Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Quy định về lao động trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Để thiết lập mối quan hệ thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền thương mại khu vực cũng như toàn cầu, tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã ký kết và đàm phán 16 hiệp định thương mại tự do, trong đó đã có những hiệp định chứa đựng những nội dung điều chỉnh lĩnh vực lao động. Bởi vì giới hạn về thời gian, điều kiện nghiên cứu cũng như dung lượng của đề tài, tác giả lựa chọn nghiên cứu Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu và các hiệp định liên quan tới lao động trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Trong đó, TPP là hiệp định đầu tiên trong lịch sử giành một chương riêng biệt quy định về vấn đề lao động. Ngay từ khi đàm phán, chương 19 của TPP về Lao động đã nhận được sự quan tâm đặc biệt hơn so với các nội dung khác của TPP bởi vì nội dung của chương đã đụng chạm tới những vấn đề mang tính “nhạy cảm” liên quan tới quyền của người lao động. Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Michael Froman còn cho rằng TPP là một “thời khắc lịch sử” cho những quốc gia như Việt Nam vì nếu được thi hành trọn vẹn, các quốc gia thành viên sẽ phải có những “thay đổi rõ rệt” trong hệ thống của họ. Tuy nhiên, vào ngày 24/01/2024, Tổng thống đương nhiệm của Hoa Kỳ Donal J. Trump đã ban hành lệnh hành pháp rút Hoa Kỳ khỏi TPP, điều này đồng nghĩa với việc TPP đứng trước khả năng bị khai tử do hiệp định này chỉ có hiệu lực được ít nhất 6 nước phê chuẩn trước tháng 2/2018 và các nước này phải đóng góp ít nhất 85% GDP trong khối (tức không thể thiếu Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản). Nhưng hiện nay một số thành viên khác của TPP đang thảo luận về khả năng làm cho TPP có hiệu lực mà bỏ qua sự tham gia của Hoa Kỳ, đặc biệt, tính tới thời điểm hiện tại Nhật Bản và New Zealand đã thông qua TPP lần lượt vào ngày 20/01/2024 và 11/05/2024 nhằm mục đích thúc đẩy các thành viên khác tiếp tục thông qua hiệp định này. Thậm chí, các Bộ trưởng và Thứ trưởng 11 Thành viên còn lại đã nhóm họp vào ngày 21/05/2024, nhấn mạnh về khả năng mở rộng TPP cho các các nền kinh tế khác tham gia nếu họ có thể chấp nhận các tiêu chuẩn cao của Hiệp định. Hơn thế nữa, kể cả trong trường hợp TPP chịu chung số phận với Hiến chương La Havana, đối với Việt Nam việc nghiên cứu, đánh giá về các vấn đề lao động trong TPP vẫn cần thiết bởi vì TPP là một hiệp định khuôn mẫu của thế kỷ 21. Nói cách khác, không trước thì sau, trong tiến trình hội nhập, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những vấn đề được đặt ra trong hiệp định này. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Còn đối với EVFTA, đây là hiệp định thương mại tự do thế hệ thứ tư của Liên minh châu Âu bao gồm chương phát triển bền vững – một khuôn khổ mới để lồng ghép các quy định về lao động vào các hiệp định thương mại với mục tiêu bảo vệ được quyền lợi người lao động đạt mức cao nhất có thể. Bên cạnh đó, các hiệp định trong khuôn khổ AEC có cách tiếp cận khác, khi điều chỉnh vấn đề lao động thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động di chuyển thể nhân trong khu vực các nước ASEAN.
Vì vậy, dù TPP với một tương lai khó đoán trước, hay EVFTA chuẩn bị có hiệu lực, cũng như những hiệp định trong khuôn khổ AEC đang được áp dụng đều là những cơ hội cận kề để Việt Nam có thể xem xét lại hệ thống pháp luật trong nước cũng như quá trình thực thi chúng để chuẩn bị đón đầu những thách thức khi tham gia vào quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng.
2.1 HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương là một hiệp định ký kết bởi 12 nước thành viên chiếm 40% tổng GDP toàn thế giới. Bắt đầu đàm phán từ năm 2017 và kết thúc đàm phán vào tháng 10 năm 2022, hiệp định này được ký kết vào ngày 04/02/2023 nhưng hiện tại chưa có hiệu lực do các thành viên đang trong quá trình thực hiện phê chuẩn trong nước. Được coi là hiệp định của thế kỷ 21, TPP đã đặt ra những tiêu chuẩn mới cho nền thương toàn cầu trong khi còn điều chỉnh đến những những vấn đề chưa được đề cập trong khuôn khổ của WTO. Đặc biệt, những quy định về lao động tại chương 19 là chưa từng có tiền lệ, nhất là đối với các quốc gia Đông Nam Á như Malaysia, Brunei và Việt Nam. Đối với vấn đề này, hiệp định vừa đặt ra những cam kết về nghĩa vụ phải tuân thủ khá nghiêm ngặt, vừa có những sự linh hoạt nhất định trong quá trình thực thi cho các quốc gia thành viên. Ngoài ra, riêng với lĩnh vực lao động, nhằm mục đích thi hành các biện pháp lao động cũng như hướng quyền của người lao động tới các tiêu chuẩn quốc tế, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đã tiến hành đàm phán các kế hoạch song phương với từng quốc gia: Việt Nam, Malaysia và Brunei. Kế hoạch này vạch ra những thay đổi mà mỗi quốc gia liên quan cần thực hiện trước khi hiệp định thương mại có hiệu lực, bao gồm việc cải cách luật, quy định, thể chế và thực tiễn, đồng thời, cũng đảm bảo sự tham gia thường xuyên, theo dõi và báo cáo tiến độ tuân thủ các cam kết lao động.
2.1.1. Quy định trực tiếp về lao động
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương là hiệp định bảo vệ quyền lợi của người lao động mạnh mẽ nhất trong lịch sử. Tuy vậy, TPP lại không đưa ra bất kỳ tiêu chuẩn mới nào về lao động. Cụ thể, căn cứ theo chương 19, các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo trong pháp luật nội địa và thực tiễn thực thi những nguyên tắc về quyền lao động thuộc hai nhóm sau:
2.1.1.1. Nhóm những nguyên tắc trong Tuyên bố của ILO năm 1998
Giống như xu hướng của những hiệp định thương mại tự do trong thời gian gần đây, TPP đặt ra những nguyên tắc về quyền lao động thông qua việc dẫn chiếu Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998 tương ứng với 4 cặp Công ước của ILO, bao gồm: (1) tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể (theo Công ước số 87 và số 98); (2) loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105); (3) bãi bỏ lao động trẻ em, cấm những hình thức lao động trẻ em tệ hại nhất (theo Công ước số 138 và Công ước số 182); (4) không phân biệt đối xử trong lao động và nghề nghiệp (theo Công ước số 100 và số 111).
Bên cạnh đó, TPP làm rõ việc loại bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc bao gồm cả lao động trẻ em khi bị đối tượng khác cưỡng bức hoặc bắt buộc thực hiện công việc. Thêm vào đó, để nhấn mạnh vào vấn đề lao động cưỡng bức, TPP là hiệp định thương mại đầu tiên trực tiếp quy định bằng lời văn về việc không khuyến khích các bên tham gia nhập khẩu hàng hoá được sản xuất hoặc chứa thành phần được sản xuất bởi lao động cưỡng bức bất kể có nguồn gốc từ các nước thành viên của TPP hay không thông qua các sáng kiến phù hợp với các nghĩa vụ của WTO. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
2.1.1.2. Nhóm các nguyên tắc về điều kiện lao động “chấp nhận được”
Tương tự các tiếp cận về việc làm thỏa đáng, TPP đặt ra yêu cầu tất cả các thành viên đều có cam kết thêm về mức lương tối thiểu, giờ làm việc, các vấn đề về an toàn và sức khỏe của người lao động trong các quy chế và quy định nội địa. Đây là lần đầu tiên những quy định này được ghi nhận rõ ràng trong một hiệp định thương mại tự do như là một quyền của người lao động. Tuy nhiên, TPP không quy định về tiêu chuẩn cơ sở cho những vấn đề này, bởi vì chúng phải phụ thuộc vào chi
phí lao động (labour costs) và những thay đổi cần thiết tùy thuộc đặc điểm cũng như trình độ phát triển của từng quốc gia, trong khi đó các nước thành viên TPP có cách biệt đáng kể về nhiều mặt, đặc biệt giữa các quốc gia đứng đầu như Hoa Kỳ, Nhật Bản với các nước đang phát triển như Việt Nam, Malaysia. Chính vì vậy, các nước thành viên không bị ràng buộc về cách thức cũng như mức độ thực hiện quy định này.
Tuy nhiên, để tránh vướng mắc trong quá trình thực thi, “điều kiện lao động chấp nhận được” cần được làm rõ một cách chi tiết hơn. Ví dụ, đối với mức lương chi trả cho người lao động, thậm chí Hoa Kỳ không đưa ra được cách hiểu đồng nhất về mức lương tối thiểu phù hợp. Hơn thế nữa, chỉ ba thành viên TPP (Australia, Chile, Nhật Bản) đã gia nhập Công ước về ấn định lương tối thiểu của ILO (ILO Minimum Wage Fixing Convention). Phần lớn các quốc gia tham gia TPP đã quy định mức lương tối thiểu, trừ Brunei và Singapore và giới hạn giờ làm việc trong pháp luật nội địa.
2.1.2. Quy định đảm bảo thực thi
2.1.2.1. Quy định thực thi mang tính chất điều kiện
Trong TPP bao gồm cả Kế hoạch song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chỉ có biện pháp trừng phạt thương mại là kết quả của hành vi vi phạm cam kết của một thành viên trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp. Nếu bên vi phạm không có ý định chấm dứt hành vi vi phạm hoặc sau khi kết thúc khoảng thời gian hợp lý mà hai bên vẫn không thống nhất được ý kiến chung, các biện pháp này có thể thực hiện dưới dạng yêu cầu bồi thường hoặc tạm ngừng ưu đãi cùng lĩnh vực hoặc khác lĩnh vực trong trường hợp nghiêm trọng (hai hình thức này gần tương tự với trả đũa song hành và trả đũa chéo trong trình tự giải quyết tranh chấp của WTO). Tuy nhiên, TPP cũng lưu ý các bên rằng việc bồi thường hay tạm ngừng ưu đãi chỉ là các biện pháp tạm thời để nhằm hướng tới việc yêu cầu bên bị kiện phải thực thi đúng theo quyết định cuối cùng của cơ quan giải quyết tranh chấp.
2.1.2.2. Quy định thực thi mang tính chất khuyến khích Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Về cam kết không vi phạm, các quốc gia đã cam kết không từ bỏ hoặc không được làm suy yếu hoặc suy giảm sự tuân thủ với các tiêu chuẩn lao động trong 08 Công ước cơ bản của ILO cũng như về các điều kiện lao động có thể chấp nhận được đối với mức lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn và vệ sinh lao động nhằm mục đích thương mại hay thu hút đầu tư. Đặc biệt, TPP nhấn mạnh đến phạm vi cam kết mở rộng ra cả khu vực hải quan đặc biệt như khu chế xuất, khu ngoại thương – nơi gây ra nhiều vấn đề quan ngại trong lao động. Bên cạnh đó, TPP cũng lưu ý đến trách nhiệm xã hội cho doanh nghiệp để nâng cao, thúc đẩy việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Về hoạt động hợp tác, như trong các thoả thuận trước đây của nhiều bên tham gia TPP, hợp tác được khẳng định là một khía cạnh quan trọng. Tuy nhiên, TPP đã mở rộng nội dung hợp tác bằng cách thiết lập các nguyên tắc hướng dẫn cho các hoạt động này, bao gồm: sự phù hợp về năng lực và các hoạt động xây dựng năng lực; việc tạo ra thành quả lao động đo lường được, tích cực và có ý nghĩa; bổ sung với các sáng kiến khu vực và đa phương hiện hữu để giải quyết các vấn đề về lao động; sự minh bạch và tính minh bạch và sự tham gia công khai (bao gồm sự hợp tác với các đối tác xã hội và các tổ chức khác như ILO). Đây là một sự bước tiến quan trọng so với các thoả thuận trước đó để làm cho hoạt động hợp tác hiệu quả hơn.
Ngoài ra, hiệp định xác định rõ 20 lĩnh vực các bên sẽ tiến hành hợp tác, chẳng hạn như vấn đề tạo việc làm và thúc đẩy tinh thần kinh doanh; thúc đẩy năng suất, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhận thức và tôn trọng các quyền lao động cơ bản của ILO; loại bỏ phân biệt đối xử, bao gồm cả lao động di cư, phụ nữ và những người lao động khác; và các lĩnh vực khác thông qua 4 hình thức hợp tác, trong đó nhấn mạnh hình thức đối thoại lao động.
Cụ thể, cơ chế đối thoại được thiết lập để thúc đẩy việc giải quyết nhanh bất kỳ vấn đề lao động giữa các quốc gia thành viên, chẳng hạn như thông qua kế hoạch hành động, các chương trình hợp tác hoặc xây dựng năng lực, thậm chí để giải quyết tranh chấp phát sinh. Để sử dụng cơ chế, một bên có thể đặt ra yêu cầu đối thoại với một bên khác về bất cứ vấn đề gì phát sinh vào bất cứ thời điểm nào bằng cách gửi một yêu cầu đến đầu mối liên lạc mà bên kia đã chỉ định (bằng con người hoặc thông qua các phương tiện công nghệ). Các bên khi giải quyết các vấn đề phải lập hồ sơ về kết quả kể cả, nếu phù hợp, những bước thực hiện cụ thể và thời gian họ đã thống nhất kèm theo kiểm chứng độc lập về sự tuân thủ hoặc thực hiện bởi các cá nhân hoặc tổ chức, như ILO.
Về hoạt động giám sát, TPP không có nhiều quy định về vấn đề này và tập trung vào mục đích tăng cường minh bạch trong quá trình thực thi cam kết. Các thành viên phải đảm bảo tiếp cận các thủ tục hành chính và xét xử công bằng, minh bạch; và cung cấp các biện pháp khắc phục hậu quả đối với các vi phạm luật lao động của các nước thành viên TPP. Ngoài ra, TPP cho phép sự tham gia của công chúng (public participation) trong quá trình thực hiện, đồng hành cùng quốc gia của mình xây dựng các cơ chế để thu thập ý kiến của công chúng và để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin.
Bên cạnh đó, mỗi bên sẽ chỉ định một điểm liên lạc trong bộ phụ trách lĩnh vực lao động hoặc cơ quan tương đương để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung lao động trong TPP đồng thời nhận, thụ lý và trả lời đơn thư của công chúng từ tất cả các quốc gia trong TPP. Ngoài ra, TPP thành lập Hội đồng lao động bao gồm các đại diện chính phủ theo chỉ định để xem xét việc thực hiện chương lao động và nhóm họp hai năm một lần.
Riêng về Kế hoạch hành động mà Việt Nam cam kết song phương với Hoa Kỳ, kế hoạch này không đặt ra các nghĩa vụ mới cho Việt Nam nhưng nêu rõ các yêu cầu, mục tiêu cụ thể mà Việt Nam phải thực hiện để tuân thủ từng cam kết bắt buộc về lao động trong TPP. Kế hoạch đặc biệt tập trung vào cam kết về quyền tự do hiệp hội của người lao động và cải cách pháp luật, cải cách thể chế cũng như nâng cao năng lực quốc gia để thực thi một cách có hiệu quả quyền này. Đồng thời, một số biện pháp mang tính cưỡng chế trong trường hợp Việt Nam không tuân thủ các cam kết cũng đã được Hoa Kỳ đưa vào một cách thành công, từ đó, buộc Việt Nam phải thực thi tốt các nghĩa vụ của mình.
2.1.2.3. Cơ chế giải quyết tranh chấp Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Bên cạnh cơ chế đối thoại có thể sử dụng trong bất kỳ thời điểm nào, các quốc gia thành viên của TPP có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp để giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong quá trình thực thi các quy định về lao động. Liên quan đến vấn đề này, TPP có hai cơ chế xử lý khác nhau quy định tại Chương 28: Giải quyết tranh chấp và Kế hoạch tăng cường thương mại và quan hệ lao động của Việt Nam và Hoa Kỳ.
Thứ nhất, về cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định riêng tại Chương 28: Giải quyết tranh chấp của Hiệp định
Cơ chế có giá trị áp dụng cho mọi cam kết được ghi nhận trong hiệp định. Tuy nhiên, riêng lĩnh vực lao động, cơ chế giải quyết tranh chấp này được bổ sung một số tính năng đặc biệt, ví dụ như trong trường hợp đệ trình công khai, người đệ trình phải nhận được phản hồi kịp thời kể cả bằng văn bản nếu phù hợp.
Thêm vào đó, riêng đối với lĩnh vực lao động, TPP quy định 01 quy trình riêng để các thành viên tham vấn bí mật với nhau ở cấp độ bộ trưởng bằng cách gặp trực tiếp hoặc bằng bất cứ phương tiện kỹ thuật nào sẵn có và giải quyết vướng mắc liên quan tới việc thực thi Chương Lao động trong khuôn khổ Hội đồng lao động của TPP; chỉ khi tranh chấp không thể giải quyết được theo quy trình này thì các nước TPP mới có thể sử dụng tới quy trình giải quyết tranh chấp Nhà nước – Nhà nước chung với các lĩnh vực khác trong hiệp định tại chương 28. Tổng quan, quy trình giải quyết tranh chấp chung theo TPP mang tính cưỡng chế, bắt buộc và kèm theo xử phạt, khá tương đồng với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO.
Thứ hai, về cơ chế xử lý trong trường hợp không thực thi đầy đủ cam kết trong Kế hoạch tăng cường thương mại và quan hệ lao động của Việt Nam và Hoa Kỳ
Ngoài cam kết về lao động chung trong TPP như các thành viên khác, Việt Nam có cam kết riêng với Hoa Kỳ về Kế hoạch tăng cường thương mại và quan hệ lao động, bao gồm một cơ chế xử phạt riêng nếu Việt Nam không tuân thủ nghĩa vụ về quyền tự do liên kết của người lao động. Cụ thể, đối với nghĩa vụ của Việt Nam liên quan tới quyền tự do hiệp hội của người lao động, sau 05 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực, Hoa Kỳ được quyền đơn phương rà soát lại xem Việt Nam đã thực hiện đúng cam kết trong Kế hoạch hay chưa.
Trong trường hợp Hoa Kỳ xác định Việt Nam chưa thực hiện đúng cam kết thì trong vòng 2 năm sau đó, Hoa Kỳ có quyền dừng thực hiện các cam kết của nước này về thuế quan sau thời điểm đó đối với Việt Nam chỉ với điều kiện thông báo cho Việt Nam về ý định này và đã thảo luận với Việt Nam về điều này. Đây là biện pháp đơn phương mà Hoa Kỳ có thể sử dụng mà không cần tuân thủ quy trình giải quyết tranh chấp chung của TPP.
Bên cạnh đó, Việt Nam có quyền được kiện Hoa Kỳ theo Cơ chế giải quyết tranh chấp cấp Nhà nước trong TPP về việc áp dụng biện pháp trừng phạt đơn phương nói trên, và nếu kết quả khẳng định Việt Nam đã thực thi đúng và đủ nghĩa vụ về tự do công đoàn của mình thì Hoa Kỳ sẽ phải tiếp tục thực hiện cam kết về thuế quan.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng cần cân nhắc về các biện pháp trừng phạt thương mại đơn phương có thể sử dụng. Bởi vì ngoài TPP, Hoa Kỳ và Việt Nam còn bị ràng buộc bởi một cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương trong khuôn khổ của WTO. Trong WTO, mọi biện pháp trừng phạt thương mại chỉ được thực thi sau khi trải qua quá trình giải quyết tranh chấp này (Điều 22, Điều 23 Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục Giải quyết Tranh chấp trong khuôn khổ WTO). Điều này có nghĩa rằng nếu hành động đơn phương của Hoa Kỳ chấm dứt những nhượng bộ thương mại trong TPP mà đồng thời thuộc phạm vi điều chỉnh của bất kỳ hiệp định liên quan nào WTO sẽ vi phạm pháp luật WTO, tức Việt Nam có thể khởi kiện Hoa Kỳ ra Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body) về vấn đề này. Tuy nhiên, khả năng xảy ra trên thực tế khá thấp do những nhượng bộ thương mại trong TPP cao hơn rất nhiều so với nhượng bộ trong khuôn khổ WTO – những nhượng bộ sàn, áp dụng chung cho toàn bộ các Thành viên WTO. Do vậy, rất ít khả năng Hoa Kỳ sẽ trừng phạt Việt Nam bằng “cái tát yêu” ít lực trong WTO, mà cần phải dùng đến “cú đấm thép” được trang bị từ TPP. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Nhìn chung, những tín hiệu mà chương 19 của TPP đem lại là rất đáng lạc quan cho vấn đề lao động tại Việt Nam, đặc biệt trong vấn đề quyền của người lao động. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả trên thực tế của những cam kết này vẫn còn nhiều điểm cần xem xét. Có thể TPP sẽ không đem lại hiệu quả trên thực tế như kỳ vọng bởi vì thiếu vắng một cơ chế thực thi, khiếu nại hữu hiệu cũng như quy định thực thi có điều kiện thực sự hữu ích khi vi phạm các tiêu chuẩn lao động.
Đối với cơ chế giải quyết tranh chấp chung theo Chương 28, vì là cơ chế giải quyết giữa các chính phủ nên sẽ rất phức tạp, thường bị chính trị hóa và cân đo đong đếm giữa nhiều lợi ích. Còn cơ chế giải quyết tranh chấp song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lại đặt ra nhiều nghi vấn trong quá trình thực thi. Bài học kinh nghiệm từ Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp định thương mại tự do Trung Mỹ (CAFTA) cho thấy Hoa Kỳ vẫn còn thụ động trong việc giải quyết những khiếu nại lao động theo những bản Kế hoạch hành động song phương. Ví dụ, với bản Kế hoạch hành động giữa Hoa Kỳ và Guatemala, đơn khiếu nại từ 6 tổ chức công đoàn từ Guatemala từ năm 2015 đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Hơn thế nữa, trong trường hợp, Chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận theo đuổi các khiếu nại thì TPP cũng để ngỏ khả năng cho việc thỏa hiệp chính trị. Biện pháp tái áp đặt các rào cản thuế quan nếu Việt Nam không thực hiện các cam kết về tiêu chuẩn lao động trong TPP tuy có giá trị nhưng có thể bị thay đổi tùy thuộc vào quan điểm chính trị và ngoại giao của chính quyền Mỹ tại thời điểm xảy ra vi phạm. Cũng không chắc chắn rằng Hoa Kỳ sẽ không chọn thỏa hiệp với Việt Nam vì một lợi ích kinh tế nào đó để bỏ qua việc thực thi trừng phạt này.
Tuy nhiên, cần phải nhắc lại, vì Hoa Kỳ đã rút khỏi TPP nên Kế hoạch hành động mang tính chất song phương sẽ không còn có hiệu lực đối với Việt Nam. Vậy nên, trong nhiều năm tới, Việt Nam vẫn chưa phải chịu áp lực quốc tế quá lớn về nghĩa vụ đảm bảo quyền lợi của người lao động, đặc biệt là quyền công đoàn (cam kết quan trọng nhất trong Bản Kế hoạch hành động song phương).
2.2 HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU
Khác với TPP, những quy định về lao động trong Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam không nằm trong một chương riêng biệt, mà là một nội dung trong chương Thương mại và Phát triển bền vững. Hai mục tiêu chính của chương này bao gồm: thúc đẩy sự hỗ trợ lẫn nhau về thương mại, đầu tư và chính sách lao động và đảm bảo rằng thương mại và đầu tư tăng trưởng sẽ không làm giảm việc bảo vệ người lao động.
2.2.1. Quy định trực tiếp về lao động
Nhìn chung, không riêng hiệp định thương mại tự do với Việt Nam, mà còn với nhiều đối tác ở Đông Nam Á khác, hiệp định thương mại song phương trong đó một bên là EU không đặt ra những tiêu chuẩn hay biện pháp mới mà chỉ tái khẳng định lại những cam kết quốc tế tương ứng trước đó. Thông qua EVFTA, EU và Việt Nam cùng thừa nhận những tiêu chuẩn và thỏa thuận quốc tế về lao động, bao gồm những tiêu chuẩn lao động đặt ra bởi ILO. Những tiêu chuẩn đó nằm trong Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998, và những văn kiện liên quan, cụ thể gồm: (1) tự do hiệp hội và công nhận của quyền thương lượng tập thể, (2) loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, (3) bãi bỏ lao động trẻ em, (4) không phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. Bên cạnh đó, EU và Việt Nam cam kết sẽ xem xét việc phê chuẩn các công ước khác của ILO phù hợp với hoàn cảnh hai bên.
2.2.2. Quy định đảm bảo thực thi Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Về các quy định đảm bảo thực thi, EU có phần “nhẹ tay” với Việt Nam khi không đặt ra bất kỳ quy định nào mang tính chất điều kiện, thay vào đó, tập trung vào các quy định thực thi mang tính chất khuyến khích và cơ chế giải quyết tranh chấp.
2.2.2.1. Quy định thực thi mang tính chất khuyến khích
Trong EVFTA, không có bất kỳ cam kết nào cho phép một bên được hưởng những ưu đãi khi tuân thủ các quy định trực tiếp về lao động cũng như bị trừng phạt thương mại khi vi phạm các quy định này. Thay vào đó, các quy định đảm bảo thực thi EVFTA đều là các quy định mang tính chất khuyến khích.
Về quy định không vi phạm, chương Thương mại và Phát triển bền vững trong EVFTA ghi nhận các nguyên tắc cụ thể để tránh “cuộc đua đến đáy” trong lĩnh vực lao động. Những nguyên tắc này ràng buộc mỗi bên không được vi phạm hoặc vô hiệu pháp luật lao động trong nước để thu hút thương mại và đầu tư. Đồng thời, mỗi bên có quyền xây dựng những quy định trong lĩnh vực lao động và thiết lập những mức độ bảo vệ vượt ra ngoài nhưng không thể thấp hơn tiêu chuẩn của ILO.
Mở rộng hơn nữa, hoạt động thương mại và đầu tư không những không được vi phạm mà còn được chú trọng đặc biệt để thúc đẩy phát triển bền vững gồm thương mại công bằng và các chương trình đảm bảo bền vững khác như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, được tham chiếu tới các nguyên tắc quốc tế và hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD) về hành vi kinh doanh có trách nhiệm.
Về hoạt động hợp tác, EU và Việt Nam cam kết hợp tác trong ít nhất 5 lĩnh vực liên quan tới lao động bao gồm: (1) thương mại và phát triển bền vững tại các diễn đàn quốc tế bao gồm cả ILO và Diễn đàn hợp tác Á Âu (Asia-Europe Meeting), (2) trao đổi thông tin và kinh nghiệm liên quan đến các phương pháp và các chỉ tiêu đánh giá tác động bền vững thương mại, (3) tác động thương mại của nội quy lao động, định mức, tiêu chuẩn, cũng như tác động về lao động của thương mại và các quy tắc đầu tư bao gồm sự phát triển của các chiến lược và chính sách phát triển bền vững, (4) chia sẻ kinh nghiệm về việc thúc đẩy việc phê chuẩn và thực hiện các Công ước cơ bản và các công ước khác trong khuôn khổ ILO trong bối cảnh thương mại, (5) các khía cạnh liên quan tới thương mại của chương trình Nghị sự Việc làm thỏa đáng của ILO, đặc biệt là về các sự liên quan giữa thương mại và việc làm đầy đủ và hiệu quả cho tất cả các đối tượng, bao gồm thanh niên, phụ nữ và người khuyết tật, điều chỉnh thị trường lao động, tiêu chuẩn lao động và tiêu chuẩn lao động quốc tế khác; thống kê lao động, phát triển nguồn nhân lực và học tập suốt đời, bảo trợ xã hội (kể cả đối với các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và khó khăn như lao động nhập cư, phụ nữ, người khuyết tật) và hòa nhập xã hội, đối thoại xã hội và bình đẳng giới. Bên cạnh đó, EVFTA cũng quy định cách thức tiến hành hoạt động hợp tác trên bao gồm hội thảo, chuyên đề, đào tạo và các cuộc đối thoại để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và thực hành tốt nhất; các nghiên cứu; hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực cho phù hợp.
Về hoạt động giám sát, hoạt động giám sát thiết lập trong EVFTA chủ yếu dựa trên vấn đề về đánh giá tác động bền vững. Quá trình đánh giá có thể diễn ra độc lập hoặc hai bên cũng nhau tham gia, dựa trên các chính sách, thông lệ, quy trình và thể chế tương ứng. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Với mục đích đảm bảo các cam kết được thực hiện và giám sát đầy đủ, các cấu trúc thể chế chuyên môn được thiết lập thông qua hai kênh: (1) cơ quan chính phủ, (2) tổ chức dân sự tham gia độc lập, bao gồm các đối tác xã hội (social partners) tại EU và Việt Nam tham gia độc lập và cùng nhau.
Cụ thể, Ủy ban chuyên về thương mại và phát triển bền vững bao gồm cơ quan đầu mối của EU và Việt Nam được thành lập và hoạt động ngay sau khi hiệp định này có hiệu lực. Đặc biệt, EVFTA cũng đặt ra cấu trúc chuyên ngành đón nhận sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội từ cả hai phía dưới hình thức lấy ý kiến của các nhóm tư vấn trong nước. Các nhóm tư vấn này phải bao gồm tổ chức đại diện độc lập để đảm bảo sự cân bằng giữa kinh tế và xã hội, trong đó nhấn mạnh tới tổ chức của người lao động cũng như các nhóm đại diện cho doanh nghiệp.
Ở cấp độ song phương, EVFTA thiết lập một diễn đàn chung có nhiệm vụ là nơi trao đổi thường xuyên (mỗi năm một lần) giữa các tổ chức xã hội của EU và Việt Nam (thông qua các nhóm tư vấn) về mọi khía cạnh của phát triển bền vững trong mối quan hệ thương mại song phương.
2.2.2.2. Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp về lao động trong EVFTA không áp dụng quy định tại Chương Giải quyết tranh chấp, trừ Phụ lục I về Thủ tục giải quyết tranh chấp trong trường hợp chưa xây dựng được thủ tục giải quyết tranh chấp riêng cho lĩnh vực lao động. Quá trình này được tiến hành thông qua việc tham vấn và gây áp lực chính trị mà không đưa ra bất kỳ biện pháp trừng phạt hoặc đình chỉ lợi ích thương mại cho đối phương. Cụ thể,
Tham vấn là bước đầu tiên để giải quyết các tranh chấp và bắt đầu ngay sau khi một bên gửi yêu cầu tham vấn. Trong quá trình này, các bên có thể xem xét các văn kiện có liên quan như các Công ước của ILO hoặc các thỏa thuận chung giữa hai bên, đồng thời xem xét ý kiến từ những đối tượng thích hợp, thậm chí có thể yêu cầu Ủy ban chuyên về thương mại và phát triển bền vững họp và xem xét vấn đề gây ra tranh chấp.
Trong trường hợp tham vấn thất bại, các bên có thể yêu cầu Hội đồng chuyên gia tiếp tục giải quyết độc lập. Hội đồng chuyên gia thường bao gồm 3 người được chọn trong danh sách có sẵn bao gồm ít nhất 15 thành viên. Để giải quyết tranh chấp, Hội đồng có thể tham khảo ý kiến của các tổ chức liên quan, chẳng hạn như ILO và ý kiến của các bên để lập báo cáo về kết luận và kiến nghị cho các bên. Sau đó, các bên sẽ thảo luận các hành động hoặc biện pháp thích hợp để thực thi kiến nghị trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo cuối cùng của Hội đồng chuyên gia.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các bên được đề cao, thông qua việc công bố kết quả tham vấn chính phủ, cơ chế tham gia tổ chức dân sự, xã hội.
2.3 CÁC CAM KẾT TRONG KHUÔN KHỔ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC) Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn với đầu tư – kinh doanh từ bên ngoài. Chính vì vậy, các nước ASEAN đã ký kết nhiều hiệp định, thỏa thuận, tuyên bố bước đầu tạo nên khung pháp lý cho tự do hóa lao động trong khu vực.
Những quy định tự do hóa lao động của ASEAN được hiện diện dưới dạng các cam kết về phương thức 4 trong 4 phương thức cung cấp dịch vụ, đó là di chuyển thể nhân. Di chuyển thể nhân là sự di chuyển của cá nhân từ nước này qua nước khác để cung cấp một dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Tại ASEAN, phương thức cung cấp dịch vụ này ban đầu được đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định khung về Thương mại Dịch vụ ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services – AFAS), nhưng sau đó được tách riêng để đàm phán tại Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân (ASEAN Agreement on the Movement of Natural Persons – MNP) năm 2019. Ngoài ra, để tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động có tay nghề giữa các nước ASEAN, các nước đã ký kết các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (Mutual Recognition Arrangements – MRA) trong một số lĩnh vực ngành nghề, nhằm công nhận lẫn nhau về bằng cấp, trình độ của lao động có kỹ năng trong khu vực. Bên cạnh đó, Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC Blueprint) năm 2014 cụ thể hóa mục tiêu tự do di chuyển lao động có tay nghề trên cả 03 trụ cột chính gồm chính trị – an ninh, kinh vế và văn hóa – xã hội. Bên cạnh đó, các khía cạnh liên quan đến quyền của người lao động di trú cũng được ASEAN nhắc đến trong Tuyên bố lãnh đạo ASEAN năm 2014.
2.3.1. Quy định trực tiếp về lao động
AFAS và MNP là khung pháp lý tạo điều kiện cho lao động có tay nghề di chuyển trong khu vực ASEAN. Các cam kết tự do hóa lao động của 04 quốc gia ASEAN tiêu biểu về nhận lao động nước ngoài (Malaysia, Singapore) và gửi lao động ra nước ngoài (Indonesia, Việt Nam) trong hai hiệp định này không có sự khác biệt, trừ trường hợp của Malaysia về số lượng chuyên gia cho phép nhập cảnh. Điều này không khó đoán trước bởi vì từ khi thông qua Gói cam kết dịch vụ thứ 8 trong khuôn khổ AFAS đến khi ký kết MNP chỉ 02 năm nên các quốc gia khó có thể thay đổi đáng kể trong chính sách.
Dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN không vượt quá quy định nghĩa vụ chung của phương thức thứ tư theo Hiệp định GATS. Và phương thức này được các quốc gia ASEAN đưa vào trong Biểu cam kết về dịch vụ trong AFAS cũng nhân). Trong Mode 1, dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên này sang lãnh th ổ của một thành viên khác. Cả người cung cấp dịch vụ lẫn người tiêu dùng dịch vụ đều không di chuyển ra khỏi lãnh thổ nước mình, chỉ có dịch vụ được di chuyển, cung cấp và tiêu thụ “qua biên giới”. Trong Mode 2, người tiêu dùng của một nước di chuyển sang lãnh thổ của một nước khác để tiêu dùng dịch vụ. Theo Mode 3, một quốc gia sẽ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ của một nước khác thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện… trên lãnh thổ nước mình để cung cấp dịch vụ. Mode 4 chỉ áp dụng với các nhà cung cấp dịch vụ là các thể nhân, theo đó một quốc gia cho phép các thể nhân cung cấp dịch vụ của một nước khác di chuyển sang lãnh thổ của nước mình để cung cấp dịch vụ.
Đánh giá chung, các cam kết chủ yếu liên quan đến hoạt động đầu tư, thương mại và chỉ tạo điều kiện tự do lao động cho nhóm lao động có tay nghề cao như quản lý, điều hành, chuyên gia. Nhóm khách kinh doanh được phép lưu trú nhưng trong thời hạn ngắn. Riêng Việt Nam có những cam kết sâu hơn các quốc gia khác đối với các nhóm có tay nghề thấp hơn như người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, người bán hàng dịch vụ, người chịu trách nhiệm thiết lập hiện diện thương mại. Tuy nhiên, những cam kết này chỉ nhằm thu hút đầu tư và kinh doanh, chưa mở rộng ra các nhóm ngành nghề khác.
Như đã trình bày, quy định lao động trong AFAS và MNP chỉ là những nguyên tắc chung và biểu cam kết của các nước chưa có quy định cụ thể về hài hòa các tiêu chuẩn, điều kiện và thủ tục cho phép lao động nước ngoài làm việc trong khu vực ASEAN. Do vậy, các quốc gia ASEAN đã ký kết các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau nhằm công nhận thẩm quyền, văn bằng, chứng chỉ của lao động có tay nghề trong khu vực. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Hiện tại, có 08 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau đã được ký kết thuộc về 8 lĩnh vực dịch vụ bao gồm: kiến trúc, tư vấn kỹ thuật, điều dưỡng, hành nghề y, nha sỹ, du lịch, kế toán kiểm toán và khảo sát nhằm mục đích tạo thuận lợi cho sự di chuyển của nhóm đối tượng có tay nghề trong khu vực. Tính tới tháng 04/2024, thỏa thuận về dịch vụ du lịch và khảo sát vẫn chưa có hiệu lực do chưa được toàn bộ thành viên ASEAN ký kết.
Điều kiện của nhóm nhân lực chất lượng cao (chuyên gia, thợ lành nghề) trước tiên là phải được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên. Để đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn, người lao động muốn tự do làm việc tại khu vực ASEAN cần phải có chứng chỉ nghề hoặc bằng cấp được công nhận trong phạm vi giữa các quốc gia là nơi làm việc. Ví dụ, trong dịch vụ du lịch, người lao động phải được đào tạo và có chứng nhận trình độ du lịch còn hiệu lực và đáp ứng Tiêu chuẩn trình độ chung ASEAN về du lịch (ASEAN Common Competency Standards for Tourism Professionals) và được cấp bởi một Hội đồng chứng nhận nghề du lịch tại nước mình. Thêm vào đó, họ cần thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.
Ngoài ra, các khía cạnh về tự do hóa lao động được nêu trong cả ba lĩnh vực trụ cột của ASEAN trong AEC Blueprint năm 2014. Cụ thể, về an ninh – chính trị, AEC đặt mục tiêu tăng cường tư pháp hình sự trong việc ứng phó với nạn buôn người, bảo vệ nạn nhân của nạn buôn người. Về kinh tế, AEC sẽ tạo thuận lợi cho việc di chuyển lao động có tay nghề, công nhận văn bằng, thực hiện thúc đẩy các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, nâng cao năng lực trong các ngành dịch vụ ưu tiên… Về văn hóa – xã hội, AEC quan tâm phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy việc làm bền vững, bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di cư. Tuy nhiên, AEC Blueprint không có giá trị ràng buộc pháp lý.
Bên cạnh đó, những quy định liên quan tới quyền cơ bản của người lao động ít được nhắc lại trong AEC bởi vì vấn đề này đã được thỏa luận rộng rãi trong khuôn khổ Cộng đồng Văn hoá – Xã hội ASEAN (ASEAN Socio – Cultural Community) song hành cùng AEC để tạo nên hai trong ba trụ cột đẩy mạnh nỗ lực thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng chung ASEAN. Một trong nhiều chiến lược của trụ cột này là sử dụng các tiêu chuẩn lao động thế giới, đặc biệt là các Công ước của ILO ràng buộc các thành viên ILO đảm bảo quyền lợi và điều kiện làm việc tối thiểu cho người lao động. Tuy nhiên, với những công ước của ILO được dẫn chiếu nhưng chưa được phê chuẩn tại quốc gia thành viên thì nước đó không bị ràng buộc thực hiện những quy định lao động liên quan.
Về vấn đề lao động di trú, các thành viên ASEAN đã thông qua Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú vào tháng 01/2014, trong đó thừa nhận trách nhiệm của các nước nhận và nước gốc cũng như của Hiệp hội ASEAN trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú bao gồm: (i) bảo vệ người lao động không bị lạm dụng, phân biệt đối xử hay bạo hành,
(ii) quản lý lao động di cư, (iii) chống lại nạn buôn bán người. Tuyên bố cũng kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác trong những vấn đề liên quan đến bảo vệ và thúc đẩy quyền của người lao động di cư bao gồm cả các thành viên trong gia đình của họ. Tuy nhiên, như các văn bản trước, Tuyên bố này cũng không phải là một văn kiện có tính ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý.
2.3.2. Quy định đảm bảo thực thi Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Trong khuôn khổ AEC, các thành viên không trực tiếp đặt ra quy định thực thi có điều kiện về lao động. Tuy nhiên, 08 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau đều sử dụng và dẫn chiếu đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại ASEAN. Vì vậy, trong trường hợp không thực thi phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp, bên thua kiện phải chịu đình chỉ ưu đãi, đình chỉ thực hiện nghĩa vụ hoặc trả đũa chéo được thực hiện bởi bên thắng kiện dưới sự cho phép của Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế. Có thể thấy, những biện pháp trừng phạt thương mại này tương tự với biện pháp trong khuôn khổ của WTO. Bên cạnh đó, việc vi phạm các Công ước của ILO đã phê chuẩn trong khuôn khổ Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN chỉ dừng lại tại việc khiển trách ở mức độ quốc tế thông qua các biện pháp đạo đức (moral sanction).
Nhìn chung, để thực thi các cam kết liên quan tới các nhóm lao động trên, các quốc gia ASEAN cần đảm bảo những quy định pháp luật nội địa phù hợp với những điều ước quốc tế được dẫn chiếu, ví dụ như liên quan tới lao động di trú, đặt ra vấn đề hài hóa hóa pháp luật lao động của các nước trong khu vực với Tuyên bố năm 1998 của ILO cũng như với mục đích tạo thuận lợi liên quan đến nhiều nội dung như thủ tục visa, chứng nhận nghề nghiệp, tuyển dụng và đảm bảo quyền lợi lao động của các đối tượng này khi làm việc tại các nước thành viên. Bên cạnh đó, lĩnh vực khảo sát vẫn chưa có cam kết thực thi cụ thể, nhưng đối với 7 lĩnh vực còn lại, những cam kết thực thi mang tính chất khuyến khích được quy định chi tiết như sau:
Đối với dịch vụ tư vấn kỹ thuật, kiến trúc, kế toán, từng thành viên ASEAN đã thành lập Ủy ban Điều phối (đối với dịch vụ tư vấn kỹ thuật, kế toán), Ủy ban Giám sát (đối với dịch vụ kiến trúc) tại nước mình để điều phối việc thực hiện các thỏa thuận, đặc biệt thực hiện hoạt động đánh giá và đăng ký cấp phép cho lao động có tay nghề. Việc cấp phép trong các lĩnh vực đều dựa vào một quy trình chung:
- Bước 1: Lao động đủ điều kiện về trình độ và kinh nghiệm theo quy định nộp hồ sơ lên Ủy ban có thẩm quyền tại nước mình;
- Bước 2: Ủy ban xem xét đơn và lập bản đánh giá sau đó gửi đến Hội đồng tương ứng tại ASEAN để quyết định việc cấp phép;
- Bước 3: Đăng ký với Cơ quan quản lý ngành nghề của nước khác;
- Bước 4: Hành nghề tại nước ngoài nhưng phải phối hợp với người lao động chuyên nghiệp trong ngành nghề tương ứng tại nước đó.
Đối với dịch vụ điều dưỡng, hành nghề y, nha khoa, thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau không hướng đến việc thiết lập một cơ chế đăng ký hành nghề chung ASEAN mà chủ yếu tập trung vào trao đổi thông tin và tăng cường hợp tác về công nhận lẫn nhau, thúc đẩy áp dụng các thực tiễn tốt nhất về các tiêu chuẩn và trình độ, cung cấp cơ hội xây dựng năng lực và đào tạo.
Đối với dịch vụ du lịch, người lao động phải có chứng nhận trình độ du lịch đáp ứng được tiêu chuẩn trình độ chung ASEAN về du lịch. Chứng chỉ này được cấp bởi Hội đồng chứng nhận nghề du lịch trong nước và người lao động phải tuân thủ các quy định pháp luật và quy định hiện hành tại nước sở tại. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Nhìn chung, những cam kết về di chuyển trong AEC có phạm vi áp dụng còn hẹp, chỉ áp dụng cho nhóm lao động có tay nghề mà chưa điều chỉnh tới nhóm lao động phổ thông, và chỉ tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến thương mại đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều văn bản không có giá trị pháp lý ràng buộc và chỉ mang tính chất khuyến nghị và chưa có cơ chế cưỡng chế thi hành trong trường hợp vi phạm. Ngoài ra, cơ chế công nhận và cho phép lao động làm việc tự do còn nhiều bước và phức tạp, chưa khuyến khích được lao động tham gia vào thị trường ASEAN.
2.4 NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÁC YÊU CẦU LIÊN QUAN ĐẾN LAO ĐỘNG ĐƯỢC ĐẶT RA TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH
Trước hết, tác giả hệ thống lại các yêu cầu liên quan đến lao động được đặt ra trong TPP, EVFTA cũng như các hiệp định liên quan trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN như sau (xem bảng 2.1):
Bảng 2.1: So sánh các quy định về lao động trong TPP, EVFTA và các hiệp định trong khuôn khổ AEC
| STT | Tiêu chí | TPP | EVFTA | AEC |
| 1. | Phạm vi cam kết | Không giới hạn | Không giới hạn | Hẹp |
| 2. | Ngành nghề cam kết | Không giới hạn | Không giới hạn | 8 lĩnh vực |
| 3. | Quy định trực tiếp dẫn chiếu tới Tuyên bố 1998 của ILO | Dẫn chiếu trực tiếp | Dẫn chiếu trực tiếp | Dẫn chiếu gián tiếp |
| 4. | Quy định trực tiếp liên quan tới việc làm thỏa đáng | Có | Không rõ ràng, mang tính chất hứa hẹn | Không |
| 5. | Quy định mang tính chất điều kiện | Có | Không | Có |
| 6. | Quy định mang tính chất khuyến khích | Cam kết không vi phạm; hợp tác, có thể đo lường được kết quả; giám sát độc lập, đảm bảo tính bổ sung và tăng cường minh bạch; thành lập Hội đồng lao động | Cam kết không vi phạm; hợp tác; giám sát; thành lập Ủy ban chuyên về thương mại và phát triển bền vững | Khuyến khích sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật nội địa; hợp tác, trao đổi thông tin; một số lĩnh vực có Ủy ban điều phối riêng |
| 7. | Cơ chế giải quyết tranh chấp | Thông qua đối thoại, tham vấn, có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp chung, cơ chế giải quyết song phương với Hoa Kỳ | Thông qua tham vấn và gây áp lực chính trị, không sử dụng cơ chế chung | Là cơ chế giải quyết tranh chấp về thương mại trong khuôn khổ ASEAN |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Như vậy, so sánh với TPP hay EVFTA, các cam kết lao động trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN là những cam kết hẹp nhất, áp dụng trong 08 lĩnh vực đồng thời cũng chỉ mở rộng so với WTO thêm một phần nhỏ trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán cùng với những quy định thực thi đơn giản, ít ràng buộc mặc dù có số lượng các hiệp định điều chỉnh khá lớn. Các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau mới chỉ quy định cho 08 lĩnh vực dịch vụ trong tổng số 12 phân ngành lớn và 155 phân ngành dịch vụ khác nhau theo phân loại dịch vụ của WTO. Số lượng này thật sự hạn chế so với tiềm năng lao động của ASEAN. Hơn nữa, những Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau chỉ điều chỉnh đối tượng lao động có tay nghề, chiếm 1,5% lực lượng lao động khu vực trong khi đó có 87% lao động di chuyển nội khối ASEAN là lao động không có tay nghề, vì vậy, sẽ rất ít lao động trong ASEAN tận dụng được lợi ích từ các thỏa thuận này. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Ngoài ra, chỉ có 03 trong 08 lĩnh vực dịch vụ (kiến trúc, tư vấn kỹ thuật, kế toàn và kiểm toán) có bước đầu xây dựng được cơ chế thực thi, nhưng cũng chưa tạo được cơ chế tự động công nhận cho lao động trong khu vực. Người lao động vẫn phải đăng ký theo quy trình nhiều bước từ trong nước đến cơ chế ASEAN, đồng thời, phải tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật nước sở tại. Còn trong 05 lĩnh vực còn lại, các thỏa thuận (nếu có) cũng chỉ dừng lại ở mức độ thỏa thuận khung hoặc dẫn chiếu đến pháp luật của nước sở tại hoặc pháp luật nước cử lao động.
Thêm vào đó, hầu hết các hiệp định liên quan tới lao động trong AEC đều không có giá trị ràng buộc pháp lý cho nên sẽ không có cơ chế mang tính cưỡng chế nào có thể áp dụng khi các nước thành viên không tuân thủ các cam kết đã ký kết. Vì vậy, mục tiêu tự do hóa lao động khu vực vẫn khó có thể đạt được. Có thể thấy rằng các quốc gia ASEAN còn nhiều dè dặt trong việc mở cửa thị trường lao động đối với các đối tác nội khối.
Trong khi đó, TPP và EVFTA nhìn nhận lĩnh vực lao động dưới cách tiếp cận là tăng cường, thúc đẩy quyền của người lao động. Tuy nhiên các cam kết ở TPP có phần “sâu hơn” khi đã đề cập trực tiếp về “điều kiện lao động chấp nhận được” bao gồm: mức lương tối thiểu, giờ làm việc, các vấn đề về an toàn và sức khỏe của người lao động. Nhưng nhìn nhận một cách tổng quát, về các quy định trực tiếp, hai hiệp định có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt trong những quy định về cơ chế thực thi mang tính chất điều kiện và cùng dẫn chiếu tới cam kết trong các Công ước cơ bản của ILO. Dưới đây là một số tóm tắt nội dung về nội dung của những Công ước này: Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Về tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể, người lao động có quyền tự do hình thành và tham gia tổ chức hỗ trợ và nâng cao quyền lợi nghề nghiệp của họ. Tự do hiệp hội là việc người lao động có thể thành lập, tham gia, hoạt động trong tổ chức của riêng mình mà không có sự can thiệp của nhà nước. Tự do hiệp hội bao gồm quyền tự thực hiện hoạt động của chính họ, nói cách khác, họ có thể độc lập quyết định cách tốt nhất để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi của mình gồm đình công và liên kết độc lập với các tổ chức quốc tế. Thương lượng tập thể là quá trình mà thông qua đó người sử dụng lao động và công đoàn hoặc đại diện của người lao động thảo luận và đàm phán các điều khoản, điều kiện của công việc trong mối quan hệ hai chiều.
Về việc loại bỏ các hình thức lao động cưỡng bức và bắt buộc, lao động cưỡng bức là đối tượng thực hiện công việc do bị nhà nước hoặc đối tượng khác đe dọa kèm theo việc lấy đi quyền lợi của họ như việc giữ tiền lương, bạo lực thân thể (physical violence) hoặc lạm dụng tình dục (sexual abuse) và hạn chế đi lại. Hiện tượng buôn bán người và người lao động lệ thuộc vì nợ là những thực tiễn phổ biến đằng sau lao động cưỡng bức, họ bị lệ thuộc vào người trung gian và làm việc trong điều kiện như nô lệ.
Về việc loại bỏ hình thức lao động trẻ em, với mục đích bảo vệ trẻ em trước những hoạt động bóc lột kinh tế, từ đó trẻ em có cơ hội phát triển về cả thể chất lẫn tinh thần, các công việc gây hại tới giáo dục và sự phát triển của trẻ được yêu cầu loại bỏ. Để đạt được tính hiệu quả, độ tuổi thấp nhất mà trẻ em có thể thực hiện công việc lao động được ban hành, điển hình là không thấp hơn tuổi của hoàn thành giáo dục bắt buộc hoặc dưới 15 tuổi. Những công việc trong danh sách “các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” hoàn toàn bị cấm cho trẻ em dưới 18 tuổi làm việc, bao gồm nô lệ, buôn bán người, lệ thuộc vào nợ, mại dâm và quân nhân.
Về việc loại bỏ phân biệt đối xử trong lao động và nghề nghiệp, phân biệt đối xử trong công việc sẽ làm mất đi những cơ hội và tước bỏ khỏi xã hội những gì người lao động có thể hoặc đã có thể tạo dựng nên. Nó có thể xảy ra trên cơ sở giới tính, độ tuổi, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, tôn giáo, quan điểm chính trị, khuyết tật, thậm chí do tình trạng HIV. Công bằng tại nơi làm việc có nghĩa rằng các cá nhân có đủ điều kiện nắm bắt cơ hội để phát triển toàn diện về kiến thức, kỹ năng và năng lực liên quan tới hoạt động kinh tế họ mong muốn theo đuổi. Loại bỏ phân biệt đối xử đòi hỏi tháo dỡ các hàng rào và đảm bảo tiếp cận công bằng trong hoạt động đào tạo, giáo dục và sử dụng và sở hữu tài nguyên. Điều này liên quan đến các yếu tố thiết lập và hoạt động của doanh nghiệp cũng như các chính sách liên quan tới việc tuyển dụng, điều kiện làm việc, trả lương, khuyến khích và chấm dứt công việc. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
Tất cả các đối tác của Việt Nam trong TPP, EVFTA hay thậm chí cả khu vực ASEAN đều đã trở thành thành viên của ILO, vì vậy, những nội dung về các công ước cơ bản đã không còn quá mới mẻ. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là vấn đề về tính tuân thủ chỉ mang tính hướng dẫn và tự nguyện trong ILO, trong khi đó cả TPP và EVFTA ngoài việc đề ra một số tiêu chuẩn mới cao hơn, đã đặt ra những quy định đảm bảo thực thi chặt chẽ, quy định hàng loạt những biện pháp hỗ trợ thực thi, cũng như cho ra nhưng cơ chế mang tính cưỡng chế áp dụng khi các nước thành viên không tuân thủ.
Cuối cùng, so sánh TPP, EVFTA và cam kết trong khuôn khổ AEC cho thấy rằng, cam kết TPP có phần “khắc nghiệt hơn” khi đặt thêm cơ chế trừng phạt nếu bên vi phạm không thực hiện phán quyết của cơ chế giải quyết tranh chấp trong khi EVFTA hướng tới việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường chính trị và giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ AEC có các quy định về thẩm quyền, thủ tục, trình tự khá cụ thể, rõ ràng nhưng kể từ khi ra đời (năm 1996) cho đến nay, cơ chế này chưa từng được sử dụng bởi bất cứ quốc gia ASEAN, nếu có cũng chỉ dừng lại ở giai đoạn tham vấn. Nhìn chung, các biện pháp thực thi cam kết lao động không đặt ra nhiều cam kết mang tính chất điều kiện, thay vào đó, tập trung vào các biện pháp khuyến khích thực thi bằng việc hợp tác giữa các nhà nước, đặc biệt giữa các nhà nước với các chủ thể phi nhà nước trong nước (trong EVFTA và TPP), giám sát lẫn nhau thông qua các điểm liên lạc hoặc cơ quan điều phối chung trên cơ sở tự nguyện thực hiện. Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực thi các quy định về lao động trong hiệp định

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại