Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng, những vấn đề pháp lý cần giải quyết dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

Nhằm thực hiện đúng với mục đích, tính chất của Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần phải tiến hành những nghiên cứu cụ thể về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng nhằm đáp ứng được yêu cầu cải cách đổi mới tư pháp, hội nhập quốc tế và phù hợp với sự thay đổi của đời sống xã hội.

3.1.1 Định hướng lựa chọn áp dụng một số loại biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định pháp luật tố tụng hiện hành về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

Theo như quy định của BLTTDS năm 2015 đã có liệt kê ra mười sáu Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến các lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Các biện pháp đó là: Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động; Kê biên tài sản đang tranh chấp; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định; Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Việc BLTTDS năm 2015 bổ sung thêm các Biện pháp khẩn cấp tạm thời mới so với BLTTDS năm 2004 đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội, tăng tính thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dân sự hiện tại. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Do các Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được ghi nhận trong BLTTDS năm 2004 và các biện pháp hiện tại mới được bổ sung thực tiễn rất ít được thực thi nên việc tìm hiểu, đánh giá nguyên nhân để tìm ra giải pháp khắc phục khi áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời nói chung, tiến tới xây dựng và áp dụng các biện pháp này trong giai đoạn tiền tố tụng nói riêng là rất cần thiết.

Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng kể từ khi tòa án nhận đơn yêu cầu của chủ thể có quyền yêu cầu là cơ sở để Tòa án xác định căn cứ và ban hành quyết định áp dụng. Do đó, trách nhiệm sẽ được các bên là người yêu cầu và Tòa án chịu khi áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, thêm đó, tòa án khi đó đã có những hình dung cơ bản dựa vào các chứng cứ tạm thời mà người yêu cầu cung cấp trong hồ sơ vụ án. Trong giai đoạn tiền tố tụng, các tình tiết hay nội dung của vụ án khi đó với Tòa án thực sự là rất mơ hồ, nếu chỉ dựa vào đơn yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà quy định của pháp luật ghi nhận cho phép áp dụng cả mười sáu Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của PLTTDS hiện hành là hoàn toàn chưa hợp lý. Mười sáu Biện pháp khẩn cấp tạm thời được nêu trong pháp luật có rất nhiều các biện pháp mà nếu áp dụng có thể gây ra những hậu quả cực kì nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng mà việc tiến hành các biện pháp bồi thường ngoài hợp đồng cho việc áp dụng sai Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật Việt Nam có thể gây những tổn thất, không bù được chi phí cho người bị áp dụng.

Theo tác giả, khi xây dựng quy định các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng, cần tính toán, phân loại ra các nhóm Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể áp dụng được trong giai đoạn này mà ít cơ hội gây ra các hậu quả về tài sản đáng kể cho người bị áp dụng (hậu quả tài sản đáng kể ở đây là các kết quả có thể phát sinh gây ra các thiệt hại về tài sản một cách tương đối có thể nhìn nhận trước được). Qua nghiên cứu các đặc điểm và điều kiện áp dụng, theo tác giả sẽ khoa học và hợp lý khi các Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể áp dụng trong giai đoạn tiền tố tụng như sau:

Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định; Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình. Các biện pháp được liệt kê trên đây là các Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trong giai đoạn tiền tố tụng bởi các lý do sau: Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ nhất, các biện pháp dễ thực hiện trên thực tiễn mà không ảnh hưởng đến người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời như Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng là một biện pháp thực tế là thay người có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng yếu thế trong xã hội. Các cơ quan tổ chức được cơ quan nhà nước giao trách nhiệm chăm nom, nuôi dưỡng cũng dễ dàng hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức năng mà mình được giao. Hay Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định; Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình cũng chỉ hướng đến hạn chế một phần quyền nhân thân của người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong một thời hạn ngắn mà thôi.

Thứ hai, các biện pháp trên đều hướng đến các quy định của pháp luật dân sự mà ở đó việc thực hiện không gây ảnh hưởng nhiều đến tài sản. Theo các quy định của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, các quy định có liên quan đến pháp luật lao động như Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động đều có thể thực hiện trên thực tiễn với những quy định của pháp luật dân sự mà cụ thể là Luật dân sự năm 2015 cũng không có ảnh hưởng nhiều nếu phát sinh các hậu quả về tài sản sau này nếu có áp dụng sai. Mà trên thực tế, các biện pháp trên hướng đến bảo đảm quyền cho đối tượng yếu thế trong quan hệ pháp luật dân sự. Do đó, các biện pháp đó hoàn toàn hợp lý là các biện pháp được đưa vào để áp dụng trong giai đoạn tiền tố tụng.

Thứ ba, các biện pháp hướng đến đối tượng là tài sản như: Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác. Các biện pháp này mặc dù hướng đến đối tượng là tài sản, tuy nhiên, nó không thể có nhiều ảnh hưởng tiêu cực nếu được áp dụng. Thực tế bản chất các Biện pháp khẩn cấp tạm thời này chỉ là để nhằm mục đích giữ nguyên hiện trạng của tài sản khi có tranh chấp xảy ra. Do đó, việc áp dụng các biện pháp này hoàn toàn phù hợp trong giai đoạn tiền tố tụng khi mà các bên đang bắt đầu phát sinh các tranh chấp cần có cơ chế giải quyết cụ thể. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng, do đó, nếu cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng được thực thi thì chúng ta cần nghĩ đến vấn đề hiệu lực của việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng. Có thể thấy rằng, như bản chất và tính chất của Biện pháp khẩn cấp tạm thời, vấn đề áp dụng BPKCTT chỉ nhằm mục đích đảm bảo nguyên trạng của vụ việc khi giải quyết tranh chấp. Do đó, hiệu lực của quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng cũng cần phải đảm bảo được trong một thời hạn cụ thể rồi có căn cứ để hủy bỏ hay chấm dứt quyết định này như đến thời điểm quyền lợi của bên được áp dụng đã được bảo đảm, bên bị yêu cầu thực hiện gửi đơn, tòa án sẽ đánh giá sự cần thiết để hủy bỏ; hoặc đến thơi điểm các bên thỏa thuận giải quyết xong hoặc đến thời hạn cụ thể chẳng hạn ấn định là 30 hay 45 ngày kể từ ngày yêu cầu bên yêu cầu phải có trách nhiệm thu thập chứng cứ để nộp hồ sơ khởi kiện, nêu không thì tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đây là vấn đề quan trọng trong việc xây dựng cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng và cần thêm ý kiến của các chuyên gia.

Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng cũng dẫn đến hệ quả là sự chuyển tiếp của việc áp dụng từ giai đoạn tiền tố tụng sang giai đoạn tố tụng của tòa án. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn cần xây dựng cơ chế chuyển tiếp này để đảm bảo các chứng cứ chứng minh được thu thập trong giai đoạn tiền tố tụng khi áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời được công nhận trong giai đoạn tố tụng nhằm đảm bảo được giá trị của cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng trước đó và rút ngắn được quá trình xét xử vụ việc dân sự.

3.1.2 Người có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thủ tục áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng áp dụng trước nhất cần được nghiên cứu dưới các giác độ khác nhau để có thể hình thành được một thủ tục chặt chẽ tránh các sai lầm có thể gặp phải trong khi tiến hành áp dụng thủ tục này.

Cơ sở pháp lý để quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn phải theo quy định của BLTTDS năm 2015 chủ yếu là dựa vào đơn yêu cầu của người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà ở đây cụ thể là các đương sự trong Vụ án dân sự. Vì vậy, thủ tục áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng sẽ được được nghiên cứu theo trường hợp là thủ tục áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời dựa trên cơ sở có đơn yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của các đương sự trong Vụ án dân sự. Tuy nhiên, hiện tại BLTTDS năm 2015 chỉ có quy định về thủ tục áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp có đơn yêu cầu tại Điều 117 BLTTDS năm 2015, mà theo đó thủ tục áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm một trình tự các công việc phải thực hiện và công việc đầu tiên là yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Về người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng cần xét theo đúng nội dung của PLTTDS, hiện tại là Khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 có quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời.…”

Trong quy định của BLTDS năm 2015 vẫn trước hết khẳng định rằng đương sự có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, tuy nhiên với các cụm từ được quy định như “trong quá trình giải quyết vụ án”, “khởi kiện vụ án”, “đang giải quyết vụ án” đã dẫn đến cách hiểu là đương sự có quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ là đương sự trong Vụ án dân sự. Vậy đương sự trong việc dân sự có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không? Nếu có tại sao khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 không quy định là “vụ việc” mà lại quy định nhiều lần là “vụ án”? Ngược lại, nếu đương sự trong việc dân sự không có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tại sao cũng là đương sự, trong quá trình giải quyết việc dân sự có thể có những tình thế cấp bách cần được tòa án can thiệp bằng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự trong việc dân sự lại không có quyền yêu cầu. Nếu hiểu đương sự là những chủ thể có quyền, lợi ích cần được tòa án bảo vệ thì trong việc dân sự đương nhiên cũng phải có đương sự. Có thể vì cho rằng, việc dân sự không có hai bên đương sự tranh chấp, mâu thuẫn với nhau nên không cần đến Biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng thực tiễn TTDS cho thấy trong nhiều trường hợp chứng cứ dùng để giải quyết việc dân sự cũng cần được bảo vệ khẩn cấp hoặc quyền, lợi ích của đương sự trong việc dân sự cũng cần có ngay biện pháp bảo vệ, ngăn chặn. Việc BLTTDS không quy định, hay nói cách khác là không quy định rõ đương sự trong việc dân sự có quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc dân sự hay không đã gây ra nhận thức và thực hiện không thống nhất trong tiễn áp dụng quy định của pháp luật về Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Có thể đây cũng là một nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng không có đơn yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nào của đương sự trong việc dân sự được nộp tại tòa án hay nếu có thì tòa án sẽ từ chối không thụ lý do không có điều khoản nào quy định trong luật về vấn đề này, từ đó kéo theo một thực tế là theo số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân tối cáo là không có tòa nào ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nào đối việc dân sự. Cùng với đương sự trong Vụ án dân sự, khoản 1 Điều 111 BLTTDS còn công nhận quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của người đại diện hợp pháp của đương sự [28].

Người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS có thể là người đại diện theo pháp luật quy định, có thể là người đại diện do đương sự ủy quyền, có thể là người đại diện do tòa án chỉ định. Xuất phát từ đặc điểm của người đại diện là người thay đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự nên nếu đương sự có quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng thì người đại diện hợp pháp của đương sự cũng có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng. Đây là quy định đảm bảo được tính chặt chẽ, thống nhất về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong pháp luật dân sự nói chung. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Ngoài đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, BLTTDS năm 2015 cũng đã mở rộng quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cho cả cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác theo quy định của pháp luật để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, để bảo vệ bằng chứng, để bảo toàn tình trạng hiện có hoặc để đảm bảo cho thi hành án. Quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật còn được khẳng định qua quy định tại Điều 134 BLTTDS năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này kiến nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng văn bản”. Quy định này được hiểu như là điều hiển nhiên khi pháp luật dân sự có quy định về người yêu cầu khởi kiện có thể là cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác như Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Có thể khẳng định việc BLTTDS năm 2015 quy định về quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác là cần thiết, tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 lại quy định chưa thống nhất về vấn đề này. Khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 quy định cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác theo luật định có quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong khi Điều 134 BLTTDS năm 2015 lại quy định thừa nhận cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác theo luật định có quyền kiến nghị tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chính việc quy định không thống nhất này sẽ làm cho cơ quan, tổ chức không biết phải làm đơn yêu cầu hay phải làm văn bản kiến nghị tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Mặt khác, việc quy định không thống nhất này còn dẫn đến vướng mắc tiếp theo khi áp dụng các quy định khác của BLTTDS năm 2015. Nếu xác định cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác theo luật định có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc đưa ra yêu cầu đó là không đúng, gây thiệt hại thì vì là “người có yêu cầu” nên cơ quan, tổ chức đó phải bồi thường theo quy định tại Điều 113 BLTTDS năm 2015. Nhưng nếu xác định cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác có quyền kiến nghị tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu kiến nghị đó là không đúng, gây thiệt hại thì cơ quan, tổ chức đó có thể không phải bồi thường vì Điều 113 BLTTDS năm 2015 chỉ quy định trách nhiệm bồi thường của người yêu cầu và Điều 134 BLTTDS năm 2015 cũng không có quy định nào về trách nhiệm bồi thường của người đã kiến nghị. Thực tế này cho thấy Điều 111 và Điều 134 BLTTDS năm 2015 cần phải được sửa đổi để có quy định một cách thống nhất về quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích của người khác. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Với quy định tại của pháp luật dân sự về các chủ thể có quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, BLTTDS năm 2015 không chỉ tạo cơ hội cho đương sự tự bảo vệ quyền, lợi ích của mình bằng việc tự mình yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà còn cho đương sự cơ hội được một số chủ thể khác như cơ quan, tổ chức, tòa án bảo vệ thông qua yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tham khảo vấn đề này trong quy định của PLTTDS của nhiều nước thuộc hệ thống luật dân sự như Pháp, Trung Quốc, Liên bang Nga…, tác giả nhận thấy quy định của PLTTDS Việt Nam về vấn đề này có nét tương đồng. Ví dụ, theo quy định tại Điều 139 BLTTDS Liên bang Nga, chủ thể có quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tương đối rộng. Ngoài những người tham gia tố tụng như các bên nguyên đơn, bị đơn, người thứ ba có quyền, lợi ích liên quan, kiểm sát viên, người yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc người tham gia tố tụng để phát biểu kết luận về những tình tiết theo quy định của pháp luật, người khởi kiện và những người khác trong những tranh chấp được giải quyết theo thủ tục tố tụng đặc biệt và trong những tranh chấp từ quan hệ công pháp thì tòa án, thẩm phán cũng có thể tự mình chủ động áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Hay theo Điều 92 BLTTDS của nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa, bên cạnh quy định đương sự có quyền yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp bảo toàn tài sản hoặc Biện pháp khẩn cấp tạm thời còn có quy định trong trường hợp cần thiết, tòa án có quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không cần dựa vào yêu cầu của đương sự. Quy định tòa án có quyền tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng được thể hiện qua Điều 145; Điều 484 BLTTDS Pháp. Ngược lại, các nước theo hệ thống luật án lệ lại nhất quán với tư tưởng chỉ duy nhất đương sự mới có quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, tòa án không có quyền tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ví dụ theo quy định của PLTTDS Mỹ, chỉ đương sự mới có quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, tòa án không thể áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu không có yêu cầu của đương sự, tòa án không có quyền tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời [38, tr.20].

Có thể thấy rằng, việc quy định chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng cần theo các quy định của pháp luật dân sự hiện tại nhằm đảm bảo tính thống nhất trên toàn hệ thống quy phạm về Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng cũng như trong tố tụng mà ở đó chủ thể là những cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan như Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp là người yêu cầu trong việc dân sự, đương sự trong Vụ án dân sự, người đại diện cho đương sự trong Vụ án dân sự và cơ quan tổ chức được nhà nước giao quyền cho phép khởi kiện. Tuy nhiên, do việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân, tổ chức người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng, do đó, các chủ thể có quyền yêu cầu cần đảm bảo có sự truy cứu trách nhiệm được nếu khi xảy ra trường hợp áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích. Cho nên: quyền yêu cầu Biện pháp khẩn cấp tạm thời nên chỉ gắn với các chủ thể trực tiếp trong VDS hay Vụ án dân sự là người yêu cầu trong VDS và đương sự của Vụ án dân sự. Còn người đại diện và cơ quan tổ chức chỉ nên có quyền áp dụng một số Biện pháp khẩn cấp tạm thời riêng biệt không làm ảnh hưởng đến tài sản như buộc chăm sóc trẻ vị thành niên,….. để tránh những rắc rối khi có hậu quả phát sinh. Vấn đề này cần có sự nghiên cứu sâu trong thực tiễn để có thể đề ra các quy định cụ thể. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

3.1.3 Cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

Việc quy định cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng là một vấn đề cực kì quan trọng, cần có sự nghiên cứu để phù hợp với tính chất và mục đích của Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy vậy, cơ quan áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng cũng cần có sự phù hợp với quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện tại nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật như:

Theo quy định tại Điều 112 BLTTDS năm 2015, thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời để từ đó ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS là của tòa án. Ngoài BLTTDS năm 2015, một số văn bản pháp luật khác cũng có quy định tương tự về vấn đề thẩm quyền quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, ví dụ Điều 199, Điều 200 và Điều 206 LSHTT; Điều 13 Hiệp định thương mại Việt Mỹ, Điều 3 Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển, Điều 3 Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu bay… Tham khảo Luật trọng tài thương mại năm 2010 cũng có quy định về thẩm quyền giải quyết, quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng có chút khác biệt. Nếu như trước đây, khi chưa có Luật trọng tài thương mại 2010, Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 quy định theo nguyên tắc: dù các bên đương sự trong tranh chấp thương mại có lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp thì khi có nhu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, họ cũng không thể yêu cầu Hội đồng trọng tài thực hiện mà vẫn phải gửi đơn đến tòa án có thẩm quyền để tòa án quyết định nhằm hỗ trợ cho hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài và bảo vệ lợi ích của đương sự [39, tr. 74]. Một trong những lý do giải thích cho quy định này là Hội đồng trọng tài nếu có là tòa án thì cũng chỉ coi là tòa án tư, các lệnh tạm thời có thể có hiệu lực đối với hai bên đương sự song khó có lý do để cho các lệnh đó có hiệu lực hạn chế quyền của người thứ ba… Đến Luật trọng tài thương mại năm 2010, quy định của pháp luật lại rất “khôn khéo”, “uyển chuyển và có vẻ như rất thận trọng rằng các bên có thể nhờ cậy đến tòa án (sau khi nộp đơn kiện tới trọng tài- Điều 53.1) hoặc trọng tài (sau khi lập Hội đồng trọng tài – các Điều 48, 49) yêu cầu ban hành các lệnh khẩn cấp, tạm thời. Nếu yêu cầu được gửi tới hai nơi thì có thể dịch nôm rằng cơ quan tài phán nào nhận được đơn yêu cầu trước, cơ quan tài phán đó sẽ thụ lý, cơ quan nhận sau sẽ phải từ chối [40, tr.78].

Như vậy, nếu PLTTDS quy định tòa án là cơ quan tài phán có thẩm quyền quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì trong pháp luật tố tụng trọng tài, ngoài tòa án, trong trường hợp do Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định, Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời .

Do đó, việc xem xét các cơ quan có quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng cũng cần có sự tương đồng với pháp luật tố tụng nói chung. Tòa án hay Hội đồng trọng tài là những thiết chế quan trọng của ngành tư pháp, có vai trò là người phân xử ai đúng, ai sai trong Vụ án dân sự. Các cơ quan khác như Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hay Viện kiểm sát chỉ là những cơ quan hành chính và cơ quan giám sát, không phù hợp để giao quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng.

Vấn đề thay đổi hay hủy bỏ việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng cũng nên phù hợp với pháp luật tố tụng nói chung. Việc thay đổi, hủy bỏ trước nhất dựa trên yêu cầu của bên yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau đó đến các cơ quan như tòa án hay VKS. Không chỉ vậy, bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng nên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời chấm dứt áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đây cũng là một cơ chế nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.

3.2. Những vấn đề pháp lý cần giải quyết khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

3.2.1 Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng nên phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng nói chung. Do tính khẩn cấp nên theo quy định tại Điều 139 BLTTDS năm 2015, quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo, VKS không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm [11]. Tuy nhiên, vì quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng chỉ là một quyết định của một cơ quan trong bộ máy nhà nước nên quyết định này có thể bị đương sự khiếu nại. Đồng thời, với chức năng giám sát các hoạt động tư pháp, đặc biệt là hoạt động xét xử, VKS cũng có quyền kiến nghị về việc giải quyết yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan đã ban hành. Để có cơ sở cho việc khiếu nại, kiến nghị như theo áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng thì khoản 2 Điều 139 BLTTDS năm 2015 có quy định: “Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định đó cho người yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự và VKS cùng cấp”. Điều 140 BLTTDS năm 2015 còn quy định cụ thể về thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định của tòa án về giải quyết yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được tiến hành theo các quy định tố tụng. Nếu trong thời hạn mà luật đã định mà chưa được giải quyết, các bên liên quan có quyền gửi khiếu nại, khiến nghị lên cơ quan cấp trên nhằm đảm bảo quyền lợi và việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng giải quyết. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Các quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cho việc giải quyết yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng của tòa án được minh bạch, đúng đắn, khách quan. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay trong giai đoạn tố tụng cho thấy số vụ mà đương sự có đơn khiếu nại, VKS có văn bản kiến nghị về việc tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là rất ít. Ví dụ: theo số liệu thống kê của Cục thống kê VKSNDTC về số vụ áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời bị VKS kiến nghị thì năm 2005 có 11 Vụ án dân sự VKS kiến nghị quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, năm 2006 có 2 vụ VKS kiến nghị, năm 2007 có 17 vụ VKS kiến nghị, năm 2008 có 1 vụ VKS kiến nghị, năm 2009 và 2010 VKS không thống kê việc kiến nghị quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do đó, việc tạo điều kiện cho các bên liên quan dễ dàng tiến hành khiếu nại về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng là cần thiết.

3.2.2 Trách nhiệm pháp lý của các bên khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

Trách nhiệm của người đã đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng nên được dựa theo quy định của BLTTDS năm 2015 làm căn cứ để từ đó có thể đồng nhất các trách nhiệm pháp lý, nếu xây dựng một chế định trách nhiệm pháp lý riêng, mang tính đặc thù cho việc Biện pháp khẩn cấp tạm thời ngoài giai đoạn tố tụng sẽ gây cho hệ thống văn bản quy phạm những quy định rời rạc, thiếu đồng nhất.

Theo khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015 có quy định “Người có yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba thì phải bồi thường”. Như vậy, song song với việc ghi nhận quyền yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, BLTTDS năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường nếu việc thực hiện quyền yêu cầu đó là không đúng, gây thiệt hại cho người khác. Quy định này là quy định mới so với PLTTDS trước đây, thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong tư tưởng lập pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, từ quy định này bộc lộ một số vướng mắc như sau: Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 112 BLTTDS năm 2015, thẩm quyền xem xét, giải quyết yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là của tòa án. Đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác chỉ có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có quyền quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nhưng sau này, nếu việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng, gây thiệt hại cho người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại lại hoàn toàn là của người đã đưa ra yêu cầu, mặc dù họ không phải là người đã ra quyết định về việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Người đã ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng là tòa án lại không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Có lẽ quy định này được xây dựng trên cơ sở cho rằng quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời xuất phát từ yêu cầu của người có quyền yêu cầu, nếu không có yêu cầu thì tòa án đã không ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, vì thế nếu việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng, gây thiệt hại thì mặc dù tòa án là người trực tiếp ra quyết định đó nhưng tòa án không phải chịu trách nhiệm bồi thường mà người có trách nhiệm bồi thường phải là người đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định này có vẻ như sẽ hạn chế được tình trạng lạm quyền của người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, buộc người đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời phải suy nghĩ chin chắn trước khi đưa ra yêu cầu và khi đã đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, người đưa ra yêu cầu đó sẽ phải nỗ lực để đưa ra được những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời và như vậy tòa án sẽ rất thuận lợi trong việc xem xét, giải quyết để quyết định áp dụng hay không áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, quy định như tại khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015 là “bất hợp lý” [41, tr. 95], bởi tòa án không phải chịu trách nhiệm gì trong việc ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì tòa án quá “an toàn” trong các hoạt động của mình. Chính sự quá an toàn này dễ làm cho tòa án có thái độ thiếu trách nhiệm trong việc xem xét, quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ hai, Điều 111 và Điều 134 BLTTDS năm 2015 quy định chưa có sự thống nhất. Điều 134 BLTTDS năm 2015 quy định cơ quan, tổ chức khởi kiện Vụ án dân sự theo quy định tại Điều 186 BLTTDS năm 2015 để bảo vệ quyền, lợi ích của người khác có quyền kiến nghị tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng trước đó, Điều 111 BLTTDS năm 2015 lại quy định là quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định không nhất này gây khó khăn cho việc xác định trách nhiệm bồi thường bởi nếu là “quyền yêu cầu” như Điều 111 BLTTDS năm 2015 quy định thì mới liên quan đến vấn đề xác định trách nhiệm của người đã yêu cầu tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng theo Điều 101 BLTTDS năm 2015. Còn nếu “có quyền kiến nghị” theo Điều 134 BLTTDS năm 2015 thì không có cơ sở để xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khi kiến nghị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng bởi Điều 113 BLTTDS năm 2015 chỉ quy định về trách nhiệm bồi thường nếu như chủ thể có yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Về nguyên tắc mọi chủ thể đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, cơ quan, tổ chức có quyền kiến nghị tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cơ quan, tổ chức đó vẫn phải chịu trách nhiệm khi kiến nghị của mình là không đúng. Tuy nhiên, việc quy định trách nhiệm bồi thường của cơ quan, tổ chức khi đưa ra kiến nghị không đúng cần phải tính đến khả năng có thể vì trách nhiệm bồi thường sẽ làm cho cơ quan, tổ chức có tâm lý e ngại, không tích cực bảo vệ quyền, lợi ích cho người khác. Vì thế, căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan, tổ chức đã khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích cho người khác khi đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng cần được quy định phù hợp, các căn cứ đó phải cho thấy rõ ràng cơ quan, tổ chức đã có lỗi trong việc đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Có như vậy mới giữ được sự chủ động của cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của người khác, đồng thời nâng cao được trách nhiệm của tòa án trong các hoạt động của mình.

Thứ ba, theo như quy định tại khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015 thì trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi có hai điều kiện: thứ nhất là việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng và thứ hai là việc áp dụng không đúng phải làm cho người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba bị thiệt hại. Bồi thường thiệt hại do áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng là một trường hợp của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và như vậy đòi hỏi phải có căn cứ là có thiệt hại thực tế xảy ra. Quy định tại khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015 đã được xây dựng đúng theo nguyên tắc đó, tức là phải có thiệt hại xảy ra do việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì mới đặt ra trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015 cần tính đến căn cứ pháp lý của việc xác định trách nhiệm bồi thường bởi người bị thiệt hại có quyền tự định đoạt trong việc họ có yêu cầu bồi thường thiệt hại hay không chứ không phải cứ có quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, gây ra thiệt hại là dẫn đến trách nhiệm bồi thường của người đưa ra yêu cầu. Khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015cần phải có quy định bổ sung về vấn đề này. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ tư, Khoản 1, khoản 2 Điều 113 BLTTDS năm 2015 được xây dựng theo hướng bảo vệ quyền, lợi ích của người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba. Việc bảo vệ này là rất cần thiết bởi có như vậy mới đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các đương sự trong TTDS. Nhưng cũng từ nguyên tắc công bằng, bình đẳng này BLTTDS năm 2015 cũng cần phải có quy định bảo vệ quyền, lợi ích của người đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu yêu cầu của họ là đúng đắn, là có căn cứ bởi khi đưa ra yêu cầu họ đã phải nộp một khoản tiền để bảo đảm cho yêu cầu của mình. Khoản tiền bảo đảm đó trong nhiều trường hợp là không hề nhỏ. Có thể vì phải lo có khoản tiền đó và duy trì khoản tiền đó mà người đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã gặp phải những khó khăn nhất định trong đời sống hoặc trong công việc làm ăn, kinh doanh. Vì vậy, nếu yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của họ là đúng, là có căn cứ thì mặc dù số tiền mà họ đã nộp để bảo đảm sẽ được hoàn trả nhưng lợi tức phát sinh từ số tiền đó và những khó khăn mà họ phải gánh chịu để có và duy trì số tiền đó trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng cần phải được phía người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời bù đắp. Hiện tại, khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015 mới chỉ bảo vệ quyền, lợi ích cho bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, vì thế điều luật này cần được bổ sung quy định để bảo vệ quyền, lợi ích của cả bên yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tìm hiểu thực tiễn TTDS trong thời gian gần đây, mặc dù BLTTDS năm 2015 đã quy định về trách nhiệm bồi thường do yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng nhưng do số vụ án có áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là quá ít nên chưa thấy yêu cầu đòi bồi thường do áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng nào được đưa ra.

3.2.3 Trách nhiệm của cơ quan áp dụng áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Như theo các lý lẽ đã đề cập ở trên thì cơ quan có thẩm quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng mà tác giả đã đề cập ở trên chính là tòa án hay hội đồng trọng tài. Do đó, nếu để đề cập về trách nhiệm của cơ quan áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng cũng cần phải phù hợp với quy định về áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình tố tụng mà cụ thể là:

Khoản 2 Điều 113 BLTTDS năm 2015 có quy định: “Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba thì tòa án phải bồi thường…”. Như vậy, tòa án – cơ quan có quyền lực nhà nước cũng có trách nhiệm bồi thường nếu tòa án tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Đây là một quy định mới chưa từng được quy định trong các văn bản PLTTDS trước đây.

Căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường của tòa án vì áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng được quy định tại khoản 2 Điều 113 BLTTDS năm 2015: tòa án tự mình ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, tòa án quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu, tòa án ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Về căn cứ “tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu. Tòa án chỉ xem xét để quyết định áp dụng hay không áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được ghi trong đơn. Nếu xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đó, nếu không chấp nhận thì thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Trong trường hợp họ có yêu cầu thay đổi áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì tòa án phải yêu cầu họ làm đơn yêu cầu mới theo đúng quy định tại Điều 117 BLTTDS năm 2015… Khi xem xét để quyết định áp dụng một Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể, tòa án chỉ có quyền chấp nhận toàn bộ, một phần hoặc không chấp nhận yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể đó của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tuyết đối không được áp dụng vượt quá yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức…[42] Với tâm lý muốn an toàn, tránh rủi ro, tòa án sẽ dựa vào yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu để quyết định áp dụng chính Biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được yêu cầu. Như thế vừa rất thuận lợi trong việc quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, vừa tránh được khả năng phải bồi thường thiệt hại hoặc không mất thời gian giải quyết khiếu nại. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Về căn cứ “tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức”. Cũng xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, căn cứ này được quy định theo hướng đương sự yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đến mức độ nào, phạm vi nào thì tòa án quyết định áp dụng đến mức độ đó, phạm vi đó. Nếu tòa án tự ý vượt quá mức độ mà người yêu cầu đề nghị, gây ra thiệt hại thì tòa án phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, cũng giống như hai căn cứ trước, căn cứ này rất ít khi xảy ra trong thực tiễn bởi giải pháp “tuyệt đối dựa trên yêu cầu đặt ra” là giải pháp an toàn và đơn giản nhất cho tòa án khi quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Như vậy, từ những phân tích trên về quy định tại khoản 2 Điều 113 BLTTDS năm 2015 cho thấy mặc dù BLTTDS năm 2015 có quy định về trách nhiệm bồi thường của tòa án do áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và trong quy định này các nhà làm luật đã dự liệu ra tương đối nhiều căn cứ để xác định trách nhiệm của tòa án nếu quyết định của tòa án là không đúng, gây thiệt hại. Tuy nhiên, các trường hợp được dự liệu, các căn cứ để xác định trách nhiệm của tòa án trong Điều 113 BLTTDS năm 2015 còn chưa thực sự phù hợp, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn TTDS. Theo ý kiến của Viện Khoa học pháp lý, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Vụ Bổ trợ tư pháp, Cục Trợ giúp pháp lý Bộ Tư pháp thì các căn cứ xác định trách nhiệm của tòa án trong việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là “chưa đầy đủ”, thiếu căn cứ “tòa án không áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà gây thiệt hại cho người yêu cầu áp dụng BPKCTT [41, tr. 89]. Những hạn chế trên từ quy định tại khoản 2 Điều 113 BLTTDS năm 2015 đã là lý do cơ bản dẫn đến tình trạng trong thực tiễn TTDS chưa tìm thấy vụ việc nào mà người đã quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời phải bồi thường.

Tham khảo vấn đề này trong PLTTDS của một số nước, tác giả nhận thấy có điểm khác nhau nhất định. Ví dụ trong BLTTDS của Liên bang Nga, Điều 146 có quy định: “…Trong trường hợp đơn kiện không được chấp nhận thì sau khi có phán quyết của tòa án đã có hiệu lực, bị đơn có quyền đòi nguyên đơn bồi thường thiệt hại gây ra do việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của nguyên đơn”. Như vậy, nếu việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng thì trách nhiệm bồi thường chỉ đặt ra đối với trường hợp nguyên đơn đã đưa ra yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không đặt đối với trường hợp tòa án tự mình áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định này rất gần với quy định của BLTTDS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa: trách nhiệm bồi thường chỉ đặt ra khi tòa án áp dụng biện pháp bảo toàn tài sản, không đặt ra đối với áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời và chỉ đặt ra đối với người đã đưa ra yêu cầu (Điều 96). Tham khảo BLTTDS của Cộng hòa Pháp, tác giả nhận thấy các nhà lập pháp không đặt ra vấn đề trách nhiệm bồi thường của tòa án khi quyết định Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Chánh án hay thẩm phán có thẩm quyền có quyền độc lập, chủ động trong việc quyết định áp dụng mọi Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết, có quyền quyết định tạm thời những biện pháp bảo toàn hoặc giữ nguyên hiện trạng nhằm phòng ngừa thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra hoặc chấm dứt tình trạng lộn xộn bất hợp pháp (Điều 848, 893 BLTTDS Pháp). Nếu đương sự cho rằng quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng, đương sự có thể kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm chứ không đặt ra vấn đề bồi thường. Quy định này thể hiện tư tưởng tôn trọng tuyệt đối thẩm phán, trao cho thẩm phán phạm vi quyền hạn rất rộng, tạo ra cho thẩm phán môi trường làm việc rất chủ động và bảo vệ tuyệt đối các quyết định của thẩm phán. Tuy nhiên, quy định theo hướng này chỉ phù hợp nếu thẩm phán có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất nghề nghiệp đảm bảo và có ý thức tuân thủ pháp luật tốt. Thực tiễn áp dụng PLTTDS Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cho thấy vẫn cần phải có những quy định ràng buộc về trách nhiệm của các chủ thể trong TTDS, kể cả chủ thể đó là tòa án. Tác giả cho rằng, quy định về trách nhiệm bồi thường của tòa án do tòa án đã áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng trong BLTTDS Việt Nam năm 2015 thực sự là một quy định thể hiện sự tiến bộ trong lĩnh vực lập pháp, thể hiện thái độ nghiêm túc, khách quan trong công tác xây dựng PLTTDS của Đảng và nhà nước ta. Tuy nhiên, quy định về vấn đề này vẫn còn những điểm hạn chế cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn để việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày càng đúng đắn và có hiệu quả cao.

3.2.4 Biện pháp bảo đảm quyền lợi của bên bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng

Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng là một vấn đề hoàn toàn mới trong bối cảnh ngày nay. Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng còn ảnh hưởng rất nhiều đến quyền lợi của bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do đó, ngoài việc xây dựng cơ chế để áp dụng được điều này trên thực tế, ta còn phải xây dựng những biện pháp nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ngoài các quy định về việc bảo vệ bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 thì cần có cơ chế riêng trong giai đoạn tiền tố tụng. Thiết nghĩ cần có cơ chế phản đối lại yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên bị áp dụng khi tòa án hay có quan có thẩm quyền ra quyết định. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Kết luận chương 3

BLTTDS năm 2015 chưa ghi nhận các chế định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời và áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn trước khi khởi kiện để đảm bảo quyền lợi của các bên trong cơ chế giải quyết tranh chấp mà đương sự tự lựu chọn. Có thể nói đây là một vấn đề “còn là khoảng trống” của Luật cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, ghi nhận bổ sung trong luật.

Có thể định hướng lựa chọn áp dụng một số loại Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định Pháp luật TTDS hiện hành để áp dụng trong giai đoạn tiền tố tụng như các nhóm Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể áp dụng là các Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà ít có cơ hội gây ra các hậu quả về tài sản đáng kể cho người bị áp dụng (hậu quả tài sản đáng kể ở đây là các kết quả có thể phát sinh gây ra các thiệt hại về tài sản một cách tương đối có thể nhìn nhận trước được). Cụ thể là: nhóm các biện pháp dễ thực hiện trên thực tiễn mà không ảnh hưởng đến người bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời như: Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng là một biện pháp thực tế là thay người có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng yếu thế trong xã hội; nhóm các biện pháp trên đều hướng đến các quy định của pháp luật dân sự mà ở đó việc thực hiện không gây ảnh hưởng nhiều đến tài sản như: buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động; nhóm các biện pháp hướng đến đối tượng là tài sản như: Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng, do đó, nếu cơ chế áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng được thực thi thì chúng ta cần nghĩ đến vấn đề hiệu lực của việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng và các yếu tố bảo đảm hiệu lực của việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là: Người có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng; Cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng…Ngoài ra cũng cần phải lưu ý các vấn đề pháp lý cần giải quyết khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng như: Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; Trách nhiệm pháp lý của các bên khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng; Biện pháp bảo đảm quyền lợi của bên bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng…

Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng là một vấn đề hoàn toàn mới trong bối cảnh ngày nay. Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng còn ảnh hưởng rất nhiều đến quyền lợi của bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do đó, ngoài việc xây dựng cơ chế để áp dụng được điều này trên thực tế, ta còn phải xây dựng những biện pháp nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ngoài các quy định về việc bảo vệ bên bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 thì cần có cơ chế riêng trong giai đoạn tiền tố tụng. Thiết nghĩ cần có cơ chế phản đối lại yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên bị áp dụng khi tòa án hay có quan có thẩm quyền ra quyết định.

KẾT LUẬN Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Bảo vệ hiệu quả các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội luôn là mục tiêu phấn đấu của cả hệ thống tòa án nước ta từ trung ương đến địa phương. Để đạt được mục tiêu này, tòa án phải sử dụng nhiều biện pháp tố tụng phù hợp khác nhau nhằm giải quyết được và giải quyết hiệu quả VVDS. Một trong những biện pháp tố tụng đó là biện pháp áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Biện pháp khẩn cấp tạm thời được sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp khi mà đương sự trong VVDS cần được giải quyết nhu cầu cấp bách hoặc để bảo toàn chứng cứ, tài sản của đương sự khỏi bị hủy hoại, tẩu tán. Vai trò của Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS còn được nhìn nhận như một biện pháp bảo đảm, bảo đảm cho việc giải quyết được VVDS và thi hành án dân sự. Với ý nghĩa và vai trò quan trọng như vậy nên không chỉ trong PLTTDS của Việt Nam mà trong hầu hết PLTTDS của các nước đều có những quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Như vậy, dù xét trên phương diện nào (cả lý luận và thực tiễn), Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng là một biện pháp tố tụng rất quan trọng, được tòa án sử dụng khi cần thiết.

Nhận thức được ý nghĩa, vai trò của Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS nói chung, với định hướng nghiên cứu về Biện pháp khẩn cấp tạm thời dưới góc độ pháp luật nên việc nghiên cứu, phân tích để trên cơ sở đó đánh giá được những ưu điểm, bất cập trong các quy định của PLTTDS Việt Nam để xây dựng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng là một công việc hết sức cần thiết. BLTTDS năm 2015 tuy có nhiều quy định mới, tích cực, phù hợp hơn với thực tiễn TTDS. Điều này thể hiện một bước phát triển trong lịch sử phát triển của PLTTDS Việt Nam, làm cho việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan thì một số quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 vẫn còn chưa thực sự khoa học, thể hiện nhiều điểm bất cập, vướng mắc, dẫn đến một thực tế rất đáng phải suy nghĩ đó là tình trạng hiếm khi tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, do đó cần xây dựng chế định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng. Việc phân tích để tìm ra những điểm vướng mắc, bất cập và chỉ ra nguyên nhân của thực tế ít khi tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những nội dung cơ bản mà tác giả chú trọng thực hiện.

Không chỉ tìm hiểu, phân tích PLTTDS Việt Nam về Biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc đối chiếu, so sánh quy định của PLTTDS Việt Nam với quy định của PLTTDS một số nước trên thế giới về Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng được thực hiện. Kết quả cho thấy mặc dù giữa pháp luật của các nước có một vài điểm khác nhau, song đều giống nhau ở một điểm là Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS là một biện pháp rất hữu hiệu giúp tòa án có thể bảo vệ tức khắc quyền, lợi ích hợp pháp của một bên đương sự bằng cách buộc bên đương sự kia phải chấp hành quyết định tạm thời của mình cho đến khi tình trạng khẩn cấp qua đi. Tuy nhiên, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS vẫn phải đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, bảo vệ bình đẳng quyền, lợi ích cho các bên đương sự, không thể vì muốn bảo vệ khẩn cấp quyền, lợi ích của bên đương sự này lại làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên đương sự kia.

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục công cuộc đổi mới, tiếp tục triển khai chiến lược cải cách tư pháp, hoàn thiện pháp luật về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn tiền tố tụng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan. Hoàn thiện pháp luật, trong đó có pháp luật về Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng sẽ góp phần phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời là một hoạt động thiết thực xây dựng nhà nước pháp quyền. Công tác hoàn thiện pháp luật về Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng được xác định phải bám sát tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, kế thừa pháp luật truyền thống của Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộ trong công tác lập pháp của một số nước trên thế giới. Luận văn: Xây dựng chế định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464