Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Cổ phần hoá ngân hàng ngoại thương Việt Nam( VCB): Kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại nhà nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
1. KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
1.1. Về phát hành trái phiếu tăng vốn
Mặc dù VCB là một ngân hàng được đánh giá là hoạt động có hiệu quả nhất trong số các NHTMNN, nhưng vẫn chưa đủ vốn tự có để đảm bảo an toàn vốn tối thiểu theo quy định hiện hành. Việc dùng ngân sách nhà nước để bổ sung vốn cho NHTMNN để đảm bảo theo thông lệ quốc tế đạt được tỷ lệ an toàn vốn là rất cần thiết. Tuy nhiên, khác với Trung Quốc có dự trữ ngoại tệ lớn (xấp xỉ 1000 tỷ USD), dự trữ ngoại tệ Việt Nam quá nhỏ bé, chắc không thể dùng nguồn này để bổ sung vốn cho các NHTMNN. Chỉ còn một cách qua con đường trái phiếu tăng vốn và sẽ được thu hồi về qua bán trên thị trường.
Vì vậy, việc VCB phát hành trái phiếu tăng vốn là một quyết định sáng suốt của VCB trước khi tiến hành cổ phần hoá. Nguồn trái phiếu này sẽ bổ sung đáng kể một lượng vốn tự có của VCB, góp phần quan trọng nhằm tăng cường năng lực tài chính cho Ngân hàng, cải thiện tỷ lệ an toàn vốn trước khi xác định giá trị doanh nghiệp của VCB để tiến hành cổ phần hoá. Việc phát hành trái phiếu này cũng có ý nghĩa thăm dò phản ứng của thị trường, là bước đệm quan trọng để chuẩn bị cho tiến trình cổ phần hoá VCB được thuận lợi và hiệu quả. Ngoài ra, về phía Nhà nước, cổ phần hoá theo cách này sẽ giảm bớt được gánh nặng cho Chính phủ trong trách nhiệm tăng vốn, tăng thêm được tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho lãnh đạo ngân hàng trong các quyết định kinh doanh, đặt ngân hàng vào vị trí cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Các NHTMNN khác nên xem xét và tuỳ vào hoàn cảnh thực tế của đơn vị mình để tiến hành áp dụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
1.2. Về xử lý nợ và tài sản tồn đọng Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
VCB đã ký thoả thuận hợp tác xử lý nợ tồn đọng với Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC). DATC là một đơn vị có kinh nghiệm xử lý những khoản nợ mang tính lịch sử của khối ngân hàng trong thời kỳ bao cấp. Đây thực sự là một bước hợp tác quan trọng nhằm đẩy mạnh tiến độ cổ phần hoá ngân hàng. Các ngân hàng khác nên học tập để xử lý nợ và tài sản tồn đọng – một vấn đề khó khăn và gây nhức nhối cho các ngân hàng trước khi cổ phần hoá.
1.3. Về lựa chọn tổ chức tư vấn
Việc xác định giá trị doanh nghiệp là một vấn đề khó đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nói chung và đặc biệt rất phức tạp đối với các tổ chức trung gian tài chính. Vì vậy, việc xác định giá trị doanh nghiệp cần được dựa trên một tổ chức tư vấn có uy tín.
VCB là một ngân hàng được cổ phần hoá theo đúng các chuẩn mực quốc tế và là một kinh nghiệm rất quý báu cho các định chế tài chính khác khi thực hiện cổ phần hoá sau này. Đây là trường hợp cổ phần hoá đầu tiên áp dụng hệ thống tư vấn pháp lý hoàn toàn theo chuẩn mực quốc tế.
VCB được cổ phần hoá theo một tiêu chí tương đối đặc biệt. Cơ chế định giá thông qua Hội đồng đã bị xoá bỏ. Với đặc thù của một ngân hàng thương mại loại lớn, VCB đã mời một đối tác tư vấn tầm cỡ quốc tế, đã từng tham gia nhiều chương trình cổ phần hoá ở toàn cầu và đặc biệt đã từng tham gia vào quá trình cổ phần hoá của Trung Quốc. Điều này giúp nâng cao tính công khai, minh bạch, khách quan, hạn chế tổn thất cho Nhà nước. Việc thực hiện tư vấn pháp lý, kiểm toán quốc tế cho VCB đều được thực hiện rất bài bản.
Vì vậy, việc hợp tác với tổ chức tư vấn cổ phần hoá là việc hết sức quan trọng. Ngày 05/07/2007, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng đã duyệt Morgan Stanley Dean Witter Asia (Singapore) Pte là nhà tư vấn cổ phần hoá BIDV và JP Morgan Securities Asia Pacific Limited là nhà tư vấn cổ phần hoá Vietinbank.
1.4. Về phát hành cổ phiếu Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
1.4.1. Về quá trình bán cổ phần lần đầu ra công chúng
Thời điểm tiến hành IPO:
Mặc dù có sự thay đổi với kế hoạch, IPO VCB xảy ra trước khi có nhà đầu tư chiến lược. Nhưng theo người viết, sự thay đổi này không hẳn là không tốt. Điều này đã giúp tranh thủ được sự hứng khởi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ trong nước. Điều này cũng chính là một cách quan tâm đến lợi ích của cổ đông nhỏ – những khách hàng có thể mang lại sự phát triển bền vững, lâu dài cho VCB.
Hơn nữa, VCB chính thức IPO vào tháng 12. Mà theo chu kỳ hằng năm, tháng 12 là thời điểm thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh. Cuối năm cũng là thời điểm mà các quỹ đầu tư phải gửi báo cáo về kết quả hoạt động, nên họ chịu áp lực giải ngân rất lớn sau một thời gian giữ vốn. Có lẽ đây cũng là một kinh nghiệm cho các NHTMNN khi thực hiện IPO.
Tuy nhiên, trước khi chính thức IPO, VCB đã liên tục lùi thời hạn IPO. Điều này phần nào cũng ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của ngân hàng này. Vì vậy, trước khi thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về thời điểm IPO, các NHTMNN nên nghiên cứu thật kỹ, tính đến các yếu tố chủ quan và khách quan.
Địa điểm tiến hành IPO: VCB tiến hành IPO tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Đây là nơi giao dịch chứng khoán có quy mô nhất tại Việt Nam, vì vậy nó góp phần cho sự thành công của IPO VCB trong thời gian vừa qua. Việc đấu giá cổ phần tại Sở Giao dịch rõ ràng đã tạo một sự chuyển biến về chất trong tiến trình cổ phần hoá nhằm nâng cao hiệu quả của ngân hàng, đồng thời đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá.
Không chỉ với ngành ngân hàng, mà với các DNNN nói chung, việc đấu giá cổ phần là một bước chuyển từ chia phần sang tìm mua, tìm bán theo nguyên tắc thị trường, vừa đảm bảo công khai minh bạch, thu hút được các nhà đầu tư lớn, vừa công chúng hoá được doanh nghiệp cổ phần, vừa chống tiêu cực, thất thoát. Tuy vậy, việc đấu giá cổ phần đã mang lại lợi cũng như thiệt với một số nhóm người.
Người được lợi:
Về phía Nhà nước:
Thứ nhất, việc bắt buộc đấu giá khi cổ phần hoá trên thị trường chứng khoán mang lại lợi nhuận cao cho Nhà nước.
Thứ hai, đấu giá cổ phần là một cách làm mới thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá ở nước ta.
Về phía doanh nghiệp cổ phần hoá:
Thứ nhất, việc đấu giá qua Sở Giao dịch chứng khoán là một lần “tập dượt” hay nói cách khác là thăm dò sức hút của cổ phần của doanh nghiệp đối với thị trường và các nhà đầu tư. Ngân hàng thông qua việc bán đấu giá cổ phần, sẽ biết được thế mạnh của doanh nghiệp mình, biết được thực chất các đánh giá của nhà đầu tư về doanh nghiệp mình như thế nào. Qua đó, xác định chính xác hơn các lợi thế thương mại, thương hiệu của mình… Những điều đó sẽ củng cố và tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc đấu giá qua Sở Giao dịch cũng là một cách để doanh nghiệp huy động vốn với chi phí thấp.
Thứ ba, doanh nghiệp cổ phần hoá theo hình thức đấu giá cổ phần còn được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Cho dù đây không hẳn là một giải pháp tốt nhất về cơ chế chính sách nhưng các quy định vẫn mang lại những khoản ưu đãi này cho các doanh nghiệp.
Thứ tư, qua đấu giá cổ phần, hình ảnh doanh nghiệp được quảng bá trên thị trường chứng khoán, đây chính là một cơ hội mà doanh nghiệp cần tận dụng khi muốn tên tuổi của doanh nghiệp được nhiều người biết đến. Từ đó, doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều ưu thế cạnh tranh trong liên doanh, đấu thầu; việc quản trị công ty cũng tốt hơn, có hiệu quả thiết thực hơn.
Về phía người lao động:
- Thứ nhất, người lao động có cơ hội được tham gia quản trị doanh nghiệp mình đang làm việc.
- Thứ hai, người lao động trong doanh nghiệp khi tham gia đấu giá được mua theo giá ưu đãi.
- Thứ ba, họ còn được miễn thuế thu nhập từ cổ tức và chênh lệch mua bán cổ phiếu.
- Thứ tư, thông tin về đợt đấu giá được cung cấp đầy đủ và kịp thời, đảm bảo tính công khai, công bằng và minh bạch theo nguyên tắc thị trường cho người lao động khi tham gia mua cổ phần.
Người chịu thiệt:
Về phía doanh nghiệp:
Thứ nhất, khi đấu giá trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ công bố thông tin công khai. Cho dù để phát triển lâu bền thì công khai minh bạch về thông tin là việc làm đương nhiên, nhưng trước mắt đây chính là điều mà nhiều doanh nghiệp không muốn. Ở đây cũng có liên quan đến câu chuyện về sự bất bình đẳng trong cạnh tranh lại xuất hiện khi không có chế tài nào ràng buộc phải công khai thông tin đối với các doanh nghiệp chưa lên sàn.
Thứ hai, bắt buộc phải kiểm toán độc lập. Nhiều DNNN trước khi cổ phần hoá có tình hình tài chính không minh bạch. Do đó, nếu phải kiểm toán độc lập thì sẽ có rất nhiều khoản nằm trong diện bị loại trừ. Nếu cơ quan kiểm toán loại trừ càng nhiều thì càng chứng tỏ được tình hình tài chính cũng như hoạt động của doanh nghiệp kém hiệu quả làm chuyện kiểm toán độc lập cũng đang là mối lo ngại của nhiều doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Thứ ba, có thể các doanh nghiệp sẽ bị lộ mục tiêu, kế hoạch kinh doanh. Nếu xảy ra, đây sẽ là điều bất lợi cho doanh nghiêp. Đối thủ của doanh nghiệp có thể biết được kế hoạch kinh doanh và sẽ có chiến lược cạnh tranh thích hợp. Thậm chí, doanh nghiệp phải đối đầu với các nguy cơ về thâu tóm, sáp nhập công ty khi tham gia một sân chơi cởi mở như thị trường chứng khoán. Nhưng đây cũng chỉ là những lo toan thiển cận. Về lâu dài, chính việc công khai minh bạch về thông tin sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh hơn nữa.
Thứ tư, việc niêm yết trên thị trường sẽ tạo áp lực về tăng trưởng và chi trả cổ tức cao cho doanh nghiệp. Nếu như trước kia, việc cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, các lãnh đạo của doanh nghiệp vẫn điều hành theo kiểu cũ thì nay khi đã công khai, đa dạng hoá sở hữu, doanh nghiệp sẽ phải chịu áp lực nhiều hơn, làm sao để doanh nghiệp tăng trưởng tốt và phải lo cả việc chi trả cổ tức cao cho các cổ đông nếu không muốn bị phá sản doanh nghiệp.
Thứ năm, doanh nghiệp sẽ phải tốn kém thêm một số chi phí về niêm yết, kiểm toán.
Về phía người lao động
Đối với người lao động, giá trúng thầu có thể bị đẩy lên quá cao nếu thông tin về doanh nghiệp không đầy đủ và có quá đông nhà đầu tư tham gia. Điều này sẽ gây mất lợi thế về ưu đãi giá cho các nhà đầu tư là cán bộ công nhân viên. Trước đây, không cần đấu giá, người lao động trong doanh nghiệp cũng cầm chắc được mua cổ phiếu bằng 70% mệnh giá sàn. Nhưng theo quy định mới, tuy được mua theo giá ưu đãi giảm 40% so với giá đấu nhưng họ lại không chắc việc được giảm 40% so với giá đấu như vậy là có lợi hay thiệt. Mặt khác, số lượng cổ đông là người lao động trong doanh nghiệp có thể bị hạn chế, nếu kết quả đấu giá nghiêng về một số nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Những đối tượng đầu cơ, tham nhũng, tham ô
Khi đưa doanh nghiệp cổ phần hóa lên sàn giao dịch chứng khoán đấu giá cổ phần, những quy định chặt chẽ sẽ làm cho nhiều cá nhân không trục lợi được. Nếu như trước đây, cổ phần hoá “khép kín” trong nội bộ doanh nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích cho các lãnh đạo chủ chốt trong doanh nghiệp, cũng như các đối tượng thân quen của những cá nhân này thì đến nay, các doanh nghiệp cổ phần hoá nhất định phải đấu giá cổ phần trên thị trường chứng khoán, điều đó đã mang lại sự công bằng, bình đẳng hơn cho các đối tượng khác, các lãnh đạo trong doanh nghiệp cũng sẽ cảm thấy bị “mất mát”, bị hạn chế rất nhiều quyền mua cổ phần, điều này làm mất đi những nguồn lợi khá lớn của họ.
1.4.2. Về phát hành cổ phiếu cho cán bộ công nhân viên Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Việc phát hành cổ phiếu của Ngân hàng VCB theo đúng như thông lệ quốc tế, tức là bao gồm cả hai loại cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu ưu đãi dành cho những người lao động, cán bộ, nhân viên trong ngân hàng. Mức độ sở hữu tuỳ thuộc vào thâm niên công tác, vị trí công tác và tài năng của cán bộ, nhân viên ngân hàng. Đây là một cách để thu hút và giữ nhân tài ở lại gắn bó làm việc cho ngân hàng có hiệu suất cao và năng suất lao động cao, có nhiều sáng kiến, cải tiến đóng góp cho ngân hàng.
1.5. Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược
Khi cổ đông chiến lược là các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các định chế trung gian tài chính có uy tín được chọn lựa, thì các đối tác chiến lược này sẽ có đại diện trong hội đồng quản trị và ngân hàng sẽ có điều kiện trao đổi học tập kinh nghiệm trong quản trị điều hành theo các chuẩn mực quốc tế. Việc giám sát các hoạt động ngân hàng sẽ sâu sát hơn, công tác quản trị tài sản có, tài sản nợ và quản trị rủi ro chắc chắn sẽ được tăng cường, mọi hoạt động ngân hàng sẽ được minh bạch hoá và tình hình tài chính sẽ lành mạnh hơn. Đặc biệt, chúng ta sẽ có điều kiện để áp dụng các công nghệ ngân hàng tiên tiến nhất, hệ thống thanh toán nội bộ sẽ được thông suốt, các quan hệ với khách hàng sẽ được đối xử bình đẳng trên cơ sở các tiêu chí rõ ràng. Những dịch vụ và sản phẩm mới về ngân hàng sẽ có điều kiện áp dụng tại Việt Nam. Tất cả những vấn đề đó sẽ bảo đảm tăng cường tính an toàn của hệ thống. Và hiệu quả tất yếu là hiệu quả kinh doanh ngân hàng sẽ được nâng cao nhiều hơn.
Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trở nên hết sức có ý nghĩa và có tầm quan trọng quyết định trong việc định hướng, xây dựng và dẫn dắt ngân hàng phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vì vậy, VCB không vội vàng lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, khi việc đàm phán với đối tác chiến lược không đạt kỳ vọng của VCB và Chính phủ. VCB đã xin ý kiến của Chính phủ về việc tiến hành IPO trước và đã được Chính phủ cho phép. Chính phủ và VCB luôn thận trọng và cân đối lợi ích của Nhà nước, của đối tác chiến lược và nhà đầu tư nhỏ lẻ.
1.6. Niêm yết trên thị trường chứng khoán
Đại hội đồng cổ đông đã thông qua chủ trương niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong năm 2008 và uỷ quyền cho Hội đồng Quản trị chịu trách nhiệm thực hiện việc niêm yết bao gồm: lựa chọn tổ chức tư vấn niêm yết, tiến hành các công việc liên quan để thực hiện niêm yết theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Ngoài việc niêm yết tại Việt Nam, VCB cũng đã có ý định hướng ra thị trường nước ngoài, có thể là thị trường chứng khoán Singapore và Hồng Kông.
Cổ phần hoá cần gắn với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Sau khi cổ phần hoá, cổ phiếu cần được đưa lên sàn giao dịch để giá trị cổ phiếu được giao dịch công khai và phán ánh đúng giá trị.
Việc lựa chọn địa điểm niêm yết cổ phiếu là một công việc rất quan trọng, nó có thể quyết định đến sự thành bại của cổ phiếu trên thị trường. Các NHTMNN nên chọn lựa thật kỹ trước khi đưa ra quyết định.
1.7. Về cơ cấu quyền sở hữu Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Quản trị doanh nghiệp ngày càng trở thành vấn đề thời sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp và nền kinh tế. Khác với hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp hàng ngày của ban lãnh đạo công ty, quản trị doanh nghiệp là cách thức để các cổ đông giám sát công ty nhằm đảm bảo ban lãnh đạo điều hành công ty một cách có hiệu quả và vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông (hay chủ sở hữu).
Một trong những yếu tố căn bản quyết định cấu trúc quản trị doanh nghiệp chính là cơ cấu quyền sở hữu. Trong thời gian qua, Nhà nước luôn giữ một tỷ lệ cổ phần cao trong các doanh nghiệp cổ phần hoá. Việc Nhà nước duy trì tỷ lệ cổ phần đa số vô hình trung đã tạo ra một số khó khăn trong việc điều hành công ty của các doanh nghiệp cổ phần hoá, đồng thời làm nảy sinh một số vấn đề pháp lý mới. Cụ thể là: Cổ phần hoá vẫn chưa tạo ra được sự rạch ròi giữa quyền quản lý nhà nước và quyền sở hữu, vì Nhà nước vừa là người ban hành các quy định, vừa là cổ đông lớn. Khi sở hữu đa số cổ phần, những người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp có quyền phủ quyết các quyết định quản lý và đầu tư quan trọng, và điều này có thể dẫn đến trường hợp can thiệp một cách duy ý chí vào hoạt động điều hành của doanh nghiệp. tầm vĩ mô, việc Nhà nước đóng vai trò kép – vừa là người chủ sở hữu các DNNN và các doanh nghiệp cổ phần hoá, vừa là cơ quan hành pháp tối cao – tạo ra khả năng một số cơ quan của Nhà nước bị thao túng.
Một vấn đề quan tâm khác là khả năng và nguồn lực của cơ quan quản lý vốn nhà nước rất hạn chế trong khi cơ quan này phải giám sát cùng lúc rất nhiều doanh nghiệp cổ phần hoá. Hệ quả là cho dù trở thành cổ đông lớn (nếu không nói là lớn nhất) trong nhiều doanh nghiệp thì Nhà nước cũng không thể sử dụng quyền điều hành và giám sát một cách đúng đắn. Điều này, cùng với việc người lao động thường chỉ có tiếng nói yếu ớt, dẫn tới tình trạng ban giám đốc không bị giám sát và trong nhiều trường hợp có thể tự do làm theo ý mình, vì vậy rất dễ xảy ra tình trạng lạm dụng quyền của tập thể để phục vụ lợi ích cá nhân.
Hiện nay, VCB vẫn chưa tìm được nhà đầu tư chiến lược. Vì vậy, hiện nay trong số 15.500 cổ đông của VCB thì riêng Nhà nước đã nắm tới hơn 90% vốn điều lệ, những cổ đông còn lại kể cả cán bộ công nhân viên VCB mới sở hữu gần 10%. Theo quy định hiện nay, việc thông qua các quyết định của doanh nghiệp chỉ cần ít nhất 65% trong tổng số phiếu, còn những quyết định quan trọng hơn như việc thay đổi điều lệ công ty thì cần 75% số phiếu được quyền biểu quyết. Như vậy, nếu Nhà nước nắm giữ hơn 90% vốn điều lệ thì những ý kiến của những cổ đông khác không còn mấy ý nghĩa. Vì vậy, đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất đã gây không ít bức xúc cho các cổ đông nhỏ. Đây là một vấn đề các ngân hàng khác sẽ rút kinh nghiệm, có thể nâng tỷ lệ biểu quyết tới hơn 90% số phiếu và cần phải sửa đổi để cổ đông nhỏ có một đại diện trong Hội đồng Quản trị. Bởi nếu tính gộp tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhỏ lại thì cũng chưa thoả mãn tỷ lệ 5% yêu cầu theo luật định. Như thế sẽ tránh tình trạng với hơn 90% tỷ lệ, cổ đông Nhà nước có thể đơn phương đưa ra mọi quyết định.
Biết rằng, lịch sử của VCB từ 100% vốn nhà nước, hiện nay còn hơn 90% và để thay đổi tỷ lệ này cũng cần có những bước chuyển tiếp dần dần. Đặc biệt, trong thời gian tới khi phát hành cho đối tác chiến lược nước ngoài 20% vốn điều lệ sẽ đa dạng hơn đối tượng sở hữu, quyền lợi cổ đông cũng được đảm bảo hơn. Tuy nhiên, các NHTMNN khác khi tiến hành cổ phần hoá cũng nên rút kinh nghiệm này từ Ngân hàng Ngoại thương.
Chắc chắn rằng, thời gian và chi phí cho việc cổ phần hoá các ngân hàng còn lại sẽ ngắn hơn và thấp hơn VCB. Hy vọng trong thời gian ngắn nhất, ba NHTMNN còn lại là Vietinbank, BIDV và Agribank có thể tiến hành thành công quá trình cổ phần hoá.
2. KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ NƯỚC TIÊU BIỂU Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
2.1. Trung Quốc
Việc cổ phần hoá Ngân hàng thương mại Trung Quốc là một sự cải cách lớn trong hệ thống tài chính. Với 4 Ngân hàng Thương mại Nhà nước: Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China); Ngân hàng Kiến thiết, Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Công thương, Trung Quốc đã lần lượt cổ phần hoá với lộ trình cụ thể (lộ trình này được xem là nội dung quan trọng trong chương trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng):
- Năm 2004 sẽ hoàn thành cổ phần hoá của hai ngân hàng lớn nhất là Bank of China và Ngân hàng Kiến thiết.
- Năm 2005 sẽ đưa cổ phiếu hai ngân hàng trên vào thị trường chứng khoán.
- Năm 2006 phát hành cổ phiếu Ngân hàng Công thương.
- Năm 2007 phát hành cổ phiếu Ngân hàng Nông nghiệp.
Lộ trình này đã được ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và Chính phủ Trung Quốc quyết tâm thực hiện và đã hoàn thành đúng tiến độ. Khi tiến hành cổ phần hoá, ngân hàng Trung Quốc đã thực hiện các nhiệm vụ:
Cả 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh thành lập các công ty khai thác tài sản độc lập để giải quyết nợ xấu trước khi cổ phần hoá (mỗi công ty được cấp số vốn ban đầu là 10 tỷ Nhân dân tệ). Cách này được gọi là tách ngân hàng xấu khỏi ngân hàng tốt nghĩa là các công ty khai thác tài sản nợ đã tách ra và có thể liên doanh hoặc bán nợ. Để đạt được kết quả đó Chính phủ Trung Quốc đã triển khai theo 3 cách chính để giải quyết nợ có vấn đề:
Chứng khoán hoá nợ xấu (nghĩa là bán nợ xấu trên thị trường dưới hình thức đấu giá)
Đối tượng mua nợ xấu là các ngân hàng hoặc các tập đoàn tài chính. Một số ngân hàng lớn như Deutsche Bank của Đức và tập đoàn Morgan Stanley của Mỹ đã mua số nợ xấu của Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc trị giá 171 triệu USD với giá chỉ bằng 1/3 so với giá trị thế chấp. Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Bán 40% – 50% cho các công ty trên thị trường hoặc lập công ty liên doanh liên kết chuyển mua lại nợ xấu của ngân hàng
Cách làm này sẽ tách bạch được người cho vay và người thu nợ. Người thu nợ sẽ tích cực hơn. Hoặc đôi khi người cho vay lại là người gửi tiền, công ty khai thác tài sản sẽ làm việc mà không ảnh hưởng đến việc huy động tiền gửi của ngân hàng. Cách làm là bán một phần hoặc bán toàn bộ nợ, hoặc chuyển quyền sở hữu nợ cho công ty đó.
Các công ty quản lý nợ được Quốc Vụ viện Trung Quốc cho phép phát hành trái phiếu với lãi suất thấp cho 4 ngân hàng thương mại nhằm lấy nợ mới trả nợ xấu cho các doanh nghiệp (trong trường hợp các doanh nghiệp có khả năng trả nợ)
Trường hợp doanh nghiệp không có khả năng trả được nợ thì công ty quản lý nợ có quyền bán cổ phần của doanh nghiệp. Công ty sau khi nhận khoản nợ sẽ là cổ đông của doanh nghiệp và quản lý toàn bộ cổ phần tương ứng với khoản nợ. Nếu cổ phiếu không bán được thì Bộ Tài chính sẽ đứng ra bảo lãnh trả thay cho doanh nghiệp.
Điều then chốt mà các ngân hàng Trung Quốc quan tâm trong quá trình cổ phần hoá là lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược. Ưu tiên là các ngân hàng và tập đoàn từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Mục đích của việc lựa chọn này nhằm cải thiện cơ cấu cổ đông trong Ngân hàng Thương mại vốn chỉ có các nhà đầu tư trong nước. Thông qua đó thu hút vốn, chuyển giao công nghệ, tạo ra sự đổi mới tư duy quản lý, cách tiếp cận kinh doanh và đạt được mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên Chính phủ Trung Quốc vẫn xác định sở hữu chính 4 NHTMNN là Nhà nước chiếm trên 51% và tỷ lệ cổ phần bán tối đa cho các cổ đông nước ngoài không quá 25%. Hiện nay đã có rất nhiều ngân hàng, tập đoàn tài chính nước ngoài có cổ phần tại các Ngân hàng Thương mại Trung Quốc như: HSBC giữ 19,9% cổ phần của Ngân hàng Giao thông và 20% cổ phần của Ngân hàng Thượng Hải; Citi Bank nắm giữ 5% cổ phiếu của Ngân hàng Phố Đông Thượng Hải…
Cơ chế cổ phần hoá và niêm yết chỉ là một phần trong cải cách ngân hàng Trung Quốc. Đối với việc cải cách tiến hành lựa chọn cơ chế phù hợp cho từng ngân hàng và đưa ra từng bước khả thi. Ví dụ: Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc đã ưu tiên vốn thành lập các công ty cổ phần tạo ra sức mạnh cho các Công ty cổ phần và tiến hành niêm yết, sau đó Tập đoàn Ngân hàng sẽ niêm yết sau. Mục đích ở đây là giảm tỷ lệ vốn không lành mạnh, nâng cao năng lực vốn, năng lực quản trị ngân hàng và vận hành tài chính có hiệu quả. Nhưng cũng có ngân hàng khớp hai bước này làm một do đã có khả năng như Ngân hàng Trung Quốc.
Nâng cao tỷ lệ vốn tự có bằng cách hỗ trợ vốn từ phía Nhà nước. Trong năm 2004 Chính phủ đã trích từ Quỹ dự trữ Ngoại tệ bổ sung vốn cho hai ngân hàng là Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Kiến thiết 45 tỷ USD. Với số vốn cấp thêm này đã tạo điều kiện tăng vốn nhưng quan trọng hơn là cổ phần hoá của ngân hàng trong ngân hàng thương mại đã đạt trên 51%. Ngoài Chủ tịch Hội đồng quản trị do Nhà nước bổ nhiệm còn có thêm thành viên của Uỷ ban Giám sát Ngân hàng để quản lý vốn Nhà nước.
Việc cổ phần hoá về nguyên tắc phải đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu 8% (thực tế những tài sản đã niêm yết ở Hongkong thì đã đạt Basel 10. Tuy nhiên trong thực tế do nhu cầu bức xúc cũng có Ngân hàng thương mại tỷ lệ này còn ở mức 5% vẫn được tiến hành cổ phần hoá. Công cuộc tái cơ cấu vẫn tiếp tục lâu dài sau khi cổ phần hoá.
Mặc dầu Trung Quốc đã trở thành cường quốc thương mại lớn thứ ba thế giới, thị trường tài chính phát triển mạnh nhưng đặc thù của các NHTMNN cũng có điểm tương đồng với Việt Nam về quy mô vốn nhỏ, thị phần hoạt động và đối tượng cho vay chủ yếu là DNNN. Vì vậy, những kinh nghiệm cổ phần hoá ở Trung Quốc cũng rất cần thiết cho quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam.
2.2. Ba Lan Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Trong khối các nước Đông Âu thì Ba Lan là nước đi đầu trong quá trình cổ phần hoá các DNNN. Quá trình cổ phần hoá này được sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính của WB và nhóm các nước G7. Trong quá trình cổ phần hoá các DNNN, thì các NHTMNN cũng nằm trong quá trình cổ phần hoá đó, quá trình cổ phần hoá NHTMNN của Ba Lan được lên kế hoạch rõ ràng là đến hết năm 1996 sẽ cổ phần hoá 7 trong số 9 NHTMNN.
Ban đầu kế hoạch được đưa ra là nhà nước sẽ năm 30% cổ phiếu, nhân viên ngân hàng sẽ năm 20%, số còn lại sẽ được bán đấu giá cho các nhà đầu tư nhỏ và một số đối tác chiến lược. Tuy nhiên tỷ lệ này đã được điều chỉnh qua thời gian.
Ngay từ ban đầu kế hoạch cổ phần hoá của Ba Lan đã được xây dựng với mục tiêu:
- Duy trì sở hữu của các nhà đầu tư trong nước, tránh sự thôn tính của các nhà đầu tư nước ngoài.
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước.
- Củng cố, phát triển hệ thống ngân hàng nội địa, chuẩn bị cho sự cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.
Hai NHTMNN đầu tiên với chất lượng quản lý và tình hình tài chính tương đối tốt hơn được bắt đầu tiến hành cổ phần hoá vào năm 1991, và thực sự trở thành doanh nghiệp cổ phần hoá vào tháng 3/1993. Ngân hàng đầu tiên được cổ phần hoá là ngân hàng Wielkopolski Bank Kredytowy (WBK) với giá bán trung bình là 6,89 USD/cổ phiếu. Phương thức bán là thoả thuận giữa người mua và nhà nước để đạt giá bán ra. Đến tháng 6/1993 (sau 3 tháng) cổ phiếu ngân hàng này được niêm yết trên thị trường chứng khoán với giá 19,66 USD (cao hơn 3 lần so với giá bán khi tiến hành cổ phần hoá). Ngân hàng này được tiến hành cổ phần hoá với sự trợ giúp cả về kỹ thuật và đảm bảo tài chính từ phía WB để thu hút các đối tác đầu tư chiến lược từ nước ngoài nhằm chuyển giao công nghệ ngân hàng vào Ba Lan. Vì vậy, đến năm 1997 thì ngân hàng Allied Irish Bank đã nắm quyền kiểm soát ngân hàng với 60% cổ phiếu.
NHTMNN thứ hai của Ba Lan được cổ phần hoá là Ngân hàng Slaski (BSK). Ngân hàng này được tiến hành cổ phần hoá vào tháng 12/1993 chậm hơn so với ngân hàng WBK 9 tháng. Nhằm tránh tình trạng định giá cổ phiếu thấp quá như đã diễn ra với ngân hàng trước nên cổ phiếu lần này được lên kế hoạch bán đấu giá công khai. Tuy nhiên quá trình bán đấu giá công khai đã không thành công do có sự thay đổi về chính phủ sau bầu cử. Vì vậy giá bán cổ phiếu ngân hàng này được định giá là 25 USD/cổ phiếu. Với tỷ lệ công nhân viên được mua ưu đãi giá 12,5 USD/cổ phiếu với 10% cổ phần, nhà nước giữ 33%, bán cho nhà đầu tư chiến lược ING Bank của Hà Lan 25,9% và số còn lại bán cho các nhà đầu tư trong nước.
Đến ngày 25/01/1994 thì cổ phiếu ngân hàng này được niêm yết và lần này thì giá cổ phiếu được thị trường chấp nhận tại phiên giao dịch đầu tiên là 337,5 USD/cổ phiếu cao gấp 13,5 lần giá bán ban đầu khi tiến hành cổ phần hoá. Đến tháng 7/1996 ING mua thêm 28% cổ phần của nhà nước và nắm tỷ lệ chi phối là 54%.
Ngân hàng thứ ba được tiến hành cổ phần hoá là ngân hàng PrzemyslowoHandlowy (BPH) vào tháng 1/1995. Tuy nhiên đây là ngân hàng có chất lượng quản lý và tín dụng thấp hơn so với 2 ngân hàng trước nên mặc dù đã đưa cổ phiếu ra đấu giá công khai nhưng giá bán (giá trúng thầu) bằng đúng với giá thấp nhất của chính phủ đưa ra ban đầu và nhà nước vẫn nắm 43% cổ phần.
Trước tình hình đó, năm 1995 chính phủ Ba Lan đã đưa ra kế hoạch củng cố các ngân hàng trước khi tiến hành cổ phần hoá rộng hơn nữa. Đây là kế hoạch vừa để đảm bảo tận thu cho ngân sách nhà nước vừa hạn chế tỷ lệ nắm giữ cổ phần chi phối của nước ngoài. Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Tháng 12/1995 ngân hàng thứ tư được tiến hành cổ phần hoá đó là ngân hàng Gdanski (BG). Kế hoạch được thông báo là 33% cổ phiếu được bán cho các nhà đầu tư nước ngoài theo danh mục đầu tư (không bán cho 1 hoặc 2 đối tác chiến lược như các ngân hàng cổ phần hoá trước), 33% được bán cho các nhà đầu tư trong nước, 4% được bán cho cán bộ công nhân viên ngân hàng, còn lại 30% nhà nước tiếp tục nắm giữ. Như vậy kế hoạch này đã thể hiện ý chí của chính phủ lúc đó là không muốn một hoặc một nhóm nhỏ những đối tác nước ngoài sẽ nắm được cổ phần chi phối.
Cuối năm 1995 với cố gắng của chính phủ nhằm tránh sự chi phối hệ thống ngân hàng của các nhà đầu tư nước ngoài và sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài, chính phủ đã công bố kế hoạch củng cố các ngân hàng còn lại bằng việc sáp nhập tất cả các NHTMNN còn lại cung với ngân hàng BPH thành 2 ngân hàng lớn.
Đầu tiên là ngân hàng Handlowy (BH), đây là ngân hàng hoạt động lâu nhất tại Ba Lan. Ngân hàng này hoạt động từ năm 1870 là một ngân hàng tư nhân, được quốc hữu hoá sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Ngân hàng này nhờ truyền thống vẫn là một ngân hàng mạnh vì vậy không có gì nhiều để tiến hành cải tổ.
Nhóm thứ hai là ngân hàng Pekao S.A đã đứng ra sáp nhập 3 NHTMNN khác vào để thành lập nên ngân hàng Pekao. Hiện nay, đây là ngân hàng lớn nhất Ba Lan chiếm 20% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng.
Bài học rút ra:
Có quá nhiều mục tiêu được đặt ra cho việc cổ phần hoá NHTMNN cộng với sự bất ổn về chính trị, đặc biệt là mục tiêu ưu tiên của chính phủ thay đổi sẽ làm cho tiến trình cổ phần hoá chậm lại, từ đó ảnh hưởng chung đến sự phát triển của hệ thống ngân hàng.
Vấn đề định giá cổ phiếu hay là việc đánh giá giá trị tài sản doanh nghiệp là vấn đề quan trọng. Nếu làm sai có thể gây thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước.
Không lường trước được nhu cầu của thị trường về cổ phiếu của một ngân hàng có thể gây bất ổn cho cả quá trình cổ phần hoá DNNN nói chung.
Cần phát triển thị trường giao dịch chứng khoán song hành với việc cổ phần hoá doanh nghiệp.
Cần có kế hoạch thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cụ thể, tránh tình trạng chữa cháy khi thấy không kiểm soát được hệ thống ngân hàng.
3. GIẢI PHÁP TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Cổ phần hoá các NHTMNN là một điều rất cần thiết và cấp bách hiện nay. Phải khẳng định cổ phần hoá ở đây là làm tăng thêm vốn cho các NHTMNN chứ không làm giảm số vốn và tài sản của nhà nước đang có ở các ngân hàng này. Vì đặc thù và vai trò đặc biệt quan trọng của các NHTMNN trong việc đẩy mạnh phát triển và ổn định nền kinh tế nên nhà nước cần phải giữ vai trò chủ đạo và nắm số cổ phần chi phối trong các ngân hàng này. Để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá NHTMNN cần tiến hành nhiều giải pháp đồng thời:
3.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
Một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình cổ phần hoá VCB là tình trạng can thiệp của các cơ quan công quyền, hệ thống văn bản hành chính, thủ tục rườm rà, chồng chéo. Văn bản pháp quy cao nhất về cổ phần hoá hiện nay là Nghị định của Chính phủ. Nghị định của Chính phủ về cổ phần hoá thường thay đổi, khi Nghị định mới ra đời thì phải chờ ban hành các thông tư hướng dẫn của các Bộ làm ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hoá. Đã đến lúc cần sự can thiệp của Quốc hội, không thể phó mặc cho Chính phủ chỉ đạo điều hành việc cổ phần hoá bằng những nghị định, cần phải luật hoá những quy định về cổ phần hoá DNNN. Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải ban hành một luật về cổ phần hoá bởi vấn đề này chỉ diễn ra trong một thời kỳ nhất định. Chỉ cần Quốc hội ban hành một pháp lệnh về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần, trong đó quy định cụ thể về mục tiêu cổ phần hoá DNNN, các ngành, các lĩnh vực phải được cổ phần hoá triệt để, quy định trình tự, thủ tục, thời gian… phải hoàn thành việc cổ phần hoá ở từng ngành, từng lĩnh vực và các chế tài đối với những hành vi cố tình trì hoãn việc cổ phần hoá. Việc ban hành văn bản có giá trị pháp lý cao như vậy sẽ ngăn chặn được tình trạng tuỳ tiện thay đổi kế hoạch, kéo dài thời gian cổ phần hoá nhằm những mục đích thiếu minh bạch.
Ngoài ra, NHTMNN hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu chế định của Luật DNNN. “Sau cổ phần hoá, nếu cổ phần của Nhà nước chiếm trên 50% thì ngoài 2 luật trên, ngân hàng cổ phần hoá còn phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp; còn trường hợp Nhà nước không giữ cổ phần chi phối thì ngân hàng cổ phần hoá chịu chế định của 2 luật là Luật các tổ chức tín dụng và Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo Luật DNNN và Luật Doanh nghiệp, nếu cùng một vấn đề có quy định khác nhau thì doanh nghiệp thực hiện theo luật chuyên ngành. Trong trường hợp này, luật chuyên ngành là Luật các tổ chức tín dụng” [14]. Như vậy, khuôn khổ pháp lý quá phức tạp và rườm rà. Vì vậy, việc có Luật NHTMNN cổ phần hoá là việc hết sức cần thiết để tránh được vấn đề trên. Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Quá trình cổ phần hoá không thể tách rời bối cảnh chung của sự phát triển kinh tế – xã hội. Sự gia tăng số DNNN nói riêng và các ngân hàng nói chung được cổ phần hoá, một mặt sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế đất nước, nhưng cũng là một nhân tố dẫn tới sự phát triển tự phát sang chủ nghĩa tư bản. Chính vì vậy, cùng với sự quản lý, điều tiết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá, việc quản lý điều tiết các doanh nghiệp này cũng hết sức quan trọng. Song sự quản lý, điều tiết các doanh nghiệp không đơn giản, mà điều quan trọng bậc nhất là phải bảo đảm lợi ích của các chủ doanh nghiệp. Chúng ta cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật vừa làm chỗ dựa cho các doanh nghiệp phát triển, vừa bảo đảm cho sự phát triển các doanh nghiệp không đi chệch con đường mà chúng ta đã lựa chọn. Quản lý theo pháp luật là yêu cầu và cũng là tiền đề để hướng sự phát triển của các doanh nghiệp với các hình thức sở hữu khác nhau vào mục đích chung phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần đặc biệt tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của mình thông qua hệ thống pháp luật.
3.2. Xác định giá trị doanh nghiệp thông qua tổ chức tư vấn quốc tế
Có thể nói, định giá không phải là một môn khoa học chính xác. Các phương pháp định giá hoặc dựa trên thông tin quá khứ, hoặc là dựa trên dự đoán về tương lai. Phương pháp dựa trên thông tin quá khứ có thể không phản ánh được hiện tại và tương lai, còn phương pháp dựa trên suy đoán về tương lai thì phụ thuộc vào độ chính xác của suy đoán. Cách duy nhất hạn chế những điểm yếu này là chào bán trên thị trường công khai. Nhà nước khi bán tài sản đương nhiên mong muốn đảm bảo rằng người mua trả gần với giá trị thực và do đó muốn áp dụng một số kỹ thuật định giá tiêu chuẩn. Tuy nhiên, điều này khó thực hiện được ở những thị trường như Việt Nam khi mà quyền sử dụng đất thường chiếm một phần lớn giá trị của DNNN, trong khi đó không có thông tin thị trường để xác định được giá trị của quyền sử dụng đất. Vì vậy, việc thuê nhà tư vấn nước ngoài là một việc hết sức cần thiết.
Sau một quá trình dài tranh cãi về việc nên định giá VCB như thế nào, Chính phủ đã quyết định dựa trên ý kiến của đơn vị tư vấn là không đánh giá lại giá trị sổ sách của VCB. Tất cả tài sản đều được giữ nguyên giá trị sổ sách để xác định vốn chủ sở hữu, từ đó tính toán vốn điều lệ mới trên cơ sở tỷ lệ nắm giữ cần thiết của Nhà nước. Như vậy, việc định giá doanh nghiệp là một việc làm không cần thiết và lạc hậu. Vì vậy, không nên định giá NHTMNN thông qua Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hoá doanh nghiệp (Ngân hàng Nhà nước) thành lập. Ngân hàng nên thuê tổ chức tư vấn quốc tế có kinh nghiệm về cổ phần hoá DNNN các nước. VCB nói riêng và các NHTMNN nói chung đã có thương hiệu và uy tín trong và ngoài nước. Do đó, việc định giá thương hiệu và các tài sản khác của các NHTMNN cần có sự tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm và trình độ trong lĩnh vực này.
3.3. Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến lược Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Thực tế đã chứng minh ảnh hưởng tích cực của nhà đầu tư chiến lược đối với doanh nghiệp. Việc kết hợp với nhà đầu tư chiến lược trong tiến trình cổ phần hoá các DNNN nói chung và các ngân hàng nói riêng được ví như những cuộc “hôn nhân” tự nguyện. Để cuộc “hôn nhân” này được hạnh phúc và bền vững, ngoài việc tìm hiểu kỹ lưỡng khả năng đáp ứng của các nhà đầu tư chiến lược tiềm năng với yêu cầu của mình, các ngân hàng cũng cần quan tâm tới yêu cầu của các nhà đầu tư chiến lược tiềm năng đối với mình. Vì vậy, nên mở rộng sự tham gia của nhà đầu tư chiến lược. Ngoài ra, quy định về phương thức tham gia của nhà đầu tư chiến lược cũng cần linh hoạt và hợp lý hơn, để phát huy hiệu quả và ảnh hưởng tích cực của nhà đầu tư chiến lược. Ví dụ, nhà đầu tư chiến lược sau khi đáp ứng được các yêu cầu, có thể được tiếp cận, tìm hiểu thực trạng, cùng tham gia xây dựng, đánh giá chiến lược, kế hoạch kinh doanh tương lai của ngân hàng.
Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược là một nghiệp vụ có ảnh hưởng tích cực tới giá trị ngân hàng và sự phát triển vững mạnh, bền vững của ngân hàng trong tương lai, đặc biệt là trong tiến trình cổ phần hoá, tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế. Lựa chọn đúng nhà đầu tư chiến lược sẽ giúp cho quá trình cổ phần hoá của các ngân hàng và đẩy mạnh quá trình phát triển nền kinh tế, cũng như sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
3.4. Gắn liền việc niêm yết trên thị trường chứng khoán với việc cổ phần hoá ngân hàng
Cổ phần hoá cần gắn với niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Vì vậy, đòi hỏi phát triển thị trường chứng khoán của Việt Nam phải lớn mạnh, xứng đáng là sàn giao dịch công bằng, bình đẳng, minh bạch, hiệu quả cho các nhà đầu tư. Cần gắn liền việc niêm yết trên thị trường chứng khoán với việc cổ phần hoá ngân hàng: Việc đưa vào các quy định pháp lý ngay từ đầu các điều khoản yêu cầu các doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết khi cổ phần hoá phải tổ chức bán đấu giá và niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán. Điều này sẽ tạo ra một thói quen cho ngân hàng khi cổ phần hoá với việc minh bạch và công khai hoá thông tin ngay từ đầu. Có như vậy thị trường chứng khoán sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá NHTMNN thông qua việc thực hiện thành công việc bán cổ phần của các NHTMNN cổ phần hoá. Và một khi cổ phiếu ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán thị sẽ có một khối lượng hàng hoá lớn được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán, tạo nên sự sôi động trên thị trường chứng khoán và chắc chắn thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiến lên một bước.
3.5. Phát triển nguồn nhân lực Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Sau khi cổ phần hoá, các NHTMNN được hoạt động với tư cách là công ty cổ phần nên giám đốc có quyền sử dụng lao động theo luật định về tuyển chọn, sử dụng, ký hợp đồng lao động, thậm chí sa thải, trả lương theo chất lượng công việc, quyết định về chế độ đãi ngộ. Lao động trong ngân hàng là cổ đông của ngân hàng, có thể làm việc hoặc không làm việc trực tiếp cho ngân hàng. Trước đó, các ngân hàng có thể sắp xếp giảm biên chế, cho về hưu sớm đối với người lao động trên cơ sở đảm bảo thu nhập cho họ dựa vào Quỹ sắp xếp lao động của ngân hàng. Như vậy, bài toán về giải quyết nguồn lao động dôi dư – bài toán nan giải hiện nay sẽ được giải quyết phần nào.
Cần đổi mới tổ chức và mạng lưới các chi nhánh NHTMNN một cách có hiệu quả. Nâng cao trình độ cán bộ trong các ngân hàng này để có thể đáp ứng được các đòi hòi đặt ra trong tiến trình cổ phần hoá và hội nhập, và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển tới.
Với các ngân hàng nhà nước chưa cổ phần hoá, tất cả người lao động, cán bộ trong ngân hàng đó, nhất là các cán bộ nghiên cứu và quản lý, cần tích cực tham gia suy nghĩ, hiến kế, tham mưu cho Ban lãnh đạo để thu hút và tranh thủ được các ý kiến đóng góp và sự đồng thuận của các cấp lãnh đạo và các cán bộ nghiên cứu, quản lý ngoài ngành và giúp ngân hàng đó có thể tiến hành cổ phần hoá, đáp ứng cả về thời hạn lẫn chất lượng.
Kết luận chương III
Kết quả cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giúp chúng ta có những kinh nghiệm quý báu từ phát hành trái phiếu tăng vốn, về xử lý nợ và tài sản tồn đọng, về lựa chọn tổ chức tư vấn, về phát hành cổ phiếu đến lựa chọn nhà đầu tư chiến lược… Từ đó, góp phần triển khai cổ phần hoá các NHTMNN được thuận lợi hơn, quản lý chặt chẽ nguồn vốn của Nhà nước trong các NHTMNN, từng bước nâng cao sức cạnh tranh và vai trò chủ đạo của các NHTMNN trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngoài việc rút kinh nghiệm từ ngân hàng thí điểm cổ phần hoá, thì việc tìm hiểu kinh nghiệm từ nước ngoài cũng là điều cần thiết. Khoá luận lấy kinh nghiệm cổ phần hoá NHTMNN của hai nước là Trung Quốc và Ba Lan. Trung Quốc là một nước liền kề với Việt Nam, có những đặc điểm lịch sử giống Việt Nam và đặc biệt các NHTMNN cũng có những điểm tương đồng với Việt Nam về quy mô vốn nhỏ, thị phần hoạt động và đối tượng cho vay chủ yếu là DNNN. Còn Ba Lan là một nước đi đầu và là một điển hình trong quá trình cổ phần hoá ở các nước Đông Âu. Chắc chắn việc cổ phần hoá của 2 nước này đã đem lại nhiều bài học quý báu cho công cuộc cổ phần hoá NHTMNN ở Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
Theo cam kết, lộ trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chúng ta phải cho các ngân hàng nước ngoài vào kinh doanh tại Việt Nam, điều đó sẽ gây sức ép rất lớn đối với hệ thống NHTMNN. Muốn cho quá trình cổ phần hoá các NHTMNN tiến hành nhanh hơn, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp thông qua tổ chức tư vấn quốc tế, tạo điều kiện hơn nữa cho các nhà đầu tư chiến lược, gắn liền việc niêm yết trên thị trường chứng khoán với việc cổ phần hoá ngân hàng. Hy vọng thời gian và chi phí cho việc cổ phần hoá các NHTMNN còn lại sẽ ngắn hơn và thấp hơn rất nhiều so với VCB.
KẾT LUẬN
Hội nhập kinh tế quốc tế là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các NHTM nói riêng. Nhưng thời cơ luôn đến cùng thách thức và phần thắng sẽ thuộc về những người dám bứt phá, vượt qua chính mình để đối mặt với thách thức, nắm lấy thời cơ. Chính vì vậy, thẳng thắn nhìn nhận các nguy cơ, mạnh dạn “cải tổ” nên được xem là tiền đề quan trọng để tự tin bước vào WTO. Để có thể đứng vững và tự tin bước vào sân chơi bình đẳng này, hệ thống NHTMNN cần phải có cải cách triệt để. Trong đó, việc quyết định mô hình sở hữu đóng vai trò quan trọng bậc nhất hiện nay – mô hình Cổ phần hoá NHTMNN Việt Nam.
Khoá luận đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cổ phần hoá đã xuất hiện trên thế giới từ những năm 70 của thế kỷ trước. Tại Việt Nam, quá trình cổ phần hoá đã trở thành một diễn đàn mang tính thời sự trong những năm 90 của thế kỷ trước và những năm đầu thế kỷ XXI khi hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá. Cổ phần hoá DNNN được coi là một trong những giải pháp quan trọng nhằm không ngừng đổi mới và phát triển DNNN. Quy trình cổ phần hoá ở mỗi nước là khác nhau. Ở Việt Nam, theo Thông tư 126/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính, quy trình thực hiện cổ phần hoá ở Việt Nam bao gồm 3 bước chính: xây dựng phương án cổ phần hoá, tổ chức bán cổ phần và hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần.
Thứ hai, Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập, thì dứt khoát phải phát triển mạnh các công ty cổ phần, phát triển thị trường chứng khoán. Hệ thống NHTMNN cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. So với cổ phần hoá DNNN, cổ phần hoá NHTMNN có những nét đặc thù nhất định và việc cổ phần hoá cũng sẽ có những khó khăn hơn so với cổ phần hoá một DNNN thông thường. Vì vậy, cần thí điểm cổ phần hoá một hoặc hai ngân hàng, từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục mở rộng cổ phần hoá các NHTMNN còn lại, tránh những sai lầm không đáng có.
Thứ ba, ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một ngân hàng được tiến hành thí điểm. Có thể nói, quá trình cổ phần hoá NHNT Việt Nam được đánh dấu bằng sự kiện phát hành trái phiếu tăng vốn rất thành công năm 2005. NHNT đã rất nỗ lực trong việc xử lý nợ và tài sản tồn đọng. NHNT đã tiến hành IPO rất thành công vào cuối năm 2007, thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà đầu tư. Và đến 23/05/2008, NHNT đã chính thức được cấp Giấy phép thành lập và trở thành Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
Thứ tư, việc học tập cổ phần hoá NHTMNN ở Trung Quốc – một nước liền kề với Việt Nam, có những đặc điểm lịch sử giống Việt Nam và đặc biệt các NHTMNN cũng có những điểm tương đồng với Việt Nam về quy mô vốn nhỏ, thị phần hoạt động và đối tượng cho vay chủ yếu là DNNN và Ba Lan – một nước đi đầu và là một điển hình trong quá trình cổ phần hoá ở các nước Đông Âu là một điều cần thiết. Chắc chắn việc cổ phần hoá của 2 nước này đã đem lại nhiều bài học quý báu cho công cuộc cổ phần hoá NHTMNN ở Việt Nam.
Thứ năm, kết quả cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giúp chúng ta có những kinh nghiệm quý báu từ phát hành trái phiếu tăng vốn, về xử lý nợ và tài sản tồn đọng, về lựa chọn tổ chức tư vấn, về phát hành cổ phiếu đến lựa chọn nhà đầu tư chiến lược…
Thứ sáu, trên cơ sở rút kinh nghiệm cổ phần hoá NHTMNN ở Ba Lan, Trung Quốc và ở Việt Nam, khoá luận đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá NHTMNN ở Việt Nam.
Quá trình cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một bước tiến quan trọng trong công cuộc cổ phần hoá NHTMNN ở Việt Nam. Mặc dù mỗi ngân hàng có màu sắc riêng, nhưng chắc chắn, thông qua quá trình đó, mỗi NHTMNN đã rút kinh nghiệm cho mình. Chắc chắn rằng, thời gian và chi phí cho việc cổ phần hoá các ngân hàng còn lại sẽ ngắn hơn và thấp hơn VCB. Hy vọng trong thời gian ngắn nhất, ba NHTMNN còn lại là Vietinbank, BIDV và Agribank có thể tiến hành thành công quá trình cổ phần hoá. Khóa luận: Giải pháp tiến hành cổ phần hóa tại VCB
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Cổ phần hoá ngân hàng ngoại thương Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng về cổ phần hóa tại Ngân hàng VCB