Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Phần mở đầu

1 Lý do chn đề tài

Kế thừa và phát huy tư tưởng hồ chí minh, từ ðại hội lần thứ vi (1986) đến ðại hội lần thứ xi (1-2011) của ðảng, cũng như trong các văn kiện quan trọng của ðảng và nhà nước, giáo dục và đào tạo luôn luôn được khẳng định là “quốc sách hàng đầu”, là “động lực của sự phát triển đất nước”. hiện nay, giáo dục và đào tạo đang phát triển mạnh mẽ, không ngừng đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. tại nghị quyết số 29-nq/tw ngày 04/11/2013 của ban chấp hành trung ương đảng khóa xi chỉ rõ một trong những nhiệm vụ giải pháp quan trọng để đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng là: “…thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp;…”. như vậy, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục đòi hỏi tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. nghị quyết 30c/nq-chính phủ của chính phủ ngày 08/11/2011 ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 đã nêu rõ yêu cầu “tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; đồng thời đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp từng ngành”. trong bối cảnh tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước gắn liền với cải cách nền hành chính quốc gia, đó là mục tiêu quan trọng và đang đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với công tác thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra chuyên ngành nói riêng.

Luật thanh tra năm 2010 ra đời, thay thế luật thanh tra năm 2004 có nhiều nội dung mới về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của thanh tra đòi hỏi phải cụ thể hóa trong lĩnh vực thanh tra giáo dục. nghị định số 42/2013/nđ-cp ngày 9/5/2013 của chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục có nhiều nội dung mới so với nghị định số 85/2006/nđ-cp ngày 18/8/2006 của chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục, một trong những nội dung đó là công tác thanh tra chủ yếu tập trung vào thanh tra công tác quản lý của thủ trưởng cơ sở đào tạo trên cơ sở giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cơ sở đào tạo. hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo đã phát huy vai trò là một khâu quan trọng trong quản lý nhà nước, là chức năng thiết yếu của sở, có ý nhĩa lớn trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. tuy nhiên, hoạt động thanh tra giáo dục hiện nay còn nhiều bất cập chưa phù hợp với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, chưa phân định rõ nội dung hoạt động thanh tra hành chính trong lĩnh vực giáo dục và nội dung hoạt động thanh tra chuyên ngành trong giáo dục và đào tạo, các hoạt động này còn chồng chéo, hiệu quả chưa cao, chưa có tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả của một cuộc thanh tra. vì vậy tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo cần được nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm góp phần khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra sở giáo dục và đào tạo.

Chính vì lý do trên, tác giả chọn đề tài tổ chc hot động ca thanh tra sở giáo dc và đào to làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính.

2 Tình hình nghiên cu đề tài

Nói về công tác thanh tra ngành giáo dục, có rất nhiều các tác giả, diễn giả đã dành thời gian và tâm huyết để nghiên cứu và đưa ra nhiều bài viết, nghiên cứu cụ thể về công tác thanh tra nói chung, về việc tổ chức và hoạt động nói riêng, dưới đây là một số những ví dụ điển hình: Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Bài viết đăng trên các tạp chí như: vũ văn chiến (2008), “hoạt động thanh tra hành chính: thực trạng và giải pháp”, tạp chí thanh tra số 4; nguyễn thị thương huyền (2008), “đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức thanh tra – cơ sở để hoàn thiện pháp luật thanh tra”, tạp chí nhà nước và pháp luật số 12.

Một số luận văn nghiên cứu về tổ chức và hoạt động thanh tra thực hiện tại trường đại học luật tp.hcm tiêu biểu có thể kể đến như: trần thanh tâm (2009), “tổ chức và hoạt động của thanh tra huyện”; mai thị hồng si (2010), “tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp tỉnh (từ thực tiễn thành phố hồ chí minh)”.

Về thanh tra chuyên ngành và thanh tra sở có các luận văn: lê thị thanh nga (2012), “tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giao thông – vận tải”; trần thị ngọc hoan (2012), “tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành thông tin và truyền thông”; trần đức toàn (2012), “tổ chức và hoạt động của thanh tra sở tư pháp”; đặng ngọc sơn (2014), “tổ chức và hoạt động của thanh tra sở nội vụ”.

Về thanh tra chuyên ngành giáo dục, có các luận văn: đặng thị hằng (2012), “hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục của địa phương”; nguyễn ngọc thành (2011), “đổi mới công tác thanh tra toàn diện trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh đắc lắk”.

Có thể thấy các tác giả đã tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về thanh tra, về tổ chức và hoạt động của một số các cơ quan thanh tra chuyên ngành ở các cấp, các khu vực. một số nghiên cứu khác đã tập trung đi sâu vào chuyên ngành giáo dục và giới hạn nghiên cứu của mình ở các cơ sở địa phương từ đó đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện bộ máy, cơ chế thanh tra tại cơ sở và chuyên ngành tập trung.

Xét thấy, chưa có nghiên cứu nào trực tiếp về việc tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo nói chung. chính vì vậy, tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu riêng về thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra sở giáo dục và đào tạo, với hy vọng sẽ có những phát hiện mang tính thời đại và đồng thời, sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các tác giả sau này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cu Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Trên cở sở phân tích các vấn đề lý luận, pháp lý về tổ chức và hoạt động, phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

  • Để đạt được mục đích này, đề tài có nhiệm vụ:

Làm rõ những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo: nêu và phân tích các khái niệm, đối tượng, phạm vi điều chỉnh và các nội dung cơ bản của pháp luật về tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo; khái quát quá trình phát triển của thanh tra sở giáo dục và đào tạo.

Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo; tìm ra nguyên nhân của các bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo. từ đó, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn tổ chức hoạt động thanh tra của thanh tra sở giáo dục và đào tạo. vì vậy, tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành của sở giáo dục và đào tạo. và nghiên cứu trên cơ sở số liệu từ thực tiễn của các thanh tra sở giáo dục và đào tạo trên phạm vi cả nước.

Luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo trong các văn kiện đại hội đảng qua các thời kỳ, pháp luật về thanh tra nói chung và thanh tra chuyên ngành giáo dục và đào tạo nói riêng, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 và các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo.

5 Phương pháp nghiên cu

Xuyên suốt luận văn tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa mác – lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử), tư tưởng hồ chí minh theo quan điểm lịch sử cụ thể. đồng thời tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp và phân loại các tài liệu nhằm thu thập thông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

Phương pháp quan sát, điều tra giáo dục , tổng kết kinh nghiệm nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng và xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp hoàn thiện trong luận văn.

Phương pháp thống kê: xử lý số liệu đã thu thập được bằng thống kê trong quá trình nghiên cứu.

6 Ý nghĩa khoa hc và giá trị ứng dụng ca đề tài

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về việc tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo, luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo. từ đó đề xuất biện pháp và kiến nghị cơ bản có tính khả thi góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo để xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo ở các địa phương khác trong cả nước.

7. Bố cc ca lun văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:

  • Chương 1: cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo
  • Chương 2: thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo và một số giải pháp hoàn thiện.

Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục và đào tạo 

1.1. Khái nim “thanh tra”, “thanh tra sở giáo dc và đào to”

1.1.1. Khái nim “thanh tra”

Theo từ điển tiếng việt của viện ngôn ngữ học, thì thanh tra là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp.”. theo tiếng anh, thanh tra là inspect, xuất phát từ gốc la tinh inspectare, có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động bên trong của một số đối tượng nhất định. theo đó, “thanh tra” với nghĩa là bao hàm hoạt đông kiểm soát, xem xét để phát hiện, ngăn ngừa những gì trái với quy định.

Theo từ điển luật học, thanh tra là “hoạt động xem xét để làm rõ việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân…”. thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định như người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hạn của một chủ thể nhất định. thanh tra được hiểu là một hoạt động nhằm đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật của các chủ thể. theo lý luận về quản lý nhà nước, thanh tra là một chức năng cơ bản, thiết yếu của quản lý nhà nước, là phương thức đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản ý nhà nước.

Trong luật thanh tra năm 2010, thuật ngữ “thanh tra” dùng để chỉ hai khái niệm là thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân. theo đó, thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Còn thanh tra nhân dân là: “thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua ban thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, trong luật thanh tra năm 2010, cả hai khái niệm trên đều được dùng với nghĩa hoạt động “giám sát, kiểm tra xã hội”. trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát, thanh tra nhân dân không có quyền xử lí vụ việc mà chỉ có quyền kiến nghị vì không mang quyền lực nhà nước, hoạt động giám sát của cơ quan này mang tính chất xã hội. do đó, khi nói về “thanh tra” đồng nghĩa là “thanh tra nhà nước” với tư cách là một hoạt động cơ bản, một chức năng hay một khâu cơ bản không thể thiếu trong quản lí nhà nước và mang quyền lực nhà nước khi thực hiện. bất kỳ hoạt động quản lý nào để đảm bảo đạt được mục tiêu đã đề ra đòi hỏi phải tiến hành thanh tra, kiểm tra. thanh tra là một chức năng thiết yếu của một cơ quan quản lý nhà nước, là phương thức được đảm bảo bằng pháp chế, nhằm tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước. trong phạm vi chức năng, cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các quyết định của mình, thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của các tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý để phòng ngừa, phát hiện, xử lý các vi phạm nhằm đảm bảo hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ lợi ích tổ chức và công dân. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Cũng tại khoản 1, điều 3 luật thanh tra năm 2010, thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.

Về thanh tra hành chính, theo quy định của luật thanh tra năm 2010 (khoản điều 3): “thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan tổ chúc, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp “. theo khái niệm này, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; là thanh tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới (thuộc quyền quản lý trực tiếp); là thanh tra của chủ thể quản lý này với chủ thể quản lý khác.

Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ của bộ máy nhà nước; là thanh tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới (thuộc quyền quản lý trực tiếp). thanh tra hành chính vì vậy mang tính kiểm soát nội bộ.

Nếu như mục đích chung của thanh tra là “ nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” thì hoạt động thanh tra hành chính chủ yếu tập trung vào việc kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ công vụ của cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước làm lành mạnh hóa bộ máy nhà nước thì hoạt động thanh tra chuyên ngành lại chủ yếu hướng tới việc kiểm soát hoạt động chấp hành chính sách, pháp luật của mọi đối tượng trong xã hội nhằm phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về thanh tra chuyên ngành, theo quy định của luật thanh tra năm 2010 (khoản 3 điều 3): “thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”. với việc chuyển đổi cơ chế quản lý từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xhcn đã kéo theo một loạt những thay đổi. đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra đa dạng hơn, phức tạp hơn với sự gia tăng về số lượng các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế cũng như quá trình xã hội hoá nhiều lĩnh vực. trong đó nhà nước không còn can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính, mà quản lý xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, bằng luật pháp cho mọi thành phần kinh tế hoạt động và phát triển cũng như thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm soát là chủ yếu trên khắp các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Thanh tra hành chính phải tổ chức đoàn thanh tra, phải có quyết định thanh tra trong khi thanh tra chuyên ngành có thể tổ chức đoàn hoặc có thể được thực hiện bởi thanh tra viên độc lập và trên cơ sở sự phân công nhiệm vụ.

Thanh tra chuyên ngành có quyền xử phạt hành chính trong khi thanh tra hành chính đối tượng là cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước chủ yếu áp dụng các biện pháp kỷ luật hành chính.

Mặc dù có nhiều điểm khác biệt về nội dung và hình thức nhưng từ quy định của luật thanh tra năm 2010 thì sự phân định giữa hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành vẫn mang tính chất tương đối. vì cả hai nội dung trên đều do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm mục đích là đảm bảo tính hợp pháp, hợp lí, có hiệu lực, hiệu quả góp phần làm cho bộ máy nhà nước hoạt động đúng quy định và có chất lượng. thanh tra hành chính hay thanh tra chuyên ngành đều thanh tra việc chấp hành pháp luật, xét về mặt khái niệm thì thanh tra chuyên ngành cũng nằm trong hệ thống pháp luật, còn xét về thực tiễn thì rất khó để xác định được ranh giới giữa pháp luật và pháp luật chuyên ngành. tuy vậy, tiêu chí rõ ràng để phân định phạm vi giữa hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành, theo tác giả là quan hệ trực thuộc hay không trực thuộc giữa đối tượng thanh tra và chủ thể cao nhất có quyền thanh tra.

“Thanh tra” không chỉ là một hoạt động mà thuật ngữ này hoặc “thanh tra nhà nước” ở nước ta còn chỉ về một hệ thống cơ quan chuyên thực hiện chức năng thanh tra. tùy thuộc vào chế độ chính trị, cơ cấu tổ chức, cách phân chia quyền lực mà việc tổ chức các cơ quan thanh tra ở các quốc gia khác nhau là không giống nhau. khái niệm “thanh tra” cũng như phạm vi hoạt động ở mỗi nước cũng khác nhau. thanh tra có thể thuộc quốc hội hoặc cơ quan hành pháp. và dù được tổ chức dưới hình thức nào thì thanh tra cũng là một tổ chức hoạt động có tính độc lập cao, là một trong những công cụ quản lý của cấp trên đối với cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ được giao. luật thanh tra năm 2010 xác định cơ quan thanh tra nhà nước bao gồm: thanh tra chính phủ; thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ; thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thanh tra sở; thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. như vậy, so với quy định của luật thanh tra năm 2004 và những quy định trước đó, thì trong luật thanh tra năm 2010, bên cạnh hệ thống cơ quan thanh tra sẽ xuất hiện thêm cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. đó là các cơ quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực (bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở ). cơ quan được giao thực hiện thanh tra chuyên ngành không thành lập cơ quan thanh tra độc lập mà hoạt động ở cơ quan thanh tra chuyên ngành này do người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện (là công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra của cơ quan) theo quy định của luật thanh tra và các quy định pháp luật liên quan. quy định này sẽ hạn chế việc trùng lắp, chồng chéo trong công tác thanh tra, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của lực lượng thanh tra chuyên ngành. do đó, hiện nay hiểu theo nghĩa rộng thì các cơ quan thanh tra bao gồm cả cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.

1.1.2. Khái nim “thanh tra sở giáo dc và đào to” Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Trải qua các thời kì, từ pháp lệnh thanh tra năm 1990 đến luật thanh tra năm 2004 và đến nay là luật thanh tra năm 2010 định nghĩa về thanh tra sở đã có thay đổi mang tính quan trọng. cụ thể, tại khoản 1 điều 19 pháp lệnh thanh tra năm 1990 quy định: “thanh tra sở là tổ chức thanh tra của cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”. trong luật thanh tra năm 2004 (khoản 1 điều 27) và luật thanh tra năm 2010 tại khoản 1 điều 23 có quy định: “thanh tra sở là cơ quan của sở, giúp giám đốc sở tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định pháp luật…”. như vậy thanh tra sở từ chỗ chỉ được xem là “tổ chức” thì đến nay đã được xác định là “cơ quan”. điều này khẳng định thanh tra sở có tư cách độc lập, tăng cường vị thế độc lập của thanh tra sở trong hệ thống.

Điều 5 nghị định số 24/2014/nđ-cp ngày 04 tháng 04 năm 2014 của chính phủ về quy định tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là nghị định số 24/2014/nđ-cp) quy định cơ cấu tổ chức của sở thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm có văn phòng, thanh tra, phòng chuyên môn, nghiệp vụ, chi cục, đơn vị sự nghiệp công lập. và tại điều 8 nghị định số 42/2013/nđ-cp ngày 09 tháng 5 năm 2013 của chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục (sau đây gọi tắt là nghị định số 42/2013/nđ-cp) quy định thanh tra sở giáo dục và đào tạo là cơ quan của sở gd&đt. đồng thời thanh tra sở còn có con dấu và tài khoản riêng. chính vì vậy, mặc dù còn nhiều hạn chế nhất định nhưng vẫn có thể khẳng định được tính độc lập như một “cơ quan” của thanh tra sở.

Như đã nêu ở trên về khái niệm của thanh tra sở và từ khái niệm “thanh tra” đã phân tích, ta có thể nêu một cách chung nhất rằng “thanh tra sở giáo dục và đào tạo” là cơ quan thuộc sở giáo dục và đào tạo có chức năng thanh tra.

Tuy nhiên để làm rõ hơn nội hàm khái niệm “thanh tra sở giáo dục và đào tạo” cũng cần làm rõ hơn khái niệm “giáo dục và đào tạo”. “giáo dục ” theo tiếng anh là “education”, xuất phát từ gốc la tinh có nghĩa là “nuôi dưỡng, nuôi dạy” chỉ hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu. giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác nhưng cũng có thể thông qua tự học. bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục.

Trong tiếng việt, “giáo” có nghĩa là “dạy”, “dục” có nghĩa là “nuôi” (không dùng một mình). “giáo dục ” có nghĩa là dạy dỗ và nuôi dưỡng. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Theo từ điển giáo dục học thuật ngữ giáo dục được hiểu là: “hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhắm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. giáo dục là một phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội” chính vì vậy, ở việt nam hiện nay, mục tiêu của giáo dục là “đào tạo con người việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp…”. ở việt nam đã xây dựng hệ thống giáo dục với các cơ sở giáo dục, chương trình giáo dục, sách giáo khoa và giáo trình; thi kiểm tra và văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống giáo dục; mạng lưới, tổ chức, hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường và cơ sở giáo dục khác; chính sách đối với nhà giáo; chính sách đối với người học; kiểm định chất lượng giáo dục; bảo đảm các điều kiện tài chính cho giáo dục. và đã xác định vai trò của giáo dục, đây là một ngành, lĩnh vực đóng vai trò quan trọng hàng đầu.

“Đào tạo” là một phạm trù giáo dục để chỉ riêng lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp với một trình độ nghề nghiệp nhất định. đây là một nội dung trong lĩnh vực giáo dục. chính vì vậy khi nhắc đến ngành, lĩnh vực giáo dục là bao hàm cả hoạt động gd&đt.

Điều 8 nghị định số 24/2014/nđ-cp quy định sở gd&đt là một trong số sở được tổ chức thống nhất trên toàn quốc thực hiện chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo; nhà giáo và công chức, viên chức quản lý giáo dục ; cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ.

Quy định tại khoản 1 điều 23 luật thanh tra năm 2010, điều 13 nghị định số 86/2011/nđ-cp ngày 22 tháng 9 năm 2011 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thanh tra (sau đây gọi tắt là nghị định số 86/2011/nđ-cp) và điều 8 nghị định số 42/2013/nđ-cp, thanh tra sở gd&đt được hiểu: “thanh tra sở giáo dục và đào tạo là cơ quan của sở giáo dục và đào tạo, giúp giám đốc sở giáo dục và đào tạo (sau đây gọi tắt là giám đốc sở) tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. quy định trên cho thấy thanh tra sở gd&đt trước hết là một cơ quan độc lập nằm trong cơ cấu của sở gd&đt, tham mưu, giúp việc cho giám đốc sở thực hiện hoạt động thanh tra, hoạt động của cơ qua này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc sở gd&đt. trong quy định trên cũng đã nêu rõ, thanh tra sở gd&đt còn được giao nhiệm vụ giúp giám đốc sở thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo, phụ trách công tác phòng chống tham nhũng theo luật phòng, chống tham nhũng.

Từ những phân tích trên, tác giả có định nghĩa khái quát về thanh tra sở gd&đt như sau: “thanh tra sở giáo dục và đào tạo là cơ quan thuộc sở giáo dục và đào tạo, giúp giám đốc sở giáo dục và đào tạo tiến hành thanh tra hành chính đối với các tổ chức, cá nhân trực thuộc, thanh tra chuyên ngành với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực quản lí nhà nước của sở giáo dục và đào tạo, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng theo quy định của luật khiếu nại, luật tố cáo, luật phòng, chống tham nhũng”.

1.2. Khái quát quá trình hình thành và phát trin ca thanh tra sở giáo dc và đào to Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990

Từ năm 1945 – năm 1954: năm 1945, khi chính phủ lâm thời nước việt nam dân chủ cộng hòa được công bố thành lập thì bộ quốc gia giáo dục là một trong 13 bộ thành viên của chính phủ trên cơ sở bản tuyên cáo của chính phủ lâm thời vào ngày 28 tháng 8 năm 1945. bộ máy của bộ quốc gia giáo dục lúc này có văn phòng bộ và các nha theo sắc lệnh 17 ngày 8/9/1945. bên cạnh bộ phận quản lý công tác học vụ còn có thanh tra giáo dục làm việc tương đối độc lập với nhiệm vụ phụ trách công tác thanh tra hoạt động của bộ máy của bộ quốc gia giáo dục.

Từ năm 1954 – năm 1974: trên cơ sở chỉ thị số 50/ct-tw ngày 04/7/1962 của ban bí thư trung ương về việc tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các nghị quyết chỉ thị của đảng và chính phủ và nhu cầu phát triển giáo dục bộ máy của bộ giáo dục thời kì này có nhiều thay đổi và phát triển. ban thanh tra của bộ được thành lập. ở các ty giáo dục của các tỉnh bắt đầu hình thành và phát triển các ban thanh tra hoặc bộ phận thanh tra. đây là cơ sở ban đầu cho thanh tra sở gd&đt sau này.

Từ năm 1975 – năm 1990: là thời kì sau thống nhất đất nước ở cả hai miền bắc và nam, nước ta đã gặp phải những khó khăn chồng chất, những hạn chế về cơ chế quản lý, đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng nhưng vẫn theo tinh thần của nghị định số 26-hđbt ngày 15/2/1984 về việc tăng cường tổ chức thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra thì ở cả hai bộ là bộ giáo dục và bộ đại học và trung học chuyên nghiệp vẫn duy trì ban thanh tra giúp bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra. đối với việc thành lập thanh tra sở gd&đt, ngày 29/10/1988 bộ trưởng bộ gáo dục ra quyết định số 1019/qđ quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục theo phương châm cơ bản của công tác thanh tra là khách quan, thận trọng, nghiêm túc, lấy xây dựng làm chính, phát huy quyền làm chủ của tập thể, thúc đẩy trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân, đề cao ý thức kỷ luật, kịp thời biểu dương mặt tích cực, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm, thiết thực ngăn ngừa hiện tượng tiêu cực xảy ra. pháp luật về thanh tra trước năm 1990 chưa xác định thanh tra sở là tổ chức thuộc hệ thống thanh tra nhà nước, hoạt động của thanh tra sở còn mờ nhạt, chưa rõ ràng.

1.2.2. Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Hoạt động thanh tra giáo dục trong giai đoạn này diễn ra trong bối cảnh hợp nhất hai bộ là bộ giáo dục với bộ đại học và trung cấp chuyên nghiệp thành bộ giáo dục và đào tạo. năm 1990, từ khi có pháp lệnh thanh tra được hội đồng nhà nước công bố ngày 01/04/1990 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành như nghị định số 244-hđbt ngày 30/6/1990 của hội đồng bộ trưởng về tổ chức của hệ thống thanh tra nhà nước và biện pháp bảo đảm hoạt động thanh tra, thông tư số 124/tt-ttr ngày 18 tháng 7 năm 1990 của thanh tra nhà nước hướng dẫn về tổ chức của các tổ chức thanh tra nhà nước, hoạt động thanh tra của các bộ, ngành (hay gọi là thanh tra chuyên ngành) được hình thành, phát triển và phát huy tác dụng trong việc kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội trong đó có thanh tra giáo dục.

Năm 1992 ngành thanh tra giáo dục đã có văn bản chính thức quy định về tổ chức và hoạt động của mình, đó là nghị định số 358/hđbt ngày 28 tháng 9 năm 1992 của hội đồng bộ trưởng quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục và quyết định số 478/qđ ngày 11/3/1993 của bộ gd&đt ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra gd&đt. hai văn bản này đã khẳng định vai trò quan trọng của thanh tra trong lĩnh vực giáo dục, và khẳng định thanh tra sở gd&đt là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của thanh tra nhà nước về giáo dục. đồng thời quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của thanh tra sở gd&đt: “thanh tra giáo dục của sở là tổ chức thanh tra nhà nước về giáo dục và đào tạo ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc sở giáo dục – đào tạo, chịu sự hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của thanh tra bộ, sự chỉ đạo về công tác, nghiệp vụ của thanh tra tỉnh. thanh tra sở có chánh thanh tra, phó chánh thanh tra và thanh tra viên”. như vậy, ở giai đoạn này, công tác thanh tra của sở gd&đt đã được xác định rõ ràng về cả chức năng và nhiệm vụ. bên cạnh đó biên chế nhân sự cũng được quy định: “số lượng thanh tra viên các cấp do bộ trưởng, giám đốc sở giáo dục – đào tạo quyết định theo khối lượng công tác thanh tra”. tuy nhiên giai đoạn này quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở gd&đt chưa rõ ràng, chưa có một khái niệm pháp lý đầy đủ về thanh tra chuyên ngành vì vậy, hoạt động thanh tra của sở gd&đt còn nhiều trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động. để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý ngành, chính phủ ban hành nghị định số 101/2002/nđ-cp ngày 10 tháng 12 năm 2002 quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục (sau đây gọi tắt là nghị định số 101/2002/nđ-cp) để thay thế nghị định số 358/hđbt.

1.2.3. Giai đon từ năm 2004 đến nay Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Luật thanh tra năm 2004 ra đời điều chỉnh một cách toàn diện về tổ chức, hoạt động thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân, là công cụ góp phần tạo khung pháp lý quan trọng trong việc hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, góp phần xây dựng hệ thống thanh tra theo hướng chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra. luật thanh tra năm 2004 khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra nhà nước nói chung và thanh tra sở giáo dục và đào tạo nói riêng. trên cơ sở luật, chính phủ đã ban hành nghị định số 85/2006/nđ-cp ngày 18 tháng 8 năm 2006 quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục (sau đây gọi tắt là nghị định số 85/2006/nđ-cp) để thay thế cho nghị định số 101/2002/nđ-cp. nghị định này tiếp tục khẳng định vai trò “không thể thiếu” của bộ phận thanh tra sở và được tổ chức thống nhất tại các sở gd&đt và còn nêu rõ nhiệm vụ, thẩm quyền của tổ chức thanh tra sở gd&đt. các quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở gd&đt ngày càng được hoàn thiện và cụ thể hóa hơn.

Luật thanh tra năm 2010 dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra, kế thừa các quy định còn phù hợp của luật thanh tra năm 2004, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới về công tác thanh tra.

Luật thanh tra 2010 có quy định về thanh tra chuyên ngành theo hướng mở rộng, tăng cường hoạt động của thanh tra chuyên ngành, hoạt động của thanh tra chuyên ngành không chỉ được tiến hành bởi thanh tra bộ, thanh tra sở, nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành còn được giao cho cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, đó là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, theo lĩnh vực bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở. cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành không thành lập cơ quan thanh tra độc lập. khi tiến hành thanh tra, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành được xử phạt vi phạm hành chính và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng cho sự đổi mới của hoạt động thanh tra giáo dục. thanh tra sở gd&đt từng bước được hoàn thiện về tổ chức, chuẩn hóa về mặt pháp lý, góp phần cùng với hệ thống thanh tra nhà nước nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục ở địa phương. đặc biệt, khi nghị định số 42/2013/nđ-cp ngày 09/5/2013 của chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục (sau đây gọi tắt là nghị định số 42/2013/nđ-cp) và thông tư số 39/2013/tt -bgdđt ngày 04/12/2013của bộ gd&đt hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục (dưới đây gọi tắt là thông tư số 39/2013/tt-bgdđt) có hiệu lực thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thực hiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của thanh tra sở gd&đt. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

1.3. Tổ chc ca thanh tra sở giáo dc và đào to

Tổ chức của thanh tra sở giáo dục và đào tạo trên cơ sở quy đinh tại điều luật thanh tra năm 2010, điều 113 luật giáo dục năm 2005, điều 15 nghị định số 86/2011/nđ-cp và điều 8 nghị định số 42/2013/nđ-chính phủ.

1.3.1. Địa vị pháp lý ca thanh tra sở giáo dc và đào to

Điểm a khoản 1 điều 4 thông tư liên tịch số 11/2015/ttlt-bdgđt -bnv của bộ giáo dục và đào tạo và bộ nội vụ về hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở giáo dục và đào tạo thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, phòng giáo dục và đào tạo thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là thông tư liên tịch số 11/2015/ttlt-bdgđt-bnv) quy định cùng với những đơn vị khác thanh tra sở là một bộ phận được thành lập thống nhất ở các sở gd&đt tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. hay nói cách khác, thanh tra sở là một bộ phận bắt buộc phải có trong cơ cấu tổ chức của sở gd&đt trên cả nước. thanh tra sở có mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với giám đốc sở gd&đt. đây là mối quan hệ giữa thủ trưởng và bộ máy giúp việc. mối quan hệ này không chỉ về mặt tổ chức, biên chế, kinh phí hoạt động, trụ sở làm việc mà còn cả về quyền hạn, nhiệm vụ. cụ thể về mặt tổ chức, giám đốc sở gd&đt là người có quyền trình chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập thanh tra sở gd&đt sau khi thống nhất ý kiến với chánh thanh tra tỉnh. giám đốc sở gd&đt bổ nhiệm, miễn nhiệm chánh thanh tra sở gd&đt (sau khi thống nhất với chánh thanh tra tỉnh), bổ nhiệm, miễn nhiệm phó chánh thanh tra theo đề nghị của chánh thanh tra sở, quyết định phân bổ biên chế và kinh phí hoạt động cho thanh tra sở… như vậy, với vị trí là một bộ phận cơ cấu thuộc sở, thanh tra sở gd&đt là cơ quan nằm trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho giám đốc sở gd&đt và có vị trí ngang với các phòng, ban chuyên môn khác thuộc sở gd&đt tuy nhiên bên cạnh những điểm giống các phòng chuyên môn nghiệp vụ khác thì thanh tra sở gd&đt cũng có những điểm đặt thù như sau: Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Thứ nhất, về cơ bản thanh tra là một hoạt động đặc thù nên để phát huy hiệu quả đòi hỏi phải có sự độc lập tương đối với thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước. do vậy, khác với các phòng ban khác thuộc sở, thanh tra có tính độc lập hơn, cụ thể như: về tổ chức, thanh tra sở gd&đt có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, tài khoản riêng; trong một số nhiệm vụ nhất định, thanh tra sở gd&đt có quyền ban hành quyết định hành chính gồm kế hoạch thanh tra, quyết định thành lập đoàn thanh tra, thành lập đoàn xác minh, báo cáo kết quả xác minh, biên bản giải quyết khiếu nại tố cáo, báo cáo kết quả thanh tra là những văn bản độc lập với giám đốc sở, có quyền đưa ra những kiến nghị độc lập dựa trên những thông tin, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra. trong khi đó những phòng nghiệp vụ khác chỉ có quyền tham mưu, trình giám đốc sở quyết định, cũng như không có pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Thứ hai, trong tổ chức của sở gd&đt, chỉ có thanh tra sở mới là một cơ cấu có chức năng, nhiệm vụ thực hiện hoạt động thanh tra và đây cũng là hoạt động chính yếu, quan trọng nhất của đơn vị này. khoản 4 điều 12 nghị định số 42/2013/nđ-cp quy định thanh tra sở gd&đt có quyền “thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của sở giáo dục và đào tạo”, với quy định này các phòng, ban nghiệp vụ thuộc sở đều là đối tượng thanh tra của thanh tra sở gd&đt. trong hoạt động của mình, thanh tra sở gd&đt có quyền xem xét, đánh giá, kiểm tra, xử lí đôi với những cơ quan, tổ chức có địa vị pháp lý tương đương với mình. như đã trình bày ở trên, sự tồn tại bắt buộc của thanh tra sở gd&đt trong cơ cấu tổ chức của sở gd&đt được quy định tại điều 5 nghị định số 24/2014/nđ-cp và điều 4 thông tư liên tịch số 11/2015/ttlt bdgđt-bnv. ngoài ra tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục còn được điều chỉnh bởi nghị định số 42/2013/nđ-chính phủ. trong khi các phòng nghiệp vụ khác thuộc sở gd&đt chưa có văn bản điều chỉnh về tổ chức, hoạt động. các nội dung như tên gọi, số lượng, chức năng, nhiệm vụ các phòng nghiệp vụ còn phụ thuộc vào quyết định của giám đốc sở gd&đt. như vậy, cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của thanh tra sở gd&đt rõ ràng hơn so với các phòng, nghiệp vụ khác.

Thanh tra sở nói chung là một tổ chức thuộc hệ thống thanh tra nhà nước. nghị định số 42/2013/nđ-cp quy định thanh tra giáo dục được tổ chức ở bộ gd&đt và ở sở gd&đt. xét về hệ thống tổ chức, cơ quan thanh tra, thanh tra sở gd&đt có vị trí vừa là một cơ quan thanh tra nà nước nói chung và cũng vừa là một cơ quan thanh tra chuyên ngành giáo dục nói riêng.

Trong hoạt động thanh tra hành chính, thanh tra sở gd&đt chịu sự chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra của thanh tra tỉnh. thanh tra gd&đt có nghĩa vụ căn cứ vào kế hoạch thanh tra của thanh tra tỉnh lập chương trình, kế hoạch thanh tra và phải báo cáo tình hình hoạt động của đơn vị cho thanh tra tỉnh theo định kì hoặc đột xuất theo yêu cầu. đồng thời, thanh tra tỉnh và chánh thanh tra tỉnh cũng có trách nhiệm chỉ đạo công tác thanh tra về nghiệp vụ, hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra hành chính cho thanh tra sở; chủ trì xử lý việc chống chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các thanh tra sở, giữa thanh tra sở với thanh tra huyện, xem xét xử lý những vấn đề mà chánh thanh tra sở không thống nhất với giám đốc sở gd&đt. về tổ chức, chánh thanh tra tỉnh cho ý kiến thống nhất trong việc bổ nhiệm chánh thanh tra sở gd&đt.

Trong hoạt động thanh tra chuyên ngành, thanh tra sở gd&đt chịu sự chỉ đạo hướng dẫn về nghiệp vụ của thanh tra bộ gd&đt, phải căn cứ vào kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ gd&đt để xây dựng kế hoạch thanh tra, thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kì hoặc đột xuất về kết quả công tác thanh tra về thanh tra bộ gd&đt; kiến nghị, đề xuất với thanh tra bộ gd&đt để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành ở địa phương.

Như vậy, thanh tra sở gd&đt là một cơ quan thuộc trong cơ cấu bộ máy giúp việc của giám đốc sở gd&đt, mặt khác đây cũng là một cơ quan thuộc hệ thống thanh tra nhà nước, cùng với thanh tra bộ gd&đt tạo thành hệ thống cơ quan thanh tra chuyên ngành giáo dục trên cả nước. về tổ chức và họat động, thanh tra sở gd&đt trực thuộc giám đốc sở gd&đt là chính, cũng có quan hệ về tổ chức với thanh tra tỉnh ở mức độ nhất định với việc bổ nhiệm chánh thanh tra sở, có quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của thanh tra tỉnh và thanh tra bộ gd&đt. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

1.3.2. Cơ cu t chc ca thanh tra sở giáo dc và đào to

Như đã nói ở trên, thanh tra sở gd&đt là cơ quan của sở gd&đt, có vị trí pháp lý ngang với các phòng nghiệp vụ khác nhưng có sự độc lập hơn vì bản chất của chức năng thanh tra. cơ cấu tổ chức của thanh tra sở gd&đt được quy định tại khoản 2 điều 8 nghị định số 42/2013/nđ-cp gồm: chánh thanh tra, phó chánh thanh tra, thanh tra viên và công chức khác.

Chánh thanh tra gd&đt là người đứng đầu thanh tra sở gd&đt, giúp việc cho giám đốc sở theo phạm vi, chức năng quản lý nhà nước quy định. do vậy, chánh thanh tra sở gd&đt phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước giám đốc sở gd&đt và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của thanh tra sở. cũng tại khoản điều 8 nghị định số 42/2013/nđ-cp quy định chánh thanh tra sở gd&đt do giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với chánh thanh tra tỉnh. như vậy so với các chức danh trưởng phòng nghiệp vụ thuộc sở gd&đt thì quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chánh thanh tra sở gd&đt có khác và phức tạp hơn, do phải có ý kiến của chánh thanh tra tỉnh. điều này nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thanh tra nhà nước ở cấp tỉnh và tính độc lập nhất định của thanh tra sở.

Phó chánh thanh tra sở là người giúp việc cho chánh thanh tra sở gd&đt, được chánh thanh tra sở gd&đt giao phụ trách một số nội dung, lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước chánh thanh tra về việc thực hiện nhiệm vụ được giao. pháp luật hiện hành không quy định giới hạn số lượng phó chánh thanh tra sở gd&đt. khoản 2 điều 8 nghị định số 42/2013/nđ-cp quy định giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó chánh thanh tra sở theo đề nghị của chánh thanh tra sở. như vậy, so với việc bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh phó phòng nghiệp vụ khác thuộc sở gd&đt thì việc bổ nhiệm, miễn nhiệm phó chánh thanh tra sở không có sự khác biệt, đều do giám đốc sở gd&đt quyết định. từ đây, chúng ta có thể thấy được sự khác nhau trong quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm chánh thanh tra và phó chánh thanh tra, điều này theo tác giả dù ít hay nhiều cũng có thể ảnh hưởng đến tính độc lập, sự thống nhất trong lãnh đạo thanh tra sở. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Hiện nay, ngoài nghị định số 97/2011/nđ-cp ngày 21/10/2011 của chính phủ quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra (từ đây gọi tắt là nghị định số 97/2011/nđ-cp) và thông tư số 09/2014/tt-ttcp quy định tiêu chuẩn chức danh phó chánh thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, phó chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì chưa có quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh chánh thanh tra, phó chánh thanh tra sở. tác giả cho rằng đây là một sự thiếu sót của pháp luật dẫn đến sự không đồng đều về năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ lãnh đạo tại các cơ quan thanh tra sở gd&đt, thậm chí có thể dẫn đến việc bổ nhiệm người không đáp ứng được năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. đặc biệt là trong việc bổ nhiệm phó chánh thanh tra vì việc bổ nhiệm này hoàn toàn do giám đốc sở quyết định, không phải thống nhất với chánh thanh tra tỉnh.

Về thanh tra viên, điều 17 nghị định số 42/2013/nđ-cp quy định: “thanh tra viên giáo dục là công chức được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong lĩnh vực giáo dục tại thanh tra bộ, thanh tra sở”. thanh tra viên giáo dục cũng là một chức danh trong hệ thống công chức nhà nước nhưng lại có đặc thù khác so với công chức khác tại sở gd&đt, vì thanh tra viên được hưởng chế độ, chính sách, phụ cấp20, trang phục, chế độ đặc thù khác, được tổng thanh tra chính phủ cấp thẻ thanh tra và được đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động thanh tra. thanh tra viên chịu trách nhiệm trước chánh thanh tra sở gd&đt về nhiệm vụ được giao, chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về kết luận, kiến nghị, quyết định thanh tra của mình. trong tổ chức thanh tra sở gd&đt, thanh tra viên là lực lượng nòng cốt trong hoạt động thanh tra. trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất chính trị, kinh nghiệm công tác của lực lượng thanh tra viên quyết định hiệu quả hoạt động của tổ chức thanh tra ngành gd&đt. vì vậy, người được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra viên tại cơ quan thanh tra sở gd&đt ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định được quy định tại khoản 3 điều 17 nghị định số 42/2013/nđ-cp và điều 32 luật thanh tra năm 2010 như trung thành với tổ quốc và hiến pháp nước công hòa xã hội chủ nghĩa việt nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, công minh, tốt nghiệp đại học… còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định tại điều 6 nghị định số 97/2011/nđ-cp ngày 21/10/2011 của chính phủ quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra.

Cũng như thanh tra viên các sở, ngành khác, việc bổ nhiệm các ngạch thanh tra viên của thanh tra sở gd&đt thuộc thẩm quyền của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên cơ sở đề nghị của giám đốc sở gd&đt. căn cứ vào trình độ nghiệp vụ, thâm niên công tác mà thanh tra viên giáo dục được bổ nhiệm vào 3 ngạch theo thứ tự từ thấp đến cao là: thanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp.

Về công chức khác, đây là những người làm việc trong tổ chức thanh tra nhưng không phải là thanh tra viên hoặc lãnh đạo tổ chức thanh tra (ví dụ như: chuyên viên, cán sự). đây cũng là lực lượng không nhỏ góp phần vào thành công trong hoạt động của thanh tra sở gd&đt. vậy mà luật thanh tra năm 2004 và nghị định số 41/2005/nđ-cp hướng dẫn thi hành luật thanh tra đã không quy định “công chức khác” trong cơ cấu tổ chức và hoạt động của thanh tra sở. tuy nhiên đến nghị định số 86/2011/nđ-cp đã có quy định cơ cấu tổ chức của thanh tra sở gồm: chánh thanh tra, các phó chánh thanh tra, các thanh tra viên và công chức khác. do đó, quy định pháp luật về thanh tra ngành giáo dục cũng đã ghi nhận chính thức lực lượng “công chức khác” trong cơ cấu tổ chức của thanh tra sở gd&đt tại khoản 2 điều 8 nghị định số 42/2013/nđ-cp: “thanh tra sở có chánh thanh tra, các phó chánh thanh tra, các thanh tra viên và công chức khác”. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

1.3.3. Nhiệm vụ, quyn hn ca thanh tra sở giáo dc và đào to

Thanh tra sở gd&đt là một cơ quan thuộc sở gd&đt và cũng đồng thời là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước. vì vậy, về cơ bản nó có chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn như các cơ quan thanh tra nhà nước khác. bên cạnh chức năng thanh tra, thanh tra sở gd&đt còn thực hiện chức năng giúp giám đốc sở gd&đt thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng theo quy định của luật khiếu nại; luật tố cáo; luật phòng, chống tham nhũng. do đó, tại nghị định số 42/2013/nđ-cp quy định: “thanh tra sở giáo dục và đào tạo giúp giám đốc sở giáo dục và đào tạo thực hiện chức năng tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”.

Để thực hiện các chức năng như đã nói ở trên, thanh tra sở gd&đt và chánh thanh tra sở gd&đt được pháp luật trao những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định phù hợp với phạm vi quản lý nhà nước của sở gd&đt và với thẩm quyền của giám đốc sở gd&đt. nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở gd&đt, chánh thanh tra sở gd&đt được quy định tại điều 9, điều 10 nghị định số 42/2013/nđ-cp; đồng thời còn được quy định chung tại điều 24, điều 25 luật thanh tra năm 2010 và điều 13, điều 14 nghị định số 86/2011/nđ-cp. nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở gd&đt được thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở gd&đt nói chung và nhiệm vụ, quyền hạn của chánh thanh tra sở gd&đt nói riêng.

1.3.3.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan thanh tra sở giáo dục và đào tạo

Thanh tra sở gd&đt thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại điều 9 nghị định số 42/2013/nđ-cp, điều 24 của luật thanh tra năm 2010, điều nghị định 86/2011/nđ-cp. theo đó, các nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở gd&đt có thể được chia làm 4 nhóm như sau: Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Nhiệm vụ, quyền hạn về thanh tra gồm: thực hiện thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của sở gd&đt; thực hiện thanh tra chuyên ngành đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chấp hành quy định pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở gd&đt; có quyền xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra chuyên ngành theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho thanh tra viên, công chức làm công tác thanh tra thuộc sở và ctvtt ở địa phương.

b) nhiệm vụ, quyền hạn về giải quyết khiếu nại, tố cáo: giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát huy dân chủ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà nước, tổ chức, công dân. điều 9 nghị định số 42/2013/nđ-cp đã ghi nhận nhiệm vụ “thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật về khiếu nại tố cáo” của thanh tra sở giáo dục và đào tạo theo quy định tại điều 24 của luật thanh tra năm 2010..

Theo quy định của luật khiếu nại năm 2011 và luật tố cáo năm 2011 thì thanh tra sở gd&đt mặc dù không phải là cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết khiếu nại, tố cáo nhưng đây là đơn vị có chức năng giúp giám đốc sở gd&đt giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Nhiệm vụ, quyền hạn về phòng chống tham nhũng: tương tự tại điều 9 nghị định số 42/2013/nđ-cp và khoản 9 điều 24 luật thanh tra năm 2010 đã ghi nhận nhiệm vụ “thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng”. luật thanh tra năm 2004 lần đầu tiên đã chính thức ghi nhận trách nhiệm đấu tranh phòng chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan thanh tra, trong đó có thanh tra sở gd&đt.

 Nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, gồm: hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở; tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở gd&đt.

So với luật thanh tra năm 2004 thì luật thanh tra năm 2010 đã tăng cường một số nhiệm vụ, quyền hạn cho thanh tra sở nói chung. theo đó, nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra sở gd&đt cũng đã bổ sung những nhiệm vụ, quyền hạn mới là:

Một là, xây dựng kế hoạch thanh tra trình giám đốc sở phê duyệt, tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của thanh tra sở. luật thanh tra năm 2004 quy định nhiệm vụ này thuộc trách nhiệm của chánh thanh tra. đến luật thanh tra năm 2010 thì nhiệm vụ này được chuyển qua nhiệm vụ chung của cơ quan thanh tra. trong khi đó, tại khoản 5 điều 3 luật thanh tra năm 2010 vẫn quy định: “kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về thanh tra của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng để thực hiện định hướng chương trình thanh tra và yêu cầu quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp”. như vậy, luật thanh tra năm 2010 đã điều chuyển nhiệm vụ như đã nói nhưng thực chất trách nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra vẫn thuộc nhiệm vụ của chánh thanh tra sở. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Hai là, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của giám đốc sở, của thanh tra sở (khoản 7 điều 24 luật thanh tra năm 2010). việc bổ sung quyền hạn này là cần thiết bởi qua thực tiễn thi hành luật thanh tra năm 2004, không ít những yêu cầu, kiến nghị, kết luận thanh tra, quyết định xử lý thanh tra còn chưa được thực hiện hoặc thực hiện không triệt để vì chưa có quy định cụ thể để đảm bảo cho việc thi hành các yêu cầu, kiến nghị, kết luận thanh tra.

Ba là, tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành giáo dục cho thanh tra viên, công chức làm công tác thanh tra thuộc sở gd&đt và cộng tác viên thanh tra giáo dục ở địa phương (khoản 2 điều 9 nghị định số 42/2013/nđ-cp).

1.3.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của chánh thanh tra sở giáo dục và đào tạo

Nghị định số 42/2013/nđ-cp đã có sự phân định rõ gữa nhiệm vụ, quyền hạn của chánh thanh tra sở gd&đt với nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở gd&đt. quy định trên đã góp phần đề cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan thanh tra gd&đt. nhiệm vụ, quyền hạn của chánh thanh tra sở gd&đt được quy định tại điều 10 nghị định 42/2013/nđ-cp theo đó, chánh thanh tra sở gd&đt thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại điều 25 luật thanh tra năm 2010, gồm: lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra trong phạm vi quản lý của sở; xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra trình giám đốc sở quyết định và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đó; thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của sở giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; báo cáo giám đốc sở, chánh thanh tra tỉnh, chánh thanh tra bộ về công tác thanh tra trong phạm vi trách nhiệm của mình; kiến nghị giám đốc sở tạm đình chỉ việc thi hành quyết định của thủ trưởng đơn vị thuộc quyền quản lý của sở khi có căn cứ cho rằng các quyết định đó trái pháp luật hoặc gây ảnh hướng đến hoạt động thanh tra; kiến nghị giám đốc sở xem xét trách nhiệm, xử lý người có hành vi vi phạm thuộc quyền quản lý của sở; xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trưng tập cộng tác viên thanh tra giáo dục ở địa phương, công chức của cơ quan, đơn vị có liên quan tham gia hoạt động thanh tra; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật hoặc do giám đốc sở giao.

Luật thanh tra năm 2010 dã tăng cường một số nhiệm vụ, quyền hạn cho chánh thanh tra sở nói chung. theo quy định tại điều 25 luật thanh tra năm 2010, điều 13 nghị định số 86/2011/nđ-chính phủ, nhiệm vụ quyền hạn của chánh thanh tra sở giáo dục và đào tạo có những điểm mới như sau: Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Một là, quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước giám đốc sở về quyết định của mình (điểm a khoản 2 điều 25 luật thanh tra năm 2010). nếu như quy định tại luật thanh tra năm 2004 yêu cầu chánh thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật phải trình giám đốc sở quyết định việc thanh tra thì luật thanh tra năm 2010 đã cho phép chánh thanh tra sở có quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm trước giám đốc sở về quyết định của mình. việc thay đổi thẩm quyền này đã tăng cường tính chủ động cho người đứng đầu cơ quan thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo linh hoạt, nhanh nhạy của thanh tra trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay.

Hai là, xử lý sự chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra trong phạm vi được phân cấp về quản lý nhà nước của sở.

Ba là, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc hủy bỏ quy định trái pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra. đây không phải là một quyền hạn mới, tuy nhiên trong luật thanh tra năm 2004, nhiệm vụ này được giao cho thanh tra sở đảm nhiệm. đến nay theo luật thanh tra năm 2010 nhiệm vụ này được giao cho cá nhân chánh thanh tra sở thực hiện.

Như vậy, do thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, người đứng đầu cơ quan thanh tra trong luật thanh tra năm 2010 về cơ bản là được kế thừa từ luật thanh tra năm 2004 nên chức năng, nhiệm vụ của thanh tra sở gd&đt và chánh thanh tra sở gd&đt không có nhiều thay đổi tuy nhiên vẫn sự đổi mới, chuyển đổi và bổ sung một số quyền hạn, nhiệm vụ. điều này là hết sức cần thiết và quan trọng, đã góp phần tăng cường vai trò của thủ trưởng cơ quan thanh tra, tăng cường tính độc lập cho tổ chức thanh tra, tạo cơ sở cần thiết giúp tăng hiệu quả cho công tác thanh tra ngành giáo dục.

1.4. Hoạt động ca thanh tra sở giáo dc và đào to Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Trên cơ sở phân tích các nhóm nhiệm vụ và quyền hạn của thanh tra sở gd&đt ở mục 1.3.3 trên, có thể phân chia hoạt động của thanh tra sở gd&đt thành hoạt động thanh tra hành chính, hoạt động thanh tra chuyên ngành và các nhiệm vụ khác như: giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của luật khiếu nại năm 2011, luật tố cáo năm 2011, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tham nhũng theo quy định của luật phòng chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012). trong đó hoạt động thanh tra là hoạt động chính của các cơ quan thanh tra nhà nước nói chung và thanh tra sở gd&đt nói riêng. vì vậy, trong luận văn tác giả tập trung nghiên cứu về hoạt động thanh tra mà không trình bày về các nhiệm vụ khác của thanh tra sở gd&đt.

Luật thanh tra năm 2010 định nghĩa hoạt động thanh tra thông qua quy định tại chương iv “hoạt động thanh tra”. chương này chia thành hai mục: hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành. trong mỗi mục quy định quá trình tiến hành một cuộc thanh tra kể từ khi ban hành quyết định thanh tra đến khi ra kết luận, kiến nghị và quyết định xử lý về thanh tra. trên cơ sở quy định này của luật thanh tra năm 2010, hoạt động thanh tra của các cơ quan thanh tra nhà nước cũng bao gồm từ việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, ra quyết định thanh tra, tiến hành thanh tra trên thực tế, báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra và xử lý quyết định thanh tra.

Căn cứ quy định của luật thanh tra năm 2010, mỗi nội dung của mục này sẽ được xem xét lần lượt về hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành. để trình bày về hoạt động thanh tra tác giả xin trình bày về đối tượng, phạm vi và hình thức thanh tra của thanh tra sở gd&đt.

1.4.1. Đối tượng và phạm vi thanh tra

Một trong những tiêu chí quan trọng để phân biệt hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành là đối tượng, phạm vi thanh tra. từ khái niệm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành đã nêu ở mục 1.1.1 cho thấy, nếu như hoạt động thanh tra hành chính được tiến hành với các đối tượng trực thuộc thì hoạt động thanh tra chuyên ngành được tiến hành đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong phạm vi quản lý của bộ ngành và chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành. phạm vi hoạt động của mỗi loại thanh tra chuyên ngành cụ thể được xác định bởi mỗi lĩnh vực cụ thể. thanh tra sở gd&đt là cơ quan vừa có chức năng thanh tra hành chính, vừa có chức năng thanh tra chuyên ngành nên đối tượng và nội dung hoạt động thanh tra có thể chia thành hai nhóm tương ứng với hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Thứ nhất, đối tượng thanh tra hành chính của thanh tra sở gd&đt là cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc quyền quản lý của sở gd&đt. trong thông tư liên tịch số 11/2015/ttlt-bgdđt-bnv quy định hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở giáo dục và đào tạo thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, phòng giáo dục và đào tạo thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết tắt là thông tư liên tịch số 11/2015/ttlt-bgdđt-bnv) tại điều 4 có quy định các đơn vị trực thuộc sở gd&đt bao gồm:

Các phòng thuộc sở gd&đt được chia làm 02 loại là: các phòng được thành lập thống nhất ở các sở gd&đt như: văn phòng; thanh tra; phòng tổ chức cán bộ; phòng kế hoạch – tài chính; phòng chính trị, tư tưởng; và các phòng chuyên môn, nghiệp vụ khác được thành lập phù hợp với đặc điểm của địa phương. tùy vào từng địa phương số lượng, tên gọi của các phòng nghiệp vụ này là khác nhau. tuy nhiên, số lượng của các phòng nghiệp vụ này tối đa theo quy định tại thông tư liên tịch số 11/2015/ttlt-bgdđt-bnv là không quá 05.

Các cơ sở giáo dục trực thuộc sở gd&đt, gồm: trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp (không bao gồm các trường trung cấp chuyên nghiệp công lập của các bộ, cơ quan ngang bộ đóng trên địa bàn); trường bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục tỉnh; trường trung học phổ thông; trường phổ thông có nhiều cấp học, trong đó có cấp học trung học phổ thông; trường phổ thông dân tộc nội trú có cấp trung học phổ thông; trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp; trung tâm giáo dục thường xuyên; trung tâm ngoại ngữ, tin học; trường, lớp dành cho người khuyết tật; trường, cơ sở thực hành sư phạm và các cơ sở giáo dục trực thuộc khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của sở gd&đt (nghị định 42/2013/nđ-chính phủ).

Hoạt động thanh tra đối với nhóm đối tượng này thể hiện mối quan hệ hành chính, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát giữa cơ quan cấp trên là sở gd&đt đối với các cơ quan cấp dưới, giữa cơ quan có thẩm quyền quản lý với cơ quan chịu sự quản lý. nội dung là thanh tra xem xét, đánh giá trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trực thuộc với các tiêu chí như: tuân thủ các chính sách của đảng, các quy định của pháp luật, thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ được giao. nhờ hoạt động thanh tra sẽ làm trong sạch bộ máy, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, điều hành của sở gd&đt.

Thứ hai, đối tượng và phạm vi thanh tra chuyên ngành của thanh tra sở gd&đt là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở gd&đt. theo thông tư liên tịch số 11/2015/ttlt-bgdđt – bnv, sở gd&đt là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về gd&đt ở địa phương. và theo quy định tại điều 9 thông tư 39/2013/tt-bgdđt thì đối tượng thanh tra chuyên ngành của thanh tra sở gd&đt là: các phòng gd&đt trực thuộc sở gd&đt; cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt; trường đại học, học viện, viện, trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp (không bao gồm các cơ sở giáo dục đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp công lập của các bộ, cơ quan ngang bộ đóng trên địa bàn) theo phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục; cơ quan, tổ chức, cá nhân việt nam hoặc nước ngoài tham gia hoạt động giáo dục tại địa phương (như các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài, cơ sở hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài về giáo dục hoạt động tại địa phương hoặc tổ chức, cá nhân hoạt động đưa người đi đào tạo ở nước ngoài theo chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và sau đại học, giáo dục nghề nghiệp cho công dân việt nam).

1.4.2. Hình thc thanh tra Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Điều 37, luật thanh tra năm 2010 quy định có những hình thức thanh tra sau: thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên hoặc thanh tra đột xuất. trong đó, thanh tra thường xuyên là một hình thức mới được luật thanh tra năm 2010 bổ sung.

Hoạt động thanh tra theo kế hoạch được thực hiện căn cứ vào chương trình kế hoạch thanh tra hằng năm được phê duyệt. với hình thức này, cơ quan thanh tra có nhiều thuận lợi trong công tác chuẩn bị trước khi tiến hành cuộc thanh tra, chủ động về thời gian, con người.

Hoạt động thanh tra đột xuất được thực hiện theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. hình thức này chủ yếu được sử dụng để giải quyết những vấn đề cấp bách, mới phát sinh.

Hoạt động thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.

Các hình thức thanh tra theo luật thanh tra năm 2010 nêu trên, theo tác giả, gần với khái niệm “phương pháp thanh tra” hơn vì phương pháp là cách thức tiến hành công việc. trong khi đó, theo tác giả, khái niệm hình thức là sự thể hiện ra bên ngoài của sự vật, hiện tượng, là cách thể hiện, cách tiến hành một hoạt động nên có một khái niệm khác gần với khái niệm hình thức thanh tra hơn là hoạt động thanh tra theo đoàn và hoạt động thanh tra độc lập của thanh tra viên nhưng lại không được thể hiện như là hình thức thanh tra trong luật. thiết nghĩ, nếu hai hình thức này được quy định tập trung trong luật thì sẽ thể hiện rõ hơn hoạt động thanh tra. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Hoạt động thanh tra hành chính của thanh tra sở gd&đt chỉ được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo đoàn. hoạt động thanh tra chuyên ngành của thanh tra sở gd&đt được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo đoàn hoặc thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải xem xét theo luật, theo đó hoạt động thanh tra của thanh tra sở gd&đt được thực hiện theo ba hình thức thanh tra kể trên. trong đó, hoạt động thanh tra hành chính của thanh tra sở gd&đt được tiến hành theo hai hình thức là thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất. còn hoạt động thanh tra chuyên ngành của thanh tra sở gd&đt có thể được thực hiện dưới cả ba hình thức trên.

Ngoài ra, căn cứ vào luật thanh tra năm 2010; thông tư số 01/2014/tt-ttcp ngày 23/4/2014 của tổng thanh tra chính phủ quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra và công văn số 2886/ttcp-khtcth ngày 31/10/2016 của thanh tra chính phủ về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch thanh tra năm 2017, để thực hiện mục đích và nội dung của thanh tra sở gd&đt còn có hình thức thanh tra vụ việc và thanh tra theo chuyên đề.

Thanh tra theo chuyên đề là hoạt động thanh tra theo các nội dung: thanh tra chất lượng học tập của học sinh; thanh tra giảng dạy của giáo viên; thanh tra công tác quản lí; thanh tra các kì thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi và thi tuyển vào các trường; thanh tra việc thực hiện chế độ cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.

Thanh tra vụ việc là hoạt động thanh tra được tiến hành khi xảy ra một vụ việc có khả năng vi phạm quy định pháp luật, cần thanh tra làm rõ để kịp thời ngăn chặn, xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Hện nay, để tăng cường hiệu quả hoạt động thanh tra, công tác thanh tra đổi mới theo hướng tăng cường thanh tra theo chuyên đề, giảm thanh tra vụ việc, chú trọng thực hiện tốt mục tiêu của thanh tra là tập trung vào việc phát hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật.

1.4.3. Thủ tc thanh tra

Về cơ bản thủ tục thanh tra theo đoàn của thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành tương tự nhau về các bước thực hiện. vì thế tác giả xin đề cập trong nghiên cứu về thủ tục thanh tra theo đoàn chung cho cả thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. trong quá trình trình bày có những điểm khác nhau, tác giả sẽ phân tích những điểm khác nhau đó.

1.4.3.1. Thủ tục thanh tra theo đoàn Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Thủ tục thanh tra hành chính trong lĩnh vực giáo dục của thanh tra sở gd&đt được quy định tại điều 13 nghị định số 42/2013/nđ-cp. và thủ tục thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục được quy định tại điều 16 nghị định số 42/2013/nđ-cp, điều 13 thông tư số 39/2013/tt-bgdđt. theo đó, thủ tục thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục tương tự như hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành nói chung được quy định trong luật thanh tra năm 2010 và nghị định số 07/2012/nđ-cp.

Thủ tục thanh tra theo đoàn của thanh tra sở gd&đt được thực hiện theo quy định của luật thanh tra năm 2010, nghị định số 07/2012/nđ-cp ngày 09/02/2012 quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành (sau đây viết tắt là nghi định số 07/2012/nđ-cp), thông tư số 02/2010/tt-ttcp ngày 02/3/2010 của thanh tra chính phủ hướng dẫn về thủ tục và nội dung tiến hành một cuộc thanh tra (sau đây viết tắt là thông tư số 02/2010/tt-ttcp) và thông tư số 39/2013/tt-bgdđt. theo đó thủ tục thanh tra theo đoàn được thực hiện theo các giai đoạn như sau:

Ra quyết định thanh tra: đây là điểm quan trọng nhất vì mọi hoạt động thanh tra hành chính đều phải do đoàn thanh tra thực hiện dựa trên quyết định thanh tra. giai đoạn này kéo dài từ khi ra quyết định thanh tra đến khi công bố quyết định thanh tra cho đối tượng thanh tra.

Tiến hành thanh tra: trong giai đoạn này có hai nội dung chính cần lưu ý là thời hạn thanh tra và quyền hạn trong quá trình thanh tra. trong quá trình thanh tra, tùy theo tính chất công việc mà các chủ thể tham gia đoàn thanh tra được trao những quyền hạn nhất định, trong đó trưởng đoàn thanh tra là chủ thể có vị trí chỉ đạo, lãnh đạo đối với hoạt động của đoàn thanh tra. các thành viên đoàn thanh tra bao gồm thanh tra viên, công chức thanh tra, ctvtt là những người thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của trưởng đoàn thanh tra, chịu trách nhiệm trước trưởng đoàn thanh tra và trước pháp luật về hoạt động của mình.

Báo cáo kết quả và ra kết luận thanh tra: báo cáo kết quả thanh tra là cơ sở quan trọng để ban hành kết luận thanh tra. kết luận thanh tra là căn cứ, cơ sở để tổ chức thực hiện những kiến nghị trong báo cáo kết quả thanh tra của đoàn thanh tra. đây là văn bản có vai trò quan trọng, phản ánh toàn diện, đầy đủ về kết quả của cuộc thanh tra, là văn bản tổng hợp cuối cùng của người ra quyết định thanh tra. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Xử lý và tổ chức thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra: việc xử lý và tổ chức thực hiện kết luận thanh tra là một bước quan trọng, bởi muốn các kết luận thanh tra, quyết định xử lý thanh tra thực sự có hiệu quả thì phải được thi hành trên thực tế. có như vậy, hoạt động thanh tra mới mang lại ý nghĩa quản lý nhà nước, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thanh tra. như vậy thủ tục thanh tra theo đoàn của thanh tra sở gd&đt cũng tương tự như thủ tục thanh tra theo đoàn nói chung, không có điểm đặc thù của lĩnh vực giáo dục. thiết nghĩ, pháp luật về thanh tra cần có những đổi mới về quy định thủ tục thanh tra chuyên ngành giáo dục, vì đây là lĩnh vực đặc biệt, cần có những quy định phù hợp để đi sâu hoạt động thanh tra chuyên ngành giáo dục và đạt được những hiệu quả cao hơn. ví dụ như, quy định về việc phải gửi quyết định thanh tra đến đối tượng thanh tra trước khi tiến hành thanh tra đã “đánh động” khiến đối tượng thanh tra là các cơ sở trường học, giáo viên có thời gian để lo chuẩn bị giáo án, tài liệu, xóa dấu vết vi phạm, đã gây khó khăn cho hoạt động thanh tra.

1.4.3.2. Thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập

Theo luật thanh tra năm 2010, nghị định số 07/2012/nđ-cp ngày 09/02/2012, thông tư số 39/2013/tt-bgdđt, thanh tra độc lập là hoạt động thanh tra do thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành tiến hành độc lập theo quyết định phân công của cấp có thẩm quyền (với sở giáo dục và đào tạo là chánh thanh tra sở), không thành lập đoàn thanh tra. phạm vi, nội dung thanh tra độc lập của thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành giáo dục tiến hành không vượt quá nội dung thanh tra chuyên ngành được quy định tại chương ii – nội dung thanh tra chuyên ngành tại thông tư này. đây là một trong những điểm để phân biệt hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành.

Hoạt động của thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập trong lĩnh vực giáo dục được quy định tại điều 12 thông tư số 39/2013/tt-bgdđt. theo đó, cũng tương tự như hoạt động của thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập nói chung được quy định tại mục 2 nghị định số 07/2012/nđ-cp mà không hề có quy trình riêng dành cho thanh tra viên tiến hành độc lập trong lĩnh vực giáo dục.

1.4.4. Phương pháp thanh tra

Để hoàn thành tốt công tác thanh tra giáo dục, đoàn thanh tra và thanh tra viên phải nắm vững cách thức sử dụng các phương pháp thanh tra. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Theo tác giả nguyễn xuân thanh, có khá nhiều phương pháp thanh tra, nhưng những phương pháp thanh tra giáo dục phổ biến thường được các thanh tra viên sử dụng hiện nay như: phương pháp quan sát; phương pháp điều tra; phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và đối chiếu với thực tế; phương pháp tham dự các hoạt động giáo dục cụ thể (dự các sinh hoạt, hoạt động trong và ngoài lớp, ngoài trường). những phương pháp thanh tra này là phù hợp với lĩnh vực giáo dục vì thanh tra là để đưa ra những đánh giá, những kết luận về hoạt động của đơn vị có đúng quy định pháp luật không nhằm kịp thời có những thay đổi đảm bảo pháp chế nên cần có những quan sát thực tiễn, số liệu thống kê. đồng thời những phương pháp trên được xây dựng, tổng hợp và phân loại dựa trên việc phân loại các phương pháp thanh tra nói chung và đã được áp dụng một cách hiệu quả cho nhiều lĩnh vực khác nhau và trong đó có thanh tra giáo dục.

Việc sử dụng đơn lẻ mỗi phương pháp hoặc kết hợp nhiều phương pháp thanh tra tuỳ thuộc vào mục đích thanh tra, đối tượng thanh tra, nội dung thanh tra, thời gian và tình huống cụ thể trong quá trình thanh tra.

1.4.4.1. Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp đem lại tài liệu cụ thể, cảm tính trực quan song nó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thanh tra giáo dục.

Việc quan sát có thể kết hợp tri giác của thanh tra viên với việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như camera, máy ảnh, radio – catxét, v.v…điều này đòi hỏi thanh tra viên vừa phải trang bị cho mình kiến thức về chuyên môn vừa phải có kĩ năng nhận biết, phán đoán và sử dụng thiết bị công nghệ để áp dụng vào trong công việc của mình.

Trong hoạt động giáo dục nói chung và giảng dạy nói riêng, có rất nhiều nội dung thanh tra viên cần quan sát như:

  • quan sát thông qua các hoạt động giảng dạy và giáo dục của giáo viên.
  • quan sát thông qua các hoạt động hoạt động học tập của học sinh.
  • quan sát các hoạt động, tài liệu, sản phẩm của giáo viên, cán bộ công nhân viên, cán bộ quản lý để có những số liệu cụ thể cho việc đánh giá.

Trong quá trình quan sát, thanh tra viên cần phải xác định được mục đích và yêu cầu (quan sát khía cạnh, quan sát toàn diện, quan sát phát hiện, quan sát kiểm nghiệm, quan sát liên tục, quan sát gián đoạn, quan sát theo đề tài tổng hợp hay theo chủ đề cần thanh tra), kế hoạch và hệ thống, lựa chọn đúng đắn đối tượng quan sát. đặc biệt để có thông tin đầy đủ, hiệu quả cao nên ghi chép các hiện tượng, sự kiện của quá trình giáo dục. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Để sử dụng phương pháp quan sát một cách hiệu quả trong quá trình thanh tra, đòi hỏi thanh tra viên phải có kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật và có sự tinh tế sư phạm cần thiết.

1.4.4.2. Phương pháp điều tra

Phương pháp điều tra là phương pháp dùng các phiếu câu hỏi để khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu có hoặc không liên quan đến sự việc cần thanh tra nhằm thu được những ý kiến chủ quan của họ về sự việc hoặc một vấn đề nào đó. trong phương pháp điều tra, phổ biến nhất là phương pháp điều tra bằng phiếu (gọi là anket) và điều tra bằng hỏi chuyện, phỏng vấn.

Ưu điểm đầu tiên của phương pháp hỏi chuyện, phỏng vấn, anket giúp đi sâu vào mối quan hệ phức tạp, nhiều mặt của đối tượng cần thanh tra, do đó mỗi câu hỏi trong phiếu điều tra hay trong phỏng vấn phải được chuẩn bị, cân nhắc cẩn thận, nội dung rõ ràng và ngôn ngữ phải dễ hiểu, trong sáng, khi tiến hành đoàn thanh tra phải tinh tế và có kỹ năng giao tiếp nhất định. sau khi tiến hành điều tra xong bằng phương pháp này, các thanh tra viên cần chú ý phân tích số liệu thu được bằng phiếu điều tra, thống kê và phân loại các câu hỏi thu được một cách có hệ thống.

Phương pháp điều tra hỏi chuyện, phỏng vấn, anket đòi hỏi thanh tra viên cần có những kiến thức chuyên sâu và am hiểu về đơn vị thanh tra, đối tượng thanh tra và cần có kỹ năng sắp xếp công việc khoa học.

Để có được kết luận thanh tra khách quan, chính xác, thông tin thu được qua điều tra bằng anket, trò chuyện, phỏng vấn phải so sánh với kết quả thu được bằng các phương pháp khác.

1.4.4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và đối chiếu với thực tế

Tài liệu là nguồn thông tin về kết quả hoạt động của quá trình giáo dục – đào tạo. tuy nhiên, thanh tra viên không nên đánh giá quá cao về bản báo cáo, biên bản, bản kế hoạch mà phải nghiên cứu thực tế cuộc sống và hoạt động giảng dạy, giáo dục của nhà trường. phân tích, tổng hợp tài liệu bao gồm: phân tích số liệu thống kê, các loại biểu đồ, đồ thị cho phép thanh tra viên hình dung trực quan sự biến động của quá trình và hiện tượng quan sát. yêu cầu khi phân tích tài liệu, văn bản cần chú ý nội dung, bố cục, theo mấu văn bản, quy định về quản lý giáo dục của bộ giáo dục và đào tạo ban hành.

Nói tóm lại, chỉ có thể sử dụng kết hợp các phương pháp thanh tra khác nhau và biết phối hợp tối ưu giữa chúng mới cho phép rút ra những kết luận có căn cứ, chuẩn xác để đánh giá đúng đắn, khách quan việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra.

Kết luận chương 1 Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Qua nghiên cứ cơ sở lý luận của đề tài, tác giả rút ra kết luận như sau:

Thanh tra giáo dục là chức năng thiết yếu của quản lý giáo dục, là cầu nối giữa nhà quản lý và đối tượng quản lý, là nơi diễn ra quá trình thu nhận thông tin để vận động và phát triển.

Hoạt động thanh tra sở giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ trong công tác quản lý giáo dục đào tạo nhằm đảm bảo việc phát triển các trường trong hệ thống theo đúng định hướng đã vạch ra thông qua các chỉ thị, nghị định của chính phủ và cơ quan thấm quyền nhằm mục tiêu dài hạn là đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng đến hội nhập về lao động, công nghệ với khu vực và thế giới, đó cũng là định hướng giáo dục đào tạo mà đảng cộng sản việt nam và chính phủ đã đề ra. Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục.

Trong điều kiện công tác quản lý chưa có sự thay đổi đáng kể, công tác thanh tra còn nhiều bất cập thì việc tìm ra những giải pháp đối mới khả thi cho công tác thanh tra sở giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đối mới công tác quản lý ngành giáo dục chuyên nghiệp của nước ta.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra sở GD

One thought on “Luận văn: Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở giáo dục

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra sở GD

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464