Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Cổ phần hoá ngân hàng ngoại thương Việt Nam( VCB): Kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại nhà nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2. CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ CHO VIỆC CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Quá trình cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam dựa trên các căn cứ pháp lý như sau: Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
- Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần (Nghị định số 109).
- Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg ngày 21/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
- Thông báo số 03/TB-VPCP ngày 04/01/2007 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về cổ phần hoá các NHTMNN.
Thông báo số 18/TB-VPCP ngày 26/01/2007 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại cuộc họp về việc chọn tư vấn cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Thông báo số 83/TB-VPCP ngày 20/04/2007 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại cuộc họp về việc cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Quyết định số 1289/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Phương án cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Công văn số 1693/TTg-ĐMDN ngày 09 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc lựa chọn đối tác chiến lược của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Quyết định số 2900/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về công bố giá trị doanh nghiệp và bán đấu giá cổ phần Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Công văn số 6991/VPCP-ĐMDN ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ về việc giá khởi điểm cổ phiếu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Giấy phép số 138/GP-NHNN ngày 23/05/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
3. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ CHO CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
3.1. Phát hành trái phiếu tăng vốn
Theo quyết định số 1652/QĐ-NHNN về việc cho phép ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành trái phiếu tăng vốn bằng VND do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ngày 16/11/2005, ngày 14 và 15/12/2005, Ngân hàng Ngoại thương đã thực hiện thành công ngoài dự kiến đợt phát hành trái phiếu tăng vốn bằng đồng Việt Nam. Đây là loại trái phiếu kỳ hạn 7 năm, lãi suất được xác định qua đấu thầu lãi suất là 6% và có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu khi Ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng. Toàn bộ số trái phiếu dự kiến phát hành và biên độ tối đa cho phép đã được phát hành trong thời gian rất ngắn. Trong số 1.374 tỷ đồng trái phiếu phát hành, tổ chức nắm giữ 840 tỷ, cá nhân nắm giữ 534 tỷ.
Việc phát hành trái phiếu tăng vốn của VCB vào thời điểm tháng 12/2005 là rất cần thiết bởi 2 lý do: Việc phát hành trái phiếu tăng vốn có ý nghĩa thăm dò phản ứng của thị trường, là bước đệm quan trọng để chuẩn bị cho tiến trình cổ phần hoá VCB được thuận lợi và hiệu quả. Nhưng một lý do nữa quan trọng hơn đó là nguồn trái phiếu này sẽ bổ sung đáng kể một lượng vốn tự có của VCB, góp phần quan trọng nhằm tăng cường năng lực tài chính cho Ngân hàng, cải thiện tỷ lệ an toàn vốn trước khi xác định giá trị doanh nghiệp của VCB để tiến hành cổ phần hoá. Có nhiều ý kiến cho rằng phát hành trái phiếu tăng vốn có thể làm giảm giá trị doanh nghiệp, nhưng theo giảng viên của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright bác bỏ điều này và chứng minh hệ quả ngược lại: phát hành trái phiếu tăng vốn chắc chắn làm tăng giá trị doanh nghiệp bởi 3 lý do sau:[3] Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Một là, phát hành trái phiếu có khả năng chuyển đổi làm tăng tỷ lệ đủ vốn của VCB. Vấn đề rất lớn mà các ngân hàng thương mại nhà nước đang gặp là không đủ vốn theo các chuẩn mực quốc tế – tiêu chuẩn Basel (Basel là các tiêu chuẩn được thống nhất bởi Hiệp hội ngân hàng quốc tế nhằm đánh giá, xếp loại các ngân hàng. Đây là tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay). Việc phát hành trái phiếu tăng vốn sẽ giúp đạt được tiêu chí đủ vốn với việc cổ phần hoá VCB nói riêng và các NHTMNN nói chung.
Theo quy định trong Basel, vốn để tính tỷ lệ vốn tối thiểu hay hệ số đủ vốn (CAR – Capital Adequacy Ratio) của một ngân hàng được chia làm hai loại.
Vốn nòng cốt – vốn cấp 1 ( core capital – tier 1): Loại vốn này là vốn tự có của doanh nghiệp như cách hiểu thông thường hiện nay, nó bao gồm vốn cổ phần (hay vốn điều lệ đối với NHTMNN) và lợi nhuận giữ lại.
Vốn bổ sung – vốn cấp 2 ( supplymentary capital – tier 2) gồm một số loại nợ thứ cấp như: giá trị tài sản đánh giá lại, quỹ dự phòng rủi ro chung, các loại công cụ lai giữa nợ và vốn… Trái phiếu tăng vốn thuộc loại vốn này.
Một ngân hàng được xem là đủ vốn khi tỷ lệ vốn cấp 1 chia cho tài sản có điều chỉnh rủi ro (mỗi loại tài sản có một trọng số rủi ro khác nhau. Ví dụ tiền mặt tại quỹ có trọng số rủi ro bằng 0%; các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo cho các doanh nghiệp có trọng số rủi ro bằng 100%…) tối thiểu bằng 4% và tỷ lệ vốn cấp 1 + vốn cấp 2 chia cho tài sản có điều chỉnh rủi ro tối thiểu bằng 8%.
Con số 8% được quan tâm nhiều hơn. Như vậy, rõ ràng khi phát hành trái phiếu tăng vốn thì tử số của hệ số đủ vốn tăng lên rất nhiều so với mẫu số. Điều này có nghĩa là hệ số đủ vốn của ngân hàng sẽ được cải thiện đáng kể. Hay nói một cách khác, việc phát hành trái phiếu tăng vốn đã góp phần giải quyết được vấn đề thiếu vốn của VCB, độ an toàn của VCB sẽ được tăng lên.
Hai là, phát hành trái phiếu tăng vốn làm tăng tính thanh khoản của VCB. Tính thanh khoản là một khó khăn mà các ngân hàng Việt Nam đang gặp phải (sự mất cân đối giữa kỳ hạn vốn huy động và thời hạn cho vay). Phần lớn vốn huy động chỉ là ngắn hạn (dưới 12 tháng) trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm một tỷ trọng rất lớn.
Việc phát hành trái phiếu tăng vốn góp phần giảm bớt sự bất cân đối nêu trên. Theo từ chuyên môn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng được gọi là khe hở kỳ hạn được thu hẹp, tính an toàn, khả năng thanh khoản được nâng cao.
Ba là, VCB sử dụng trái phiếu tăng vốn làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Điều không thể phủ nhận là việc phát hành trái phiếu có thời hạn dài sẽ có chi phí vốn (lãi suất) cao hơn việc huy động tiền gửi có kỳ hạn ngắn hơn. Tuy nhiên, khi có nguồn vốn ổn định, ngân hàng có thể cho vay các dự án có thời gian dài hơn, kéo theo lãi suất cao hơn. Mặt khác, do khách hàng mua trái phiếu tăng vốn có thêm quyền và cơ hội sở hữu cổ phiếu của một ngân hàng hàng đầu ở Việt Nam nên họ hoàn toàn có thể chấp nhận một mức lãi suất thấp hơn.
Chính những ưu điểm này mà Trung Quốc và các nền kinh tế chuyển đổi khác cũng sử dụng trái phiếu có khả năng chuyển đổi trong quá trình cải cách ngân hàng của mình.
Mặc dù việc phát hành trái phiếu tăng vốn không phải là nội dung cổ phần hoá VCB nhưng là bước chuẩn bị cho cổ phần hoá và liên quan chặt chẽ với việc cổ phần hóa do khả năng chuyển đổi của trái phiếu tăng vốn.
3.2. Xử lý nợ và tài sản tồn đọng Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Đề án xử lý nợ tồn đọng của VCB được xây dựng có chất lượng và mang tính khả thi cao. Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của công tác giải quyết nợ tồn đọng là sự chuẩn bị rất nghiêm túc của VCB cho mục tiêu này. Theo Đề án tái cơ cấu Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng đã xây dựng các tiêu chí phương thức phân loại nợ phù hợp, chuẩn bị cơ sở dữ liệu tin cậy, phản ánh rõ thực trạng và chi tiết tới từng khoản nợ, tổng số nợ luôn được so sánh khớp với số hạch toán từng tài khoản nợ xấu trên bảng cân đối.
Ngày 04/10/2006, VCB đã ký thoả thuận hợp tác xử lý nợ tồn đọng với Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC). DATC là một đơn vị có kinh nghiệm xử lý những khoản nợ mang tính lịch sử của khối ngân hàng trong thời kỳ bao cấp. Đây thực sự là một bước hợp tác quan trọng nhằm đẩy mạnh tiến độ cổ phần hoá ngân hàng.
Tính đến năm 2005, VCB đã xử lý được gần 5000 tỷ đồng nợ tồn đọng. Tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 30,8% năm 2000 xuống còn 2,66% năm 2005. Năm 2006, tỷ lệ này là 2,8%. Tuy nhiên, năm 2007, việc phân loại nợ được tiến hành theo quy định sửa đổi của NHNN theo hướng thận trọng hơn nên tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2007 tăng 0,6% so với năm 2006.
VCB cũng đã xử lý được hơn 770 tỷ đồng giá trị danh mục tài sản đảm bảo, đưa tỷ lệ thu hồi nợ có đảm bảo đạt 20%. VCB là ngân hàng đi đầu trong việc xử lý nợ xấu và đây cũng là lý do khiến VCB được chọn để thí điểm CPH trước những ngân hàng khác. Sau khi ký thoả thuận hợp tác, VCB đã xem xét từng nhóm nợ cụ thể để đưa ra phương hướng giải quyết. Tính đến 05/10/2006, số nợ xấu của VCB chỉ còn khoảng 1000 tỷ, so với các ngân hàng khác là không lớn. Do đó, VCB có thể sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp được và tiến hành giải quyết từ từ trong thời gian tới.
4. QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
4.1. Mục tiêu cổ phần hoá Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Theo quyết định 230/2005/QĐ-TTg ngày 21/09/2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thí điểm cổ phần hoá NHNT Việt Nam, việc cổ phần hoá NHNT hướng tới mục tiêu sau:
Tăng cường năng lực quản trị điều hành và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và sử dụng vốn.
- Tăng cường năng lực tài chính bảo đảm an toàn hoạt động và phát triển NHNT Việt Nam.
- Nâng cao sức cạnh tranh của NHNT Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Giữ vững NHNT Việt Nam là một trong những ngân hàng có vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
4.2. Hình thức cổ phần hoá
Như đã trình bày trong mục 1.3.2 ở chương I, có 3 hình thức cổ phần hoá. NHNT Việt Nam đã lựa chọn hình thức thứ nhất, đó là: Giữ nguyên phần vốn nhà nước hiện có tại NHNT Việt Nam, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn theo nguyên tắc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam qua nhiều giai đoạn với tỷ lệ vốn Nhà nước giảm dần nhưng không thấp hơn 51% vốn điều lệ.
4.3. Mô hình cổ phần hoá
Cho đến thời điểm hiện tại khi khoá luận này được hoàn thành thì NHNT Việt Nam mới chỉ thực hiện việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Tuy vậy, theo quyết định 1289/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 26/09/2007 về phê duyệt phương án cổ phần hoá NHNT Việt Nam, thì Chính phủ cũng đã cho phép NHNT thực hiện bán cho NĐTCL. Tuy vậy, việc đàm phán với đối tác chiến lược đã không đạt kỳ vọng của VCB và chính phủ nên NHNT đã tiến hành IPO trước và hiện nay, quá trình lựa chọn đối tác chiến lược vẫn đang diễn ra và hy vọng NHNT sẽ lựa chọn được đối tác chiến lược trong thời gian sớm nhất.
4.4. Quy trình cổ phần hoá Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
4.4.1. Xây dựng phương án cổ phần hoá
Lựa chọn tổ chức tư vấn
Việc lựa chọn tổ chức tư vấn quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình cổ phần hoá. Đặc biệt với VCB nói riêng và với các NHTMNN nói chung, việc xác định giá trị doanh nghiệp là vướng mắc cơ bản nhất đối với việc CPH NHTMNN bởi cơ cấu tài sản của NHTMNN không giống như các doanh nghiệp khác. Cụ thể:
Trong định giá bất động sản:
Mạng lưới hoạt động của các NHTMNN khắp các tỉnh, thành trong cả nước, có nơi xây dựng trụ sở trên đất thuê, có nơi có quyền sử dụng trả tiền một lần, có nơi thì quyền sử dụng đất nhận chuyển nhượng từ cá nhân; đồng thời lợi thế thương mại của vị trí đất cũng rất khó xác định.
Trong định giá giá trị thương hiệu, tài sản vô hình khác:
Với các NHTMNN, đặc biệt với VCB – một ngân hàng có thương hiệu và tên tuổi nổi tiếng, bởi vậy tài sản vô hình có thể có giá trị không kém tài sản hữu hình. Các nhà đầu tư khi đánh giá doanh nghiệp đều coi trọng khả năng của đội ngũ lãnh đạo, thị phần, sản phẩm, cơ chế quản trị…- tất cả các yếu tố này tạo nên giá trị vô hình cho doanh nghiệp.
Tổ chức được lựa chọn tư vấn cổ phần hoá sẽ tư vấn 3 nội dung: xác định giá trị doanh nghiệp; xây dựng phương án cổ phần hoá, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược; bán cổ phần phát hành lần đầu.
Ngày 05/07/2006, Ban chỉ đạo cổ phần hoá VCB ký Thông báo số 351/TB-BCĐ.m thông báo kết luận của Trưởng Ban chỉ đạo giao Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc VCB tiến hành đàm phán lựa chọn tư vấn tài chính quốc tế cổ phần hoá VCB.
Các ứng cử viên tư vấn quốc tế bao gồm Credit Suisse, UBS (Union de Banques Suisses) và Citigroup. Ngày 26/01/2007, Văn phòng Chính phủ ký Thông báo số 18/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về việc chọn Credit Suisse là tổ chức tư vấn cổ phần hoá VCB. Và đến ngày 12/02/2007, VCB và Credit Suisse đã ký hợp đồng tư vấn tài chính. Quyết định này đã giúp tháo gỡ bế tắc cho quá trình cổ phần hoá của VCB vốn diễn ra rất chậm chạp trong thời gian trước đó.
Credit Suisse giúp VCB giải quyết nợ xấu, hỗ trợ kỹ thuật, quản lý tài sản, quản lý rủi ro, tư vấn cho VCB các giải pháp phát hành cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng và niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong Quyết định số 1289/QĐ-TTg của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về việc phê duyệt phương án cổ phần hoá VCB, chính phủ đã chấp thuận các kiến nghị của tư vấn và kiểm toán quốc tế liên quan tới việc định giá doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế. Như vậy, sau một quá trình dài tranh cãi về việc nên định giá VCB như thế nào, Chính phủ đã quyết định dựa trên ý kiến của đơn vị tư vấn là không đánh giá lại giá trị sổ sách của VCB. Tất cả tài sản đều được giữ nguyên giá trị sổ sách để xác định vốn chủ sở hữu, từ đó tính toán vốn điều lệ mới trên cơ sở tỷ lệ nắm giữ cần thiết của Nhà nước. Sau đó ấn định mức giá khởi điểm chào bán ra bên ngoài.
Phương án cổ phần hoá
Theo quyết định 1289/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 26/09/2007 về phê duyệt phương án cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, chính phủ đã phê duyệt phương án cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với nội dung chính sau:
- Tên tiếng Việt: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
- Tên giao dịch quốc tế: Commercial Joint Stock Bank for Foreign Trade of Vietnam.
- Tên viết tắt tiếng Anh: Vietcombank – VCB
- Trụ sở chính: 198, đường Trần Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
- Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của pháp luật; tổ chức hoạt động theo Điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần, phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp và các quy định của pháp luật có liên quan. Được áp dụng mô hình quản trị theo thông lệ quốc tế tốt nhất nếu không có xung đột với luật pháp Việt Nam.
- Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam được tiếp tục kinh doanh các ngành, nghề hiện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang thực hiện và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam là Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.
- Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo sổ sách kế toán tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2006 đã được kiểm toán năm 2006 của Ngân hàng Ngoại thương là 11 127 248 triệu đồng (mười một triệu một trăm hai mươi bảy nghìn hai trăm bốn mươi tám triệu đồng).
Ngoài áp dụng các phương pháp quốc tế trong xác định giá trị doanh nghiệp, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện các bước xử lý tài chính, xác định giá trị quyền sử dụng đất và hình thức sử dụng đất sau cổ phần hoá, đánh giá tài sản khác… kết hợp với kết quả xác định giá trị doanh nghiệp của tổ chức tư vấn cổ phần hoá và định giá nước ngoài; đồng thời căn cứ tình hình cung cầu thị trường và các yếu tố khác tại thời điểm trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ về giá khởi điểm cổ phiếu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, công bố giá trị doanh nghiệp và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo số đánh giá lại.
Vốn điều lệ và cơ cấu cổ phần phát hành: Vốn điều lệ: 15.000.000.000.000 đồng (mười lăm nghìn tỷ đồng).
Hình thức cổ phần hoá và cơ cấu cổ phần phát hành: Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Hình thức cổ phần hoá: giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn theo nguyên tắc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam qua nhiều giai đoạn với tỷ lệ vốn Nhà nước giảm dần nhưng không thấp hơn 51% vốn điều lệ, cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: tổng khối lượng phát hành trong đợt đầu là 30% vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, trong đó:
- Cổ phần bán đấu giá công khai trong nước: 6,5% vốn điều lệ.
- Cổ phần bán ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên và cho các đối tượng nắm giữ trái phiếu tăng vốn: 3,5% vốn điều lệ.
- Cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược trong nước: 5% vốn điều lệ.
- Cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài: tối đa không quá 20% vốn điều lệ.
Giai đoạn 2: phát hành và niêm yết quốc tế không vượt quá 15% vốn điều lệ.
Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược:
Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài:
Tiêu chí: là các tổ chức tài chính có quy mô và năng lực tài chính tầm cỡ quốc tế hoặc khu vực; có kinh nghiệm đầu tư thành công tại khu vực; có chiến lược và văn hoá kinh doanh phù hợp; có chuyên môn, có kinh nghiệm và chuyên nghiệp trong cùng lĩnh vực hoạt động và đảm bảo không có xung đột về lợi ích với chiến lược phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
Số lượng: tối đa không quá 2 nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.
Ngân hàng Ngoại thương thực hiện việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tiềm năng theo quy định của pháp luật và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược thực hiện trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu. Nhà đầu tư chiến lược được tham gia trong cơ cấu tổ chức quản lý Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam theo quy định của pháp luật.
- Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trong nước: là các đối tác hoặc bạn hàng truyền thống trong nước.
- Việc bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của
- Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
- Nhà đầu tư chiến lược cam kết đầu tư dài hạn, không được chuyển nhượng cổ phần trong thời gian ít nhất là 5 năm, kể từ ngày Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Sử dụng nguồn vốn thặng dư sau khi bán cổ phần: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam được quản lý một phần tiền thu được từ cổ phần hoá để đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm của Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tỷ lệ cụ thể do Thủ tướng Chính phủ quyết định sau khi hoàn thành cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
- Việc hình thành Tập đoàn tài chính ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ do Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam quyết định.
4.4.2. Tổ chức bán cổ phần Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng – IPO
Như đã đề cập trong chương I, “IPO là việc phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu, là sự kiện một doanh nghiệp nhà nước lần đầu tiên huy động vốn rộng rãi từ công chúng bằng cách phát hành các cổ phiếu phổ thông, nghĩa là cổ phiếu ghi nhận quyền sở hữu của người nắm giữ và người đó là chủ sở hữu một phần tài sản của doanh nghiệp, có quyền biểu quyết trong các kỳ họp đại hội cổ đông thường niên hay bất thường”.
IPO đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cổ phần hoá của một doanh nghiệp. Trước khi được phép huy động vốn rộng rãi từ công chúng phải đảm bảo thực hiện các điều kiện về phát hành cổ phiếu và quy chế cáo bạch đầy đủ, chính xác các thông tin về mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp. VCB cũng vậy, trước khi chính thức IPO, vào ngày 06/12/2007, VCB đã công bố bản cáo bạch và thông tin chính thức về IPO. Theo đó, giá trị VCB theo sổ sách được kiểm toán tại thời điểm 31/12/2006 của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 166.952 tỷ đồng, trong đó giá trị phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là 11.127 tỷ đồng. Theo đánh giá lại, giá trị doanh nghiệp là 243.835 tỷ đồng, giá trị phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp là 87.861 tỷ đồng. Ngân hàng Ngoại thương không thực hiện điều chỉnh lại sổ sách kế toán theo giá trị được đánh giá lại. Ngoài ra, VCB cũng công bố kết quả hoạt động kinh doanh của VCB trong 3 năm 2004, 2005, 2006; định hướng hoạt động sau cổ phần hoá cũng như kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Trong tháng 12/2007, VCB đã thực hiện thành công việc chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) là 6,5% vốn điều lệ (tương đương 97.500.000 cổ phần) thông qua Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Tổ chức tư vấn tài chính: Credit Suisse (Singapore) Limited, tư vấn kiểm toán: Ernst & Young Vietnam Limited, tư vấn pháp lý: Văn phòng Luật sư YKVN, tổ chức tư vấn bán đấu giá trong nước: Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VCBS). Kết quả:[26]
- Tổng số cổ phần chào bán: 97.500.000 cổ phần.
- Tổng số cổ phần bán được: 97.500.000 cổ phần tương đương 10.516.320.430.000 VND.
- Tổng số cổ phần từ chối mua: 3.180.726 cổ phần
- Tổng số cổ phần bán được thực tế: 94.319.274 cổ phần (đạt tỷ lệ 96,74%).
- Tổng số tiền thu được thực tế: 10.146.182.246.500 VND.
- Giá bình quân thực tế: 107.572,7 VND/ cổ phần .
Trong đó:
- Giá khởi điểm: 100.000đ/ cổ phần
- Giá trúng thầu thấp nhất: 102.000đ/ cổ phần
- Giá trúng thầu cao nhất: 250.000đ/ cổ phần
- Số lượng nhà đầu tư tham gia 9.473 trong đó có 9.068 nhà đầu tư trong nước, 207 nhà đầu tư nước ngoài; tổ chức trong nước là 153, tổ chức nước ngoài 45.
- Tổng cộng có 8792 nhà đầu tư trúng giá với tổng giá trị cổ phần bán được là 10.516.320.430.000đ, trong đó có 146 tổ chức trong nước trúng 30.643.448 cổ phần, 37 tổ chức nước ngoài trúng 28.082.600 cổ phần; 8.411 cá nhân trong nước trúng 38.121.718 cổ phần; 198 cá nhân nước ngoài trúng 652.234 cổ phần.
Phát hành từ chuyển đổi trái phiếu tăng vốn VCB 2005
Việc chuyển đổi trái phiếu tăng vốn VCB năm 2005 được quy định chi tiết tại: (i) Bản cáo bạch niêm yết Trái phiếu Tăng vốn NHNT năm 2005 trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (Giấy phép niêm yết số 57/UBCK-GPNY do Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp ngày 18/07/2006); và (ii) Quy định về Trái phiếu Tăng vốn NHNT năm 2005 do Tổng Giám đốc NHNT ký ngày 23/11/2005.
Giá chuyển đổi Trái phiếu Tăng vốn là giá đấu thành công bình quân thực tế hình thành từ đợt bán đấu giá phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của NHNT ngày 26/12/2007.
Theo đó, kết quả phát hành từ chuyển đổi Trái phiếu tăng vốn VCB năm 2005 như sau:
- Giá chuyển đổi: 107.572,7 VND/ cổ phiếu
- Tổng số cổ phần bán từ chuyển đổi trái phiếu: 12.634.012 cổ phần
- Tổng số tiền thu được: 1.359.074.782.830 VND.
Phát hành từ bán cổ phiếu theo giá ưu đãi cho cán bộ công nhân viên
Theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP [20] về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, giá mua cổ phần đối với người lao động và tổ chức công đoàn của doanh nghiệp được ưu đãi bằng 60% giá trúng đấu giá bình quân.
Kết quả phát hành từ bán cổ phiếu theo giá ưu đãi cho cán bộ công nhân viên như sau:
- Giá bán ưu đãi: 64.543,62 VND/cổ phần
- Tổng số cổ phần bán theo giá ưu đãi: 5.311.700 cổ phần
- Tổng số tiền thu được: 342.836.346.354 VND.
Tóm lại, tổng số cổ phần bán được qua đợt này (IPO, chuyển đổi Trái phiếu Tăng vốn VCB năm 2005, bán cổ phiếu theo giá ưu đãi cho cán bộ công nhân viên) là 112.264.986 CP, với tổng số tiền thu được là 11.848.093.375.684 VND.
Lựa chọn NĐTCL
Ngày 20/04/2007, Văn phòng Chính phủ đã ký Thông báo số 83/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về việc đồng ý cho VCB thực hiện việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu. Sau đó, Chính phủ cũng phê duyệt phương án cổ phần hoá VCB theo hướng cho phép ngân hàng bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược trước, sau đó mới bán đấu giá ra công chúng. Tuy nhiên, VCB đã thực hiện IPO trước khi chọn ra nhà đầu tư chiến lược và đã được Chính phủ đồng ý. Việc thay đổi kế hoạch này có hai lý do: Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Một là, do việc đàm phán với đối tác chiến lược đã không đạt kỳ vọng của VCB và Chính phủ. Vì vậy, Chính phủ đã cho phép VCB thực hiện IPO trước.
Hai là, để đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư sở hữu Trái phiếu Tăng vốn VCB. Việc đàm phán với đối tác chiến lược có thể kéo dài nên việc IPO làm nhằm thực hiện đúng cam kết của VCB đối với các trái chủ khi thời gian chuyển đổi tối đa của trái phiếu là 2 năm.
Quá trình lựa chọn đối tác chiến lược kéo dài và vẫn đang diễn ra, lại đúng vào thời kỳ chứng khoán đang đi xuống có thể gây ra một số bất lợi trong đàm phán cho VCB. Thực tế, giá cổ phiếu VCB tham khảo trên thị trường OTC đang xuống thấp ở 50 – 60 nghìn đồng/cổ phiếu. Đây có thể là một yếu tố để các đối tác nước ngoài gây khó khăn trong quá trình đàm phán.
Theo Nghị định 109 thì nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần lần đầu theo giá thoả thuận với doanh nghiệp nhưng không thấp hơn giá trúng thầu bình quân. Tuy nhiên, cũng tại điều khoản này, nghị định cũng “mở” với một số trường hợp: “Đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (bao gồm cả các NHTMNN) nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì cơ quan quyết định cổ phần hoá báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược”.
Xử lý thặng dư cổ phần
So với Nghị định 187/2004/NĐ-CP, Nghị định 109/2007/NĐ-CP có sự thay đổi về sử dụng tiền thu từ bán cổ phần lần đầu cho doanh nghiệp cổ phần hoá. Trước đây, phần thặng dư phát hành (chênh lệch giá bán và mệnh giá cổ phiếu) sau khi được sử dụng để thanh toán chi phí cổ phần hoá, giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư, nếu thừa phải nộp toàn bộ về Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp. Theo Nghị định 109, trong trường hợp cổ phần hoá phát hành thêm thì thặng dư phát hành sau khi trừ chi phí cổ phần hoá và giải quyết chính sách đối với lao động dôi dư được để lại doanh nghiệp theo tỷ lệ tương ứng với cổ phần phát hành thêm trong cơ cấu vốn điều lệ trước khi nộp về quỹ hỗ trợ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo công văn số 489/VPCP-ĐMDN, Chính phủ khẳng định cho phép VCB để lại một phần vốn thặng dư ngoài tỷ lệ thặng dư được để lại cho doanh nghiệp như Nghị định 109 để triển khai một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng. Tỷ lệ thặng dư VCB được giữ lại sẽ được công khai sau khi kết thúc phát hành cổ phiếu ra công chúng. VCB sẽ sử dụng phần thặng dư được quản lý để lập quỹ đầu tư, và yêu cầu đối tác chiến lược nước ngoài gọi thêm vốn quốc tế cho quỹ. Đầu tư vào hạ tầng, trước hết là định hướng đúng với mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Thứ hai, hạ tầng là những dự án hút vốn lớn, hiệu quả ổn định lâu dài và thường đảm bảo độ an toàn cao vì có bảo lãnh của Nhà nước.
4.4.3. Hoàn tất việc chuyển ngân hàng thành ngân hàng cổ phần
Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất
Ngày 26/04/2008, Đại hội lần thứ nhất Đại hội đồng cổ đông Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đã chính thức diễn ra. Đại hội đã thảo luận và thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam; bầu thành viên Hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát nhiệm kỳ 2008 – 2013; thông qua Định hướng hoạt động kinh doanh giai đoạn 2008 – 2013 và Phương án kinh doanh năm 2008; thông qua mức thù lao Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát năm 2008; thông qua việc lựa chọn tổ chức kiểm toán cho năm 2008; thông qua kế hoạch niêm yết trên thị trường chứng khoán năm 2008.[27] Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Chính thức trở thành Ngân hàng thương mại cổ phần
Theo giấy phép số 138/GP-NHNN ngày 23/05/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã quyết định cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam sau khi cổ phần hoá, chuyển đổi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam từ Ngân hàng thương mại Nhà nước thành Ngân hàng thương mại cổ phần.
Ngân hàng được cấp Giấy phép có tên đầy đủ bằng Tiếng Việt là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, tên đầy đủ bằng Tiếng Anh là Joint Stock Commercial Bank For Foreign Trade Of Vietnam, tên giao dịch là Vietcombank, và tên viết tắt là VCB. VCB được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam. VCB có thời gian hoạt động là 99 năm, được hoạt động trên các địa bàn trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật và sau khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Trong thời gian hoạt động, Ngân hàng này phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật và tuân thủ pháp luật Việt Nam, các quy định tại giấy phép thành lập và hoạt động, điều lệ tổ chức và hoạt động của VCB đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuẩn y.
Theo nội dung của giấy phép thành lập và hoạt động, lĩnh vực kinh doanh của VCB là kinh doanh ngân hàng với các nghiệp vụ được phép tiến hành kinh doanh bao gồm: huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, các hoạt động khác theo quy định.
Kế hoạch niêm yết trên thị trường chứng khoán
Đại hội đồng cổ đông đã thông qua kế hoạch niêm niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Theo đó, “đại hội đã thông qua chủ trương niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong năm 2008 và uỷ quyền cho Hội đồng Quản trị chịu trách nhiệm thực hiện việc niêm yết bao gồm: lựa chọn tổ chức tư vấn niêm yết, tiến hành các công việc liên quan để thực hiện niêm yết theo đúng quy định của pháp luật hiện hành”[22].
Tuy vậy, những thông tin quan trọng như thời gian niêm yết cụ thể của VCB là khi nào, giá bao nhiêu cũng vẫn chưa được đề cập đến.
5. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
5.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sau cổ phần hoá
Tính đến 31/03/2008, tổng nguồn vốn của VCB Việt Nam đạt 195.587 tỷ quy đồng, tăng 10,1% so với cuối tháng 12/2007; nợ quá hạn vẫn ở mức đảm bảo, chiếm tỷ lệ 1,4% trong tổng dư nợ.
Về hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, “doanh số thanh toán xuất nhập khẩu quý I/2008 đạt 8.428 triệu USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. VCB hoàn thành 24,9% so với kế hoạch đặt ra trong năm 2008 cho hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và chiếm 25,2% thị phần xuất nhập khẩu cả nước. Quý I/2008, doanh số thanh toán hàng xuất khẩu có sự tăng trưởng mạnh đạt 4.799 triệu USD, doanh số thanh toán hàng nhập khẩu cũng đạt 3.628 triệu USD” [23].
Về hoạt động thẻ, VCB vẫn là ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực kinh doanh phát triển dịch vụ thẻ, có thị phần thẻ lớn nhất thị trường. Đến hết quý I/2008, VCB đã phát hành thêm 5.365 thẻ tín dụng quốc tế, hoàn thành 29,7% kế hoạch năm, nâng tổng số thẻ tín dụng quốc tế do VCB phát hành lên 26.207 thẻ. Đối với thẻ ghi nợ, quý I/2008, VCB đã phát hành 242.687 thẻ Connect 24, đạt 20,2% kế hoạch năm và 12.197 thẻ MTV và Visa debit, đạt 12,7% kế hoạch. Doanh số thanh toán thẻ tín dụng quốc tế đạt 174 triệu USD, đạt 32,5% kế hoạch. Doanh số sử dụng thẻ tín dụng do VCB phát hành đạt 484 tỷ đồng, đạt 12,7% kế hoạch.
Về kinh doanh ngoại tệ, doanh số mua bán ngoại tệ qua ngân hàng quý I/2008 tăng mạnh, chủ yếu vẫn tăng đối với khu vực khách hàng là tổ chức kinh tế và cá nhân. Tổng số ngoại tệ mua bán đạt trên 7 tỷ USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó doanh số mua vào 3.481 triệu USD, tăng 34% và doanh số bán ra đạt 3.551 triệu USD, tăng ở mức 38%. Ngoại tệ bán phục vụ nhu cầu nhập khẩu xăng dầu đạt 504 triệu USD so với 399 triệu USD bán ra cùng kỳ năm trước.
Trong quý I/2008, VCB đã thể hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình chung tay với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đảm bảo đạt được kết quả kinh doanh theo đúng như mục tiêu kế hoạch đề ra. Lợi nhuận sau thuế ước khoảng trên 900 tỷ đồng.
Trong năm 2008, mục tiêu hoạt động tín dụng của VCB là nâng cao hiệu quả tín dụng, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững an toàn. Dư nợ tín dụng dự kiến đảm bảo ở mức dưới 30%, duy trì tỷ lệ nợ xấu tối đa 2,6%, trích lập dự phòng rủi ro vào chi phí ở mức 905 tỷ VND, huy động vốn từ nền kinh tế quy VND dự kiến đạt 158.861 tỷ VND, vốn điều lệ sẽ là 15.000 tỷ VND. Hoạt động ngân hàng thương mại của VCB sẽ mở thêm chi nhánh tại địa bàn Hà Nội, Thanh Hoá, Hà Tây, Tiền Giang, Tây Ninh và 60 phòng giao dịch trên phạm vi toàn quốc.
Với kế hoạch trên, VCB dự kiến năm 2008, thu nhập từ lãi đạt 4.537 tỷ VND (tăng 13,94% so với năm 2007); thu nhập dịch vụ và hoạt động khác dự kiến đạt 2.339 tỷ VND (tăng 6,97% so với năm 2007), lợi nhuận hợp nhất của cả hệ thống ước đạt 3.383 tỷ VND.
5.2. Thuận lợi và khó khăn Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
5.2.1. Thuận lợi
Sự hỗ trợ của Chính phủ
Đây là lần đầu tiên một doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn cổ phần hoá, lại hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng – một lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh tế – nên Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước rất quan tâm hỗ trợ, các bước đi đều được tính toán thận trọng nhằm tránh xảy ra những biến động tài chính không đáng có.
Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc lành mạnh hoá khu vực ngân hàng thông qua việc triển khai Đề án cơ cấu lại NHTMNN (2001) nhằm từng bước làm lành mạnh tình hình tài chính, đưa hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới. Thực tiễn cho thấy, ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi đã tiến hành cổ phần hoá NHTMNN thì các NHTMNN trước khi cổ phần hoá đều nằm trong tình trạng yếu kém cần phải tái cơ cấu lại về tài chính cũng như hoạt động nhằm cải thiện khả năng cạnh tranh và nâng cao giá trị ngân hàng. Việc tái cơ cấu lại tài chính cho ngân hàng là thực sự cần thiết để có thể thu hút được những nhà đầu tư mạnh và danh tiếng. Rõ ràng, đề án tái cơ cấu NHTMNN ở Việt Nam năm 2001 là một quyết định rất sáng suốt của Chính phủ, nó góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cổ phần hoá sau này của VCB nói riêng và NHTMNN nói chung.
Sau một thời gian tranh cãi về việc xác định giá trị doanh nghiệp của VCB, Chính phủ đã chấp thuận các kiến nghị của tư vấn và kiểm toán quốc tế liên quan tới việc định giá doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều đó có nghĩa là, quá trình định giá VCB nhanh gọn hơn so với các DNNN khác, được phép bỏ qua một số khâu như kiểm kê, đánh giá lại tài sản, hạch toán lại giá trị sổ sách sau định giá. Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
Chính phủ cũng cho phép NHNT Việt Nam được áp dụng phương thức quản trị doanh nghiệp theo những tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất có thể được miễn là không trái với các quy định hiện hành của Việt Nam. Đây là sự tháo gỡ một nút rất quan trọng bởi thay đổi cơ chế quản trị doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng nhất, năng lực tài chính VCB hiện đã đạt chuẩn yêu cầu khu vực và quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cũng như các cam kết của họ về việc hỗ trợ kỹ thuật, hợp tác đầu tư, Chính phủ đã tuyên bố : Nếu các nhà đầu tư đưa ra những cam kết tốt, Chính phủ sẽ có những đãi ngộ, thậm chí có thể cho phép vượt mức tối đa cho phép là 20% đối với các đối tác ngoại.
Chính phủ cũng đã cho phép VCB để lại một phần thặng dư do bán cổ phiếu ngoài tỷ lệ thặng dư được để lại cho doanh nghiệp như Nghị định 109 để triển khai một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng.
Việc cổ phần hoá là một bước chuẩn bị cho viễn cảnh cạnh tranh với nước ngoài, khi Việt Nam gia nhập WTO, với việc các tổ chức tài chính ngân hàng quốc tế sẽ có thể được kinh doanh ở Việt Nam. Vì vậy, Chính phủ luôn luôn khuyến khích tạo mọi điều kiện thuận lợi để VCB nói riêng và NHTMNN nói chung phát triển nhanh, cạnh tranh tốt, trở thành nòng cốt trong cung cấp dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam.
Sự hợp tác hỗ trợ từ bên ngoài
VCB đã rất thuận lợi khi ký hợp đồng tư vấn cổ phần hoá với Credit Suisse. Credit Suisse giúp VCB giải quyết nợ xấu, hỗ trợ kỹ thuật, quản lý tài sản, quản lý rủi ro, tư vấn cho VCB các giải pháp phát hành cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng và niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một tổ chức có uy tín và có nhiều kinh nghiệm trong việc tư vấn về cổ phần hoá cho các doanh nghiệp trên thế giới. Có thể nói trong thành công của quá trình cổ phần hoá có sự đóng góp không nhỏ của tổ chức tư vấn cổ phần hoá – Credit Suisse.
Thuận lợi từ phía thị trường, các nhà đầu tư
- VCB là ngân hàng thương mại quốc doanh đầu tiên tiến hành cổ phần hoá. Vì thế, trước khi VCB IPO, tất cả các quỹ đầu tư và rất nhiều nhà đầu tư đều dành một lượng tiền tương đối để tham gia IPO của ngân hàng. Kết quả là VCB là doanh nghiệp lớn nhất từ trước đến nay có số lượng cổ đông lớn nhất 15 000 tổ chức và cá nhân.
- VCB tiến hành IPO vào thời điểm cuối năm, là thời điểm thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh. Đây cũng là một điểm thuận lợi góp phần làm IPO VCB thành công.
5.2.2. Khó khăn Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
VCB và MHB là hai NHTMNN đầu tiên tiến hành cổ phần hoá. Vì vậy, sự thiếu kinh nghiệm là lý do chính khiến cho quá trình cổ phần hoá VCB liên tục bị chậm lại.
Cho đến nay, vẫn chưa có chính thức một luật nào về cổ phần hoá NHTMNN. Văn bản pháp quy cao nhất về cổ phần hoá hiện nay là Nghị định của Chính phủ. Nghị định của Chính phủ về cổ phần hoá thường thay đổi, khi Nghị định mới ra đời thì phải chờ ban hành các thông tư hướng dẫn của các Bộ làm ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hoá.
Thời điểm hiện nay, do biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam mà giá trị thị trường của cổ phiếu VCB chỉ còn 1/2 so với giá đấu giá.
Điều này gây khó khăn cho VCB trong việc xác định mức giá bán cho các nhà đầu tư chiến lược và giá chuẩn bị niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Kết luận chương II
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế. Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới quản lý DNNN theo hướng cổ phần hoá doanh nghiệp, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh; đồng thời phát huy quyền làm chủ của người lao động tham gia quản lý doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá IX) của Đảng.
Trên cơ sở nghiên cứu khái quát về NHNT Việt Nam, về hoạt động kinh doanh của NHNT Việt Nam trước cổ phần hoá cho thấy: NHNT Việt Nam tuy là một ngân hàng hoạt động rất hiệu quả trong hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua nhưng trước sức ép cạnh tranh không những từ các ngân hàng nước ngoài đang chuẩn bị vào Việt Nam mà còn các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước thì NHNT tất yếu phải tiến hành cổ phần hoá để tiếp tục tồn tại và phát triển.
Trước khi chính thức tiến hành cổ phần hoá, NHNT đã phát hành trái phiếu tăng vốn, xử lý nợ và tài sản tồn đọng. Tuy rằng đây không phải là nội dung của cổ phần hoá nhưng là bước chuẩn bị cho cổ phần hoá và liên quan chặt chẽ với việc cổ phần hoá do khả năng chuyển đổi của trái phiếu tăng vốn và lành mạnh hoá tài chính trước khi cổ phần hoá.
Quy trình cổ phần hoá NHNT Việt Nam cũng được thực hiện theo 3 bước: xây dựng phương án cổ phần hoá, tổ chức bán cổ phần, hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần. Việc đánh giá về kết quả kinh doanh của NHNT Việt Nam sau cổ phần hoá, đánh giá về khó khăn và thuận lợi của quá trình cổ phần hoá là một điều quan trọng.
NHNT là NHTMNN đầu tiên tiến hành cổ phần hoá, vì vậy các NHTMNN khác nên rút kinh nghiệm để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá của ngân hàng mình. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng cổ phần hoá NHNT, chương III đưa ra một số kinh nghiệm và một số giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá NHTMNN. Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam