Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các biện pháp khẩn cấp tạm thời dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Điều 114 BLTTDS năm 2015 quy định có mười sáu Biện pháp khẩn cấp tạm thời và một điều khoản dự phòng. Nếu so với BLTTDS năm 2004 thì các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 tăng lên bốn biện pháp đó là các biện pháp: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Đây là các biện pháp hoàn toàn mới có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên có thể áp dụng cho cả vụ việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, vụ việc về kinh doanh thương mại, vụ việc về lao động như biện pháp phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản v.v…, nhưng cũng có những biện pháp chỉ áp dụng trong các vụ việc về dân sự như giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; có biện pháp chỉ áp dụng cho vụ việc về lao động như tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động v.v…Đây là một điểm cần lưu ý khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp cho phù hợp với quan hệ pháp luật mà Tòa án đang giải quyết [27, tr227].
2.1. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 bao gồm:
2.1.1 Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
BLTTDS năm 2015 đã mở rộng đối tượng được bảo vệ trong Biện pháp khẩn cấp tạm thời này. Theo BLTTDS năm 2004 quy định “Biện pháp giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục” thì đối tượng được bảo vệ của Biện pháp khẩn cấp tạm thời này là “người chưa thành niên”.
Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm đối tượng được bảo vệ bao gồm: người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Hai đối tượng là “người chưa thành niên” và “người mất năng lực hành vi dân sự” đã được quy định rõ trong BLDS năm 2005 còn đối tượng “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” lần đầu tiên mới được ghi nhận là đối tượng cần được bảo vệ và quy định tại Điều 23 BLDS năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2017).
“Điều 23. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
Theo quy định này, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người gặp những khuyết tật nhất định về mặt thể chất hoặc có những vấn đề về mặt tinh thần tác động trực tiếp đến việc biểu đạt ý chí chính xác của họ ra bên ngoài. Những người này không rơi vào tình trạng “mất hoàn toàn khả năng nhận thức, làm chủ hành vi” nên không thể xếp họ vào nhóm chủ thể “mất năng lực hành vi dân sự” theo Điều 22 BLDS năm 2015. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thường tập trung vào nhóm người cao tuổi chủ yếu liên quan đến lý do về tinh thần và người khuyết tật do tình trạng thể chất.
Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là việc chuyển người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho người khác hoặc một tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong trường hợp cha mẹ đứa trẻ, thân nhân của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục để họ phát triển bình thường.
Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, biện pháp này được quy định tại khoản 2 Điều 41 nhưng chỉ là “giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trông nom”. Khoản 1 Điều 102 BLTTDS năm 2004 đã bổ sung và BLTTDS năm 2015 tiếp tục ghi nhận: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không chỉ được giao để “trông nom” mà còn phải được “nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục”. Biện pháp được áp dụng nhằm bảo vệ khẩn cấp một đối tượng đặc biệt mà cả xã hội quan tâm bảo vệ, đó là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong tình thế khẩn cấp,những người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người giám hộ, tòa án cần phải giao ngay những người này cho một chủ thể có đủ điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục nhằm bảo đảm cho họ có cuộc sống và phát triển bình thường cho đến khi tòa án có quyết định chính thức giải quyết nội dung vụ án. Theo quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được Tòa án quyết định áp dụng trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình có liên quan đến người chưa thành niên chưa có người giám hộ phù hợp với quy định của các Điều 68, 69,70,71,72 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và Điều 61 BLDS. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này có thể xuất phát từ bên khởi kiện có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng và cũng có thể trong quá trình giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà Tòa án thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp để bảo vệ, chăm sóc. Trong trường hợp này thì Tòa án ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không cần có đơn yêu cầu của đương sự.
Điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại Điều 115 BLTTDS năm 2015, theo đó biện pháp này sẽ được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám hộ. Đồng thời đối với việc giao người chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người đó.
Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP của HĐTPTANDTC hướng dẫn BLTTDS năm 2004 quy định: người chưa thành niên chưa có người giám hộ được hiểu là trường hợp người chưa thành niên không có người giám hộ đương nhiên nhưng những người thân thích của người chưa thành niên chưa cử được ai trong số họ hoặc một người khác làm giám hộ và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cùng các tổ chức xã hội tại cơ sở cũng chưa cử được ai trong số họ hoặc tổ chức từ thiện đảm nhận việc giám hộ. Trường hợp có cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện giám hộ do pháp luật quy định tự nguyện đảm nhận việc giám hộ thì tòa án ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Trong trường hợp không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào tự nguyện đảm nhận việc giám hộ thì tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời giao người chưa thành niên cho một trong số những người thân thích của người chưa thành niên có đủ điều kiện giám hộ do pháp luật quy định trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Nếu không có người thân thích hoặc không có ai trong số người thân thích có đủ điều kiện giám hộ thì tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời giao người chưa thành niên cho một người khác có đủ điều kiện giám hộ do pháp luật quy định hoặc cho một tổ chức từ thiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Tòa án nhân dân tối cao (2005), Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS ngày 27/4/2005, Hà Nội. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
BLTTDS năm 2015 chưa có văn bản hướng dẫn, tuy nhiên căn cứ theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP nêu trên thấy rằng so với quy định tại Điều 115 BLTTDS năm 2015, hướng dẫn này tạo nhiều thuận lợi hơn cho tòa án khi áp dụng, tuy nhiên nếu hiểu “người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người giám hộ” chỉ là trường hợp đối tượng trên không có người giám hộ đương nhiên thì chưa thực sự đầy đủ. Trong thực tiễn tố tụng có trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi trong vụ án dân sự đã có người giám hộ nhưng người giám hộ đó lại đang chấp hành hình phạt tù, đang trong tình trạng bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, hoặc một bên cha, mẹ đang chấp hành hình phạt tù còn bên kia rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như ốm nặng, nghèo túng không thể trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên. Với những trường hợp này tòa án cũng cần phải quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
2.1.2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
BPKCTT buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng là việc tòa án quyết định buộc người bị yêu cầu cấp dưỡng phải tạm cấp trước một khoản tiền nhất định để đảm bảo cho người được cấp dưỡng giải quyết được những khó khăn trước mắt của họ, để họ không bị ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống. BLTTDS năm 2015 quy định tại Điều 116 như sau:“Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của người được cấp dưỡng”.
Trước đây, Biện pháp khẩn cấp tạm thời này đã từng được quy định tại khoản 1 Điều 41 PLTTGQCVADS trước đây với tên gọi “Buộc một bên phải thực hiện việc cấp dưỡng”. BLTTDS năm 2004 sửa cho phù hợp hơn, chỉ là “buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng”. BLTTDS năm 2015 vẫn giữ nguyên điều khoản trên và không có thay đổi gì so với BLTDS năm 2004. Điều kiện áp dụng biện pháp này được hướng dẫn tại mục 3.2. Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP của HĐTPTANDTC hướng dẫn BLTTDS năm 2004, theo đó biện hướng dẫn điều khoản trong BLTTDS pháp này được áp dụng nếu “việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng và tòa án xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người được cấp dưỡng”. Biện pháp này thường được tòa án áp dụng trong các vụ án về hôn nhân và gia đình như vụ án ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn… trên cơ sở có yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu hoặc do chính tòa án xét thấy cần thiết. Những “căn cứ” mà tòa án dựa vào để quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc thực hiện trước nghĩa vụ cấp dưỡng phải là những căn cứ cho thấy người bị yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này là người có nghĩa vụ cấp dưỡng, họ có khả năng cấp dưỡng, người có yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là người được cấp dưỡng, đang trong hoàn cảnh rất khó khăn…Điều kiện “nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người được cấp dưỡng” đã thể hiện rõ tính khẩn cấp của vụ việc cần được tòa án giải quyết bởi yêu cầu cần được cấp dưỡng trước (dù chỉ là một phần) là yêu cầu rất cấp bách, cần được đáp ứng ngay, nếu phải chờ đến khi tòa án có phán quyết chính thức giải quyết nội dung vụ án mới buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải cấp dưỡng thì sức khỏe, đời sống của người được cấp dưỡng đã bị ảnh hưởng, khó có thể khắc phục được. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải tạm thời cấp dưỡng trước một phần cho đến khi có quyết định chính thức của tòa án. Khảo sát thực tiễn áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cho thấy mặc dù trong nhiều trường hợp, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu cấp thiết của một bên đương sự nhưng số vụ án có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này cũng không nhiều. [34, tr 76].
2.1.3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm
Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm là việc người gây thiệt hại phải ứng trước một khoản tiền nhất định để bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Điều 117 BLTTDS năm 2015 quy định cụ thể như sau: “Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm”. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
BPKCTT này chỉ được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm và xét thấy yêu cầu đó là cần thiết và có căn cứ. Nếu tòa án xét thấy yêu cầu của đương sự là không có căn cứ hoặc không cần thiết thì không áp dụng biện pháp khẩn cấp này. Quy định “Có căn cứ” thường được hiểu là có căn cứ để yêu cầu bồi thường như người bị yêu cầu buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe đã gây ra thiệt hại, họ có lỗi trong việc gây ra thiệt hại đó, họ có khả năng bồi thường trước một phần thiệt hại mà họ đã gây ra. Trong khi đó, người cần được bồi thường trước một phần đang lâm vào hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, họ không thể tự mình khắc phục được thiệt hại vì bị ốm đau, không có việc làm…, vì thế họ cần được tòa án bảo vệ ngay bằng cách trước mắt buộc bên đương sự đối lập phải bồi thường trước, tạm ứng trước một phần. “Cần thiết” được hiểu là sự cần thiết phải áp dụng ngay Biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc bồi thường trước một phần nghĩa vụ bồi thường, nếu không tính mạng, sức khỏe của người đã bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe sẽ bị xâm phạm sẽ trầm trọng hơn, bị thiệt hại nặng nề hơn. Đối với trường hợp đương sự, người thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự chưa có điều kiện thực hiện quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nên họ chưa yêu cầu nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cần phải áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cũng có quyền ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời “Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng” khi có đủ điều kiện do BLTTDS năm 2015 đã được phân tích ở trên.
BPKCTT buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm thường được áp dụng trong vụ án về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có liên quan đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của một bên đương sự và biện pháp này sẽ được áp dụng tạm thời cho đến khi tòa án có bản án, quyết định chính thức giải quyết vụ việc.
2.1.4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động
Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động là việc tòa án buộc người sử dụng lao động phải tạm ứng trước một khoản tiền nhất định để trả lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Giống như hai Biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên, Biện pháp khẩn cấp tạm thời này cũng là việc tòa án buộc người bị yêu cầu phải tạm ứng trước một số tiền nhất định. Trước đây, Biện pháp khẩn cấp tạm thời này đã được quy định tại khoản 3 Điều 41 PLTTGQVADS với tên „trả tiền lương, tiền công lao động”, BLTTDS năm 2004 sửa đổi cho cụ thể và phù hợp hơn với tính chất tạm thời và được quy định tại khoản 4 Điều 102, theo đó người sử dụng lao động buộc phải tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động cho đến khi có bản án, quyết định chính thức giải quyết nội dung vụ việc. Hiện nay, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm các khoản “tiền tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp” vào Biện pháp khẩn cấp tạm thời này,vì tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, tiền bồi thường, tiền trợ cấp tai nạn lao động, tiền trợ cấp bệnh nghề nghiệp đều là những khoản tiền cần thiết để bảo đảm cuộc sống bình thường và những nhu cầu thiết yếu, quyền lợi cơ bản của người lao động, nên việc buộc người sử dụng lao động phải tạm ứng trước được xem là biện pháp khẩn cấp. Tuy nhiên, người sử dụng lao động chỉ bị buộc tạm ứng cho đến khi có phán quyết chính thức giải quyết vụ việc của tòa án. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 118 BLTTDS năm 2015, quy định: “Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động được áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật”. Trước đây, Điều 106 BLTTDS năm 2004 quy định việc áp dụng biện pháp buộc tạm ứng trước tiền lương, tiền công…được tòa án ban hành trong vụ án về lao động có liên quan đến yêu cầu trả tiền lương tiền công, tiền bồi thường, tiền trợ cấp tai nạn lao động, tiền trợ cấp bệnh nghề nghiệp và tòa án xét thấy yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này là có căn cứ và cần thiết. Căn cứ và cần thiết trong quy định này được hiểu là người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, tiền trợ cấp tai nạn lao động, tiền trợ cấp bệnh nghề nghiệp, còn người lao động đang lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế do ốm đau, nuôi con nhỏ, không có thu nhập nào. Nếu người lao động không được tạm ứng trước một khoản tiền thì họ sẽ không duy trì được cuộc sống tối thiểu của họ và những người họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Còn theo quy định Điều 118 BLTTDS năm 2015 thì việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này là “để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật”. Như vậy, theo quy định điều luật mới thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời này vẫn có thể áp dụng trong trường hợp không cần trong tình trạng “cần thiết” như điều luật trong BLTTDS năm 2004 quy định, mà chỉ cần pháp luật liên quan có quy định quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe thì tòa án xem xét các quy định pháp luật đó để áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này. Pháp luật có liên quan ở đây cụ thể là Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Bộ luật Lao động, Bộ luật dân sự….
2.1.5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
BPKCTT tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động là việc tòa án buộc người sử dụng lao động tạm ngừng việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải người lao động. Trước đây, BLTTDS năm 2004 quy định Biện pháp khẩn cấp tạm thời là “Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động” và việc áp dụng được hướng dẫn cụ thể tại Điều 107 BLTTDS năm 2004 đó là Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến sa thải người lao động và xét thấy quyết định sa thải người lao động là trái pháp luật hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người lao động. Hiện nay, Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được quy định tại khoản 5 Điều 114 BLTTDS năm 2015 và có thay đổi là Biện pháp khẩn cấp tạm thời “Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động”, so với quy định trong BLTTDS năm 2004 thì ngoài quyết định xa thải là đối tượng để tòa án tạm đình chỉ thi hành thì quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng của chủ sử dụng lao động cũng là đối tượng để tòa án tạm đình chỉ khi áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này trong BLTTDS năm 2015 cũng được thay đổi căn bản đó là áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải người lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động. BLTTDS năm 2015 đã loại bỏ căn cứ áp dụng mà BLTTDS năm 2004 quy định đó là căn cứ “ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người lao động”, điều này là hoàn toàn hợp lý trong việc xem xét sự công bằng giữa người lao động và người sử dụng lao động, hơn nữa việc đánh giá thế nào là ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người lao động là hết sức khó khăn, bởi lẽ với bất cứ người lao động nào thì nghỉ việc do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc sa thải đều ảnh đến đời sống vật chất và tinh thần của họ. Chính vì thế, tòa án chỉ quyết định áp dụng biện pháp này khi xét thấy việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động là trái pháp luật về lao động.
Theo quy định Điều 38 Bộ luật lao động thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây: Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
- Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
- Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
- Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động đối với các trường hợp quy định tại Điều 32 của Bộ luật lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.
Và người lao động chỉ bị sa thải theo quy định tại Điều 126 Bộ luật lao động năm 2012 trong các trường hợp sau:
- Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;
- Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này.
- Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động. Như vậy nếu không có các hành vi vi phạm thuộc các trường hợp quy định về điều kiện chủ sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng, sa thải người lao động mà người lao động vẫn bị đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc sa thải thì bị coi là trái pháp luật.
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp này xuất phát từ yêu cầu của đương sự, của cơ quan, tổ chức khởi kiện. Người yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này phải đưa ra chứng cứ chứng minh quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng, quyết định sa thải của người sử dụng là trái pháp luật về lao động.
2.1.6. Kê biên tài sản đang tranh chấp
Hiểu theo nghĩa thông thường nhất thì kê biên là việc kiểm kê, kê ra danh mục các tài sản để chờ xử lý [43, tr. 485]. Dưới góc độ pháp luật TTDS, kê biên tài sản được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước do tòa án quyết định áp dụng và chấp hành viên tiến hành kê khai, ghi lại từng loại tài sản, giao lại cho chủ tài sản hoặc thân nhân bảo quản, cấm việc tẩu tán, phá hủy nhằm đảm bảo cho việc xét xử, thi hành án và các quyết định của cơ quan nhà nước được thuận lợi, đúng pháp luật [44, tr. 408]. Trong TTDS, Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp do tòa án quyết định áp dụng là việc tòa án kiểm kê, thống kê những tài sản đang có tranh chấp trong vụ kiện để nắm rõ về những tài sản đó và buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được chuyển dịch, tẩu tán hay phá hủy tài sản đang có tranh chấp đó. Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại khoản 6 Điều 114 BLTTDS năm 2015 và điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại Điều 120 BLTTDS năm 2015. Khác với những Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nêu trên, biện pháp kê biên tài sản đang có tranh chấp chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà tòa án không có quyền tự mình áp dụng. Theo quy định tại Điều 120 BLTTDS năm 2015, Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản tranh chấp chỉ được tòa án quyết định áp dụng “nếu trong quá trình tòa án giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản”. Từ quy định này, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản trong TTDS phải đáp ứng các điều kiện sau: Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Thứ nhất: Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản đang có tranh chấp mà không phải là áp dụng đối với tất cả tài sản của đương sự trong Vụ án dân sự. Những tài sản không phải là tài sản tranh chấp hoặc những tài sản chỉ liên quan đến tài sản tranh chấp sẽ không nằm trong phạm vi những tài sản bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên. Từ quy định này cho thấy nếu đương sự là người có nghĩa vụ và đương sự có tài sản để thi hành nghĩa vụ đó nhưng tài sản đó không phải là tài sản tranh chấp thì tài sản đó không thể bị kê biên để đảm bảo cho thi hành án. Ý nghĩa của Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên là nhằm bảo toàn tài sản, đảm bảo cho khả năng thi hành án của đương sự nhưng với quy định chỉ kê biên đối với tài sản tranh chấp thì khả năng đảm bảo cho thi hành án sẽ có hiệu quả không cao. Thiết nghĩ phạm vi tài sản bị kê biên cần phải được quy định mở rộng hơn để Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên đạt hiệu quả cao nhất trong việc bảo toàn tài sản để thi hành án.
Thứ hai: Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản tranh chấp chỉ được tòa án quyết định áp dụng khi “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp”. Mặc dù Điều 120 BLTTDS năm 2015 quy định là “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” chứ không phải là“người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” nhưng vẫn tạo ra những cách hiểu khác nhau. Có cách hiểu là chỉ khi có những căn cứ xác thực là người đang giữ tài sản tranh chấp đã có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp thì mới coi là có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản và khi đó tòa án mới quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên. Nếu hiểu theo cách này thì Điều 120 BLTTDS năm 2015 chưa thực sự đáp ứng được tính chất khẩn cấp bởi quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên gần như không còn có tác dụng bảo toàn tài sản tranh chấp, tài sản tranh chấp có thể đã bị tẩu tán, đã bị hủy hoại. Nhưng theo một cách hiểu khác, vì Điều 120 BLTTDS năm 2015 quy định là “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” nên Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên sẽ được áp dụng khi mà hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp chưa xảy ra trên thực tế, mới chỉ có căn cứ cho thấy các hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp sẽ xảy ra nên cần áp dụng ngay biện pháp kê biên. Hiểu theo cách này mới có thể ngăn chặn được hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên mới có tính kịp thời. [ 34, tr 81,82]. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 120 BLTTDS năm 2015, tài sản tranh chấp sau khi bị kê biên “có thể được thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của tòa án”. Nếu phải được bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ gặp rất nhiều khó khăn về kho bãi, về nhân lực, về chi phí trông coi, bảo quản tài sản kê biên. Ngoài ra, vấn đề trách nhiệm từ việc bảo quản tài sản kê biên cũng là một vấn đề làm nhiều cơ quan thi hành án dân sự lo ngại. Nếu tài sản kê biên được giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định mới của tòa án thì trách nhiệm bảo quản tài sản kê biên của những người này cần phải được quy định chặt chẽ, rõ ràng để tránh tình trạng tài sản sau khi kê biên lại bị hủy hoại, tẩu tán do chính người được giao bảo quản thực hiện. Hiện tại, khoản 2 Điều 120 BLTTDS năm 2015 chưa quy định nào về vấn đề này, vì thế khoản 2 Điều 120 BLTTDS năm 2015 cần được bổ sung hoặc có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề trách nhiệm của người được giao bảo quản tài sản kê biên.
2.1.7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp là việc tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được thay đổi, chuyển đổi quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Biện pháp này được quy định tại khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm 2015 (trước đây là khoản 7 Điều 102 BLTTDS năm 2004) và điều kiện áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được quy định tại Điều 121 BLTTDS năm 2015, theo đó Biện pháp khẩn cấp tạm thời này “được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác”. Như vậy, cũng giống như quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tại Điều 121 BLTTDS năm 2015, biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản chỉ được phép áp dụng đối với những tài sản tranh chấp mà thường là những tài sản mà quyền đối với tài sản đã được xác định rõ thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nhà nước (chủ yếu là bất động sản). Mặt khác, tòa án chỉ được quyết định áp dụng biện pháp này khi có yêu cầu áp dụng của người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà tòa án không có quyền tự mình áp dụng. Căn cứ để tòa án quyết định áp dụng biện pháp này phải là “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản tranh chấp cho người khác” nhằm trốn tránh nghĩa vụ của họ. Căn cứ này cho thấy tình trạng khẩn cấp là quyền đối với tài sản tranh chấp đang có nguy cơ bị chuyển dịch, cần phải có ngay biện pháp ngăn chặn việc chuyển dịch để bảo toàn tài sản tranh chấp đó. Nếu không kịp thời ngăn chặn thì tài sản tranh chấp sẽ bị chuyển dịch, không còn tài sản để thi hành án.
Với quy định tại Điều 121 BLTTDS năm 2015 “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản cho người khác” còn tạo ra những cách hiểu khác nhau. Có cách hiểu cho rằng chỉ cần người đang giữ tài sản có những biểu hiện nhằm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản tranh chấp chứ trên thực tế chưa có hành vi chuyển dịch tài sản tranh chấp là có căn cứ để quyết định áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch tài sản có tranh chấp. Nhưng có cách hiểu: vì Điều 121 BLTTDS năm 2015 có sử dụng cụm từ “có hành vi” nên trên thực tế hành vi chuyển dịch quyền về tài sản tranh chấp đã diễn ra thì mới coi là có căn cứ cho thấy người giữ tài sản tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản tranh chấp. Nếu hiểu theo cách này thì việc tòa án ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản tranh chấp trong nhiều trường hợp sẽ không còn ý nghĩa bởi quyền về tài sản tranh chấp đã bị chuyển dịch. Theo tôi, mục đích của Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển dịch quyền về tài sản là nhằm bảo toàn tài sản, không cho thay đổi quyền về tài sản để thi hành án, vì thế quy định về biện pháp này phải ngăn chặn được việc chuyển dịch quyền về tài sản, không cho người có tài sản trốn tránh nghĩa vụ của họ. Điều 121 BLTTDS năm 2015 quy định về điều kiện áp dụng như hiện nay là chưa rõ, cần được sửa đổi để có thể áp dụng thống nhất, phát huy cao nhất tác dụng của biện pháp này trong việc ngăn ngừa tình trạng người có tài sản trốn tránh thực hiện nghĩa vụ [ 34, tr 83,84].
2.1.8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là việc tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp phải giữ nguyên hiện trạng bên ngoài, vốn có của tài sản tranh chấp bởi việc thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản tranh chấp. Theo quy định tại Điều 122 BLTTDS năm 2015 thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nếu có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp thì người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được giao bảo quản tài sản có nghĩa vụ bảo quản tài sản, giữ nguyên hiện trạng tài sản; các hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm và các hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó đều phải bị xử lý theo quy định pháp luật. Tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.
2.1.9. Biện pháp cho thu hoạch, bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác
BPKCTT cho thu hoạch, bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác là việc tòa án buộc một bên đương sự trong vụ tranh chấp phải thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác nếu tài sản đang tranh chấp hoặc tài sản liên quan đến tài sản tranh chấp là hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa nông nghiệp khác ở thời kỳ thu hoạch hoặc không thể bảo quản được lâu dài.
Trước đây, biện pháp này đã được quy định tại khoản 6 Điều 41 PLTTGQCVADS với tên gọi “biện pháp cho thu hoạch và bảo quản sản vật liên quan đến việc tranh chấp”. BLTTDS năm 2004 đã sửa đổi cho phù hợp hơn là “cho thu hoạch, bán hoa màu và sản phẩm hàng hóa khác”, hiện nay Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được quy định tại Khoản 9 Điều 114, giữ nguyên nội dung điều luật quy định ở BLTTDS năm 2004. Sở dĩ biện pháp này được quy định là Biện pháp khẩn cấp tạm thời vì nếu không kịp thời cho thu hoạch, không kịp thời cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác thì tài sản tranh chấp, tài sản liên quan đến tài sản tranh chấp sẽ hư hỏng, không còn giá trị, gây lãng phí và không đảm bảo cho khả năng thi hành án. Theo quy định tại Điều 135 BLTTDS năm 2015 và Điều 123 BLTTDS năm 2015, Biện pháp khẩn cấp tạm thời này chỉ được tòa án áp dụng khi có yêu cầu của người có quyền yêu cầu và tòa án xét thấy yêu cầu đó là cần thiết. Những tài sản bị áp dụng biện pháp này phải được bảo quản và bán theo các phương thức do pháp luật quy định. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
2.1.10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước
Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước là việc cô lập không cho chuyển dịch tài sản ở tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước. Theo quy định tại Điều 124 BLTTDS năm 2015 thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước được Tòa án quyết định áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này mọi giao dịch thực hiện đối với tài sản của tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước bị phong tỏa đều vô hiệu. Nhận được quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này của Tòa án, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch liên quan đến tài sản của tài khoản bị phong tỏa cho đến khi có quyết định khác về tài khoản bị phong tỏa của Tòa án. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
BPKCTT phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ là việc tòa án cô lập tài sản của người có nghĩa vụ đang do người khác giữ, buộc người đang giữ tài sản của đương sự không được chuyển dịch tài sản đó cho người khác. Nếu Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước là việc tòa án cô lập những tài sản của đương sự được gửi giữ tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ là việc tòa án cô lập những tài sản của đương sự không phải do ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước giữ mà do một cá nhân, tổ chức khác giữ. Theo quy định tại Điều 125 BLTTDS năm 2015 thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được Tòa án quyết định áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Việc chứng minh bên có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ ở đâu đó là trách nhiệm của bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp, Tòa án phải xe xét việc áp dụng này có thật cần thiết hay không. Tính cần thiết của việc áp dụng thể hiện ở chỗ, nếu không áp dụng thì sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc làm cho việc thi hành án sau này gặp khó khăn. Bên yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật thì Tòa án mới ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này mọi giao dịch thực hiện đối với tài sản gửi giữ đều vô hiệu. Nhận được quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này của Tòa án, người đang nhận gửi giữ tài sản bị phong tỏa có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch liên quan đến tài sản phong tỏa cho đến khi có quyết định khác về tài sản bị phong tỏa của Tòa án.
2.1.11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ
BPKCTT phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là việc tòa án cô lập tài sản của đương sự có nghĩa vụ và tài sản đó đang do chính họ nắm giữ, buộc họ không được chuyển dịch tài sản đó cho người khác. Theo quy định tại Điều 126 BLTTDS năm 2015 thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được Tòa án quyết định áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này mọi giao dịch thực hiện đối với tài sản của người có nghĩa vụ đều vô hiệu. Nhận được quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này của Tòa án, người có nghĩa vụ có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch liên quan đến tài sản phong tỏa cho đến khi có quyết định khác về tài sản bị phong tỏa của Tòa án. Để hạn chế thiệt hại có thể xảy ra với người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp này, pháp luật đã quy định chỉ được phong tỏa tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.
2.1.12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Trong thực tiễn, có thể có những trường hợp đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có hành vi làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án dân sự hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết, ngược lại cũng có trường hợp đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện một số hành vi nhất định nhưng họ không thực hiện làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết. Do đó, các bên đương sự có yêu cầu và Tòa án xét thấy yêu cầu đó là chính đáng thì phải ra quyết định áp dụng cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.
Cấm thực hiện một số hành vi nhất định là việc không cho thực hiện một số hành vi nhất định. Buộc thực hiện một số hành vi nhất định là việc bắt phải thực hiện một số hành vi nhất định. Theo quy định tại Điều 127 BLTTDS năm 2015 thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm hoặc buộc thực hiên một số hành vi nhất định được Tòa án quyết định áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết. Tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là cấm thực hiện một số hành vi nhất định thì đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác thực hiện hành vi bị cấm không được thực hiện nữa, nếu không sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là buộc phải thực hiện một số hành vi nhất định thì đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi đó phải thực hiện, nếu không thực hiện cũng sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
2.1.13. Cấm xuất cảnh đối với có người có nghĩa vụ Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Đây là một trong những Biện pháp khẩn cấp tạm thời mới được đưa vào BLTTDS năm 2015. Theo như các tờ trình về BLTTDS năm 2015 được đăng trên các trang website của quốc hội và chính phủ thì biện pháp này được ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội đề cập trong đóng góp tham luận của mình về dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự năm BLTTDS năm 2015.
Biện pháp được định nghĩa như sau: “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ được áp dụng nếu có căn cứ cho thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ của họ đối với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và việc xuất cảnh của họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc để bảo đảm việc thi hành án”. Vậy ta phải hiểu “người có nghĩa vụ” ở đây là gì? Có thể người đó là người có nghĩa vụ tham gia vào việc giải quyết vụ án từ khi tiến hành việc khởi kiện đến khi thi hành án, hoặc cũng có thể hiểu là người đó chỉ liên quan ở khâu thi hành án. Tuy nhiên đối với riêng cá nhân tác giả, người có nghĩa vụ ở đây nên được hiểu là người có nghĩa vụ tham gia vào toàn bộ việc giải quyết vụ án để vụ án được giải quyết nhanh chóng, có thể hiểu người đó ở đây là “đương sự của vụ án”. Việc cấm xuất cảnh đã được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật đã quy định về việc cấm xuất cảnh như Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam. Tuy nhiên, Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam chỉ có phạm vi điều chỉnh với các đối tượng là người nước ngoài sẽ, đang tại Việt Nam. Đối với các cá nhân là người Việt Nam thì Nghị định số 07/VBHN-BCA ngày 31/12/2015 quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam cũng có đề cập đến vấn đề nếu người đó đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế thì không được phép xuất cảnh. Vậy nên, việc quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được coi là việc bổ sung đối với pháp luật tố tụng nói chung. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo như tờ trình về BLTTDS năm 2015 thì Ủy ban các vấn đề xã hội có đề cập đến việc các đương sự trong vụ án dân sự thường có thái độ trốn tránh, không tham gia các phiên thực hiện hoạt động tố tụng như phiên hòa giải, phiên xét xử sơ thẩm. Do đó, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình giải quyết vụ án dân sư, kéo dài thời gian giải quyết một vụ án, do việc thiếu vắng đương sự trong các phiên thủ tục dẫn đến thủ tục hoãn, và tổ chức lại thủ tục đó. Không chỉ vậy, việc các đương sự có tình trốn tránh, không tham gia vào việc giải quyết vụ án dân sự còn dẫn đến việc vụ án đó sẽ được chuyển lên tòa án cấp tình (quận), do khi các đương sự đang ở nước ngoài trong tiến trình thụ lý vụ án thì họ sẽ được coi thuộc đối tượng là “người nước ngoài”, và đương nhiên điều đó dẫn đến việc vụ án sẽ được chuyển lên tòa án cấp trên theo đúng thẩm quyền được quy định trong luật. Do đó, nhằm tránh những trường hợp như trên, giảm thiểu thời gian giải quyết một vụ án, giảm áp lực và khối lượng công việc cho Tòa án cấp trên – cụ thể là tòa cấp tỉnh (quận) thì Ủy ban đã đưa ra đề xuất về việc bổ sung quy định “cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ”.
Đây là một quy định bổ sung, mang tính tiến bộ nhằm đảm bảo việc thực hiện giải quyết vụ án dân sự một cách dễ dàng và đúng thủ tục. Không chỉ vậy, việc cấm xuất cảnh đối với các đương sự, hay người có nghĩa vụ còn đảm bảo việc thực hiện đúng pháp luật tố tụng, đảm bảo quyền được tham gia phiên tòa của các bên có quyền trong vụ án, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
2.1.14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình
Cũng như biện pháp cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ, đây là một biện pháp mới, có thể sẽ được áp dụng cho các vụ án giải quyết tranh chấp liên quan đến lĩnh vực hôn nhân – gia đình. Theo như quy định của điều 129 của bộ luật TTDS năm 2015 có đề cập, điều khoản này được diễn giải như sau: “Cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình được áp dụng nếu biện pháp đó là cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình theo quy định của Luật phòng chống bạo lực gia đình.” Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Có thể nói, ngay trong chính điều luật, nhà làm luật cũng đã đề cập đến việc bảo vệ các đối tượng yếu thế khi giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến lĩnh vực hôn nhân gia đình. Bạo lực gia đình là một hiện tượng không quá xa lạ trong xã hội Việt Nam. Người phụ nữ trong mối quan hệ hôn nhân với người hôn phối thường giữ một vị thế yếu giữa hai người. Do đó, họ có thể thường xuyên bị bạo ngược từ phía người hôn phối, do quan điểm xã hội Á Châu và do sự khác biệt về thể chất sinh lý giữa hai bên. Nhằm bảo vệ người yếu thế khi họ tiến hành các hoạt động nhằm giải quyết các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực gia đình khỏi bị bạo ngược từ người có hành vi bạo lực gia đình thì Hội liên hiệp phụ nữ đã có đề cập đến biện pháp này được ghi trong văn bản lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, địa phương về dự thảo bộ luật TTDS năm 2015. Họ còn đưa ra các số liệu minh họa và các vụ án điển hình để làm dẫn chứng cho việc cần thiết phải tiến hành có một biện pháp nhằm đảm bảo được quyền, mong muốn của người bị bạo lực gia đình khi họ tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết.
Đây là một quy định không mới trên thế giới, nhưng rất mới với Việt Nam – Một nước theo truyền thống Á Châu. Đối với các nước ở phương Tây, các quy định nhằm bảo vệ phụ nữ, và trẻ em, hay là những người bị bạo lực gia đình được quy định rất chặt chẽ trong Luật gia đình (Family Law). Nếu nghiên cứu kĩ luật của Anh, và Mỹ có thể thấy rất rõ biện pháp này được áp dụng rất nhiều khi thấy người yếu thế trong quan hệ hôn nhân gia đình có yêu cầu. Đây là một điểm mới của Luật TTDS Việt Nam để theo kịp với xu hướng của thế giới và bảo vệ quyền con người.
2.1.15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu
Quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời mới này được đề cập tại điều 130 của BLTTDS năm 2015 như sau: “Tạm dừng việc đóng thầu, phê duyệt danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng được áp dụng nếu quá trình giải quyết vụ án cho thấy việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật”. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Như theo tờ trình có đề cập lý do của việc bổ sung quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời mới này là do sự phát triển của kinh tế xã hội, và nhu cầu của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, do đó có nhiều trường hợp đã xảy ra các tranh chấp dân sự phát sinh trong lĩnh vực đấu thầu. Tuy nhiên, việc giải quyết các tranh chấp dân sự này lại gặp phải các rắc rối phát sinh từ các hành vi của các bên tham dự quan hệ đấu thầu như việc đóng thầu, phê duyệt danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng. Do đó, khi giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực đấu thầu nêu trên, nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, tạo thuận lợi cho các bên liên quan, tránh những hậu quả có thể phát sinh nếu các hành vi liên quan đến đấu thầu nêu trên có thể xảy ra thì cần bổ sung quy định về việc tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến đấu thầu để thực hiện giải quyết vụ án tranh chấp.
Tuy nhiên, ngoài những mục đích nếu trên, biện pháp này còn được đặt ra câu hỏi là nếu bị áp dụng sai dẫn đến việc chậm tiến độ đối với các dự án trọng điểm, mang tính ảnh hưởng cao thì điều gì sẽ xảy ra. Có thể nói, biện pháp này vẫn được đề cập trong tờ trình là mang rất nhiều ý kiến trái chiều và được sự quan tâm của rất nhiều cơ quan và cá nhân trong xã hội.
2.1.16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án
Việc quy định Biện pháp khẩn cấp tạm thời này hoàn toàn là nhằm thực hiện việc đảm bảo tính thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Việc bắt giữ tàu bay, tàu biển để đảm bảo giải quyết vụ án đã được quy định trong pháp lệnh về thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008 và pháp lệnh về thủ tục bắt giữ tàu bay năm 2010. Trong cả hai pháp lệnh đều quy định việc bắt giữ này cần có quyết định của tòa án có thẩm quyền để giải quyết vụ việc.
Bộ luật TTDS năm 2015 đã liệt kê các trường hợp cụ thể để áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong bắt giữa tàu biển này như sau: “Tàu biển bị yêu cầu bắt giữ để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại hàng hải mà người yêu cầu bắt giữ tàu biển đã khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án; Chủ tàu là người có nghĩa vụ về tài sản trong vụ án đang giải quyết và vẫn là chủ tàu tại thời điểm áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển; Người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn, người thuê tàu chuyến hoặc người khai thác tàu là người có nghĩa vụ về tài sản trong vụ án dân sự phát sinh từ khiếu nại hàng hải theo quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam và vẫn là người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn, người thuê tàu chuyến, người khai thác tàu hoặc là chủ tàu tại thời điểm áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển; Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ án phát sinh trên cơ sở của việc thế chấp tàu biển đó; Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ án liên quan đến quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu tàu biển đó”. Còn về bắt giữ tàu bay thì theo pháp luật về hàng không dân dụng của Việt Nam.
Có thể nói rằng, việc quy định Biện pháp khẩn cấp tạm thời này đã thống nhất được các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tạo sự đồng nhất hệ thống pháp luật và thuận tiên trong việc áp dụng để giải quyết tranh chấp.
2.1.17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Ngoài 16 Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể nêu trên, khoản 17 Điều 114 BLTTDS năm 2015 còn quy định tòa án còn có quyền áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định. Ví dụ, theo quy định của Điều 207 Luật sở hữu trí tuệ (LSHTT), ngoài Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên, cấm thay đổi hiện trạng, cấm chuyển dịch quyền sở hữu đã được quy định trong BLTTDS năm 2015, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng trong giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ còn là biện pháp thu giữ, niêm phong, cấm di chuyển. Trong Pháp lệnh bắt giữ tàu bay quy định biện pháp bắt giữ tàu bay với tính chất là một Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong Pháp lệnh bắt giữ tàu biển cũng quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển với tính chất là một Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Như vậy, ngoài các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015, một số văn bản pháp luật chuyên nghành khác cũng có quy định về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, nguyên tắc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 và các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các văn bản pháp lý chuyên ngành chưa được quy định rõ. Có thể hiểu linh hoạt là các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành trước hết sẽ được áp dụng trong giải quyết các vụ việc thuộc lĩnh vực chuyên ngành mà văn bản pháp luật đó điều chỉnh nhưng khi cần thiết vẫn có thể áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không được quy định trong văn bản pháp lý chuyên ngành nhưng được quy định trong BLTTDS năm 2015 trong giải quyết vụ việc chuyên ngành đó. Ngược lại, cũng có thể áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được quy định trong văn bản pháp lý chuyên ngành nhưng chưa được quy định trong BLTTDS năm 2015 trong giải quyết Vụ án dân sự. Ví dụ, vì LSHTT năm 2005 là luật riêng so với BLTTDS năm 2015 nên về nguyên tắc, luật riêng sẽ được áp dụng trước trong giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ. Nếu luật riêng quy định không đủ hoặc không rõ thì mới vận dụng đến các quy định của BLTTDS năm 2015 về Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ngược lại, trong giải quyết tranh chấp không phải là tranh chấp về sở hữu trí tuệ, nếu cần phải áp dụng một trong những Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong LSHTT năm 2005 thì tòa án vẫn có thể quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đó. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, nguyên tắc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 và các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các luật chuyên ngành cần được quy định rõ ràng hơn. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Có thể nhận thấy rằng, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được BLTTDS năm 2015 và một số văn bản pháp luật khác quy định trong PLTTDS Việt Nam là tương đối đa dạng. Việc ghi nhận nhiều Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể khác nhau đã tạo nhiều thuận lợi cho người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như tòa án xác định, lựa chọn Biện pháp khẩn cấp tạm thời phù hợp để yêu cầu hoặc để quyết định áp dụng. Sự đa dạng của các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được PLTTDS Việt Nam quy định đã đáp ứng tương đối tốt yêu cầu đặt ra về mặt lý luận đối với công tác lập pháp về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời là pháp luật phải quy định được một hệ thống tương đối đầy đủ, toàn diện về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể, vì thế PLTTDS Việt Nam về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã đáp ứng được về cơ bản nhu cầu của thực tiễn TTDS Việt Nam. Nói một cách khác, với nhiều Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định, trong nhiều tình thế khẩn cấp của Vụ án dân sự, đương sự cũng như tòa án đã kịp thời lựa chọn được một hoặc một số Biện pháp khẩn cấp tạm thời phù hợp, từ đó bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. So với quy định của các văn bản pháp luật trước đây, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS hiện nay đã được sửa đổi, bổ sung tương đối nhiều, đặc biệt mỗi Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể lại có điều luật riêng quy định về căn cứ và điều kiện áp dụng. Điều này cho thấy công tác lập pháp của Việt Nam phần nào cũng đã bắt nhịp được với thực tiễn TTDS, từ đó giúp đương sự thuận lợi hơn, có cơ hội nhiều hơn để bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích của mình và trong nhiều trường hợp các tòa án cũng đã can thiệp kịp thời hơn để bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự.
2.2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Do BLTTDS năm 2015 quy định đa dạng nhiều Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể khác nhau nên thực tiễn TTDS Việt Nam thời gian gần đây cho thấy so với trước khi có BLTTDS năm 2015, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được tòa án quyết định áp dụng đa dạng hơn. Đặc biệt, mặc dù các tòa án không thống kê cụ thể số liệu về từng loại Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự yêu cầu và được tòa án áp dụng nhưng qua khảo sát thực tiễn áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể thấy có một vài Biện pháp khẩn cấp tạm thời hay được tòa án quyết định áp dụng hơn như biện pháp phong tỏa tài sản, biện pháp kê biên hay biện pháp buộc thực hiện hành vi nhất định. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời này đã phát huy vai trò của mình trong thực tiễn áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, ưu điểm trên, thực tiễn áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn thể hiện một vài hạn chế cần được khắc phục:
Thứ nhất, mặc dù so với trước khi có BLTTDS năm 2015, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được quy định trong BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều hơn, từ đó cho thấy đương sự có nhiều cơ hội thuận lợi hơn để bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích của mình và các Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được các tòa án áp dụng có phần đa dạng hơn song nhìn chung tỷ lệ số vụ án được tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tính trên tổng số vụ án được thụ lý giải quyết lại rất thấp. Số liệu thống kê sau đây sẽ thể hiện được điều này:
Tham khảo thực tiễn áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tại nhiều tòa án cho thấy gần như các tòa án không thống kê số vụ án đã áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, số vụ án có đơn yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hay số vụ án tòa án tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Một số ít tòa án có thống kê thì chỉ thống kê số vụ án có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong năm chứ không thống kê số vụ án có đơn yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời để trên cơ sở đó thống kê số vụ án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.
- Bảng 1. Tỷ lệ các vụ án được áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trên tổng số các vụ việc được tòa án thụ lý giải quyết từ năm 2005 đến năm 2010 Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Bảng số liệu trên mới chỉ thể hiện tỷ lệ số vụ án có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trên tổng số vụ án được thụ lý.. Ví dụ, theo số liệu của TAND Thành phố Bắc Giang, năm 2011 có 02 vụ án có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo số liệu của TAND tỉnh Bắc Ninh trong năm 2007, TAND tỉnh Bắc Ninh có 01 vụ áp dụng và TAND huyện có 01 vụ áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản tranh chấp và 01 vụ áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp.Do không có số liệu thống kê cụ thể về số vụ có đơn yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, số vụ được chấp nhận áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, số vụ mà tòa án tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nên khó có thể đưa ra nhận xét chính xác tuyệt đối về thực tiễn áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể nhưng nhìn chung qua con số tỷ lệ trung bình số vụ án có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là 0,13% mà Tòa án nhân dân tối cao tổng hợp được có thể khẳng định số vụ án được quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là rất ít [58].
Nhìn vào số liệu bảng thống kê trên có thể nhận thấy tỉ lệ số vụ án thương mại có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là cao nhất (0,58%) và tỉ lệ số vụ án hôn nhân, gia đình có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là thấp nhất (0, 04%). Mặc dù có tỉ lệ cao nhất nhưng với đặc thù của các tranh chấp kinh doanh, thương mại là giá trị tài sản tranh chấp thường tương đối lớn nên nhu cầu bảo toàn tài sản để bảo đảm khả năng thi hành án là rất cao, mặt khác vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận nên tính kịp thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng cần được đề cao…nhưng cũng chỉ có 0,58% số vụ có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tỉ lệ này cũng là rất thấp. Vậy thực trạng ít áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là do người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời ngại không yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hay do có quá ít số vụ việc có sự khẩn cấp hay do các tòa án ngại áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời? Lý do được luật sư Trần Vũ Hải chỉ ra là do các tòa án “ngại áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời” hoặc “không mạnh dạn áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời” [35, tr 5]. Sau nhiều năm trong nghề và dày công nghiên cứu về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS, thẩm phán Chu Xuân Minh cũng có nhận xét gần tương tự “các tòa đã quá hạn chế, quá thận trọng” trong việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời [36, tr.5]. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, không chỉ tỷ lệ số vụ án được tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là rất thấp mà nếu có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì các tòa án cũng chỉ xoay quanh áp dụng một vài Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể. Theo thẩm phán Chu Xuân Minh “thường thì tòa án chỉ áp dụng một biện pháp là kê biên tài sản đang tranh chấp” [37, tr. 52]. Tham khảo thực tiễn TTDS Việt Nam trong thời gian gần đây còn cho thấy biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ cũng hay được tòa án áp dụng. Ví dụ TAND Thành phố Bắc Giang năm 2011 quyết định áp dụng 2 vụ thì cả 2 vụ đều áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản. Có thể do Biện pháp khẩn cấp tạm thời này có thể áp dụng đối với nhiều tài sản (chỉ cần tài sản đó có khả năng thi hành án, không đòi hỏi là tài sản đó phải là tài sản có tranh chấp) nên trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2004 về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời, quy định về biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nhiều hơn. Việc tòa án hay quyết định áp dụng một vài Biện pháp khẩn cấp tạm thời quen thuộc đương nhiên sẽ kéo theo một hạn chế là các Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn lại khó có cơ hội phát huy được hiệu quả trong thực tiễn TTDS. Thực tế này cho thấy trong thời gian tới cần có giải pháp phù hợp để các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 phải được tận dụng áp dụng, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tích cực góp phần quan trọng vào việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích của đương sự trên thực tế.
Thứ ba, ngay cả đối với một vài Biện pháp khẩn cấp tạm thời do pháp luật quy định có hay được áp dụng hơn so với các Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn lại thì hiệu quả thực tế của việc áp dụng một vài Biện pháp khẩn cấp tạm thời đó cũng chưa đạt được cao như mong muốn. Có thể có nhiều nguyên nhân giải thích cho thực tế này nhưng có lẽ cơ bản là do quy định của BLTTDS năm 2004 cũng như BLTTDS mới năm 2015 về những biện pháp này vẫn còn vướng mắc, hạn chế, cần được sửa đổi, bổ sung. Vì vậy, Điều 124 BLTTDS năm 2015 cần có quy định chặt chẽ hơn nữa, cụ thể hơn nữa về trách nhiệm của ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước trong việc phong tỏa tài khoản của đương sự có nghĩa vụ trong TTDS khi có yêu cầu từ tòa án. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Thứ tư, thực tiễn áp dụng pháp luật về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn cho thấy mặc dù BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể từng Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác nhau nhưng như đã phân tích về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể thì gianh giới giữa các Biện pháp khẩn cấp tạm thời do pháp luật quy định là chưa rõ nét, điều kiện áp dụng giữa một số biện pháp ở một phạm vi nhất định còn có sự trùng lặp. Ví dụ, thực chất ba Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 124, 125, 126 BLTTDS 2015 đều là biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 114 BLTTDS năm 2015 cũng có điểm chung là buộc tạm ứng trước một số tiền nhất định. Điều kiện áp dụng một số Biện pháp khẩn cấp tạm thời có nét giống nhau cần được quy định rõ hơn, cụ thể là cùng nhằm bảo toàn tài sản tranh chấp để thi hành án nhưng thể tài sản tranh chấp nào được áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên, tài sản tranh chấp nào phải áo dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển quyền với tài sản đang tranh chấp và tài sản đang tranh chấp chỉ được áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng. Chính vì chưa quy định rõ nên trên thực tế đương sự có thể bị lúng túng, lựa chọn không đúng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà sau này tòa án quyết định áp dụng.
Trong BLTTDS năm 2015, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tương đối đa dạng, bước đầu thể hiện tính hệ thống và điều kiện áp dụng từng biện pháp cũng được quy định tương đối cụ thể song qua thực tiễn áp dụng vẫn cho thấy quy định về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế nhất định, dẫn đến sự lúng túng trong việc yêu cầu và quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời ít khi được áp dụng trên thực tế. Thực tế này cho thấy các Biện pháp khẩn cấp tạm thời do pháp luật quy định cần được sắp xếp lại cho có tính khái quát hơn, điều kiện áp dụng một số biện pháp cần được sửa đổi, bổ sung cho cụ thể, phù hợp hơn để tạo sự thuận lợi nhất trong việc áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 về Biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Ngoài ra từ thực trạng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên ta còn có thể thấy rõ được rõ việc áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời diễn ra trong quá trình tố tụng dẫn đến nhiều hệ quả xấu như gây sự chậm trễ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong vụ án dân sự. Không chỉ vậy, việc này còn dẫn đến sự quá tải cho các cấp tòa án khi phải áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trên thực tế tố tụng và làm việc, cá nhân tác giả thấy hầu hết các tranh chấp đều không cần nhất thiết phải dẫn đến quá trình tố tụng, điều mà các bên liên quan trong tranh chấp mong muốn trong việc giải quyết tranh chấp luôn luôn là việc giải quyết dựa trên thương lượng và hòa giải, trên tinh thần thiện chí hợp tác, đôi bên cùng có lợi. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khi tiến hành các hoạt động thương lượng, hòa giải giữa các bên liên quan thì bên vi phạm tranh chấp thường có thái độ ít khi có mong muốn hợp tác để giải quyết tranh chấp giữa hai bên, dẫn đến các tranh chấp nhiều khi không cần phải đưa ra đến tòa án, nhưng do sự bất hợp tác của bên vi phạm nên cần phải nhờ sức mạnh công lý được nhà nước giao cho tòa án để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm. Nguyên nhân của vấn đề này ngoài những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác thì việc không có sự áp lực giữa các bên liên quan dẫn đến tâm lý chây ỳ của bên vi phạm. Do không có áp lực từ một cơ quan công quyền mà ở đây là người đại diện cho công lý là tòa án, bên vi phạm đã có thái độ bất hợp tác, không đảm bảo như nghĩa vụ đã giao kết. Vậy nên, việc quy định ra một cơ chế nhằm tạo áp lực cho bên vi phạm nghĩa vụ là rất cần thiết nhằm đảm bảo quyền và lợi ích giữa các bên và giảm thiểu sự quá tải cho cơ quan nhà nước thì Biện pháp khẩn cấp tạm thời là một giải pháp hữu hiệu. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Trên các diễn đàn luật học đang có rất nhiều sự tranh luận về cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng. Nhiều học giả đã bình luận rằng Biện pháp khẩn cấp tạm thời có một nhiệm vụ rất lớn, được coi như là “linh hồn” nhằm thúc đẩy việc đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ dân sự được thực hiện đúng mà không cần có các quy trình thủ tục tố tụng trong pháp luật dân sự [45, tr 546]. Trong báo cáo đầu tiên tháng 11 năm 2014 của dự án ELI – UNIDROIT về nghiên cứu Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có đề cập đến vấn đề áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng như một cơ chế để đảm bảo việc thực thi nghĩa vụ đã cam kết [45, tr 14]. Ở đó, giới chuyên môn cũng có đề cập đến vị trí của tòa án như một nơi đưa ra các quyết định cho việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không cần tiến hành thủ tục tố tụng tòa án như thường lệ. Xem xét lại tờ trình của Tòa án nhân dân tối cao và bộ tư pháp trong dự thảo bộ Luật TTDS năm 2015 cũng đã từng đề cập rằng một số quốc gia đã áp dụng cơ chế Biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi tiến hành thụ lý vụ án và điều này theo họ là đáng đi theo nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan và tránh được sự quá tải cho hệ thống tòa án. Vấn đề áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã làm nóng nghị trường quốc hội, khi có những Đại biểu quốc hội tranh luận về việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trước tố tụng có thể gây đến nhiều hệ quả xấu do năng lực, trình độ của đội ngũ thẩm phán, tòa án của Việt Nam còn yếu, chưa có cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, nếu xét lại những văn bản Việt Nam đã kí kết thì việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng đã được đề cập nhằm để phù hợp với cam kết đã kí với WTO và các hiệp định khác.
Có thể nói rằng, Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần khắc phục, BLTTDS năm 2015 được coi như đã khắc phục một số hạn chế của BLTTDS 2004 nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý không được giải quyết. Ngoài ra việc nghiên cứu Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng cũng mang ý nghĩa mới, thay đổi then chốt cho PLTTDS Việt Nam.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 114 BLTTDS năm 2015 quy định có mười sáu Biện pháp khẩn cấp tạm thời và một điều khoản dự phòng. Mười sáu Biện pháp khẩn cấp tạm thời này là: Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động; Kê biên tài sản đang tranh chấp; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định; Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. So với BLTTDS năm 2004 thì các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 tăng lên bốn biện pháp đó là các biện pháp: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Đây là các biện pháp hoàn toàn mới có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.
Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên có thể áp dụng cho cả vụ việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, vụ việc về kinh doanh thương mại, vụ việc về lao động như biện pháp phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản v.v…, nhưng cũng có những biện pháp chỉ áp dụng trong các vụ việc về dân sự như giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; có biện pháp chỉ áp dụng cho vụ việc về lao động như tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động v.v…
Trong BLTTDS năm 2015, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tương đối đa dạng, bước đầu thể hiện tính hệ thống và điều kiện áp dụng từng biện pháp cũng được quy định tương đối cụ thể song qua thực tiễn áp dụng vẫn cho thấy quy định về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế nhất định, dẫn đến sự lúng túng trong việc yêu cầu và quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời ít khi được áp dụng trên thực tế, hiệu quả áp dụng chưa cao. Từ thực tế này cho thấy các Biện pháp khẩn cấp tạm thời do pháp luật quy định cần được sắp xếp lại cho có tính khái quát hơn, điều kiện áp dụng một số biện pháp cần được sửa đổi, bổ sung cho cụ thể, phù hợp hơn để tạo sự thuận lợi nhất trong việc áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 về Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật
Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam