Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phát triển xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
2.1.1. Về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Về sản lượng thủy sản
Từ năm 2016 – 2020: Sản lượng thủy sản Việt Nam có xu hướng tăng, tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản trung bình hằng năm đạt 6%, tổng sản lượng thủy sản tăng, cụ thể: tăng gấp hơn 1,25 lần từ 6,7 triệu tấn năm 2016 lên 8,4 triệu tấn năm 2020, tăng 1,9% so với năm 2019. Trong đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 4,6 triệu tấn tăng 1,4% so với năm 2019, chiếm 54% tổng sản lượng; sản lượng khai thác đạt 3,85 triệu tấn, tăng 2,5%, chiếm 46%. Mặt hàng thủy sản chính là tôm và cá tra. Trong năm 2020, sản lượng tôm nuôi đạt 950 nghìn tấn (tôm sú đạt 267,7 nghìn tấn, tôm chân trắng 632,3 nghìn tấn, tôm khác 50 nghìn tấn), sản lượng cá tra đạt 1560 nghìn tấn. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Tuy nhiên, sang quý III/2021, hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản gặp nhiều khó khăn do dịch COVID-19 khiến nhiều cảng cá, nhà máy chế biến tạm đóng cửa nên chuỗi cung ứng bị đứt gẫy. Giá trị sản xuất lĩnh vực thủy sản quý III giảm 4,8% so với quý III/2020, là quý III có tốc độ tăng thấp nhất từ năm 2015. Theo tổng cục Hải quan, trong quý III, sản lượng thuỷ sản ước đạt 2,28 triệu tấn, giảm 5,2% so với quý III/2020. Tính chung 9 tháng, tổng sản lượng ước đạt trên 6,38 triệu tấn, giảm 0,2 so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó sản lượng nuôi trồng ước đạt 3,32 triệu tấn (sản lượng tôm đạt 699,8 nghìn tấn, sản lượng cá đạt 2,22 triệu tấn) giảm 1%; sản lượng khai thác ước đạt trên 3,06 triệu tấn, tăng 0,7%.
Nguồn cung thủy sản của Việt Nam 9 tháng năm 2021 mặc dù gặp nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19, song khả năng kiểm soát tốt dịch bệnh đã tạo ra điều kiện nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản ổn định hơn so với mặt bằng chung của thế giới, tạo lợi thế cạnh tranh lớn về nguồn cung.
Hình 2.1: Sản lượng thủy sản của Việt Nam giai đoạn 1995-2020. (ĐVT: nghìn tấn)
Về kim ngạch xuất khẩu
Từ năm 2016-2020: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam có sự biến động, giai đoạn đầu từ 2016-2018 có xu hướng tăng sau đó lại giảm dần. Trong giai đoạn 2016-2020, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng gấp 1,2 lần, từ 7,1 tỷ USD năm 2016 lên 8,5 tỷ USD năm 2020, trong đó năm 2018 xuất khẩu thủy sản đạt giá trị cao nhất là 8,8 tỷ USD, tốc độ tăng giá trị xuất khẩu thủy sản trung bình hàng năm 5,3%. Năm 2020, do tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế thế giới suy giảm kéo theo nhu cầu tiêu thụ thủy sản cũng giảm, nên giá trị xuất khẩu thủy sản trong năm 2020 cũng có sự giảm nhẹ so với năm 2019 (8,6 tỷ USD) là 1,2 %.
Hình 2.2: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn 1997-2020. (ĐVT: tỷ USD)
Năm 2021, dịch bệnh covid 19 vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố phía Nam là khu vực sản xuất chính của ngành thủy sản Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của cả nước tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề vì gián đoạn sản xuất. Theo tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong quý III/2021, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 433,3 nghìn tấn, trị giá 2,07 tỷ USD, giảm 22,6% về lượng và giảm 14,9% về trị giá so với quý III/2020. Như vậy, tính đến hết quý III/2021, xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 1,4 triệu tấn, trị giá gần 6,2 tỷ USD, giảm 0,6 về lượng nhưng tăng 2,7% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Hình 2.3: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2020-2021
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.1.2. Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Trong ngành thủy sản, có 3 nhóm sản phẩm chủ lực luôn tạo ra giá trị xuất khẩu cao nhất, gồm: tôm, cá tra, hải sản. Trong đó, xuất khẩu tôm chiếm tỷ trọng cao nhất, tăng trưởng cao nhất và ổn định nhất.
Từ 2016-2020: Xuất khẩu tôm tăng gấp 1,2 lần từ 3,1 tỷ USD lên 3,73 tỷ USD năm; tăng trưởng trung bình hàng năm 5%, (tuy nhiên tăng trưởng từng năm không ổn định). Tỷ lệ trong tổng thủy sản ngày càng gia tăng: từ 36% đến 50%. Xuất khẩu cá tra có sự biến động giảm từ 1,67 USD năm 2016 xuống 1,5 tỷ USD năm 2020; tăng trưởng trung bình hàng năm 6%. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm từ 32% xuống 18%. Xuất khẩu hải sản chiếm 30- 35% tổng xuất khẩu thủy sản, kim ngạch tăng gấp 1,4 lần từ 2,33 tỷ USD năm 2016 lên 3,2 tỷ USD năm 2020; tăng trưởng trung bình hàng năm 11%.
Hình 2.4: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thủy sản năm 2020.
Hình 2.5: Xuất khẩu tôm và cá tra giai đoạn 1998-2020.
Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, tính đến hết tháng 9/2021, tổng giá trị xuất khẩu tôm đạt 2,76 tỷ USD tăng 2,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong cơ cấu các sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam trong 9 tháng, tôm chân trắng chiếm 77,2%, tôm sú chiếm 15,3%, còn lại tôm biển với 7,5%. Đối với cá tra, tổng giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam trong 9 tháng đạt 1,07 tỷ USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Còn với mặt hàng hải sản, theo lũy kế 9 tháng đầu năm, xuất khẩu hải sản đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 38% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của cả nước và tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2020.
Bảng 2.1. Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu tháng 9/2021 và 9 tháng đầu năm 2021
2.1.3. Về thị trường tiêu thụ chính
Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang hơn 160 thị trường trên thế giới. Trong đó top 10 thị trường gồm: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Australia, Anh, Canada, Nga, chiếm khoảng 92-93% tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Trong top 6 thị trường lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN), trong những năm gần đây, xuất khẩu sang EU chững lại, sang ASEAN, Hàn Quốc ổn định, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trưởng mạnh nhất, xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản cũng duy trì tăng trưởng khả quan.
Hình 2.6: Thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Việt Nam năm 2020.
Tính đến tháng 9/2021, Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang 154 thị trường. Trong đó, 6 thị trường dẫn đầu là Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, EU, Hàn Quốc và ASEAN chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ đã hồi phục với mức tăng nhẹ 3% so với cùng kỳ đạt 159 triệu USD. Nhu cầu nhập khẩu tôm của Mỹ vẫn cao, nhất là khi thị trường này đang mở cửa trở lại hậu Covid và các dịp lễ cuối năm đang tới gần. Trong khi đó, xuất khẩu sang các thị trường khác tiếp tục giảm, trong đó giảm mạnh nhất là Trung Quốc (giảm gần 50%), xuất khẩu sang các thị trường Nhật Bản, Canada, Anh, Australia cũng giảm từ 35-45%, trong khi xuất khẩu sang EU và Nga giảm trên 15%, sang Hàn Quốc giảm 5%.
Với đà này thì xuất khẩu thuỷ sản năm 2021 khả quan nhất là bằng năm 2020, đạt 8,4 tỷ USD hoặc thậm chí còn thấp hơn nếu tình hình Covid căng hơn và các biện pháp phòng chống Covid siết chặt sản xuất trở lại. Hệ lụy sẽ còn kéo dài tới năm sau nếu chúng ta mất thị phần tại các thị trường nhập khẩu lớn, trước các đối thủ như Ấn Độ, Ecuador, Indonesia, Thái Lan dù họ cũng đã và đang vừa chống dịch vừa sản xuất.
2.2. Thực trạng phát triển xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
2.2.1. Khái quát về thị trường EU
Trong nhiều năm qua, Liên minh châu Âu (EU) luôn là đối tác nhập khẩu lớn, với sức mua đứng thứ hai thế giới và là thị trường trọng điểm của xuất khẩu Việt Nam. EU có 27 quốc gia thành viên với dân số là 447 triệu người (tháng 1/2021 theo thống kê của Eurostat). Nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU rất cao và là khu vực thị trường có nhu cầu và yêu cầu tiêu dùng, nhập khẩu thủy sản cao nhất thế giới hiện nay. Theo đài quan sát Thị trường châu Âu đối với khai thác và nuôi trồng thủy sản (EUMOFA), mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người ở EU năm 2020 đạt khoảng 24,3 kg/người/năm, giảm so với mức tiêu thụ bình quân 24,9 kg trong năm 2016. Tổng lượng tiêu thụ thủy sản ở EU lên tới 12,77 triệu tấn/năm. Nguồn cung thủy sản từ ngoài khối EU chủ yếu đến từ các quốc gia đang phát triển, chiếm 73% tổng giá trị nhập khẩu từ bên ngoài EU là các nước Trung Quốc, Ecuador, Việt Nam, Marốc và Ấn Độ.
Mỗi quốc gia trong EU có một đặc điểm tiêu dùng riêng do đó có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hoá. Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị trường tiêu dùng giữa các thị trường quốc gia trong EU nhưng hầu hết các quốc gia này đều nằm trong khu vực Tây và Bắc Âu nên có những đặc điểm tương đồng về kinh tế và văn hoá. Trình độ phát triển kinh tế xã hội của các thành viên là khá đồng đều cho nên người dân thuộc khối EU có đặc điểm chung về sở thích, thói quen tiêu dùng. Người tiêu dùng châu Âu thường có thường thích sử dụng các sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng thế giới vì họ cho rằng những nhãn hiệu nổi tiếng này gắn với chất lượng sảm phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên dùng những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng sẽ rất an toàn về chất lượng và an tâm cho người sử dụng.
Đặc điểm nổi bật của thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo vệ. Hàng hoá được nhập khẩu vào thị trường này phải đảm bảo đầy đủ về chất lượng, nguồn gốc, mẫu mã, vệ sinh an toàn cao. Để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, chính quyền EU thường xuyên tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có hệ thống cảnh báo giữa các thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới. Hiện Tổng vụ Sức khỏe và An toàn thực phẩm (DG SANTE) của Ủy ban châu Âu (EC) là cơ quan chịu trách nhiệm về kiểm soát an toàn thực phẩm của châu Âu. Trong khi đó, CENELEC, CEN và ETSI là 3 cơ quan tiêu chuẩn hoá của EU được coi là đủ năng lực trong việc tiêu chuẩn hoá kỹ thuật. Ba cơ quan này đã đưa ra các tiêu chuẩn của EU trong từng lĩnh vực riêng biệt và tạo ra “hệ thống tiêu chuẩn hoá châu Âu”.
2.2.2. Tình hình phát triển xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong thời gian qua. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Phát triển về quy mô xuất khẩu
Về kim ngạch xuất khẩu
Trong giai đoạn 2016-2021: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU có xu hướng giảm mạnh kể từ năm 2017 đến nay, cụ thể giá trị xuất khẩu giảm từ 1,481 tỷ USD năm 2017 xuống còn khoảng 960 triệu USD năm 2020, giảm tới 26% so với năm 2019 và giảm 24% trong giai đoạn 2017-2020. Trong giai đoạn 2015-2018, EU luôn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Nhưng từ năm 2019, vị trí này đã xuống mức thứ tư (sau Mỹ, Nhật Bản và trung Quốc), xuất khẩu thủy sản sang EU năm 2019 đạt 1,297 tỷ USD giảm 11,9% so với năm 2018 và giảm 12,4% so với năm 2017.
Xu hướng giảm này tiếp tục kéo dài đến năm 2020, đặc biệt do bị tác động kép bởi dịch Covid-19 và Brexit (Anh rời khỏi EU) khiến giá trị nhập khẩu chung của cả khối sụt giảm đáng kể, EU tụt xuống vị trí thứ 5 trong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam. Tính đến 9 tháng năm 2021, xuất khẩu thuỷ sản sang khối EU đạt 744 triệu USD, tăng gần 4% so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu thủy sản sang EU ổn định nhờ vào sự tác động hiệu quả của hiệp định EVFTA.
Hình 2.7: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước CPTPP và EU
Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Bảng 2.2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU theo giá trị giai đoạn 2016-2021. ( ĐVT: Triệu USD)
Cơ cấu mặt hàng thủy sản về cơ bản của Việt Nam có tính bổ sung với nhu cầu tiêu dùng ở thị trường EU. Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu vào thị trường EU bao gồm tôm, cá tra, nhuyễn thể và cá ngừ, trong đó tôm là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thủy sản xuất khẩu. EU vẫn là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm 23,6% tổng giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam đi các thị trường.
Trong giai đoạn 2016-2020: Do bị ảnh hưởng kể từ khi Việt Nam bị EU phạt thẻ vàng IUU hồi tháng 10/2017, giá trị xuất khẩu hải sản sang thị trường này đã giảm nhiều. Trong năm 2018, giảm chủ yếu ở sản phẩm cá ngừ bị giảm 6,3%, mực và bạch tuộc giảm hơn 13%… Năm 2019, xuất khẩu cá ngừ giảm khoảng 5%, mực và bạch tuộc giảm 13%, tôm giảm 17%, riêng xuất khẩu một số mặt hàng hải sản như cá biển và hải sản khác vẫn tăng 11%. Năm 2020, xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản tôm, cá ngừ tăng trở lại sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2020. EVFTA tiếp tục là đòn bẩy cho xuất khẩu cá ngừ sang thị trường EU. Nhờ đó, tổng giá trị xuất khẩu cá ngừ sang EU trong cả năm 2020 lên 136 triệu USD, tăng 2,4% so với năm 2019. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Sang quý III/2021, xuất khẩu cá các loại như: cá tra, cá đông lạnh, cá ngừ, cá khô, cá đóng hộp là những mặt hàng bị tác động mạnh bởi đợt dịch Covid-19 vừa qua, trong khi xuất khẩu tôm chịu tác động nhẹ hơn. Lũy kế 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm sang thị trường này đạt gần 408 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ. Xuất khẩu mực, bạch tuộc sang EU tăng mạnh nhất 30% so với cùng kỳ. Tổng sản phẩm hải sản xuất khẩu sang EU tăng 23%, chỉ bị giảm ở một số loài nhập khẩu để chế biến và xuất khẩu như cá tuyết, cá minh thái… do ảnh hưởng của vấn đề logistics tới việc nhập khẩu nguyên liệu để gia công, sản xuất xuất khẩu. Xuất khẩu cá tra sang EU giảm 13% do chi phí đầu vào quá cao (đặc biệt là logistic, container, đường biển).
Về thị trường xuất khẩu
Bảng 2.3: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước EU giai đoạn 2016-2020.
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU đã có những bước tiến vượt bậc trong những năm gần đây. Năm 2017, lần đầu tiên EU vượt qua Mỹ để trở thành thị trường xuất khẩu thủy sản số một của Việt Nam, với tổng kim ngạch đạt mức 1,46 tỷ USD, tăng 22,1% so với năm 2016. Năm 2018, do ảnh hưởng của thẻ vàng IUU đã khiến cho tổng xuất khẩu thủy sản sang EU chỉ tăng nhẹ lên 1,47 tỷ USD. Anh, Hà Lan, Đức là 3 thị trường nhập khẩu lớn nhất trong khối EU. Xuất khẩu sang Anh và Đức năm 2018 tăng trưởng lần lượt là 13% và 11%, xuất khẩu sang Hà Lan giảm 15% so với năm 2017. Trong các năm tiếp theo 2019, 2020 giá trị xuất khẩu thủy sản sang các thị trường này bị giảm do nhóm hàng thủy sản khai thác của Việt Nam xuất khẩu tới EU chịu ảnh hưởng bởi “thẻ vàng” IUU và dịch bệnh covid 19. Sang đến năm 2021, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trường EU đã có dấu hiệu tích cực khả quan hơn do bứt phá từ Hiệp định EVFTA.
Phát triển về dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng trọng điểm về nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản chính của nước ta, chiếm khoảng 40,4% trong sản lượng thủy sản khai thác so với cả nước, chiếm khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu thủy sản so với cả nước (Tổng cục Thống kê, 2017). Đây là khu vực trọng điểm phát triển dịch vụ logistics hỗ trợ hoạt động xuất khẩu trong nhiều năm nay.
Dù có nhiều tiềm năng, song trung tâm logistics hiện có của vùng khá nhỏ, dưới ha và chủ yếu phục vụ một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp hoặc một số tỉnh, thành phố. Dịch vụ cung cấp của các trung tâm logistics tại Đồng bằng sông Cửu Long còn hạn chế; tính liên kết, kết nối trong hoạt động logistics yếu. Cùng với đó, các công ty kinh doanh dịch vụ logistics trọn gói hầu như chưa phát triển đáng kể. Phần lớn các dịch vụ logistics liên quan đến sản xuất, thương mại và cung cấp dịch vụ… được thực hiện một cách tự phát theo truyền thống. Hình thức thuê ngoài cũng chỉ dừng lại ở từng lĩnh vực hoạt động riêng lẻ chứ chưa có sự kết nối chặt chẽ với nhau giữa các phương thức vận tải, giữa vận tải với kho bãi… nên thủ tục giao nhận tại khu vực này thường gây ra chậm trễ, phát sinh chi phí cao.
Hơn nữa, hiện nay, dịch covid 19 đã tác động tiêu cực lên ngành logistics toàn cầu, gây ùn tắc trên các tuyến vận tải container. Tình trạng thiếu container rỗng tiếp nối từ năm 2020 và đang tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu Việt Nam khi rủi ro dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn tại nhiều nơi trên thế giới. Chi phí dịch vụ, nút thắt cơ sở hạ tầng, kho bãi đang đang là thách thức của ngành logistics hiện nay. Trong khi đó, Việt Nam đang có nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU. Việc ùn tắc trên các tuyến vận tải container, nhất là tại các tuyến vận tải đi khu vực EU, cũng như tình trạng thiếu container rỗng diện rộng tiếp nối từ năm 2020, ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các thị trường này. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có giải pháp thiết thực, kịp thời để tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng Việt Nam. Từ đó, giúp doanh nghiệp xuất khẩu có thể tận dụng tối đa các cơ hội mà khu vực thị trường EU mang lại.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
2.3.1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng trong nước.
Nhóm nhân tố vĩ mô
Chiến lược và quy hoạch ngành trong chiến lược tổng thể
Theo quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2020: kinh tế thủy sản góp 30-35% GDP khối nông-lâm-ngư nghiệp, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành thủy sản từ 8-10%/năm. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8 – 9 tỷ USD. Tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 – 7 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm 65 – 70% tổng sản lượng, giải quyết việc làm cho 5 triệu lao động.
Thực tế sau 10 năm thực hiện triển khai chiến lược trên ngành thủy sản đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận: Cơ cấu GDP của ngành thủy sản trong toàn ngành nông nghiệp đã tăng từ 17,8% lên 24,4% giai đoạn 2010-2019. sản lượng thủy sản cũng tăng từ 5,1 triệu tấn lên 8,2 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng từ 5,0 tỷ USD lên tới 8,6 tỷ USD, tương ứng 1,7% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước và 20,8% kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp. Riêng năm 2020, dù nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do phải đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn, triều cường, lũ lụt, nhưng tổng sản lượng của năm vẫn đạt trên 8,4 triệu tấn, tăng 1,8%, tốc độ tăng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) đạt 3,05% so với năm 2019.
Quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch tổng thể ngành thủy sản giai đoạn 2016-2020 cho thấy quy hoạch phát triển thủy sản là công việc khó, do thủy sản là ngành kinh tế gắn bó, phụ thuộc chặt chẽ với các yếu tố, các quy luật tự nhiên, lại vận động, phát triển theo định hướng của thị trường, trong điều kiện của một nước đang phát triển, ngư dân nghèo với nhiều tập tục, thói quen của nền sản xuất nhỏ, tư duy manh mún, trình độ thủ công. Trong khi đó, từ yêu cầu cuộc sống, thực tế sản xuất thủy sản phát triển với tốc độ rất nhanh, là một trong các ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong thời gian qua, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu. Chính vì vậy, thời gian qua, công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, không theo kịp và chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn. Việc nuôi trồng diễn ra tràn lan, các chương trình nuôi sạch áp dụng chưa bổ phiến nên đe doạn đến chất lượng môi trường. Thêm vào đó, tình trạng khai thác bừa bãi, không có kế hoạch cũng đặt ra nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, đưa đến sự phát triển không bền vững. Điều đó dẫn đến sản lượng và chất lượng mặt hàng thủy sản bị giảm, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn thị trường nhập khẩu đặt ra, làm ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu.
Chính sách hỗ trợ xuất khẩu
Về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu trong hoàn cảnh dịch bệnh. Tại Đề án phát triển xuất nhập khẩu bền vững để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022 trình Chính phủ thảo luận ngày 16/6/ 2021, Bộ Công Thương đã đề xuất xem xét bố trí ưu tiên tiêm vắc-xin cho công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp và trong các ngành thương mại, dịch vụ. Chính phủ thống nhất và khẳng định nhiệm vụ trọng tâm này trong Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 29/6/2021 của CP về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải ngân vốn đầu tư công và xuất khẩu bền vững trong những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 63/NQ-CP).
Tiếp nhận những phản ánh khó khăn, vướng mắc của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam về vấn đề nước thải chế biến thủy sản, vấn đề phạt chậm nộp thuế giá trị gia tăng đối với lô hàng xuất khẩu bị trả về, các khó khăn trong kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm sản phẩm thủy sản… Bộ Công Thương đã báo cáo Chính phủ và tại Nghị quyết số 63/NQ-CP nêu trên, Chính phủ giao các Bộ, cơ quan, địa phương: “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động xuất khẩu, nhất là đối với các ngành hàng có đóng góp quan trọng cho xuất khẩu như thủy sản, dệt may,….”
Để hỗ trợ giảm chi phí, đặc biệt là chi phí vận tải, Bộ Công Thương cũng đã đề xuất Chính phủ giao các Bộ, cơ quan, địa phương “Rà soát các loại phí đối với phương tiện, hàng hóa xuất nhập khẩu, nhất là hàng xuất khẩu, để chủ động giảm phí đến hết năm 2021 cho các doanh nghiệp.”
Nghị quyết 63/NQ-CP đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 đang tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của doanh nghiệp. Trong ngành thủy sản, các Bộ, ngành liên quan cần tập trung chủ yếu vào các nhóm chính sách nhằm hỗ trợ đối với những đối tượng gặp khó khăn, rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu thủy sản, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ nuôi trồng thủy sản để giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn và tận dụng tốt cơ hội thị trường, thúc đẩy xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Chính sách thuế
Để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản, trong nhiều năm qua Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thuế ưu đãi đối với chủ thể, hoạt động kinh doanh trong ngành thủy sản. Theo đó, chính sách ưu đãi thuế để phát triển ngành thủy sản được quy định tại Điều 4, Thông tư 117/2014/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ-CP về chính sách phát triển thủy sản do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành như sau:
- Đối với hoạt động khai thác:
- Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác hải sản tự nhiên.
- Không thu lệ phí trước bạ đối với tàu, thuyền khai thác thủy, hải sả
- Miễn thuế môn bài đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.
- Miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu trong nước chưa sản xuất được để đóng mới, nâng cấp tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên.
- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động khai thác hải sản, thu nhập từ dịch vụ hậu cần phục vụ trực tiếp cho hoạt động khai thác hải sản xa bờ
- Đối với hoạt động nuôi trồng
Miễn thuế thuê đất, thuê mặt nước cho những cá nhân, tổ chức, hộ gia đình trong hoạt động nuôi trồng thủy, hải sản.
Thuế giá trị gia tăng
Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng
Đối với sản phẩn nông nghiệp, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đắt bắt chưa qua sơ chế hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC.
Vẫn là sản phẩm này ở khâu thương mại, nếu bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì thuộc đối tượng không phải kê khai nộp thuế. Ngược lại nếu bán cho các tổ chức, cá nhân còn lại thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC nêu trên. Mặc khác đối với sản phẩm là nông nghiệp, thủy sản đã sơ chế, hoặc chế biến thì thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 10% theo quy định tại Điều 11 Thông tư 219/2013/TT-BTC.
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với thu nhập của doanh nghiệp, hợp tác xã tự trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa qua sơ chế, hoặc chỉ qua sơ chế thông thường tại địa bàn có điều kiện ưu đãi là thu nhập được miễn thuế theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Thông tư số 78/2014/TT-BTC
Về thuế suất thuế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với sản phẩm là chế biến thủy sản không thuộc địa bàn được ưu đãi là 15% theo quy định tại Khoản 5 Điều 11 Thông tư số 96/2015/TT-BTC bổ sung Khoản 3a Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC; thuế suất thuế TNDN đối với sản phẩm là thủy sản chưa chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường không thuộc địa bàn được ưu đãi là 20%.
Nhìn chung, hệ thống chính sách thuế liên quan đến sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam khá đầy đủ. Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi về thuế đối với từng chủ thể, mặt hàng cũng như hoạt động trong ngành thủy sản. Điều đó góp phần làm giảm chi phí sản xuất và khuyến kích tổ chức, hộ nuôi trồng và doanh nghiệp gia tăng sản lượng, từ đó tăng nguồn cung và thúc đẩy xuất khẩu. Tuy nhiên vẫn còn số mặt hạn chế cần khắc phục như hệ thống chính sách thuế về thủy sản chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, chất lượng văn bản chưa cao, chưa phù hợp với thực tế ngành thủy sản, còn nhiều quy định chồng chéo với các văn bản khác, dẫn đến khó thực thi hoặc thực thi kém hiệu quả, gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện.
Nhóm nhân tố vi mô
Quy hoạch phát triển ngành thủy sản theo từng địa phương
Thời gian qua, quá trình xây dựng và hoạch định chính sách nhằm phát triển xuất khẩu thủy sản còn những hạn chế, thiếu sót, việc thực thi chính sách thiếu kiểm soát và chưa thực sự hiệu quả, thiếu các quy định xử lý nghiêm minh nên còn dẫn tới nhiều sai phạm, nhất là các vi phạm về quy hoạch và bảo vệ môi trường. Sau khi quy hoạch tổng thể ngành được phê duyệt, các quy hoạch theo các vùng, các địa phương, các đối tượng chủ lực, quy hoạch các lĩnh vực sản xuất khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản,…chậm được triển khai. Mặt khác công tác quản lý thực hiện quy hoạch còn rất yếu. Hiện tượng quy hoạch treo, quy hoạch thiếu căn cứ khoa học vẫn xảy ra ở nhiều nơi; quy hoạch chi tiết ở các địa phương thường tiến hành trước các quy hoạch phát triển tổng thể, quy hoạch vùng. Công tác giám sát, đánh giá thực hiện quy hoạch ở nhiều địa phương không được thực hiện, không thường xuyên cặp nhật thông tin, không chú ý điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với thực tế sản xuất.
Thực tại hầu hết các vùng nuôi thủy sản được xây dựng một cách tự phát, nhiều vùng mang tiếng là có quy hoạch những trên bản chất lại không theo quy hoạch, quy mô nhỏ lẻ, phân tán dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra khá phổ biến. Thể chế liên kết giữa các vùng kinh tế trọng điểm, các địa phương còn lỏng lẻo, thiếu liên kết giữa các khâu sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu thủy sản. Do đó việc kiểm soát rất phức tạp, khó để giải quyết gốc rễ trong an toàn vệ sinh thực phẩm của các thị trường có tiêu chuẩn cao.
Tình trạng các địa phương trong vùng xây dựng chiến lược phát triển xuất khẩu gần giống nhau, ít chú ý đến khai thác lợi thế khác biệt của từng địa phương, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, chưa khai thác tốt và phát huy lợi thế của cả nước, của các vùng kinh tế trọng điểm và của từng địa phương trong xuất khẩu thủy sản. Các địa phương nuôi trồng thủy sản vẫn chưa chú trọng đúng mức đến quy hoạch phát triển theo chiều sâu (tăng sản lượng trên cùng diện tích mặt nước nuôi trồng ), vẫn tập trung phát triển theo chiều rộng (mở rộng diện tích nuôi). Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là tư duy sản xuất nhỏ, thiếu định hướng, tầm nhìn, thiếu chính sách cụ thể sử dụng đất, mặt nước lâu dài, ổn định, thiếu vốn đầu tư, thiếu nghiên cứu khoa học dẫn đường, thiếu các hướng dẫn và đánh giá sau quy hoạch, thiếu trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước.
Chính sách phát triển của ngành hàng mặt bằng chung của doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Từ nhiều năm nay, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của doanh nghiệp Việt Nam vẫn là tôm, cá tra, cá biển, nhuyễn thể, các loại thủy sản đông lạnh và các loại thủy sản khô. Đây là mặt hàng thủy sản phổ biến được các nước nhập khẩu tiêu thụ. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam ngày càng bổ sung thêm các mặt hàng có giá trị như cá ngừ, nghêu và một số đặc sản khác. Nhờ vào lợi thế về nguồn thủy sản dồi dào, lao động nhân công giá rẻ và cải tiến về công nghệ chế biến giúp daonh nghiệp giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, tạo ra mức giá cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp xuất khẩu của các nước trong khu vực.
Trong thời gian qua, mặc dù xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng khá, song phần lớn mới chỉ là tăng về lượng, xuất khẩu phần lớn là sản phẩm thô, sơ chế, hàm lượng chế biến thấp, do có giá trị gia tăng xuất khẩu thấp; các mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng như tôm, mực, cá tra, cá basa; năng lực cạnh tranh của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam còn thấp và chậm được cải thiện. Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và chế biến xuất khẩu, hàng thủy sản Việt Nam chưa có thương hiệu riêng và thường xuất khẩu ủy thác hoặc qua trung gian. Khả năng đáp ứng các quy định về quy tắc xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và môi trường theo cam kết trong các cam kết hội nhập còn nhiều hạn chế… Một số doanh nghiệp xuất khẩu không cạnh tranh lành mạnh, bán phá giá tạo điều kiện cho các nhà nhập khẩu gây sức ép về giá đối với các doanh nghiệp khác, tạo điều kiện giảm giá dây chuyền.
Quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược, mô hình kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự quan tâm đến chất lượng tăng trưởng, thiên về chỉ tiêu số lượng, coi nhẹ những ảnh hưởng tiêu cực của xuất khẩu đối với xã hội và môi trường, duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chưa chú trọng đúng mức để tạo tiền đề (môi trường kinh doanh, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở hạ tầng) cho việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng cho mặt hàng thủy sản xuất khẩu. Vì vậy, trong thời gian tới, để tiếp cận được những thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, thay vì nỗ lực gia tăng sản lượng, cạnh tranh về giá, các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường thông qua đầu tư công nghệ, kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cấp nền tảng năng lực cạnh tranh của chính mình về mô hình kinh doanh, về chiến lược, quản trị, nhân lực, chất lượng hàng hóa và dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế,…
Công nghệ
Trình độ công nghệ khai thác thủy sản: Trong thời kỳ qua, trình độ công nghệ khai thác hải sản liên tục có sự thay đổi. Bện cạnh cải tiến các nghề lưới kéo, rê, vây trong nước, Việt Nam tiếp tục du nhập và cải biến các nghề đã được du nhập cho phù hợp với điều kiện của mình. Sự nhu nhập và cải biến các nghề khai thác đã làm thay đổi cơ cấu nghề, cơ cấu sản phẩm và giúp ngư dân tiếp cận các sản phẩm có chất lượng, có giá bán cao tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Trình độ công nghệ nuôi trồng thủy sản: Trong 15 năm qua, nuôi trồng thủy sản đã phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Công nghệ sản xuất giống các đối tượng nuôi chủ lực đã được cải thiện, ổn định đáp ứng nhu cầu thị trường. Công nghệ nuôi tiên tiến thế giới như nuôi tuần hoàn, nuôi nước chảy, nuôi trong nhà, kỹ thuật biofloc… được ứng dụng rộng rãi mang lại hiệu quả kinh tế cao và phòng chống được một số bệnh trên tôm nuôi, giảm ô nhiễm môi trường… Hơn nữa, công nghệ nuôi sạch, không sử dụng kháng sinh, chất cấm đã được ứng dụng phổ biến tạo ra các sản phẩm sạch, an toàn cho người dùng.
Công nghệ bảo quản sau thu hoạch: công nghệ bảo quản sau thu hoạch của khai thác thủy sản khá thô sơ (chủ yếu bảo quản bằng nước đá), vì vậy tổn thất sau thu hoạch chiếm tỷ trọng khá cao (20-25%), làm giảm hiệu quả đi biển của người dân. Công nghệ sau thu hoạch của chê biến thủy sản xuất khẩu chủ yếu là công nghệ bao gói sản phẩm trong điều kiện chân không. Công nghệ bao gói thay đổi môi trường không khí (MAP-Modified Atmosphere Packaging) bên trong bao gói được sử dụng ngày càng nhiều đã tăng khả năng duy trì chất lượng sản phẩm.
Công nghệ và trang thiết bị chế biến thủy sản: Theo thống kê, ngành chế biến thủy sản của nước ta hiện có 825 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp với tổng công suất thiết kế gần 4,5-5 triệu tấn nguyên liệu/năm, tương ứng gần với 2,1 triệu tấn sản phẩm/năm, chiếm 8-11% tổng giá trị kim ngạch cả nước. Theo đó, trình độ công nghệ chế biến sản phẩm thủy sản đông lạnh của Việt Nam được đánh giá là tiên tiến so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhìn chung nhiều nhà máy đã được nâng cấp, đổi mới trang thiết bị hiện đại, giúp nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.3.2. Nhân tố ảnh hưởng ngoài nước Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Nhu cầu tiêu dùng thủy sản của EU
EU có 27 quốc gia thành viên với dân số là 447 triệu người (năm 2021). Nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU rất cao, chiếm 10% sản lượng thế giới với mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người ở EU năm 2020 đạt khoảng 24,3 kg/người/năm. Theo số liệu thống kê của Eurostat, trong giai đoạn 10 năm từ 2009 – 2019, tổng chi cho tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của 27 quốc gia EU đã tăng 10,8%. Tổng lượng tiêu thụ thủy sản ở EU có thể lên tới 12,77 triệu tấn/năm. Về nguồn cung thủy sản, Việt Nam là thị trường cung cấp thủy sản cho EU đứng thứ hai trong khu vực châu Á, chỉ xếp sau Trung Quốc. Nhu cầu nhập khẩu thủy sản của EU là rất lớn, trên 50 tỷ USD/năm. Vì vậy EU là một trong thị trường quan trọng cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Tuy nhiên, theo số liệu của Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), trong năm 2020, nền kinh tế EU giảm tới 6,4%. Đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại EU trong những tháng đầu năm 2021 đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại hàng hóa của EU với thị trường ngoại khối. Trong đó, hoạt động thương mại giữa Việt Nam và EU chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch Covid-19 khiến hoạt động logistics gặp khó khăn, chi phí đầu vào gia tăng, nhiều chuỗi cung ứng bị gián đoạn ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU, làm thay đổi xu hướng tiêu thụ, nhu cầu nhập khẩu thủy sản của EU bị giảm đáng kể.
Thị yếu tiêu dùng
Từ nhiều năm nay, chỉ số tiêu thụ thủy sản tại thị trường EU tăng cao hơn hẳn so với thịt, do người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang ăn thủy sản nhiều hơn trong bữa ăn hàng ngày. Tại thị trường EU, siêu thị bán lẻ là kênh chính, chiếm thị phần lớn nhất trong khâu phân phối các sản phẩm thủy sản. Người tiêu dùng EU đa số ưu tiên lựa chọn những sản phẩm thủy sản có xuất xứ ở Châu Âu, sau đó những sản phẩm thủy sản đảm bảo rõ thông tin về nguồn gốc của sản phẩm, nhãn mác, bao bì, thân thiện với môi trường, dễ sử dụng. Phần lớn (khoảng 70%) thủy sản là dùng tại nhà, phần còn lại tiêu thụ tại các nhà hàng. Ngoài ra những yếu tố liên quan tới văn hóa, mức thu nhập của người dân từng quốc gia, khu vực sẽ tác động mạnh tới xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU.
Tuy nhiên, dịch Covid-19 làm thay đổi xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản ở EU. Những sản phẩm thủy sản tươi sống, sản phẩm thủy sản có trị giá cao có nhu cầu giảm mạnh khi phải thực hiện giãn cách xã hội… Người tiêu dùng hướng tới những sản phẩm thủy sản tiêu thụ ở nhà, dễ bảo quản, dễ chế biến, tiện dụng và có mức giá trung bình thấp như thủy sản sơ chế đông lạnh và thủy sản đóng hộp. Tuy nhiên, dịch Covid-19 không thay đổi cơ bản về quan điểm tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản ở EU mà chỉ thay đổi ở giá trị sản phẩm và tính tiện dụng của sản phẩm. Riêng thói quen quan tâm tới tính bền vững, nguồn gốc sản phẩm và tính thân thiện là không thay đổi.
Các rào cản kĩ thuật và thương mại của EU
Các loại rào cản thương mại đối với hàng thủy sản Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là rào cản thương mại về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (TBT), các quy định về xuất xứ, nhãn hiệu, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và an toàn bệnh dịch động, thực vật (SPS) và rào cản thương mại chống bán phá giá,… Hiện tại, ngành Thủy sản Việt Nam đã đáp ứng khá tốt các yêu cầu về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), quy định về vệ sinh dịch tễ và kiểm định vệ sinh động thực vật (SPS) của EU. Tuy nhiên, trong tương lai, EU có thể áp dụng các quy định TBT và SPS mới đối với nguyên liệu thô hoặc các biện pháp hạn chế xuất khẩu. Vì vậy, muốn xuất khẩu vào EU, các doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải đáp ứng những yêu cầu mới đó.
Thực tế cho thấy, trước các rào cản thương mại, cho đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam dường như vẫn còn khá bị động, thiếu thông tin, thậm chí thiếu nguồn nhân lực có kinh nghiệm về phòng vệ thương mại, thiếu những sự đầu tư cần thiết để có thể giúp cho sản phẩm thủy sản của Việt Nam vượt qua được các hàng rào kỹ thuật hay những biện pháp phòng vệ như thuế chống bán phá giá, thanh tra,…Sự thiếu hụt này có nguyên nhân từ nhiều phía cũng như cần phải có sự vào cuộc của tất cả các bên liên quan để có thể giải quyết được vấn đề một cách hiệu quả và lâu dài. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Về quy định của EU về bảo vệ môi trường và nguồn lợi (ISO 14000, EMAS, IUU, quy định của EU về trách nhiệm xã hội). Đặc biệt là quy định IUU liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý. Quy định về IUU được EU ban hành nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ mọi hoạt động đánh bắt thủy sản dưới các hình thức này.
Tuy nhiên, Việt Nam đã bị Uỷ ban châu Âu (EC) cảnh cáo thẻ vàng vì không tuân thủ Quy định chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) từ tháng 10/2017. Việt Nam bị rút “thẻ vàng”, đồng nghĩa thủy hải sản xuất khẩu sang EU sẽ bị kiểm soát 100% thay vì kiểm tra xác xuất. Tác động kinh tế của thẻ vàng IUU khiến xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU đã giảm liên tục từ 2017 đến nay. Đơn cử, đến năm 2019, sau 2 năm chịu tác động của thẻ vàng IUU, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU giảm 12%, tương đương 183,5 triệu USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủy sản giảm trên 10%, tương đương giảm 43 triệu USD. Xuất khẩu các sản phẩm nuôi trồng sang thị trường này cũng giảm 13%. Xu hướng giảm này tiếp tục kéo dài hơn nữa vào năm 2020, đặc biệt do bị tác động kép bởi dịch Covid-19, thẻ vàng IUU và Brexit, xuất khẩu thủy sản sang EU giảm 5,7% so với 2019, chỉ đạt triệu USD. Không dừng tại đó, nếu không có các giải pháp và hành động để tuân thủ chống khai thác IUU, thẻ vàng còn đứng trước nguy cơ chuyển thẻ đỏ. Trong trường hợp bị EC phạt thẻ đỏ, tác động trước mắt và trực tiếp nhất đối với thủy sản Việt Nam sẽ là lệnh cấm thương mại của EC. Theo ước tính của các chuyên gia, ngành thủy sản Việt Nam sẽ tổn thất khoảng 480 triệu USD mỗi năm vì mất thị trường EU. Tuy nhiên, nếu Việt Nam sớm gỡ được thẻ vàng IUU, tận dụng được các ưu đãi thuế quan và thay đổi thể chế từ Hiệp định EVFTA, ngành thuỷ sản có thể phục hồi. Mục tiêu xuất khẩu sang EU đạt 1,2-1,4 tỷ USD trong những năm tới là khả thi.
Chính sách thương mại của EU
Mục tiêu chính của chính sách thương mại EU là tăng cơ hội giao thương cho các quốc gia thành viên bằng việc loại bỏ các rào cản thương mại (như thuế quan và hạn ngạch) và bằng cách đảm bảo cạnh tranh công bằng. Chính sách thương mại của EU bao gồm thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các phương diện thương mại của sở hữu trí tuệ (như bằng sáng chế) và mua sắm công. Chính sách này được cấu thành bởi ba yếu tố chính: Các hiệp định thương mại với các nước ngoài EU để mở ra thị trường mới và gia tăng cơ hội phát triển thương mại cho các công ty EU; Quy định thương mại nhằm bảo vệ các nhà sản xuất EU trước hành vi cạnh tranh không lành mạnh; Quan hệ EU và WTO, nơi đặt ra các quy tắc thương mại quốc tế. Hiện nay, EU đã tham gia ký kết Hiệp đinh thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) đây là cơ hội rất lớn cho thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biêt là các mặt hàng thủy sản vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh trên thị trường này.
Sau 1 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực (từ tháng 8 đến tháng 12/2020), xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU đã và đang có những thay đổi, khi các doanh nghiệp Việt Nam tích cực đẩy mạnh xuất khẩu những sản phẩm thủy sản được ưu đãi từ EVFTA, trong khi phía đối tác cũng ưu tiên lựa chọn sản phẩm thủy sản từ Việt Nam do có mức giá cạnh tranh hơn. Đồng thời, thu hút đầu tư nước ngoài được kỳ vọng tăng lên, công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm được chú trọng nâng cao để đáp ứng theo tiêu chuẩn EU. Cùng với đó, môi trường kinh doanh và thể chế được đảm bảo theo hướng ổn định, minh bạch hơn vì hệ thống pháp luật cũng được điều chỉnh, bổ sung quy định để phù hợp với FTA đã ký kết.
Trong bối cảnh Covid ảnh hưởng mạnh đến logistics cho thương mại, xuất khẩu sang EU ổn định cho thấy tác động rõ rệt của hiệp định EVFTA đã thúc xuất khẩu sang thị trường này. Khi FTA giữa Việt Nam và EU được ký kết, mức cắt giảm thuế về 0% tương ứng với 90% số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này. Nhiều mặt hàng thủy sản như tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc được hưởng thuế 0% sang EU. Nếu như trước đây mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU phải chịu mức thuế lên đến 10,8%. Việc xóa bỏ thuế quan đối với các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU sẽ tạo lợi thế quan trọng cho Việt Nam khi cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường EU.
2.4. Đánh giá chung về phát triển xuất khẩu mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường EU. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
2.4.1. Những cơ hội và thách thức
Cơ hội
Ngành thủy sản Việt Nam được hưởng lợi từ các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU sẽ tạo cơ hội lớn như:
Tận dụng các lợi thế về thuế quan để tăng xuất khẩu. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội về thuế xuất nhập khẩu với EU. Có lợi thế cạnh tranh hơn khi tham gia các FTAs cũng là cơ hội tốt cho thủy sản Việt Nam tăng sức cạnh tranh nhờ sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất giá rẻ hơn như vận tải, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu vật tư, trang thiết bị. Là cơ hội tăng cường hợp tác liên doanh để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến chuỗi sản xuất giá trị gia tăng.
Mở rộng thị trường, đa dạng hóa và dịch chuyển nguồn nguyên liệu, tận dụng nguồn lao động và công suất chế biến trong nước: Với năng lực hàng đầu thế giới hiện nay về công nghệ chế biến thủy sản của Việt Nam, thuế nhập khẩu giảm cũng sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp nhập khẩu cá ngừ, mực, bạch tuộc Việt Nam khi nhập khẩu từ các nước, vùng lãnh thổ có năng lực khai thác tốt như Đài Loan, Nhật Bản, Mexico, Peru… để gia công, chế biến xuất khẩu sang EU. Ngoài ra, đây cũng là cơ hội để sản phẩm thủy sản Việt Nam thâm nhập vào chuỗi bán lẻ của các thị trường, mở rộng các kênh thương mại trực tiếp và thu được giá bán cao hơn.
Cơ hội tiếp cận công nghệ sản xuất chế biến hiện đại, công suất cao từ các nước phát triển ở Mỹ, EU, Nhật Bản, từ đó giảm chi phí, giá thành đồng thời tiếp cận công nghệ chế biến hàng giá trị gia tăng để nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản của Việt Nam. Ngoài ra còn là cơ hội để tiếp cận và áp dụng công nghệ của các nước trong sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.
Cải cách thủ tục hành chính, khung pháp lý, quy định kiểm tra chuyên ngành,… theo yêu cầu từ các hiệp định sẽ tạo cơ hội thuận lợi, thông thoáng hơn cho các nhà sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản.
Thách thức
Việc tham gia các FTAs mang lại cơ hội về thuế xuất nhập khẩu nhưng cũng tạo ra những thách thức cho doanh nghiệp thủy sản liên quan đến các vấn đề như quy tắc xuất xứ, rào cản kỹ thuật, bảo hộ thương mại, sự gia tăng cạnh tranh, vấn đề lao động,… Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Nguồn nguyên liệu có giá thành sản xuất cao: Thực tế, nguồn nguyên liệu hiện nay không ổn định do đầu vào sản xuất nguyên liệu như: thức ăn, con giống, hóa chất, kháng sinh đều phụ thuộc phần lớn vào các nguồn cung nước ngoài. Chi phí sản xuất cao hơn so với các nước khác khiến cho giá thành và giá xuất khẩu cao, làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản.
Quy tắc xuất xứ: Về cơ bản, chỉ những sản phẩm đáp ứng các quy tắc xuất xứ của một FTAs mới có thể hưởng các mức thuế suất ưu đãi của FTAs đó. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm bắt hoặc tận dụng được tốt các ưu đãi của FTAs vì tính phức tạp và số lượng lớn quy tắc; thực tế đến nay, với nhiều lý do các doanh nghiệp Việt Nam mới tận dụng được 30% ưu đãi từ FTAs.
Thị trường sẽ đặt ra nhiều tiêu chuẩn khắt khe hơn, không chỉ với sản phẩm mà với cả doanh nghiệp. Để đánh đổi cho thuận lợi về thuế quan, doang nghiệp thủy sản Việt Nam có thể phải đối mặt với thách thức lớn nhất là các tiêu chuẩn khắt khe về sản phẩm và vệ sinh dịch tễ như yêu cầu về chứng nhận xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, chất lượng, an toàn thực phẩm; tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, sử dụng lao động… Những yêu cầu về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản sẽ nghiêm ngặt hơn, nhằm bảo vệ môi trường và tài nguyên. Các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng cao hơn, đảm bảo danh nghiệp phải tuân thủ và bình đẳng trong cuộc chơi.
Rào cản kỹ thuật và bảo hộ thương mại: Với việc tự do hóa thương mại, thủy sản Việt Nam sẽ là đối tượng để các thị trường áp dụng các rào cản phi thuế quan nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa hoặc hạn chế nhập khẩu. Những rào cản như thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, các quy định kiểm tra hóa chất, kháng sinh hay chương trình thanh tra riêng biệt.
Chịu cạnh tranh mạnh mẽ: Tham gia vào các hiệp định thương mại đồng nghĩa với việc mở cửa và hội nhập hơn nữa vào tất cả các thị trường. Đây cũng chính là những rào cản không nhỏ đang giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại các thị trường nhập khẩu lớn. Hiện nay, với những ưu đãi về thuế nhập khẩu nguyên liệu, một số nước đối thủ đang gia tăng cạnh tranh với một số sản phẩm thủy sản chủ lực của ta như: đối với tôm thì các đối thủ cạnh tranh như Ấn Độ, Indonesia, Ecuado có chính sách thúc đẩy sản xuất tôm trong nước và bên cạnh đó họ còn được hưởng thuế suất ưu đãi chế độ thuế quan phổ cập (GSP); hay đối với cá tra với các nguồn cung lớn khác như: Bangladesh, Indonesia,… đang khiến doanh nghiệp thủy sản Việt Nam khó cạnh tranh để có được thị phần tốt hơn.
Thách thức về vấn đề lao động: Thủy sản là ngành cần lực lượng lao động lớn. Trong khi, thực trạng lao động trong ngành không ổn định. Các ràng buộc và quy định chặt chẽ về lao động từ FTAs sẽ tăng thêm thách thức cho các DN chế biến thủy sản.
2.4.2. Những mặt hạn chế Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Thứ nhất, chất lượng thủy sản Việt Nam còn thấp: Thị trường EU với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, trong khi chất lượng thủy sản Việt Nam còn chưa đáp ứng hết yêu cầu của EU nên việc thủy sản Việt Nam xuất khẩu rồi bị trả lại đã diễn ra nhiều lần, cảnh báo có xu hướng tăng, điều này không những gây thiệt hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến uy tín chung của thủy sản Việt. Một trong những hạn chế lớn của thủy sản Việt Nam hiện nay nằm ở vấn đề chất lượng và thương hiệu. Bởi chất lượng chưa đạt, thương hiệu chưa có thì thủy sản nước ta không thể xuất khẩu tới thị trường lớn theo con đường chính ngạch.
Thứ hai, trong lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản các doanh nghiệp, trang trại, hộ nông dân phát triển nhanh, nhưng tư duy sản xuất manh mún, thiếu định hướng dẫn đến cường độ cạnh tranh lớn và suy giảm nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu do năng lực cạnh tranh hạn chế. Vì mức độ hội nhập và hợp tác dọc trong chuỗi giá trị thủy sản xuất khẩu sang EU là rất thấp nên dẫn tới khó khăn trong các vấn đề truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và bền vững của sản lượng. Sự liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp còn yếu và rời rạc không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp mà còn giảm hiệu quả xuất khẩu, tham gia các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới.
Thứ ba, công nghệ chế biến thủy sản của chúng ta vẫn lạc hậu cho nên thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU chủ yếu vẫn là hàng thô, sơ chế, những mặt hàng chế biến sâu và giá trị gia tăng còn ít cho nên chưa vận dụng những ưu đãi về thuế mà hiệp định EVFTA đem lại. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng chủ yếu tập trung vào một số mặt hàng: cá tra, cá basa, cá mực cá ngừ. Mẫu mã còn đơn điệu chưa hấp dẫn khách hàng. Chất lượng hàng thủy sản chưa cao nên trước những đòi hỏi ngày càng khắt khe về số lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chỉ có doanh nghiệp áp dụng hiệu quả tiêu chuẩn HACCP mới được phép xuất khẩu sang EU.
Thứ tư, các quy định áp dụng đối với thủy sản nhập khẩu vào thị trường EU là rất phức tạp và khắt khe và với xu hướng ngày càng tăng lên. Những quy định này nhiều khi là không tưởng đối với thủy sản Việt Nam. Năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào mức độ các hàng rào này tạo ra. Chúng tạo thành một nút thắt cho việc tiếp cận thị trường EU, mặt hàng thủy sản của Việt Nam chỉ có cách tuân theo. Hiện nay các mặt hàng này còn gặp nhiều rào cản phi thuế quan tại thị trường EU, đặc biệt là vấn đề “Thẻ vàng” đối hàng thủy sản trong quy định IUU. Ngoài ra, với nguyên liệu thủy sản đánh bắt trong nước, thủ tục xác nhận và chứng nhận theo quy định IUU gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình lập chứng nhận xuất xứ, chứng nhận vệ sinh xuất khẩu sang EU.
Thứ năm, hiệp định EVFTA yêu cầu sản phẩm thủy sản phải có xuất xứ thuần túy từ Việt Nam hoặc sử dụng nguyên liệu có xuất xứ thuần túy được nhập khẩu từ EU. Trong khi đó, nguồn nguyên liệu cho thủy sản chế biến hiện nay của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, đặc biệt là tôm và EU không phải là thị trường nhập khẩu nguyên liệu thủy sản phục vụ cho sản xuất xuất khẩu trong nước. Do vậy, năng lực sản xuất, kinh doanh, nguồn hàng nguyên liệu cho sản xuất của ngành thủy sản Việt Nam trong ngắn hạn chưa thể đáp ứng hoàn toàn tiêu chí xuất xứ thuần túy của Hiệp định EVFTA.
Thứ sáu, hệ thống chính sách phát triển xuất khẩu thủy sản chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, chất lượng các văn bản chưa cao. Trong khi đó, còn quá nhiều quy định chồng chéo trong các quyết định về định hướng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch tổng thể hay đề án phát triển ngành, dẫn đến khó thực thi hoặc thực thi kém hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều quyết định vừa mới ban hành đã bộc lộ những bất cập, gây khó khăn cho các doanh nghiệp thực hiện, buộc phải sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng các quyết định khác. Các biện pháp về hành chính và thủ tục hải quan, kiểm nghiệm hàng hóa xuất khẩu vẫn còn rườm rà, ảnh hưởng không nhỏ đến các mặt hàng tươi sống như thủy sản, còn quá nhiều các quy định chồng chéo lẫn nhau gây mất thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản.
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
Thứ nhất, diễn biến của dịch Covid-19 tại thị trường trong và ngoài nước cùng với những ảnh hưởng của thẻ vàng IUU sẽ tiếp tục là những yếu tố tác động lớn nhất đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này. Hiện hoạt động sản xuất, nuôi trồng, chế biến thủy sản đang gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh dịch bệnh đang lây lan mạnh tại hàng loạt địa phương trên cả nước. Mặc dù nhu cầu thị trường EU cao nhưng doanh nghiệp thiếu nguyên liệu, thiếu lao động và chịu các chi phí đầu vào tăng cao. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu container, giá cước vận tải biển tăng liên tục khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ khó duy trì xuất khẩu sang thị trường này.
Một trong những vấn đề nan giải chính là nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Hiện, do nguyên liệu trong nước cung cấp cho chế biến khá hạn chế, hệ thống cung cấp lại phân tán, gây khó cho truy xuất nguồn gốc, khiến việc đáp ứng yêu cầu chất lượng của EU còn rất khó khăn đối với không ít doanh nghiệp. Trong khi đó, nếu nhập khẩu nguyên liệu thì doanh nghiệp cần khai báo nguồn gốc rõ ràng và như vậy cơ hội được hưởng ưu đãi thuế sẽ ít đi, dù sản phẩm có đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng để vào EU
Thứ hai, ngành thủy sản Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn trong chiến lược phát triển theo chiều sâu. Việc đẩy mạnh xuất khẩu chỉ kích thích tính tự phát, sự gia tăng theo chiều rộng, tăng sản lượng lớn hơn tăng chất lượng. Do doanh nghiệp quy mô nhỏ nên gặp khó khăn trong huy động nguồn lực để đầu tư vào công nghệ, trình độ quản lý và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chưa có chiến lược đầu tư cho sự phát triển dài hạn. Hơn nữa, các doanh nghiệp còn hạn chế hợp tác, hỗ trợ và nâng đỡ nhau để trở thành các đối tác lâu dài, hướng tới mục tiêu phát triển chung. Nguyên nhân chính chủ yếu dẫn đến tình trạng này được thể hiện qua việc các quan hệ sản xuất vẫn rất rời rạc, thiếu sự gắn kết tư duy sản xuất hàng hóa lớn giữa những người sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến, đặc biệt thiếu sự gắn kết theo chuỗi giá trị thủy sản trong nước với chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu.
Thứ ba, công tác xúc tiến thương mại cho sản phẩm trên thị trường EU chưa được chú trọng. Doanh nghiệp Việt Nam hầu hết đều thiếu các điều kiện cần thiết để làm công tác xúc tiến thương mại như: Thiếu cán bộ có năng lực xúc tiến thương mại, thiếu thông tin thương mại, thiếu mạng lưới bán hàng và các mối quan hệ. Hiện nay, Việt Nam đã có Cục Xúc tiến Thương mại, là đơn vị chuyên môn của Chính Phủ đảm nhiệm chức năng xúc tiến ngoại thương. Nhìn chung, sự phối hợp giữa Cục Xúc tiến thương mại và các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam trong xúc tiến thương mại trên thị trường EU còn rất hạn chế.
Thứ tư, công tác quản lý nhà nước về thủy sản còn nhiều bất cập. Mặc dù Chính phủ đã có sự nỗ lực rất lớn trong hỗ trợ cho ngành thủy sản như ban hành nhiều chủ trương, chính sách và đề án trong đó bao gồm cả nguồn lực tài chính cũng như cơ chế thúc đẩy xuất khẩu sang EU. Tuy nhiên, hoạt động kiểm soát chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cho thủy sản xuất khẩu sang EU còn nhiều yếu kém, chồng chéo, phân đoạn gây tốn kém và khó khăn cho doanh nghiệp. Việc hoạch định chính sách thiếu sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, hiệp hội ngành nghề, trong đó chỉ nêu các quy định chính sách mà thiếu kế hoạch hành động hoặc hướng dẫn thi hành cụ thể. Công tác kiểm tra, xử lý các vi phạm trong khai thác thủy sản vẫn còn hạn chế.
Thứ năm, một số nguyên nhân khách quan từ thị trường EU
Các quốc gia thành viên áp dụng cùng một chính sách ngoại thương với các nước ngoại khối nhưng do mỗi quốc gia có một nền văn hóa riêng nên các giải quyết tình huống khác nhau. EU có hệ thống kênh phân phối phức tạp, các siêu thị công ty bán lẻ, cửa hàng không mua hàng trực tiếp từ nhà xuất khẩu nước ngoài, họ mua hàng thông qua các trung tâm thu mua lớn của EU hay các công ty xuyên quốc gia. Thị trường EU có một hệ thống khắt khe với hàng thủy sản như tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn an toàn cho người lao động và tiêu chuẩn môi trường. Các quy định hạn chế hạn ngạch đánh bắt nhằm đảm bảo tính bền vững tiếp tục được áp dụng ở hầu hết các ngư trường và được áp đặt, kiểm soát chặt hơn. Trong khi đó quy định IUU của EU cũng được giám sát rất chặt khiến cho sản lượng thủy sản khai thác toàn cầu bền vững hơn và khó tăng. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu thủy sản sang EU
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản sang EU

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU