong Luận văn của mình, tác giả đã chú trọng nghiên cứu về một số vấn đề lý luận của Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong PLTTDS, tham khảo một số quy định của PLTTDS một số nước về Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nội dung nghiên cứu dựa trên các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết cá Vụ án dân sự năm 1989 – một văn bản đã được thay thể bởi BLTTDS năm 2004 và đến nay BLTTDS năm 2015 đã được ban hành để thay thế BLTTDS năm 2004. Mặc dù vậy Luận văn vẫn có giá trị tham khảo về một số vấn đề lý luận.

Luận án Tiến sĩ Luật học: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự Việt Nam”, của Trần Phương Thảo, Đại học Luật Hà Nội, năm 2012.

Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về Biện pháp khẩn cấp tạm thời, tác giả đã trình bày được những vấn đề lý luận cơ bản về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự. Tác giả đã rất công phu nghiên cứu để luận giải hoàn toàn thuyết phục về khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS trên nhiều phương diện như bảo vệ quyền con người, dưới góc độ ngôn ngữ học, pháp luật TTDS và hoạt động TTDS, tác giả đã làm rõ được tính hệ thống các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định; cơ chế đáp ứng tính khẩn cấp, tạm thời của biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng; cơ chế đảm bảo sự công bằng, bình đẳng và bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đặc biệt từ phân tích lý luận và thực tiễn tác giả đã có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sửa đổi bổ sung một số quy định của BLTTDS năm 2004 về Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể và điều kiện áp dụng, sửa đổi bổ sung một số quy định của BLTTDS năm 2004 về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, thời điểm yêu cầu và áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, trách nhiệm bồi thường của người đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng… Những kiến nghị đưa ra trong luận án rất có giá trị khoa học, lập luận thuyết phục, sắc sảo. Có thể nói đây là công trình nghiên cứu tổng quát và đầy đủ nhất về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện nay.

Các sách chuyên ngành đã xuất bản như Giáo trình Luật TTDS của Khoa luật Trường Đại học tổng hợp Hà Nội xuất bản năm 1995, Giáo trình luật tố tụng dân sự của Học viện tư pháp do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2007, Giáo trình luật TTDS của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản tư pháp xuất bản năm 2010 đều có phần về Biện pháp khẩn cấp tạm thời và chỉ được đề cập ở mức độ đại cương, chỉ nêu ra các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS, các quy định của BLTTDS năm 2004 về Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không đi nghiên cứu chuyên sâu.

Các sách tham khảo khác có đề cập về Biện pháp khẩn cấp tạm thời như: Cuốn sách tham khảo Luật TTDS Việt Nam, nghiên cứu và so sánh của Tác giả Tống Quang Cường do Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007; Cuốn “Những vấn đề cơ bản của BLTTDS” của Vụ công tác lập pháp do nhà xuất bản Tư pháp năm 2004 viết về những nội dung cơ bản của BLTTDS năm 2004, trong đó có đề cập đến các quy định của BLTTDS năm 2004 về Biện pháp khẩn cấp tạm thời; Cuốn “Bình luận khoa học một số vấn đề của PLTTDS và thực tiễn áp dụng” của Tiến sỹ Lê Thu Hà do Nhà xuất bản Tư pháp bình luận về nhiều vấn đề trong BLTTDS Việt Nam năm 2004, trong đó có bình luận về Biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Một số ít bài viết được đăng trên một số tạp chí pháp luật chuyên ngành như Tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội; Tạp chí Tòa án nhân dân của Tòa án nhân dân tối cao; Tạp chí Nhà nước và pháp luật của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; Tạp chí Kiểm sát của VKSNDTC hoặc một số vài bài tham luận của một vài tác giả trong các cuộc hội thảo về PLTTDS Việt Nam có đề cập đến Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS…Có thể nêu ra những tác giả điển hình có một số bài viết như: tác giả Trần Anh Tuấn với các bài như: “Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS Việt Nam”, “Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, “Các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng”, “Luật so sánh và thực tiễn xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam”…; tác giả Chu Xuân Minh với một số bài viết, bài tham luận tại các cuộc hội thảo về PLTTDS như: “ Cần thống nhất tố tụng kinh doanh, thương mại với tố tụng dân sự”, “Tham luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện”…; Tác giả Nguyễn Thị Hòa Phương với bài viết “Áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án: Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện BLTTDS” đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3 năm 2010; bài viết của Phó giáo sư ,tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23 tháng 12 năm 2010, các bài viết của tác giả Trần Phương Thảo như: “Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời”, “Bảo vệ quyền và lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”…Các bài viết nêu trên chỉ dừng lại ở mức độ là một bài viết, một tham luận nên các tác giả cũng chỉ tiếp cận Biện pháp khẩn cấp tạm thời dưới một góc độ, một khía cạnh, một nội dung cụ thể nhất định. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Nguồn tài liệu nguyên bản bằng tiếng nước ngoài có đề cập đến Biện pháp khẩn cấp tạm thời (trong sách nước ngoài, dịch sang tiếng Anh, Biện pháp khẩn cấp tạm thời là Provisional measures) mà người nghiên cứu tham khảo được là cuốn sách “On Civil Procedure” của tác giả J.a.Jolowicz; Cuốn “Compliance with Decisions of the I Court of Justice”; cuốn “Fifity yeas of the international court of justice”…Nhìn chung, trong các tài liệu này, Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng chỉ được đề cập dưới góc độ là một nội dung rất nhỏ vói lượng thông tin hạn chế.

So với các vấn đề nghiên cứu khác số bài viết về vấn đề Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS là khá ít ỏi, hơn nữa các nghiên cứu, bài viết này chủ yếu tập trung vào hoàn thiện, áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tố tụng (kể từ thời điểm tòa án thụ lý) còn đối với việc nghiên cứu về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng theo pháp luật Việt Nam thì hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào. Tuy nhiên, một số tư tưởng đề xuất về việc mở rộng phạm vi áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập trong bài viết, bài nghiên cứu như:

  • Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam, Thạc sỹ Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí luật học, Số đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, tháng 4.2004;
  • Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Thạc sỹ Trần Anh Tuấn đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 12/2005;
  • Tham luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện của tác giả Chu Xuân Minh cuộc hội thảo về PLTTDS;

Công trình nghiên cứu về “Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật Việt Nam” là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu vấn đề một cách tổng thể và chi tiết cả về phương diện lý luận, luật thực định và khảo sát thực tiễn thực hiện Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng.Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật về Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như khảo sát thực tiễn áp dụng các biện pháp này trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự ở giai đoạn tiền tố tụng, tác giả mong muốn đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về Biện pháp khẩn cấp tạm thời.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các giai đoạn tiền tố tụng theo Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

Về lý luận: tập trung nghiên cứu khái niệm, bản chất, ý nghĩa của chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng; cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định này. Đồng thời, tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển các chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam; pháp luật một số nước trên thế giới về chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng.

Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng áp dụng các chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo BLTTDS năm 2004. Phân tích đánh giá những điểm mới về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015, phân tích khả năng áp dụng chế định này trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự của những chế định trên.

Từ cơ sở lý luận và những tồn tại, bất cập của các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2004 và từ việc đánh giá các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xác định phương hướng và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện các chế định này. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

4. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tổng thể các các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, BLTTDS năm 2015; Phân tích, đánh giá các điểm mới trong BLTTDS năm 2015, đồng thời nghiên cứu tình hình nhu cầu thực tiễn áp dụng các chế định này ở giai đoạn tiền tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự hiện nay. Chính vì vậy, Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự trong giai đoạn trước khi khởi kiện, thủ tục về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể áp dụng một cách độc lập trước khi khởi kiện mà không phụ thuộc vào các vụ kiện chính.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng. Việc nghiên cứu các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời không tách rời với các chế định khác của PLTTDS nói riêng cũng như các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật nói chung.

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là các phương pháp phân tích quy phạm, phân loại pháp lý, so sánh, tổng hợp, thống kê, phương pháp chuyên gia, logic…kết hợp sử dụng các Văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật một số quốc gia trên thế giới, các công trình nghiên cứu, tài liệu khoa học pháp lý.

6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời và việc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng. Trong luận văn này có những điểm mới đóng góp về khoa học ở những điểm sau:

  • Nghiên cứu một cách toàn diện về bản chất, vai trò của chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật tố tụng dân sự; Cơ sở lý luận và thực tiễn của các chế định này;
  • Thực trạng chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong theo Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các chế định này trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự;
  • Phân tích, đánh giá điểm mới về các chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Từ đó hướng đến xây dựng cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng.

Luận văn góp phần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời và việc áp dụng các chế định này trong giai đoạn tiền tố tụng, đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ việc dân sự và quá xây dựng, hoàn thiện Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về pháp luật tố tụng dân sự.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 03 chương với kết cấu như sau:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng.
  • Chương 2: Nội dung và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
  • Chương 3: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng, những vấn đề pháp lý cần giải quyết. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIAI ĐOẠN TIỀN TỐ TỤNG

1.1. Khái niệm, ý nghĩa và phân loại biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

1.1.1. Khái niệm về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

Trong quá trình nhận đơn, thụ lý, giải quyết vụ án dân sự, Tòa án có thể phải ra quyết định áp dụng một hoặc một vài biện pháp cần thiết nhằm đáp ứng một hoặc một số yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan trực tiếp đến vụ việc dân sự mà Tòa án sẽ thụ lý hoặc đang trong quá trình giải quyết. Vì nếu không áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể dẫn đến những khó khăn, thiệt hại cho đương sự hoặc khó khăn, trở ngại cho việc giải quyết đúng đắn vụ án và quá trình thi hành án. Chính vì vậy, PLTTDS quy định chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời để các đương sự và tòa án áp dụng trong trường hợp cần thiết [12].

Những Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 là những chế định quan trọng, nó tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị áp dụng. Chính vì vậy, BLTTDS năm 2015 đã dành một chương riêng để quy định về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Để hiểu và thực hiện tốt các quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì việc tìm hiểu xây dựng một khái niệm đầy đủ, hoàn chỉnh, thống nhất là cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề này lại không được quy định cụ thể trong một điều luật nào cả. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm như sau: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhẳm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án” [24, tr179].

Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2014 đưa ra khái niệm về Biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp do pháp luật quy định mà Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết các nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm cho việc thi hành án”. [25, tr175].

Trong cuốn Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử của Tưởng Duy Lượng, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2009 định nghĩa: “Biện pháp khần cấp tạm thời là biện pháp Tòa án quyết định áp dụng trước khi thụ lý hoặc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án” [27, tr 225].

So với các biện pháp khác được tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời có những đặc điểm khác biệt đó là tính khẩn cấp và tính tạm thời.

Tính khẩn cấp của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện ở chỗ Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này được thi hành ngay sau khi Tòa án đã quyết định áp dụng, nếu không quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng [13].

Tính tạm thời của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện ở chỗ việc quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không phải là quyết định cuối cùng khi giải quyết về mặt nội dung vụ việc dân sự [50]. Đây chỉ là biện pháp tạm thời được áp dụng trong quá trình giải quyết nội dung vụ việc dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của một bên đương sự, chưa phải là quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Sau khi Tòa án ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu lý do của việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này không còn nữa thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định này.

Về phạm vi áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì BLTTDS năm 2004 (sửa đổi năm 2011) và BLTTDS năm 2015 quy định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hoặc kể từ khi tòa án nhận đơn yêu cầu áp dụng cùng với đơn khởi kiện của đương sự [15] . Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Do tính chất ảnh hưởng của Biện pháp khẩn cấp tạm thời khi áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự nên PLTTDS quy định rất chặt chẽ về trình tự, thủ tục và điều kiện để tòa án xem xét, quyết định áp dụng. Các quy định này được thể hiện từ Điều 99 đến Điều 126 trong BLTTDS năm 2015.

Từ những quan điểm về khái niệm Biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng sự phân tích các đặc điểm, bản chất của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thể hiểu khái niệm Biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau:

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp do pháp luật quy định mà Tòa án quyết định áp dụng trước khi thụ lý hoặc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.

Khái niệm “tố tụng”, “tiền tố tụng” chưa được đưa ra định nghĩa chính thống trong hệ thống văn bản pháp luật, tuy nhiên lại được sử dụng nhiều trong việc xây dựng và nghiên cứu pháp luật, cũng như giảng dạy tại các trường đào tạo chuyên ngành luật, chúng ta thường gặp cụm từ này như: “Luật tố tụng dân sự”; “Luật tố tụng hình sự”, “Luật tố tụng hành chính”, “giai đoạn tố tụng”, “giai đoạn tiền tố tụng”…

Trong Hán Việt từ điển, học giả Đào Duy Anh có giải thích: “tố tụng” là việc thưa kiện (procès), “tố tụng pháp lý” là pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure)” [Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957, tr. 302]. Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn Nghệ TP HCM, 1999) giải thích chi tiết hơn: “Tố tụng” là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ “tố” là vạch tội; chữ “tụng” là “thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái” (tr. 1027-1028). Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu: “tố tụng” là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La Tinh (procudure), được hiểu là một đường lối phải tuân theo để đi đến chỗ thắng kiện. Trong thuật ngữ khoa học pháp lý còn có một thuật ngữ khác tương đương với thuật ngữ “tố tụng”, hay được sử dụng lẫn với thuật ngữ “tố tụng” đó là thuật ngữ “thủ tục”, có nguồn gốc từ tiếng Nhật Bản, được hiểu là một thể thức phải làm để đạt được kết quả nhất định [45, tr 3,4]. Thuật ngữ “tố tụng” cũng gần giống như thuật ngư “thủ tục” chỉ về việc kiện tụng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Thông thường, nói đến tố tụng là hay nói đến vai trò nổi bật của TAND, nói đến việc Tòa án xem xét, giải quyết và ra quyết định giải quyết các VVDS. Có lẽ cũng vì điểm này mà có ý kiến cho rằng “tố tụng chỉ xuất hiện trong các trình tự tại cơ quan tư pháp” [46,tr10]. Ngoài ra, nói đến “tố tụng” còn nói đến một quy trình các việc có tính bắt buộc do pháp luật quy định mà các chủ thể liên quan đến việc kiện tụng và giải quyết việc kiện tụng phải làm theo. Mục đích của việc các chủ thể phải thực hiện quy trình các việc đó là để đạt được một thứ quyền lợi nào đó. Dựa vào việc xác định bản chất của thứ quyền lợi được mang đến tòa để nhờ tòa án bảo vệ thì tố tụng lại được phân loại thành những loại tố tụng khác nhau như TTDS, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính.

Như vậy, nguồn gốc hai chữ “tố tụng” có thể hiểu là “việc thưa kiện ở tòa án”. Tố tụng trong lĩnh vực tố tụng dân sự chính là việc khởi kiện ở tòa án của đương sự nhằm giải quyết tranh chấp dân sự liên quan.

Trong lĩnh vực TTDS “tiền tố tụng được hiểu là giai đoạn trước khi khởi kiện vụ việc dân sự tại tòa án” trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Đây là giai đoạn trước khi khởi kiện, Tòa án không thể tự mình áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được, do đó muốn áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc đương sự phải có yêu cầu kèm theo chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng là biện pháp khẩn cấp tạm thời do pháp luật quy định mà Tòa án quyết định áp dụng trước khi khởi kiện vụ án dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức liên quan.

1.1.2. Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời với mục đích giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm việc thi hành án. Do đó, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp và nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn định được cuộc sống của bản thân cũng như những người sống phụ thuộc vào họ.

Mặt khác do những xung đột về lợi ích nên có những vụ việc đương sự đã tẩu tán tài sản, hủy hoại chứng cứ, gây khó khăn cho đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời tạo ra các trở ngại cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Vì thế, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này góp phần ngăn chặn các hành vi sai trái, bảo vệ bằng chứng, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

1.1.3. Phân loại các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Để xác định và xây dựng các quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng phù hợp với yêu cầu thực tiễn, dự liệu được các tình huống áp dụng trong tương lai đòi hỏi phải nắm vững bản chất và phân loại được các Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Việc phân loại chính xác sẽ là cơ sở để xây dựng các chế định phù hợp cho từng nhóm Biện pháp khẩn cấp tạm thời để áp dụng trong giai đoạn tiền tố tụng. Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà có cách phân loại các Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác nhau.

  • Nếu căn cứ vào bản chất, mục đích của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể phân loại như sau:

Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ. Thuộc nhóm này bao gồm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời như buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Nhìn chung ở các BPKCTT này đều có điểm giống nhau là người có nghĩa vụ phải tạm ứng trước một khoản tiền cho người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, để giải quyết nhu cầu cấp bách, trước mắt của họ.

Tính khẩn cấp của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc nhóm này thể hiện ở chỗ là người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đang cần được bảo vệ ngay quyền và lợi ích hợp pháp, nếu không được nhận một khoản tiền nhất định, tính mạng, sức khỏe của người đó có thể bị nguy hiểm, bị đe dọa. Vì tính nhân đạo của pháp luật và trách nhiệm của nhà nước với công dân. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc nhóm này thường được áp dụng dưới hai hình thức là theo đơn yêu cầu của đương sự và trong một số trường hợp cần thiết, Tòa án có quyền tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay cả khi đương sự không có yêu cầu.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp. Bao gồm các biện pháp như: Kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Đây là các biện pháp mà PLTTDS có quy định về điều kiện áp dụng “chỉ được áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp”, các tài sản khác của người có nghĩa vụ tuy có khả năng bảo đảm thi hành án nhưng nếu không có tranh chấp thì cũng không được áp dụng của biện pháp này. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời này có mục đích nhằm bảo toàn tài sản tranh chấp, ngăn chặn, phòng ngừa người có nghĩa vụ tẩu tán hoặc hủy hoại tài sản, đảm bảo thi hành án. Đối với các nhóm Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được áp dụng trên cơ sở yêu cầu của đương sự.

Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản, tài sản. Bao gồm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời như: Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được áp dụng đối với người có nghĩa vụ có tài khoản mở tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước hoặc trong trường hợp người có nghĩa vụ có tài sản như vì muốn trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền đã gửi tài sản cho người khác quản lý hộ, tránh sự phát hiện của người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Thực chất các biện pháp phong tỏa tài sản, tài khoản nêu trên đề là phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ, mục đích của việc áp dụng là nhằm cô lập không cho các tài sản của người có nghĩa vụ được đưa vào giao dịch, lưu thông, từ đó đảm toàn được tài sản, đảm bảo khả năng thi hành án. Các biện pháp này thường không liên quan đến các chủ thể có quyền lợi là người yếu thế không có khả năng tự bảo vệ mình nên thường được Tòa án áp dụng dựa trên yêu cầu của đương sự.

Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định. Thuộc nhóm này có thể kể đến các Biện pháp khẩn cấp tạm thời như: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, tạm đình chỉ thi hành quyết định sa thải người lao động, tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu… Thực chất các Biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên được áp dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án của Tòa án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết. Các biện pháp này thường liên quan đến các chủ thể có quyền lợi là người yếu thế không có khả năng tự bảo vệ mình nên Tòa án có thể áp dụng nếu xét thấy cần thiết hoặc áp dụng dựa trên yêu cầu của đương sự.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do pháp luật quy định. Ngoài các Biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên, pháp luật quy định thẩm phán có thể áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác chưa được liệt kê trong BLTTDS năm 2015 nhưng được quy định, hướng dẫn một số văn bản pháp luật khác để kịp thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Dựa trên tiêu chí về chủ thể yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời phân thành hai loại:

BPKCTT do Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng trong trường hợp không có yêu cầu của của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều 135 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định: “Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng một Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể khi có đầy đủ các điều kiện do BLTTDS năm 2015 quy định đối với Biện pháp khẩn cấp tạm thời đó. Khi tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể, ngoài việc phải thực hiện đúng quy định tại điều luật tương ứng của BLTTDS năm 2015, Tòa án cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật liên quan để có quyết định đúng.

BPKCTT do Tòa áp dụng bắt buộc phải có yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nhóm biện pháp này bao gồm từ các biện pháp từ khoản 6 đến khoản 16 điều 114 BLTTDS năm 2015 đặt ra nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự. Quyền này của đương sự được ghi nhận tại điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự BLTTDS 2015. Tôn trọng nguyên tắc này, các nhà lập pháp đề cao sự tự quyết định và định đoạt của đương sự bằng việc quy định cho họ có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời và Tòa án sẽ chỉ áp dụng khi có yêu cầu hợp pháp của đương sự. Khi có yêu cầu hợp pháp của đương sự, Tòa án có trách nhiệm áp dụng đúng biện pháp, đúng yêu cầu của đương sự. Đối với những biện pháp này, người yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi đơn đến tòa án có thẩm quyền và cung cấp cho Toà án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đó theo Điều 133 BLTTDS năm 2015. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

  • Nếu căn cứ vào đối tượng tác động của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì có thể phân loại các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thành:

Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tác động đến quyền nhân thân: Nhóm biện pháp này bao gồm các biện pháp: Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định; Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình. Đặc điểm của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tác động đến quyền nhân thân của người bị áp dụng và được áp dụng, do đó thủ tục áp dụng cũng đơn giản, hậu quả về trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất thấp, từ đó làm căn cứ xây dựng các chế định áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời này trong giai đoạn tiền tố tụng một cách nhanh gọn và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên.

Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tác động đến tài sản, quyền tài sản: Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động; Kê biên tài sản đang tranh chấp; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tác động đến tài sản, quyền tài sản khi áp dụng đề sẽ tác động trực tiếp vào lợi ích vật chất của người bị áp dụng, nếu áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời này không đúng sẽ gây thiệt hại cho người bị áp dụng và phải đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người yêu cầu áp dụng, Tòa án áp dụng. Đối với việc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc nhóm này trong giai đoạn tiền tố tụng cần phải có những chế định về thủ tục áp dụng, trách nhiệm người yêu cầu áp dụng, cơ quan áp dụng, cũng như cần có các chế định về biện pháp bảo đảm trách nhiệm bồi thường nếu sau khi áp dụng mà tòa án làm rõ sự thật khách quan của vụ việc không đúng như nội dung trình bày của người yêu cầu áp dụng .

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do pháp luật quy định. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác có thể được hướng dẫn trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác mà không nằm trong BLTTDS năm 2015. Khi xác định được Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể này cũng có thể phân loại chúng về thuộc trong các nhóm nêu trên để áp dụng tương tự thuộc trường hợp các nhóm Biện pháp khẩn cấp tạm thời trên.

Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại các Biện pháp khẩn cấp tạm thời dựa vào các tiêu chí khác như: Nếu căn cứ vào mối quan hệ của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời với vụ việc dân sự khi áp dụng giải quyết thì có thể phân làm hai loại đó là: Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng độc lập không phụ thuộc vào vụ việc chính; Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời phụ thuộc vào vụ việc chính…

1.2. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Cho đến nay, chưa có tài liệu nào xác định rõ Biện pháp khẩn cấp tạm thời chính thức xuất hiện vào thời điểm nào trong lịch sử phát triển của TTDS, chỉ biết rằng biện pháp này có bóng dáng từ rất lâu trong lịch sử TTDS. Theo kết quả nghiên cứu của nhà nghiên cứu Lê Tài Triển, việc Toà án nhanh chóng ra quyết định tạm thời, trước mắt để giải quyết tình thế cấp bách, sau đó mới ra bản án, quyết định chính thức giải quyết nội dung VVDS có nguồn gốc hình thành từ một thủ tục rất đặc biệt trước đây trong TTDS, đó là thủ tục cấp thẩm (một thủ tục có mục đích xét xử tạm thời và mau chóng về những sự khó khăn trong các vụ cấp bách hay khó khăn về việc thi hành). Vì thế, cũng không ai biết chính xác thủ tục cấp thẩm có từ khi nào và bắt đầu xuất hiện ở đâu. Có người cho rằng thủ tục này do đạo luật “thập nhị bảng” của thời La Mã truyền lại. Có người cho rằng, thủ tục này do một thủ tục, tục lệ riêng của xứ Normandie lưu truyền về sau. Có một giả thuyết khác sau này cũng được đặt ra trong lịch sử phát triển của TTDS, một lý do góp phần hình thành nên Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS hiện nay còn do việc hình thành các Toà thương mại bao gồm các Thẩm phán do thương nhân bầu lên chuyên tư vấn về thương mại tại các nền cộng hoà có kinh tế hàng hoá phát triển của Bắc Ý. Đến thế kỷ XIV, thiết chế kiểu Ý này hình thành tại các hội chợ ở miền Bắc và vùng Champgne của Pháp với nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng, tại chỗ nhiều tranh chấp nảy sinh trong hội chợ. Ngày nay, trong PLTTDS của hầu hết các quốc gia đều có những quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Có thể, trong PLTTDS về Biện pháp khẩn cấp tạm thời của mỗi quốc gia có những quy định cụ thể khác nhau nhưng tất cả đều ý thức được sự cần thiết và hiệu quả của nó trong việc giải quyết các VVDS nhằm bảo vệ hiệu quả, kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự tại Toà án.

Ở Việt Nam, qua nghiên cứu các tài liệu cho thấy, các quy định của PLTTDS Việt Nam về Biện pháp khẩn cấp tạm thời hiện nay có nguồn gốc hình thành từ thủ tục cấp thẩm, một thủ tục xét xử được cho rằng không những có ích lợi đặc biệt mà còn cần thiết cho sự bảo vệ quyền lợi của tư nhân. Sỡ dĩ, Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS Việt Nam được bắt nguồn từ thủ tục này bời vì cùng với sự đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam thì các quy định của luật TTDS của Pháp cũng được áp dụng tại Việt Nam, trong đó có thủ tục cấp thẩm. Trong thời kỳ Pháp thuộc đó, nhà nghiên cứu Lê Tài Triển đã nhận xét: Pháp đình cấp thẩm và thủ tục cấp thẩm ở Việt Nam được tổ chức và quy định theo khuôn mẫu điển chế của Pháp.

Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, do yêu cầu phải xây dựng một hệ thống các quy phạm PLTTDS mới cho phù hợp với một chế độ mới, một nhà nước mới, PLTTDS Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể. Thủ tục cấp thẩm không còn tồn tại mà thay vào đó là các quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời được Toà án áp dụng trong quá trình giải quyết Vụ án dân sự khi chưa có bản án, quyết định chính thức giải quyết nội dung nhưng cần phải có ngay quyết định tạm thời để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn chứng cứ, tài sản nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án và thi hành án dân sự. Biện pháp khẩn cấp tạm thời được Toà án quyết định áp dụng rất nhanh chóng nhưng thực chất nó chỉ là quyết định của Toà án về giải quyết tạm thời tình trạng khẩn cấp của Vụ án dân sự. Biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn là một thủ tục xét xử độc lập, do một Toà án độc lập xử như thủ tục cấp thẩm trước kia mà nó được PLTTDS quy định như là một trong những biện pháp tố tụng được Toà án sử dụng nhằm giải quyết vụ án, nó có thể tồn tại độc lập trong quá trình giải quyết vụ án nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong Vụ án dân sự. Vì vậy nó đã được quy định trong các văn bản dưới luật như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Chỉ cho đến khi BLTTDS 2004 được ban hành, các quy định về về Biện pháp khẩn cấp tạm thời mới thể hiện cụ thể và rõ ràng. Hiện nay, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm và hoàn thiện thêm về các chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời [47, tr 38].

Bên cạnh pháp luật TTDS, pháp luật tố tụng hành chính cũng có những quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời, thể hiện tại Luật tố tụng hành 2011 [3, tr 47,48,49,50,51,52, 53]. Song các quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Luật tố tụng hành chính thể hiện cụ thể, rõ ràng hơn trong BLTTDS năm 2015. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

1.3. Cơ sở của việc xây dựng quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

1.3.1 Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng được xây dựng trên cơ sở quyền con người

Xét ở góc độ quyền con người, khi xuất hiện bất công thì công lý là cách thể hiện cơ bản của quyền con người một cách tự nhiên. Trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc đã tuyên bố rằng “Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bởi một chế độ pháp quyền…”. Ở bất kì một quốc gia nào trên thế giới, quyền con người đều được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Mọi chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp hoặc cần ghi nhận các quyền hay tình trạng pháp lý đều được pháp luật trao cho quyền cầu viện hay yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc. Tòa án – cơ quan bảo vệ công lý muốn bảo vệ quyền, lợi ích đó cho các bên thì phải thực hiện theo một trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong trình tự tố tụng đó có nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau và tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng mà pháp luật cần phải trang bị cho đương sự các quyền năng cụ thể để đương sự có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Các quyền tố tụng của đương sự được pháp luật ghi nhận có nguồn gốc từ quyền dân sự, đồng thời các quyền tố tụng này lại chính là công cụ hữu hiệu để bảo đảm thực hiện quyền dân sự trong cuộc sống. Các quyền năng này có thể bao gồm nhóm quyền gắn với sự định đoạt của đương sự như quyền đưa ra yêu cầu tố tụng trước Tòa án (có thể là yêu cầu hay khởi kiện làm phát sinh vụ việc, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) và quyền thay đổi, bổ sung, rút các yêu cầu tố tụng đó; quyền tự hòa giải, tham gia hòa giải; quyền kháng cáo phúc thẩm, quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc, tái thẩm; khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của Tòa án. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Điều 111 BLTTDS năm 2015 nêu rõ “1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. 2 Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó”.

Theo quy định trên thì Tòa án sẽ áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, những yêu cầu cấp thiết, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ… khi đương sự nộp kèm theo đơn khởi kiện. Đối với giai đoạn tiền tố tụng thì BLTTDS năm 2015 chưa quy định, đây là “lỗ hổng” của BLTTDS năm 2015 cần phải hoàn thiện để bảo quyền con người, quyền lựa chọn phương thức được bảo vệ của họ ở giai đoạn tiền tố tụng.

1.3.2 Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng được xây dựng trên cơ sở đường lối của Đảng về hoạt động tư pháp Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện chủ trương lớn và nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền thì quyền tư pháp là một bộ phận của quyền lực nhà nước và giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Quyền tư pháp được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án thể hiện tập trung nhất quyền tư pháp, thể hiện nền công lý, sự công bằng và bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật, và là cơ quan Nhà nước duy nhất được quyền nhân danh Nhà nước đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ PLTTDS.

Theo đánh giá của Bộ chính trị “Nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Tiến độ xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các văn bản pháp luật chưa cao. Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế. Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu”[49].

Chính vì vậy, Bộ chính trị trong những năm gần đây liên tục đưa ra nhiều chiến lược quan trọng về việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp. Cụ thể, tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 nhấn mạnh “Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, bảo đảm Tòa án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Hoàn thiện cơ chế quản lý Tòa án nhân dân địa phương theo hướng bảo đảm tính độc lập giữa các cấp Tòa án trong hoạt động xét xử” [48]. Tiếp sau đó, Bộ chính trị vạch ra chiến lược cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 với mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” và nhiệm vụ đặt ra là “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn. Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó” [50]. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Như vậy, theo định hướng cải cách tư pháp trên thì việc xây dựng và hoàn thiện các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng phải được tiến hành theo định hướng tạo điều kiện cho các đương sự chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong giai đoạn tố tụng cũng như giai đoạn tiền tố tụng, các quyền thương lượng, hòa giải phải được khuyến khích và phải có cơ chế hỗ trợ việc ghi nhận quyền thỏa thuận của đương sự.

1.3.3 Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng được xây dựng dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Pháp luật TTDS và mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng dân sự;

Theo Điều 9 Bộ luật dân sự năm 2005, quy định về nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự như sau “1. Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: a) Công nhận quyền dân sự của mình; b) Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; c) Buộc xin lỗi, cải chính công khai; d) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; đ) Buộc bồi thường thiệt hại”.

Về mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng, TS. Trần Anh Tuấn đã dẫn quan điểm học thuật của các tố tụng gia Pháp như sau“Khi nghiên cứu về về mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng, giáo sư N.FRICERO cho rằng “Mối liên hệ giữa tố quyền và quyền lợi (quyền chủ quan) là không thể phủ nhận: quyền lợi (quyền chủ quan) là đối tượng của tố quyền, và học lý phân loại các tố quyền căn cứ vào đối tượng này: tố quyền động sản có đối tượng là một quyền lợi động sản, tố quyền bất động sản là một quyền lợi bất động sản, tố quyền đối nhân dùng cho một quyền lợi đối nhân, và quyền lợi đối vật được sinh ra từ một hành vi pháp lý”. Như vậy, quyền lợi gắn liền với quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động chính là đối tượng của quyền khởi kiện và là cơ sở của quyền này” [51]. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Theo góc nghiên cứu này, trước khi tham gia vào một quan hệ TTDS cụ thể thì các đương sự chính là chủ thể của quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng này thì các chủ thể có các quyền dân sự nhất định và chỉ khi một trong các quyền dân sự của chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó mới có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ. Điều này cũng được thể hiện ở các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS năm 2015 như:

  • Nguyên tắc Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 4 BLTTDS năm 2015);
  • Nguyên tắc Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS năm 2015);
  • Nguyên tắc Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 9 BLTTDS năm 2015);…

Các nguyên tắc này cho phép các cá nhân, tổ chức được quyền tự quyết định về việc giải quyết tránh chấp vụ việc dân sự của mình, họ có quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện, quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua các chế định BLTTDS năm 2015, có quyền yêu cầu tòa án áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của mình, bảo vệ tình trạng tài sản, bảo về bằng chứng hoặc bảo đảm việc thi hành án…

1.3.4 Thảo khảo mô hình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng trên thế giới

Việc xây dựng quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng cần tham khảo kinh nghiệm về mô hình áp dụng khẩn cấp tạm thời trên thế giới. Học giả Lê Nết có đề cập về mô hình của một số nước có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng trong giáo trình về quyền sở hữu trí tuệ: “Về biện pháp khẩn cấp tạm thời, kinh nghiệm của Anh và Đức rất đáng để học tập. Các nước này đã thành lập các tòa án chuyên trách, chuyên ra các quyết định khẩn cấp tạm thời”[23]. Theo kết quả công trình nghiên cứu của tác giả Lê Nết có đề cập thì bất cứ khi nào có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của chủ sở hữu trí tuệ và có bảo đảm rằng nếu yêu cầu này là sai thì chủ sở hữu sẽ bồi thường toàn bộ thiệt hại có phát sinh thì tòa án sẽ ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không cần cho người xâm phạm biết. Tác giả có đề cập đây là các lệnh như Exparte theo luật Đức hay lệnh Mareva theo luật của Anh) và được diễn ra trước khi nguyên đơn khởi kiện tại tòa án (tiền tố tụng). Thêm đó, luật các nước này cũng quy định rằng “sau khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, người yêu cầu áp dụng phải tiến hành khởi kiện người bị coi là xâm phạm ngay để giải quyết hậu quả, nếu không tòa án sẽ thu hồi quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Đây cũng là một hướng giải quyết để xây dựng, hoàn thiện cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng của PLTTDS Việt Nam.

1.3.5 Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng được xây dựng dựa trên cơ sở thực tiễn thi hành Pháp luật tố tụng dân sự và phù hợp với thông lệ quốc tế Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định phạm vi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng cho phép đương sự có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng không cho phép yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện vụ án. Việc hạn chế phạm vi áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời là không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản chung của BLTTDS năm 2015.

Trong thực tiễn tố tụng của Việt Nam cũng xuất hiện không ít những trường hợp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra đương sự chỉ yêu cầu Toà án áp dụng ngay lập tức các biện pháp cần thiết mà không khởi kiện về vụ kiện chính bởi giữa họ không có tranh chấp nào khác hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng sau khi Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp các bên đã tự giải quyết được. Chẳng hạn:

  • Yêu cầu tạm thời mở rạp hát để công diễn trong trường hợp có sự tranh chấp giữa chủ rạp và người tổ chức;
  • Chủ sở hữu căn nhà yêu cầu Toà án ra quyết định buộc bị đơn phải tháo gỡ một biển quảng cáo được gắn vào nhà mình một cách bất hợp pháp;
  • Yêu cầu cưỡng chế người thuê nhà ra khỏi ngôi nhà đã xuống cấp có nguy cơ bị sụp đổ, buộc người thuê nhà phải chấm dứt hành vi xây dựng trái phép khi không có sự đồng ý của chủ nhà;
  • Yêu cầu Toà án ra quyết định cấm phát hành các ấn phẩm xâm phạm đến đời tư của cá nhân;
  • Yêu cầu buộc chủ sở hữu bất động sản liền kề tạm thời cho mở đường thoát nước;
  • Yêu cầu buộc chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sụp đổ phải chặt cây, phá dỡ;
  • Yêu cầu buộc những người đình công chiếm giữ công sở phải giải tán;
  • Yêu cầu trục xuất những người chiếm hữu nhà một cách rõ ràng bất hợp pháp …

Đối với những loại việc nêu trên nếu giải quyết theo thủ tục xét xử sơ thẩm thông thường là không phù hợp vì bản chất của loại việc đòi hỏi phải giải quyết khẩn cấp. Mặt khác cũng không thể coi đây là loại việc yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo cho vụ kiện chính [ 31].

Do đó, để đáp ứng yêu cầu về tính linh hoạt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì BLTTDS năm 2015 cần quy định cho phép đương sự có quyền yêu cầu tòa áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện nhằm tạo điều kiện người dân có thể giải quyết vụ việc của mình nhanh gọn, kịp thời, không phải qua trình tự kiện tụng kéo dài. Quy định này cũng là phù hợp với thông lệ pháp luật các nước trên thế giới hiện nay.

Kết luận chương 1 Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

Trước khi có BLTTDS năm 2004, các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong các văn bản dưới luật như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Đến khi BLTTDS 2004 được ban hành, các quy định về về Biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện cụ thể và rõ ràng. Hiện nay, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung và hoàn thiện thêm về các chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Có nhiều cách để phân loại các Biện pháp khẩn cấp tạm thời này. Nếu dựa vào bản chất, mục đích của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời để phân nhóm thì có thể phân thành các nhóm: nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ, nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp, nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản, tài sản, nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định, nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do pháp luật quy định; Dựa trên tiêu chí về chủ thể yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phân thành các nhóm: nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời do Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng trong trường hợp không có yêu cầu của của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời do Tòa áp dụng bắt buộc phải có yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời; Nếu căn cứ vào đối tượng tác động của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì có thể phân loại các Biện pháp khẩn cấp tạm thời thành nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tác động đến quyền nhân thân và nhóm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tác động đến tài sản, quyền tài sản.

Việc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp và nhu cầu cấp bách của đương sự, đồng thời góp phần ngăn chặn các hành vi sai trái, bảo vệ bằng chứng, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác. Tuy nhiên, theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì việc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ được thực hiện trong giai đoạn tố tụng mà chưa quy định áp dụng ở giai đoạn tiền tố tụng.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng là Biện pháp khẩn cấp tạm thời do pháp luật quy định mà Tòa án quyết định áp dụng trước khi khởi kiện vụ án dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức liên quan. Chính vì ý nghĩa quan trọng của việc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như trên cơ sở quyền con người, trên cơ sở đường lối của Đảng về hoạt động tư pháp, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Pháp luật TTDS, mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng dân sự, đồng thời trên cơ sở thực tiễn thi hành PLTTDS và tham khảo mô hình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng trên thế giới, thì BLTTDS năm 2015 cần quy định mở rộng theo hướng cho phép đương sự có quyền yêu cầu tòa áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam

One thought on “Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật

  1. Pingback: Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464