Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tài trợ dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Hải Phòng

2.2.1 Tình hình thẩm định DAĐT

Biểu đồ 2.1: Số dự án đầu tư được thẩm định tại Sacombank Hải Phòng

Số hồ sơ gửi đến chi nhánh trong giai đoan 2010-2012 không nhiều và có xu hướng giảm nhưng không đáng kể. Nhìn vào biểu đồ 2.1 ta thấy số hồ sơ đồng ý cho vay luôn thấp hơn số hồ sơ từ chối cho vay cho thấy chất lượng hồ sơ gửi đến ngân hàng không cao, không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng một phần là do yêu cầu của ngân hàng khá cao, quy định về cho vay còn tương đối chặt chẽ.

2.2.3 Tình hình dư nợ cho vay dự án đầu tư

Tình hình kinh tế trong và ngoài nước trong những năm qua có nhiều biến động đã làm ảnh hưởng khá nhiều đến tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của Sacombank Hải Phòng nói chung và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DAĐT nói riêng. Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

Về doanh số cho vay dự án đầu tư

Doanh số cho vay DAĐT tại chi nhánh có xu hướng giảm dần qua các năm: năm 2010 đạt 72.345 triệu đồng, năm 2011 giảm còn 63.782 triệu đồng (giảm 8.563 triệu đồng so với năm 2010), năm 2012 tiếp tục giảm còn 52.793 triệu đồng( giảm 10.989 triệu đồng so với năm 2011)

Biểu đồ 2.2: Doanh số cho vay DAĐT tại Sacombank Hải Phòng

Về dư nợ cho vay dự án đầu tư

Nhìn chung dự nợ cho vay DAĐT có sự biến động qua các năm 2010-2012, dư nợ cho vay DAĐT còn thấp chiếm tỉ trọng không cao trong tổng dư nợ cho vay

Dư nợ cho vay DA ĐT năm 2010 đạt 67.327 triệu đồng chiếm 24% dư nợ cho vay trung dài hạn và 9,8% tổng dư nợ cho vay.

Năm 2011 giảm 8.343 triệu đồng đạt 58.984 triệu đồng(chiếm 19,2% dư nợ cho vay trung dài hạn và 8,9% tổng dư nợ cho vay).

Năm 2012, dự nợ cho vay DAĐT là 49.797 triệu đồng (giảm 9187 triệu đồng so với năm 2011) chiếm 17,9% dư nợ trung dài hạn và 8% tổng dư nợ cho vay

Biểu đồ 2.3: Dư nợ cho vay dự án đầu tại Sacombank Hải Phòng

Về doanh số thu nợ

Biểu đồ 2.4: Doanh số thu nợ dự án đầu tư tại Sacombank Hải Phòng

Doanh số thu nợ dự án đầu tư tại Sacombank Hải Phòng nhìn chung tương đối cao và có sự biến động. Năm 2010 đạt 57.497 triệu đồng,năm 2011 tăng 14.628 triệu đồng đạt 72.125 triệu đồng. Năm 2012 giảm xuống còn 61.980 triệu đồng (giảm 10.145 triệu đồng so với năm 2011) do tình hình kinh tế khó khăn,dư nợ quá hạn tín dụng tăng

Về nợ quá hạn

Hoạt động cho vay dự án của Sacombank trong các năm 2010 – 2012 có thể nói là giảm cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng cũng gặp nhiều khó khăn khi tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao, năm 2012 lên tới 9,87%, trong đó nợ xấu là 8.82%. Đặc biệt trong năm này, xuất hiện nợ có khả năng mất vốn:

Biểu đồ 2.5: Nợ quá hạn trong cho vay DAĐT

Trong giai đoạn 2010-2012, dư nợ cho vay DAĐT có sự biến động nhẹ. Tuy nhiên nợ quá hạn của Sacombank Hải Phòng về cho vay dự án lại tăng mạnh(từ 37 triệu đồng vào năm 2010 lên 2.367 triệu đồng vào năm 2011 và 3.166 triệu đồng vào năm 2012), qua đó cho thấy chất lượng cho vay dự án của chi nhánh có chiều hướng giảm sút

Trong tổng nợ quá hạn của chi nhánh thì nợ quá hạn cho vay DAĐT chiếm tỉ lệ 11,76% năm 2010, giảm trong năm 2011 đạt 6,71% và tăng trở lại trong năm 2012 đạt 10,78%.Tuy hoạt động cho vay DAĐT chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong hoạt động cho vay (năm 2010 chiếm 4,03%, năm 2011 chiếm 6,02%, năm 2012 chiếm 5,46%) nhưng tỉ lệ nợ quá hạn lại chiếm tỉ lệ lớn hơn cho thấy hoạt động cho vay DAĐT luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn cả so với các hoạt động cho vay khác của ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng tài trợ dự án đầu tư tại ngân  hàng Sacombank chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

2.2.3.1 Chỉ tiêu định tính

Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng cho vay trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên chất lượng cho vay nói chung và chất lượng cho vay DAĐT nói riêng tại Sacombank Hải Phòng ngày càng được quan tâm, chú trọng.

Tuy nhiên ngân hàng lại chưa có quy trình cho vay DAĐT riêng mà quá trình cho vay DAĐT hoàn toàn dựa trên quy trình cho vay thông thường. Điều này gây khó khăn cho công tác tiến hành cho vay DAĐT vì các bước không được quy định rõ ràng, cán bộ tín dụng không có căn cứ chính xác để tiến hành cấp tín dụng

2.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

Chỉ tiêu sử dụng vốn

Bảng 2.6: Chỉ tiêu sử dụng vốn

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay dự án so với tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng, tức là phản ánh quy mô của việc cho vay dự án đối với dư nợ ngắn hạn cũng như dư nợ trung dài hạn khác. Tỷ lệ này cao và ngày càng tăng sẽ cho thấy ngân hàng chú trọng đến việc mở rộng hoạt động cho vay dự án, nhìn chung ngân hàng thương mại nào cũng mong muốn tỷ lệ này cao do hoạt động cho vay dự án mang lại thu nhập lớn hớn so với tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên chỉ tiêu này ở Sacombank Hải Phòng còn rất thấp và có xu hướng giảm dần qua các năm( năm 2010 là 8,94%, năm 2011 giảm 0,32% xuống còn 8,62%, năm 2012 tiếp tục giảm mạnh còn 4,77%) cho thấy ngân hàng chưa thực sự chú trọng đến việc mở rộng hoạt động cho vay dự án.

Chỉ tiêu về vòng quay vốn tín dụng

Bảng 2.7: Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụngChỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.

Qua bảng 2.7 ta thấy vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng khá ổn định, biến động không nhiều và có xu hướng tăng tích cực. Năm 2010 là 0,94 vòng, năm 2011 và 2012 đạt 1,14 vòng Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

Chỉ tiêu thu hồi nợ

Bảng 2.8: Chỉ tiêu thu hồi nợChỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của NH.Nó phản ánh trong 1 thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn

Nhìn chung hệ số thu nợ của ngân hàng có chiều hướng tăng, tích cực. Cụ thể năm 2010 tỷ số này là 0,79 tức là cứ 100 đồng cho vay ngân hàng thu lại được 79 đồng và chỉ số đạt 1,13 vào năm 2011,tiếp tục tăng đạt 1,17 vào năm 2012

Chỉ tiêu nợ quá hạn

Bảng 2.9: Chỉ tiêu nợ quá hạn

Chỉ tiêu nợ quá hạn trong cho vay DAĐT trên dư nợ cho vay DAĐT phản ánh và đánh giá chất lượng tín dụng một cách rõ rệt. Nợ quá hạn bao gồm nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5. Nhìn chung trong 3 năm nợ quá hạn có diễn biến xấu đi, tỉ lệ nợ quá hạn tăng( năm 2010 là 0,05%, năm 2011 là 4,01% , năm 2012 tiếp tục tăng đạt 6,2%)

Chỉ tiêu nợ xấu trong cho vay DAĐT trên dư nợ cho vay DAĐT dùng để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng, nợ xấu là vấn đề không thể tránh khỏi trong quá trình hoạt động kinh doanh của bất cứ ngân hàng nào. Điều đáng quan tâm là làm thế nào để giữ tỷ lệ này ở mức chấp nhận được và theo đúng quy định của NHNN thì tỷ lệ này phải ≤ 3%. Nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3 đến nhóm 5. Qua bảng 2.9 ta thấy rằng chỉ tiêu này đang có xu hướng xấu đi. Năm 2010 tỉ lệ này là 0%, năm 2011 là 0,64%, năm 2012 tăng đột biến là 4,95% cao hơn so với quy định của NHNN do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên tình hình kinh tế giai đoạn này gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp làm ăn trì trệ,cầm chừng, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn bị phá sản

Chỉ tiêu lợi nhuận

Bên cạnh các chỉ tiêu đánh giá ở trên thì chỉ tiêu về lợi nhuận cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá hoạt động và chất lượng cho vay DAĐT, do vậy không thể bỏ qua tiêu chí này khi đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay DAĐT của ngân hàng. Chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng không thể nói là tốt nếu lợi nhuận do hoạt động này mang lại thấp.Tỷ trọng lợi nhuận trong cho vay DAĐT/dư nợ cho vay DAĐT của Sacombank Hải Phòng trong những năm qua ở mức bình quân là 13,82%, điều này cho biết cứ 100 đồng dư nợ cho vay DAĐT sẽ đem lại 13,82 đồng lợi nhuận cho chi nhánh. Bên cạnh đó tỷ trọng lợi nhuận trong cho vay DAĐT/tổng lợi nhuận của Sacombank Hải Phòng có cũng khá ổn định với tỷ lệ bình quân là 28,34% trong khi tỷ trọng dư nợ cho vay dự án đầu tư trên tổng dư nợ cho vay trung bình đạt 8,9%. Điều này cho thấy cho vay DAĐT mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng vàcần được quan tâm nhiều hơn

Bảng 2.10: Chỉ tiêu lợi nhuận

2.3 Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tài trợ dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

2.3.1 Những kết quả đạt được

Trong những năm gần đây,quá tình phát triển kinh tế xã hội của đất nước diễn ra trong điều kiện có nhiều thách thức lớn, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế chưa cao,thị trường ngoại tệ thiếu ổn định,lạm phát và giá cả tăng liên tục….Tuy vậy, ngân hàng Sacombank Hải

Phòng đã có những bước phát triển vững chắc và đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ,là một trong những chi nhánh hoạt động tốt của hệ thống ngân hàng Sacombank trong nhiều năm liền.Đặc biệt trong lĩnh vực cho vay dự án đầu tư,ngân hàng đã đạt được những kết quả ban đầu như:

  • Nhờ tăng cường công tác giáo dục cho cán bộ nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát hoạt động tín dụng. Ngân hàng lựa chọn những CBTD tinh thông nghề nghiệp, nhiệt tình công tác vào những công trình trọng điểm, để giúp đỡ và tư vấn cho doanh nghiệp được vay vốn nhanh chóng, sớm đưa các công trình vào sản xuất kinh doanh, mang lại lợi ích cho cả Ngân hàng và khách hàng.
  • Coi trọng phân tích khách hàng, kiên quyết chỉ đầu tư dự án khả thi, có hiệu quả. Ngân hàng đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung và dài hạn phục vụ cho công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo hướng kết hợp nhiều hình thức cho vay bằng nhiều loại vốn, tìm kiếm các dự án có hiệu quả và chú trọng các dự án trọng điểm trong các chương trình phát triển kinh tế của các bộ ngành.
  • Ngân hàng thường xuyên bám sát mọi hoạt động của doanh nghiệp, hướng dẫn đơn vị lập hồ sơ vay vốn, tổ chức giao dịch một cửa, tránh mọi phiền hà cho doanh nghiệp trong quan hệ vay vốn Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

Tạo được uy tín, niềm tin và trở thành người bạn thân thiết của khách hàng: Chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng được chú trọng ngay từ khâu tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng. Thời gian xem xét thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng cũng được quy định rõ ràng giúp cho khách hàng không phải chờ đợi lâu, ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư của khách hàng. Ngoài ra, trong quá trình xét duyệt cho vay, nếu thấy DAĐT của khách hàng có những điểm chưa hợp lý, không khả thi thì thay vì từ chối cho vay, Sacombank Hải Phòng đã tư vấn, góp ý cho khách hàng, cung cấp những thông tin bổ ích về thị trường, về tiến bộ khoa học công nghệ để họ xem xét, điều chỉnh lại dự án cho phù hợp, khả thi, mang lại hiệu quả cho khách hàng. Chính những điều đó đã giúp cho Chi nhánh tạo được niềm tin rất lớn nơi khách hàng.

2.3.2 Những tồn tại

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong hoạt động cho vay DAĐT còn có những tồn tại,chưa hiệu quả cần phải giải quyết như sau:

Một là, nguồn vốn tự có của ngân hàng không đủ để dùng cho vay DAĐT trung dài hạn. Việc tăng trưởng nguồn vốn nhất là trung hạn và dài hạn trong dân cư và huy động từ nguồn tiền gửi của khách hàng vẫn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, là khâu mở đường cho hoạt động kinh doanh của Sacombank Hải Phòng. Để huy động vốn thì phải đảm bảo lợi ích cho người gửi có lãi suất huy động cao, nhưng cho vay DAĐT trung và dài hạn cũng với lãi suất cao thì doanh nghiệp không chấp nhận được. Đây là vấn đề khó khăn tạo sức ép đối với Ngân hàng trong kinh doanh.

Hai là, một số quy định cho vay của Sacombank Hải phòng đôi khi còn quá chặt chẽ dẫn đến lượng khách hàng đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng ít, số lượng khách hàng vay vốn không nhiều

Ba là, ngân hàng chưa có quy trình cho vay DAĐT riêng mà vẫn thực hiện dựa trên quy trình cho vay chung

Bốn là, công tác đánh giá phân loại khách hàng, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính của khách hàng còn chưa được thường xuyên và quan tâm đúng mức để từ đó đưa ra những chính sách tín dụng phù hợp, kịp thời.

Năm là, chất lượng cán bộ còn nhiều bất cập, còn thiếu kinh nghiệm trong công tác tín dụng.Việc phân tích đúc rút kinh nghiệm về tín dụng đầu tư còn quá ít, chưa có tính thống nhất, chưa ngang tầm với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động. Có lúc ở từng bộ phận, do chưa nhận thức đầy đủ về tăng trưởng, buông lỏng điều kiện tín dụng là tăng nguy cơ tiềm ẩn rủi ro.

Sáu là, hệ thống thông tin tín dụng còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành và việc cập nhật thông tin phục vụ cho công tác thẩm định, nên khả năng nghiên cứu, đánh giá khách hàng, dự báo tình hình tín dụng còn yếu, bị động, có lúc còn bị lỡ cơ hội. Việc phối hợp, tìm hiểu thông tin về khách hàng giữa các Ngân hàng trong và ngoài hệ thống chưa tốt, dẫn đến tình trạng không kiểm soát được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là nguyên nhân chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro.

Bảy là, hệ thống kiểm soát chưa hiệu quả. Việc phân tích đánh giá thực trạng tín dụng chưa được thực hiện triệt để, chưa phản ánh chính xác chất lượng,chưa kiên quyết trong công tác xử lý tồn đọng, nợ xấu.

2.3.3 Nguyên nhân chủ yếu Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

2.3.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng.

Về tăng trưởng nguồn vốn trung và dài hạn: nguồn vốn dùng để cho vay DAĐT trung dài hạn chưa có tính ổn định. Vốn tự có là một trong những nguồn hình thành để các NHTM cho vay trung, dài hạn. Đây là nguồn vốn ổn định, an toàn nhất nhưng lại quá nhỏ bé so với nhu cầu vay vốn của toàn bộ nền kinh tế. Ngân hàng hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên lại chiếm tỷ trọng không cao làm ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay DAĐT.

Về một số quy định cho vay của Sacombank Hải phòng đôi khi còn quá chặt chẽ: nguyên nhân là do ngân hàng phải đảm bảo nguyên tắc an toàn trong hoạt động cho vay

Về công tác đánh giá phân loại khách hàng, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính của khách hàng còn chưa được thường xuyên và quan tâm đúng mức để từ đó đưa ra những chính sách tín dụng phù hợp, kịp thời: Nguyên nhân do ngân hàng thường quan niệm rằng, những doanh nghiệp quen thuộc, nên không cần giám sát chặt chẽ và giải quyết cho vay chỉ dựa vào những thông tin do doanh nghiệp cung cấp, thay cho những số liệu đáng tin cậy. Tính khả thi của dự án và hiệu quả của khoản vay chưa trở thành mục tiêu tôn chỉ trong hoạt động tín dụng.

Về chất lượng cán bộ còn nhiều bất cập, còn thiếu kinh nghiệm trong công tác tín dụng: Nguyên nhân do trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của một số cán bộ chưa cao, nhất là kiến thức về phân tích ngành, thị trường, thẩm định DAĐT trung và dài hạn. Cán bộ tín dụng của Sacombank Hải Phòng còn thiếu kinh nghiệm, không lường hết được rủi ro hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nên chưa thật sự chú ý tới khâu kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng tại đơn vị. Sacombank Hải Phòng còn thiếu cán bộ được đào tạo chuyên ngành, chuyên môn kỹ thuật để thẩm định tính khả thi, hiệu quả của dự án

Về hệ thống thông tin tín dụng còn nhiều hạn chế: Nguyên nhân hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng giữa NHNN với Sacombank Hải Phòng chưa đáp ứng được yêu cầu. Sự hợp tác, trao đổi thông tin trong việc xét duyệt cho vay và quản lý vốn vay của khách hàng vay Sacombank Hải Phòngvới các ngân hàng khác chưa tốt, thiếu các thông tin cần thiết, trung thực về tình trạng dư nợ, hiệu quả kinh doanh của khách hàng nên không tránh được rủi ro. Mặc dù Sacombank Hải Phòng đã có phòng chuyên trách thông tin phòng ngừa rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng nhưng cho đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực sự là công cụ tốt để ngăn ngừa rủi ro, tiêu cực trong hoạt động ngân hàng Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

Hoạt động Marketing trong ngân hàng chưa thực sự được chú ý. Mạng lưới hoạt động kinh doanh của Sacombank Hải Phòng rộng khắp mọi miền của đất nước,đối tượng cho vay không chỉ bó hẹp trong một phạm vi mà bao gồm tất cả các đối tượng khách hàng tại các khu vực thành thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, các DAĐT thuộc các lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, công việc Marketing này mới chỉ đơn thuần được thực hiện dưới dạng những hoạt động bề nổi như tuyên truyền quảng cáo chứ chưa xuất phát từ thực tiễn của việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, nắm bắt nhu cầu khách hàng để tìm cách thoả mãn nhu cầu ấy. Lâu nay, hoạt động Marketing vẫn thường được coi là nhiệm vụ của nhân viên giao dịch trong khi đây lại là nhiệm vụ của tất cả nhân viên ngân hàng. Điểm yếu này cần phải được khắc phục nhanh chóng nếu như muốn phát triển, tìm kiếm những khách hàng mới với những tiềm năng mới.

Về hệ thống kiểm soát chưa hiệu quả: Nguyên nhân do hệ thống kiểm soát chưa phát huy được tác dụng của nó. Sau khi cho vay, Sacombank Hải Phòng kiểm tra sát khách hàng không chặt chẽ để biết khách hàng sử dụng vốn có đúng mục đích, có hiệu quả hay không. Ngân hàng yên tâm với các tài sản bảo đảm cho khoản vay, trong khi các tài sản này có thể còn bị đánh giá sai lệch về mặt giá trị.

2.3.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng

Khả năng của các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các yêu cầu về chế độ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng còn thấp. Vướng mắc chủ yếu thường gặp phải là doanh nghiệp không có đủ vốn theo chế độ, không đủ tài sản thế chấp theo quy định đối, không có nhiều dự án khả thi. Để đảm bảo nguyên tắc an toàn, ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải có vốn tự có tối thiểu tham gia vào dự án là 15%.

Về dự án sản xuất kinh doanh, có nhiều doanh nghiệp lập được các phương án kinh tế khá tốt nhưng do không cụ thể hoá được thành các dự án khả thi, nên cũng không được ngân hàng cho vay vốn.

Khả năng quản lý và sử dụng vốn vay của doanh nghiệp còn thấp, cộng với tình trạng làm ăn thiếu trung thực thường xuyên xảy ra giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với nhau và với các ngân hàng, biểu hiện ở sử dụng vốn vay không đúng mục đích, cung cấp thông tin không chính xác cho ngân hàng, lừa đảo chiếm dụng vỗn lẫn nhau là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp

2.3.3.3 Nguyên nhân khác Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng không thuận lợi, các quy định của pháp luật liên quan đến tài sản thế chấp còn rất nhiều bất cập. Rất nhiều tài sản hiện nay không có đăng ký sở hữu, mà đây lại là điều kiện bắt buộc đối với các tài sản dùng làm tài sản thế chấp. Việc xử lý tài sản thế chấp khi có rủi ro xảy ra cũng gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại về mặt pháp lý.

Sự quản lý của các cơ quan chức năng đối với các doanh nghiệp cũng chưa thực sự chặt chẽ, tạo ra những khe hở cho các doanh nghiệp có những hành vi “lách luật”, lừa đảo doanh nghiệp bạn cũng như ngân hàng. Một vấn đề nữa là mặc dù Chính phủ đã quy định cho các ngân hàng có quyền tự chủ quyết định về việc cho vay của mình và chịu trách nhiệm về chính những quyết định đó, song trên thực tế không phải ngân hàng nào cũng có thể tự quyết định được về các khoản vay của mình nhất là các khoản vay theo kế hoạch nhà nước. Không ít trong số những dự án như vậy thực sự không đem đến lợi nhuận chi hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng có khi còn xảy ra những rủi ro.

Hiện nay ở Việt Nam chưa có cơ quan chuyên trách về xếp hạng doanh nghiệp nhất là về phương diện uy tín, tín nhiệm và vì vậy các ngân hàng thiếu những thông tin đáng tin cậy khi xem xét, đánh giá các khách hàng để quyết định cho vay. Điều này một mặt hạn chế khả năng mở rộng tín dụng do ngân hàng không dám mạo hiểm giải ngân những khoản vay mà ngân hàng không cảm thấy chắc chắn, mặt khác cũng làm tăng thêm tình trạng, khả năng gặp rủi ro khi đánh giá, đầu tư vào doanh nghiệp của chính bản thân ngân hàng.

Nền kinh tế nước ta mặc dù đã chuyển sang cơ chế thị trường nhưng vẫn còn tồn tại những quan điểm, tư tưởng lạc hậu của cơ chế cũ, các cơ chế; chính sách; nền tảng pháp lý cho một thời kỳ phát triển kinh tế mới còn đang trong giai đoạn hoàn thiện nên không có được sự ổn định cao. Chính vì vậy, tâm lý dè dặt của các nhà đầu tư xuất hiện, họ không dám bỏ vốn đầu tư vào những dự án lớn, thời gian dài khiến cho việc mở rộng tín dụng của ngân hàng cũng gặp rất nhiều khó khăn. Hơn thế nữa, trong thời gian gần đây tình hình hoạt động của các doanh nghiệp gặp khá nhiều khó khăn, các doanh nghiệp trong nước vốn dĩ đã hạn chế về vốn, kỹ thuật, công nghệ lại phải cạnh tranh gay gắt với hàng ngoại nhập, hàng lậu, trốn thuế… nên càng khó khăn có những doanh nghiệp thua lỗ phải sản xuất cầm chừng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến nhu cầu vay vốn ngân hàng giảm sút.

TIỂU KẾT CHƯƠNG II

Qua chương 2, thực trạng cho vay DAĐT của Sacombank Hải Phòng vài năm gần đây cho thấy kết quả đạt được và những khó khăn còn tồn tại trong hoạt động kinh doanh nói chung, nhưng trước hết là cho vay DAĐT của Sacombank Hải Phòng. Những khó khăn, thử thách trong hoạt động tín dụng đòi hỏi Sacombank Hải Phòng phải có những biện pháp tích cực để sớm khắc phục. Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao đầu tư dự án tại Sacombank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng tài trợ dự án tại Ngân hàng Sacombank

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát hoạt động tín dụng tại Sacombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464