Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Các quy định về lao động trong một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng. Trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải là người được hưởng lợi, được chia sẻ thành quả của quá trình này. Nói cách khác, họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản. Đây là cách tiếp cận của các Hiệp định thương mại thế hệ mới và đang trở thành một xu thế trong những năm gần đây trên thế giới. Vào thời điểm thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) năm 1995, nhóm ủng hộ đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động vào trong khuôn khổ WTO, đồng thời sử dụng chế tài thương mại đối với những quốc gia vi phạm các tiêu chuẩn lao động đó dẫn đầu bởi Hoa Kỳ đã thất bại trong việc đàm phán các Thành viên WTO còn lại, vì vậy, đề xuất này đã bị bãi bỏ trong Hội nghị Bộ trưởng WTO năm 1996 tại Singapore. Tuy vậy, các nước phát triển đã nỗ lực để đưa các tiêu chuẩn lao động vào trong các thỏa thuận thương mại song phương và khu vực. Nội dung các cam kết về lao động, cơ chế thực thi và giải quyết tranh chấp cũng không ngừng được thúc đẩy và quy định ngày càng cụ thể trong các thỏa thuận với mức độ ngày càng chặt chẽ. Theo thống kê, từ năm 1993 đến nay, số lượng các Hiệp định thương mại tự do có chứa điều khoản về lao động không ngừng tăng lên từ 4 Hiệp định năm 1995 lên 72 Hiệp định vào năm 2022.
Đối với Việt Nam, trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã ký kết và tham gia đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA). Trong đó, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership Agreements – TPP), và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (European Union Vietnam Free Trade Agreement – EVFTA) là hai hiệp định đầu tiên Việt Nam tham gia có những quy định chặt chẽ nhất về lao động. Cùng khoảng thời gian đó, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community – AEC, trong đó ASEAN là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – Association of Southeast Asian Nations) đã chính thức thành lập ngày 31/12/2022. Tuy không quy định cụ thể về lao động nhưng AEC cũng có những thỏa thuận liên quan đến thị trường lao động của các nước thành viên nói chung và của Việt Nam nói riêng. Vậy nội dung những quy định về lao động các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là gì? Thực trạng quy định trong pháp luật lao động nội địa như thế nào? Việt Nam cần hoàn thiện những gì để đảm bảo thực thi tốt các cam kết đó? Để có thể trả lời cho những câu hỏi nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Các quy định về lao động trong một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
- Làm rõ cơ sở lý thuyết của các quy định về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới;
- Phân tích các quy định về lao động trong một số Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên, từ đó đưa ra đánh giá chung về các yêu cầu đặt ra cho Việt Nam trong các hiệp định;
- Phân tích thực trạng các quy định về lao động hiện nay của Việt Nam trên hai phương diện: khung pháp lý và hoạt động thực thi; từ đó đánh giá các thuận lợi cũng như khó khăn đối với Việt Nam trong thời điểm hiện tại và đề xuất một số giải pháp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định về lao động trong một số Hiệp định thương mại tư do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: các phân tích tập trung vào các quy định về lao động trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu và Việt Nam, một số Hiệp định trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Về mặt thời gian: các phân tích của đề tài liên quan đến thực trạng các quy định về lao động trong pháp luật hiện nay được giới hạn từ năm 2020, khi Hiến pháp năm 2020, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Công đoàn năm 2019 chính thức có hiệu lực. Những đề xuất của đề tài về hoàn thiện hệ thống pháp luật sẽ được áp dụng đến năm 2020, sau đó có thể có những sửa đổi, bổ sung để phù hợp hơn với bối cảnh và thực tiễn của Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử – phương pháp luận của khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật quốc tế nói riêng. Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu và các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác… để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.
5. Bố cục Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được chia thành ba chương sau:
- Chương 1: Quy định về lao động trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới;
- Chương 2: Quy định về lao động trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên;
- Chương 3: Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi các quy định về lao động trong một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam.
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
1.1.1. Định nghĩa
Xuất phát từ ngoại lệ của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade – GATT) (Điều XXIV.8), Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (General Agreement on Trade in Services – GATS) (Điều V) và Điều khoản cho phép năm 1979 (Enabling Clause 1979), các Thành viên WTO được phép hình thành các khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area) hoặc các liên minh thuế quan (Customs Union). Theo ngoại lệ này, các bên phải loại bỏ thuế quan và các quy định hạn chế thương mại khác đối với một phần đáng kể tất cả thương mại giữa các lãnh thổ hải quan thành viên mà không cần phải đa phương hóa những cam kết đó đối với tất cả các Thành viên WTO khác. Đây chính là cơ sở pháp lý hình thành nên các hiệp định thương mại tự do, từ đó giúp tạo lập các khu vực mậu dịch tự do hoặc các liên minh thuế quan giữa hai hoặc nhiều nền kinh tế khác nhau sau một khoảng thời gian nhất định.
Trong suốt quá trình phát triển, hiệp định thương mại tự do được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo WTO, hiệp định thương mại tự do là một dạng của hiệp định thương mại khu vực (Regional Trade Agreements – RTA), là những thỏa thuận thương mại có đi có lại giữa hai hoặc nhiều bên. Về bản chất, hiệp định thương mại tự do là một hiệp định có đi có lại trong đó các hàng rào thương mại giữa các quốc gia tham gia hiệp định được xóa bỏ. Song mỗi thành viên của hiệp định có quyền duy trì các hàng rào thương mại riêng đối với các nước không phải thành viên hiệp định.
Tuy nhiên từ thập kỷ 1990 đến nay, khái niệm FTA đã mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về mức độ cam kết tự do hóa. Đây chính là lý do các học giả thường gọi các hiệp định thương mại tự do ngày nay là FTA thế hệ mới. Các FTA thế hệ mới không chỉ dừng lại ở phạm vi cam kết giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan, mà hơn thế còn bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn các cam kết trong khuôn khổ GATT/WTO cũng như một loạt vấn đề thương mại mới mà WTO chưa có quy định. Điều này cũng có nghĩa khái niệm FTA được sử dụng rộng rãi ngày nay không còn được hiểu trong phạm vi hẹp của những thỏa thuận hội nhập khu vực và song phương có cấp độ liên kết kinh tế “nông” của giai đoạn trước thập kỷ 1980, mà đã được dùng để chỉ các thỏa thuận hội nhập kinh tế “sâu” giữa hai hay một nhóm nước với nhau. Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Bên cạnh đó, các học giả ủng hộ tự do hóa thương mại đa phương như Jagdish Bhagwati (1993) hay Bhagwati và Panagariya (1996) lại cho rằng tất cả các hiệp định tự do hóa thương mại khu vực cần được gọi đúng với bản chất “phân biệt đối xử”, do đó phải dùng khái niệm “hiệp định thương mại ưu đãi” (Preferential Trade Agreement – PTA) để chỉ các RTA mới thật sự chính xác. Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) thì đưa ra định nghĩa: “PTA là thuật ngữ khái quát mô tả một quá trình hội nhập thương mại mà trong đó các nước tham gia sẽ trao cho nhau những nhượng bộ thương mại có đi có lại toàn bộ hoặc từng phần. Thuật ngữ “ưu đãi” dùng để chỉ các thành viên của các hiệp định này được quyền – theo quy định của Điều XXIV, GATT hay Điều V, GATS – trao cho nhau những ưu đãi mà không phải mở rộng các ưu đãi đó tới các Thành viên WTO khác (theo nguyên tắc Tối huệ quốc). Nhìn lại lịch sử, các PTA thường được ký kết giữa các nước cận kề hoặc cùng vùng địa lý nên PTA cũng chính là RTA”.
Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy có nhiều tên gọi khác nhau cho hiệp định thương mại tự do như: Nhật Bản – Hiệp định Đối tác Kinh tế (Economic Partnership Agreement), Trung Quốc – Khu vực Mậu dịch Tự do (Free Trade Area) và Hiệp định Đối tác Kinh tế chặt chẽ hơn (Closer Economic Partnership Agreement), Ấn Độ – Hiệp định Hợp tác Kinh tế Toàn diện (Comprehensive Economic Cooperation Agreement), Hàn Quốc và ASEAN – Hiệp định Thương mại Tự do (Free Trade Agreement) và Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện (Framework Agreement on Comprehensive Economic Cooperation). Tựu trung lại, bản chất của các hiệp định này đều là hiệp định thương mại tự do với mục đích là hình thành một Khu vực Thương mại Tự do giữa các bên ký kết trong tương lai. Chính vì sự tương đồng về bản chất của quá trình liên kết kinh tế bất chấp những khái niệm và tên gọi khác nhau mà khái niệm hiệp định thương mại tự do sẽ được sử dụng xuyên suốt trong đề tài này.
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm hiệp định thương mại tự do là hiệp định hợp tác kinh tế được ký kết giữa ít nhất hai nước, nhằm cắt giảm hàng rào thương mại, cụ thể là thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và các hàng rào phi thuế quan khác, đồng thời thúc đẩy thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa các nước này với nhau. Đối với thuật ngữ “thế hệ mới”, đây là thuật ngữ hoàn toàn mang tính chất tương đối, được sử dụng để nói về các hiệp định thương mại có phạm vi toàn diện, vượt ra khỏi khuôn khổ tự do thương mại hàng hóa.
Vì vậy, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (New-Generation Free Trade Agreement) là hiệp định thương mại tự do có phạm vi cam kết rộng hơn, toàn diện hơn phạm vi cam kết trong khuôn khổ của WTO, theo đó, ngoài việc tiếp tục cam kết sâu hơn về việc loại bỏ rào cản thương mại còn điều chỉnh sang các lĩnh vực khác liên quan tới thương mại, thậm chí phi thương mại.
1.1.2. Đặc điểm Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Về quá trình phát triển, thực tiễn hội nhập và toàn cầu hóa hoạt động thương mại trên thế giới đã chứng kiến bốn thế hệ hiệp định thương mại tự do. Trong đó, vấn đề về thương mại hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ hàng rào phi thuế quan) tập trung trong hai thế hệ hiệp định thương mại tự do đầu tiên. Đây vẫn là nội dung mang tính cốt lõi của các thỏa thuận thương mại tự do hiện nay. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là các hiệp định thương mại tự do thế hệ thứ ba mở rộng phạm vi tự do về dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và các hiệp định thương mại tự do thế hệ thứ tư, trong đó những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường, phát triển bền vững, quyền con người, cạnh tranh… cũng được đưa vào đàm phán.
Có thể thấy, sự xuất hiện của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là hiệp định thương mại tự do thế hệ thứ tư là một điều tất yếu bởi vì các nguyên nhân như sau. Thứ nhất, phát triển bền vững bao gồm các vấn đề phi thương mại là một trong những mục tiêu hiện nay của WTO, chứng tỏ rằng các Thành viên WTO đều có sự quan tâm nhất định tới vấn đề này. Thứ hai, thực tế cho thấy các Thành viên WTO trong thời gian tới chưa thể cùng nhau ngồi lại đàm phán về bất kỳ thỏa thuận đa phương nào mới do sự thất bại liên tục của các Gói đàm phán thuộc Vòng Doha từ năm 2001 đến nay. Thứ ba, những vấn đề phi thương mại đều chưa được quy định chi tiết trong khuôn khổ các hiệp định của WTO trong khi đó lại có các tranh chấp thương mại liên quan tới những vấn đề này, ví dụ trong DS246 (Cộng đồng châu Âu – Thuế quan ưu đãi (EC – Tariff Preferences)), DS2 (Hoa Kỳ – Xăng (US – Gasoline)), DS4 (Hoa Kỳ – Xăng (US – Gasoline)), DS58 (Hoa Kỳ – Tôm (US – Shrimp)), DS61 (Hoa Kỳ – Tôm (US – Shrimp)), DS135 (Cộng đồng châu Âu – A-miăng (EC – Asbestos))… Vì vậy, không đợi các vòng đàm phán nằm trong khuôn khổ WTO về các vấn đề WTO đặt ra, các quốc gia đã xúc tiến đàm phán các FTA song phương hoặc khu vực về những vấn đề này để thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tự do hóa thương mại.
Về chủ thể, cơ sở pháp lý của các hiệp định thương mại tự do nói chung, cũng như các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói riêng xuất phát từ ngoại lệ của GATT (Điều XXIV) và GATS (Điều V), vì vậy chủ thể ký kết bất kỳ các hiệp định nào cũng đều là các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc tổ chức quốc tế liên chính phủ.
Về nội dung, các cam kết trong hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có nội dung vượt ra khỏi phạm vi về giảm thiểu hàng rào thuế quan trong hoạt động thương mại giữa hai hay nhiều quốc gia. Những cam kết bổ sung này được biết đến dưới dạng những điều khoản WTO+ (WTO plus) hoặc WTO-X (WTO-extra). Tổng quan, những điều khoản WTO+ đưa ra các cam kết mạnh mẽ hơn so với các cam kết tương ứng trong WTO trong khi những điều khoản WTO-X liên quan tới các cam kết nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của các hiệp định trong khuôn khổ WTO. Cụ thể, WTO+ thường điều chỉnh thuế liên quan tới các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp, sau này điều chỉnh thêm về những tiêu chuẩn hàng rào thương mại, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại. WTO-X thường quy định những nội dung về chính sách cạnh tranh, đầu tư và di chuyển nguồn vốn cũng như pháp luật môi trường, thị trường lao động và những quy định, biện pháp liên quan tới visa và tị nạn chính trị (chi tiết các lĩnh vực xem tại Phụ lục 1).
1.1.3. Một số nội dung cơ bản
Thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, hàng rào kỹ thuật trong thương mại và đầu tư vẫn là những nội dung phổ biến trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian gần đây, những quy định về lao động và môi trường và một số lĩnh vực khác ngày càng được chú ý đến.
1.1.3.1. Thương mại hàng hóa Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Là một dạng của hiệp định thương mại tự do nên nội dung về thương mại hàng hóa vẫn là một trong những nội dung quan trọng, nền tảng của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với mục đích giúp các bên tham gia hiện thực hóa mục tiêu mở rộng thị trường, tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu. Các nội dung chính về thương mại hàng hóa thường được thỏa thuận bao gồm:
- Thuế quan
Mức độ cắt giảm thuế quan theo hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thường sâu hơn, tức mức thuế suất lúc này được đưa về 0%, đồng thời cắt giảm nhanh hơn cam kết trong khuôn khổ của WTO. Căn cứ vào Điều XXIV.8 của GATT 1994, các bên tham gia hiệp định thương mại tự do nói chung phải cam kết xóa bỏ thuế quan đối với phần lớn thương mại giữa các bên (substantial all the trade). Hiện nay, các Thành viên WTO đều chưa đạt được một thỏa thuận chung giải thích thuật ngữ “phần lớn thương mại”. Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường (không chính thức) thì hiệp định thương mại tự do cần quy định xóa bỏ thuế quan đối với ít nhất 90% giá trị thương mại và số dòng thuế trong vòng 10 năm. Các dòng thuế không cam kết hoặc có cam kết nhưng không đưa về 0% thường là các sản phẩm nhạy cảm hoặc đặc biệt nhạy cảm đối với các bên như dược phẩm, xăng dầu, thuốc lá điếu. Các nước kém phát triển nhất hoặc đang phát triển có thể được hưởng linh hoạt về lộ trình hoặc diện cam kết. Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Cam kết cắt giảm thuế quan thường chia thành các nhóm: (i) đưa thuế suất về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực; (ii) đưa thuế suất về 0% theo lộ trình (cắt giảm tuyến tính); (iii) cắt giảm thuế quan nhanh trong năm đầu tiên, sau đó cắt giảm từng bước một trong những năm tiếp theo (frontload); (iv) không cắt giảm thuế quan trong thời gian đầu, việc cắt giảm được thực hiện vào các năm cuối lộ trình (backroad); và (v) không cam kết.
- Phi thuế quan
Bên cạnh thuế quan, các bên tham gia một hiệp định thương mại tự do cũng có thể đưa ra cam kết về hạn ngạch thuế quan, đặc biệt đối với các nông sản nhạy cảm. Thông thường, nhập khẩu trong hạn ngạch từ các đối tác trong cùng hiệp định sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi, nhập khẩu ngoài hạn ngạch sẽ phải chịu thuế suất ngoài hạn ngạch (trong nhiều trường hợp là thuế suất ngoài hạn ngạch theo cam kết WTO). Bên cạnh thuế nhập khẩu, trong một số hiệp định, các đối tác có thể thảo luận, cam kết cả thuế xuất khẩu, căn cứ vào mục tiêu chính sách của các bên.
1.1.3.2. Thương mại dịch vụ
Tương tự như thương mại hàng hóa, tại Điều V.1 Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services – GATS) đề ra điều kiện về cam kết dịch vụ trong các hiệp định thương mại tự do như sau: (i) hiệp định cần có phạm vi đáng kể, (ii) loại bỏ phần lớn các biện pháp phân biệt đối xử hiện có, (iii) không đưa ra các biện pháp phân biệt đối xử mới.
Trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, các cam kết về dịch vụ thường không chỉ gồm thương mại hàng hóa, mà còn gồm những nội dung khác như đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử và chính sách cạnh tranh.
Bên cạnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ cũng là nội dung quan trọng của các hiệp định thương mại tự do. Hầu hết các hiệp định này đều có chương riêng về thương mại dịch vụ. Nội dung thường tập trung vào (i) lời văn về thương mại dịch vụ, chủ yếu tuân thủ và tăng cường các nguyên tắc chính của WTO như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, minh bạch hóa, quy định trong nước, thanh toán và chuyển khoản, tự vệ, trợ cấp… và phụ lục về một số ngành dịch vụ cụ thể (tài chính, viễn thông, di chuyển của tự nhiên nhân…); và (ii) biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ.
Theo GATS, thương mại dịch vụ được chia thành bốn phương thức cung cấp là (i) cung cấp qua biên giới; (ii) tiêu dùng ngoài lãnh thổ; (iii) hiện diện thương mại; và (iv) hiện diện của thể nhân. Tuy nhiên, trong nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, thương mại dịch vụ chỉ bao gồm hai phương thức cung cấp qua biên giới và tiêu dùng ngoài lãnh thổ, phương thức hiện diện thương mại được đưa vào phần đầu tư, hiện diện của thể nhân được đưa vào một chương riêng về di chuyển thể nhân nhân.
Về cách tiếp cận đối với tự do hóa thương mại dịch vụ, thường có hai cách tiếp cận chính là (i) chọn cho, tức là chỉ tự do hóa những ngành/phân ngành dịch vụ được liệt kê trong biểu cam kết; (ii) chọn bỏ, tức là những ngành/phân ngành nào muốn bảo lưu sẽ được liệt kê trong biểu cam kết, những ngành còn lại sẽ được tự do hóa. Nhưng dù tiếp cận bằng cách nào đi chăng nữa, trong thời gian gần đây, một phần lớn các hiệp định bao gồm những điều khoản bổ sung về những phân ngành đặc thù, nằm trong các phụ lục đính kèm. Ví dụ như điều khoản thừa nhận những ngành dịch vụ đòi hỏi chuyên môn, dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ hàng hải… Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Tuy có những đổi mới về cấu trúc cũng như phương thức mở cửa thị trường, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có xu hướng giữ lại các nguyên tắc cơ bản liên quan tới thương mại dịch vụ theo GATS, bao gồm: đối xử quốc gia, tiếp cận thị trường, các nghĩa vụ trong nước, ngoại lệ, định nghĩa và phạm vi. Trong một số nội dung mang tính nguyên tắc được đàm phán trong GATS như biện pháp tự vệ, trợ cấp và mua sắm chính phủ, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thường không quy định sâu hơn GATS. Điều này cũng đúng với hầu hết các thỏa thuận liên quan đến pháp luật nội địa về tính minh bạch. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ như Hiệp định thương mại tự do giữa Thụy Sỹ và Nhật Bản quy định thêm về kiểm tra các quy định nội địa nếu cần thiết, hoặc các hiệp định có Hoa Kỳ tham gia thường bao gồm vấn đề minh bạch trong một số điều khoản về dịch vụ cụ thể.
1.1.3.3. Đầu tư
Các quy định về đầu tư trong hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được đàm phán nhằm mục đích thúc đẩy dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như chia sẻ sản xuất. Thông thường, mỗi hiệp định bao gồm những nội dung như sau:
Về phạm vi cam kết, phạm vi cam kết của chương đầu tư phụ thuộc vào định nghĩa về đầu tư và các nguyên tắc xác định trong hiệp định. Khái niệm đầu tư có thể được định nghĩa theo nghĩa rộng dựa trên tài sản (bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước ngoài và danh mục đầu tư) hoặc theo nghĩa hẹp dựa trên phương pháp tiếp cận của doanh nghiệp (bao gồm việc thành lập hoặc mua lại doanh nghiệp). Các nguyên tắc đầu tư có thể nằm trong cả hai chương đầu tư và dịch vụ trong hiệp định.
Về nguyên tắc không phân biệt đối xử, đây là cơ chế chính mở ra cơ hội đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài. Mức độ mở cửa phụ thuộc vào định nghĩa đầu tư trong hiệp định, tức trong phạm vi của tài sản nào áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử, dù trong toàn bộ thời gian đầu tư (trước và sau khi thành lập doanh nghiệp) hay trong một số các hạn chế nhất định. Dựa vào cách tiếp cận chọn bỏ hay chọn cho, có thể xác định được mức độ hạn chế trong chương đầu tư của hiệp định, nhìn chung, cách tiếp cận chọn bỏ sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư hơn.
Về tiêu chuẩn đối xử, đây là những tiêu chuẩn riêng để đối xử với các nhà đầu tư nước ngoài gồm: đối xử công bằng và thỏa đáng theo pháp luật quốc tế, tự do chuyển tài sản của nhà đầu tư ra nước ngoài.
Về bảo vệ nhà đầu tư, những quy định này sẽ giúp các nhà đầu tư được bảo vệ hoặc được bồi thường trong trường hợp nước nhận đầu tư quốc hữu hóa hoặc thu hồi tài sản của nhà đầu tư.
Về nhân viên cấp cao, hầu hết các hiệp định cho phép các nhân viên quan trọng hoặc quản lý của nhà đầu tư nước ngoài lưu trú tạm thời. Một số hiệp định cho phép thuê nhân viên quản lý cấp cao mà không cần xét tới yếu tố quốc tịch, trong khi những hiệp định khác yêu cầu nhà đầu tư không được quy định về quốc tịch của hội đồng quản trị.
Về giải quyết tranh chấp, quy định về giải quyết tranh chấp xuất hiện ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong các hiệp định, đặc biệt trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới dưới nhiều hình thức khác nhau như hợp tác và đàm phán, thậm chí cho phép nhà đầu tư có thể khởi kiện nhà nước thông qua trọng tài quốc tế.
1.1.3.4. Hàng rào kỹ thuật trong thương mại Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Trước tình trạng các rào cản thuế quan được gỡ bỏ hàng loạt, vị thế của rào cản phi thuế quan đã trở nên quan trọng hơn, vì vậy các hiệp định thương mại tự do thường thiết lập những quy định về nội dung này với số lượng ngày càng tăng. Hầu hết các quy định (chiếm 58% quy định trong 70 PTA chứa điều khoản về hàng rào kỹ thuật thương mại) đều thừa nhận lẫn nhau về đánh giá sự phù hợp, hài hòa các quy định kỹ thuật, các quy định về tính minh bạch và các quy định thiết lập các cơ chế tổ chức, chẳng hạn như ủy ban, cơ quan hoặc một mạng lưới giải quyết các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn.
1.1.3.5. Lao động và môi trường
Lao động và môi trường đã từng được thảo luận trong một số chương trình làm việc của WTO như Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore năm 1996, Hội nghị Bộ trưởng tại Seattle năm 1999 nhưng đã bị đưa ra khỏi Chương trình nghị sự thương mại toàn cầu do các nước đang phát triển cho rằng đây là những hàng rào bảo hộ mới.
Nhưng trên thực tế, đối với lĩnh vực lao động, trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm trong thương mại quốc tế, nên trước hết họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản. Quan điểm này đã trở thành cách tiếp cận của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và là xu thế đàm phán trong những năm gần đây trên thế giới. Với vấn đề môi trường, hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi cả các nước phát triển và các nước đang phát triển phải cùng nhau nỗ lực thực hiện những “chuẩn mực thương mại mới” trong các hiệp định thương mại.
1.1.4. Vai trò Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
1.1.4.1. Xóa bỏ chính sách thương mại “bần cùng hóa các nước láng giềng”
Hiện tượng “bần cùng hóa các nước láng giềng” được các nhà kinh tế học thừa nhận như một trong những hệ quả của chính sách thương mại. Lý thuyết này dựa trên quan điểm rằng các biện pháp thương mại mang tính bảo hộ tuy mang lại sự thu hút cho quốc gia đó, nhưng lại phá hoại nền thương mại đa phương.
Khi không hợp tác, mỗi quốc gia tự đặt ra chính sách thương mại nhằm cải thiện các cam kết thương mại (nghĩa là giảm chi phí nhập khẩu so với xuất khẩu) và tăng thu nhập quốc dân. Tuy nhiên, kết quả không được khả quan khi các hành động đơn phương tăng cường thương mại của từng quốc gia đều bị hủy bỏ. Ngoài ra, các chính sách thương mại hạn hẹp hơn của các nước vừa có ít ảnh hưởng đến các điều kiện thương mại, vừa dẫn đến sự giảm sút tổng khối lượng thương mại của các nước – như tình trạng song đề tù nhân (Prisoners’ Dilemma).
Các chính sách thương mại đơn phương có thể giúp mở rộng sản xuất trong nước trong một ngành để gây tổn hại cho sản xuất ngoài nước bằng cách thay đổi tỷ giá. Nếu tất cả các chính phủ chọn các chính sách thương mại nhằm thu hút thêm sản xuất, thì không có chính phủ thực sự thành công. Hoạt động sản xuất không di chuyển xuyên quốc gia, nhưng thương mại lại giảm để đáp ứng với sự gia tăng các biện pháp hạn chế thương mại. Nói một cách khác, hiện trạng song đề tù nhân lại tiếp tục xuất hiện trong hoạt động tái định cư sản xuất.
Chính vì vậy, hiệp định thương mại là một phương tiện để trung hòa các tác động tiêu cực qua biên giới. Đó không phải hiệp định thương mại đa phương như các Hiệp định trong khuôn WTO do mất quá nhiều thời gian để thống nhất được ý chí chung của số lượng lớn các thành viên, mà là những thỏa thuận ưu đãi cho phép các quốc gia phối hợp cắt giảm thuế và hỗ trợ tiếp cận thị trường để hạn chế các ảnh hưởng xuyên biên giới liên quan đến chính sách thương mại là một lựa chọn thích hợp.
1.1.4.2. Giúp các quốc gia đạt được sự tín nhiệm ở các chủ thể khác
Bên cạnh việc ngăn chặn được chính sách thương mại bần cùng hóa các nước láng giềng, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới còn có vai trò kéo các chính phủ khỏi chính sách “tự hại mình” (beggar-thyself policies). Điều này có nghĩa rằng, một chính phủ có thể lựa chọn tự ràng buộc và đơn phương cam kết mở cửa thông qua các cam kết quốc tế để ngăn chặn sự hủy bỏ chính sách thương mại có thể thuận lợi trong ngắn hạn, nhưng bất lợi trong dài hạn. Nói cách khác, các chính phủ đều nhận thức được rằng một hiệp định có thể giúp ích trong việc hình thành các cam kết về chính sách đáng tin cậy hơn so với những gì có thể thực thi không kèm cam kết.
Đặc biệt, các chính phủ có thể tham gia hiệp định thương mại để giải quyết vấn đề thiếu nhất quán về thời gian. Các cơ chế khác nhau thông qua chính sách thương mại không có sự nhất quán về thời gian có thể dẫn tới hậu quả không mong muốn. Ngoài ra khi không có các hiệp định thương mại, chính phủ sẽ dễ sử dụng chính sách thương mại tùy ý để tăng phúc lợi xã hội, ví dụ như cho phép bảo hộ tạm thời nên công nghiệp non trẻ. Nhưng việc sử dụng chính sách thương mại có thể thay thế những xử sự thông thường của các nước thành viên trong hoạt động kinh tế, từ đó các doanh nghiệp có thể dự đoán được những thay đổi chính sách và tìm cách để giảm thiểu những tác động của chính sách lên họ. Đồng thời, chính phủ sẽ không thể sử dụng chính sách thương mại tùy ý kể cả trong trường hợp có sự vận động chính trị của nhóm lợi ích trong nước.
Vậy nên các chính phủ cần thực hiện cam kết ràng buộc về chính sách thương mại liên quan đến những hành vi tương lai của mình. Một hiệp định thương mại ngoài việc tạo thuận lợi trong hợp tác chính sách như nhấn mạnh ở trên có thể có vai trò ghi nhận một cách chính xác vì nó làm giảm hoặc loại bỏ quyền tuỳ ý của các quốc gia thành viên trong việc thiết lập thuế quan và làm tăng chi phí của việc áp dụng chủ nghĩa bảo hộ thương mại đơn phương. Điều này giúp cải thiện phúc lợi để thực thi các cam kết trong nước đối với chính sách mở cửa thương mại.
1.1.4.3. Tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Mở rộng thị trường là một trong những vai trò của các hiệp định thương mại tự do. Nhờ hiệp định, các doanh nghiệp khai thác kinh tế theo quy mô và đạt được những lợi thế tương đối vì giảm được những yếu tố cạnh tranh từ doanh nghiệp nội địa. Thêm vào đó, việc có nhiều thỏa thuận ưu đãi tiếp cận thị trường sẽ giúp các quốc gia thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Hơn hết, tất cả các quốc gia kể cả khi có nền kinh tế nhỏ cũng có thể đạt được những lợi ích này.
Các hiệp định thương mại tự do giúp các nhà đầu tư tránh được các chính sách thương mại không lường trước được do tính không nhất quán về thời gian cũng như khóa chặt chính sách của quốc gia thành viên khi có thay đổi về bộ máy chính phủ nhằm tránh tình trạng đảo ngược chính sách.
Cuối cùng, ký kết tham gia hiệp định thương mại tự do thế hệ mới sẽ giúp các quốc gia hội nhập kinh tế sâu hơn so với các biện pháp thương mại truyền thống như thuế quan đồng thời những yêu cầu về thể chế và mức độ điều phối chính sách có thể dễ dàng đạt được ở cấp độ khu vực hơn cấp độ đa phương.
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN LAO ĐỘNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
1.2.1. Sự cần thiết của việc đưa các quy định về lao động vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Các nhà hoạt động toàn cầu hóa, các nhà hoạt động thương mại và các chính trị gia đã nhấn mạnh những hậu quả xã hội tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa. Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra như liệu rằng các nước có khuyến khích hạ thấp tiêu chuẩn lao động để tăng giá trị cạnh tranh? Hay việc vi phạm các quyền cơ bản tại nơi làm việc có thể được coi là một lợi thế so sánh không công bằng? Và liệu sự toàn cầu hóa dẫn các nước vào một “cuộc chạy đua xuống đáy” (race to bottom) không hiệu quả?
Thật vậy, việc mở cửa thị trường của các nước đang phát triển ngày càng gia tăng nhưng lại không kéo theo việc cải thiện nhanh chóng trong tiêu chuẩn lao động. Các báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization – ILO) và các báo cáo chính thức khác cho thấy sự tồn tại, thậm chí đang xấu đi của những hình thức bóc lột tồi tệ nhất như trẻ em và lao động cưỡng bức. Theo ILO, hơn 12% trẻ em trên thế giới trong độ tuổi từ 5 đến 9 đang làm việc. Tỷ lệ này tăng lên 23% đối với trẻ em từ 10 đến 14 tuổi, 179 triệu trẻ em phải chịu các hình thức tồi tệ nhất, như công việc nguy hiểm, lao động cưỡng bức và buôn người và mại dâm.
Đối mặt với thực tiễn trên, yêu cầu liên quan các tiêu chuẩn lao động ở mức độ tối thiểu trong thương mại đã xuất hiện trong các cuộc họp kín trên quy mô quốc tế, khu vực và quốc gia. Tuy không được đưa chính thức vào các văn kiện của WTO, nhưng các quốc gia đã có những động thái nhất định, vấn đề lao động được lồng ghép trong các hiệp định thương mại song phương cũng như khu vực. Tính đến tháng 12 năm 2022, đã có 76 hiệp định thương mại bao trùm 135 nền kinh tế có chứa những quy định về lao động. Kết quả này cho thấy rằng, những quy định về lao động trong các hiệp định thương mại tự do là thực sự cần thiết, mang lại nhiều ảnh hưởng tới cả nhà nước, doanh nghiệp và tầng lớp người lao động.
1.2.1.1. Đối với nhà nước
Trên quy mô quốc gia, những điều khoản về lao động cũng đóng góp vai trò không nhỏ trong quá trình gia tăng lợi ích cả về kinh tế và xã hội.
Có thể khẳng định rằng, bất kỳ một hiệp định thương mại nào cũng giúp thương mại giữa các bên ký kết phát triển, cho dù có hay không các điều khoản về lao động. Tuy nhiên, trung bình một hiệp định thương mại có bao gồm các điều khoản về lao động giúp tăng giá trị thương mại lên tới 28%, trong khi đó tăng trưởng thương mại được đem lại từ một hiệp định không có những điều khoản này chỉ dừng lại ở mức độ 26%.
Bên cạnh đó, nhìn từ bản chất của các điều khoản về lao động, trong đại đa số các trường hợp, các hiệp định thương mại bao gồm các điều khoản về lao động thường dựa trên cam kết không hạ thấp các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Đồng thời, các hiệp định này còn hướng tới đảm bảo pháp luật lao động quốc gia được thực thi hiệu quả và đồng nhất với các tiêu chuẩn đã có sẵn.
Ngoài ra, trong một nền thương mại tự do, giá cả đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong khi đó chi phí lao động luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất. Vì vậy, dù ở mỗi quốc gia có mức thu nhập và điều kiện sống khác nhau nhưng những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động cần phải được đảm bảo như một chuẩn mực của sự công bằng và cạnh tranh bình đẳng. Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Nếu một nước duy trì tiêu chuẩn lao động thấp, tiền lương và các điều kiện lao động không được xác lập trên cơ sở thương lượng thì được cho là sẽ có chi phí sản xuất thấp hơn so với nước thực hiện những tiêu chuẩn lao động cao. Các doanh nghiệp bằng quyền lực kinh tế có thể ép giá nhân công xuống mức thấp nhất, giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn nhiều so với các quốc gia có lương tối thiểu, từ đó phát sinh hiện tượng cạnh tranh không bình đẳng dựa trên “quyền lao động rẻ”. Hay như một ví dụ thực tế, nếu Malaysia tiếp tục dung thứ cho nạn lao động trẻ em, hàng hóa của họ sẽ rẻ hơn vì lao động trẻ em không chỉ rẻ hơn so với lao động người lớn, thậm chí cung cấp hàm lượng lao động nhiều hơn, khiến giá thành của “mặt hàng” này giảm đi. Chính vì thế, nếu Malaysia thẳng tay với lao động trẻ em, giá thành hàng hóa của họ sẽ tăng và người được hưởng lợi sẽ là một quốc gia có điều kiện tương tự Malaysia là Việt Nam, nơi có nạn lao động trẻ em không phổ biến.
1.2.1.2. Đối với doanh nghiệp
Việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động và cải thiện điều kiện làm việc nhiều khả năng sẽ làm tăng năng suất lao động và tăng cường khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Điều kiện làm việc tốt hơn và môi trường làm việc an toàn, lành mạnh hơn có thể sẽ giúp làm cho người lao động hài lòng hơn và giảm tỷ lệ nghỉ việc. Hơn nữa, tăng cường đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động có thể sẽ giúp củng cố mối quan hệ hai chiều và giảm nguy cơ xảy ra những bất ổn liên quan đến lao động, ví dụ như đình công. Điều kiện làm việc tốt hơn cũng có thể làm giảm nguy cơ xảy ra tai nạn lao động. Điều này là tín hiệu đáng mừng bởi vì trong trường hợp có tai nạn, các doanh nghiệp còn phải trả những khoản chi phí phát sinh liên quan đến đền bù và nghỉ việc của người lao động.
Trên quy mô quốc tế, những năm gần đây đã chứng kiến lượng lớn quan tâm cộng đồng về vấn đề lao động. Thậm chí, một số doanh nghiệp nổi tiếng đã chứng kiến hình ảnh của mình bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những cáo buộc về sử dụng lao động cưỡng bức, lao động trẻ em hay phân biệt đối xử trong lao động… trong hoạt động chuỗi cung ứng. Các cáo buộc này đã làm cho các doanh nghiệp phải chịu sự giám sát ngày càng chặt chẽ của quốc tế và áp lực từ các cổ đông và khách hàng. Do đó, các công ty phải chủ động xây dựng và thực hiện những sáng kiến tự nguyện nhằm thúc đẩy việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và quyền con người.
Trong bối cảnh đó, việc tôn trọng các quyền lao động và quyền con người cơ bản nên được coi là ưu tiên hàng đầu đối với những doanh nghiệp muốn đáp ứng kỳ vọng của khách hàng quốc tế. Các cáo buộc về điều kiện làm việc không đạt chuẩn và bóc lột lao động có thể dẫn tới nguy cơ bị ngừng hợp đồng, gây ra thất thoát đáng kể về tài chính và ảnh hưởng đến các hợp đồng tiềm năng với các khách hàng khác. Thêm vào đó, những điều khoản về lao động còn giúp các doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng bị cạnh tranh không công bằng dựa trên việc “phá giá về mặt xã hội” (social dumping).
1.2.1.3. Đối với người lao động
Trong những năm gần đây, thương mại quốc tế có nhiều tác động tới chuỗi giá trị toàn cầu, các quốc gia tạo việc làm để tăng thêm giá trị vào sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua chuỗi cung ứng, đặc biệt xuất hiện nhiều ở các nước đang phát triển. Vào năm 2022, 453 triệu công việc về thương mại quốc tế liên quan tới chuỗi giá trị toàn cầu, chiếm một phần năm tổng số công việc trên toàn thế giới so với 296 triệu công việc vào năm 1995. Tuy nhiên, sự gia tăng này không tự động chuyển hóa hoàn toàn thành sự tăng về tiền lương cho người lao động bởi vì thương mại có xu hướng tạo nên những lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Một phần nguyên nhân đến từ sự bất đối xứng về động lực nắm giữ quyền lực (power dyamics) giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp dẫn đầu trong chuỗi cung ứng và một phần đến từ năng lực yếu kém trong thi hành và giám sát thi hành quyền của người lao động. Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Ngoài ra, chính quá trình hội nhập quốc tế đã tạo ra những áp lực cạnh tranh ngày càng gắt gao đặt các doanh nghiệp vào tình thế phải cắt giảm chi phí để duy trì hoặc tăng lợi nhuận. Áp lực này thúc đẩy sự cải tiến, sáng tạo cùng mức giá thấp hơn để có lợi cho người tiêu dùng. Nhưng bên cạnh đó, trong những trường hợp nhất định, chính lý do này là nguyên nhân dẫn tới việc người sử dụng lao động cắt giảm chi phí bằng cách vi phạm quyền của người lao động.
Chính vì vậy, với mục đích bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản cho những người đã trực tiếp tạo ra sản phẩm trong thương mại quốc tế, những quy định về lao động được cam kết trong quy mô khu vực đã nảy sinh.
Trên thực tế, ngoài giải quyết những vấn đề tiêu cực như đã đề cập, những hiệp định thương mại tự do bao gồm các điều khoản về lao động còn tác động tích cực tới tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động (labour force participation rates), tăng số lượng nam giới và nữ giới trong độ tuổi lao động tham gia vào lực lượng lao động, đặc biệt, tăng lượng lao động nữ. Điều này có được là do các điều khoản lao động trong những hiệp định thương mại tự do được đảm bảo thi hành bằng những chính sách đối thoại (dialogue) và thừa nhận (awareness) đã giúp nâng kỳ vọng của người lao động về điều kiện lao động tốt hơn, vì vậy đã gia tăng sự sẵn sàng của họ khi tham gia vào thị trường lao động.
1.2.2. Nội dung
Những quy định về lao động trong các hiệp định thương mại tự do bao gồm các nội dung sau:
1.2.2.1. Quy định trực tiếp về lao động
Các quy định trực tiếp về lao động là các nội dung lao động liên quan tới việc cải thiện, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy quyền cơ bản của người lao động hoặc các tiêu chuẩn lao động cũng như cải thiện điều kiện sống và việc làm của công dân hoặc thực hiện theo định nghĩa của ILO về việc làm thỏa đáng (decent works).
Nhìn chung, các cam kết lao động trong tất cả các hiệp định thương mại tự do đều nhắc lại cam kết của ILO, trong đó phần lớn cam kết nằm ở mức độ tối thiểu thông qua việc dẫn chiếu các nguyên tắc và quyền cơ bản, đặc biệt về tự do công đoàn và quyền người lao động thương lượng tập thể, hạn chế sử dụng lao động trẻ em và nghiêm cấm sử dụng lao động cưỡng bức, có thể bao trùm những quy định về vấn đề không phân biệt đối xử trong lao động dựa trên chủng tộc, giới tính, độ tuổi hoặc các đặc điểm khác. Đây là những quyền trong danh sách “những nguyên tắc và quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc” (Tuyên bố năm 1998) đã được thông qua bởi ILO.
Hiện nay, cam kết trong Tuyên bố năm 1998 của ILO đã trở thành nội dung cố định trong phần lớn các hiệp định được ký kết. Thêm vào đó, rất nhiều hiệp định đã thiết lập thêm nghĩa vụ liên quan tới điều kiện làm việc có thể chấp nhận được về tiền lương tối thiểu, số giờ làm việc, sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc, cũng như các nghĩa vụ trong bối cảnh các quyền của người lao động được nhận thức có chủ ý. Một vài hiệp định còn bảo vệ lao động di cư. Ngoài ra, một số hiệp định thương mại tự do còn tiếp cận về lao động dựa trên định nghĩa về việc làm thỏa đáng, được phát triển bởi ILO. Gần đây, một số lượng nhất định các hiệp định thương mại tự do bao gồm những cam kết bao hàm toàn bộ lĩnh vực lao động.
1.2.2.2. Quy định đảm bảo thực thi Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Để đảm bảo những quy định trực tiếp về lao động được thi hành một cách hiệu quả trong thực tiễn, các hiệp định cũng có những quy định về nội dung này. Các điều khoản đảm bảo quá trình thực thi các quy định về lao động được chia thành ba nhóm: (i) nhóm những điều khoản thực thi mang tính chất điều kiện (conditional labour provisions), (ii) nhóm những điều khoản thực thi mang tính chất khuyến khích (promotional labour provisions), (iii) cơ chế giải quyết tranh chấp. Cụ thể:
- Quy định thực thi mang tính chất điều kiện
Những quy định này thường bao gồm những yêu cầu về tiêu chuẩn lao động liên quan tới những hệ quả về kinh tế dưới hình thức trừng phạt (sanctions) hoặc ưu đãi (incentives), trong một số trường hợp có thể bao gồm cả những lợi ích khác như việc hợp tác kỹ thuật. Điều này có nghĩa rằng thông qua những điều khoản đó, các hiệp định thương mại tự do cho phép các quốc gia thành viên hưởng những ưu đãi nhất định để tuân thủ những tiêu chuẩn lao động chẳng hạn dưới hình thức nhượng bộ thương mại bổ sung (additional trade concessions) hoặc ngược lại, nếu xảy ra vi phạm những quy định về lao động có thể dẫn tới việc các bên thu hồi những lợi ích thương mại có được từ các hiệp định như ưu đãi thuế quan, hoặc phải sử dụng đến những cơ chế trừng phạt phi thương mại (phạt tiền hoặc giảm bớt hỗ trợ kỹ thuật).
Thứ nhất, đối với những quy định khuyến khích về kinh tế
Những quy định lao động mang nội dung khuyến khích về kinh tế thường đánh thẳng vào lợi ích hay giá trị kinh tế của mỗi quốc gia trong trường hợp quốc gia đó tuân thủ những biện pháp đã được ghi nhận trong hiệp định điển hình như: tăng hạn ngạch xuất khẩu. Những quy định này đều có thể thực thi ở cả hai cấp độ là quốc gia và doanh nghiệp, đồng thời nên kết hợp thi hành cùng cơ chế giám sát.
Thứ hai, đối với những quy định không khuyến khích về kinh tế
Sau quá trình giải quyết tranh chấp hoặc trong một số trường hợp khác, nếu thiết chế giải quyết tranh chấp xác định có vi phạm và không khắc phục được theo các điều khoản đã thoả thuận, một khoản tiền (dưới hình thức đóng góp vào quỹ lao động) có vai trò như một biện pháp trừng phạt thương mại thông thường có thể được áp dụng đối với quốc gia không tuân thủ.
Khoản phạt sau đó sẽ được chi tiêu trong lãnh thổ của bên vi phạm, dưới sự giám sát của hội đồng hoặc các thành viên tham gia hiệp định để khắc phục sự thiếu bảo vệ quyền lao động và trong một số trường hợp khoản tiền phạt được góp vào một quỹ để hỗ trợ các hoạt động tăng cường quyền lao động ở nước có liên quan. Nếu một bên vi phạm từ chối thanh toán, bên khiếu nại có thể tái áp dụng mức thuế tương ứng với số tiền cần thiết để thu hồi tiền phạt.
Thông thường, biện pháp này được áp dụng khi vi phạm các quy định liên quan tới lao động trẻ em, mức lương tối thiểu, an toàn và vệ sinh lao động. Trong khi đó, những nội dung như tự do hiệp hội, không phân biệt, lao động cưỡng bức, quyền của người lao động di cư và các quyền khác không thể được thực thi tương tự. Tuy nhiên, không phải tất cả các hiệp định thương mại tự do đều có quy định về vấn đề này và có những trường hợp, việc tuân thủ cam kết về lao động tuy cũng được xem xét bởi một Ủy ban độc lập ở cấp khu vực hoặc đa phương nhưng không quy định những hành động trừng phạt thương mại dưới bất kỳ hình thức nào. Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
- Quy định thực thi mang tính chất khuyến khích
Những quy định thực thi mang tính chất khuyến khích đều được ghi nhận trong gần như tất cả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, và chiếm khoảng 60% tổng số quy định về lao động trong những hiệp định đó. Khác với những điều khoản thực thi mang tính chất điều kiện, những điều khoản này không đặt ra vấn đề trừng phạt hoặc ưu đãi về mặt kinh tế như một cơ chế thực thi, mà thay vào đó thực thi dựa trên những cam kết về khuôn khổ thể chế để thực hiện hoạt động hợp tác, phối hợp, cũng như những cơ chế giám sát và đối thoại có sự tham gia của các chủ thể phi nhà nước nhằm mục đích nâng cao năng lực quốc gia. Trong nhóm điều khoản này, bên cạnh những quy định không ràng buộc, có những quy định bao gồm những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, trong đó có thể có nghĩa vụ dễ thấy trước được là việc đảm bảo thực thi thông qua một khuôn khổ thể chế và thủ tục pháp lý toàn diện. Cụ thể,
Về điều khoản không vi phạm, đây là những quy định khẳng định các nước thành viên sẽ không loại bỏ, từ chối hay phớt lờ các quy định hoặc quy chế bảo vệ lao động được thừa nhận trong phần lớn các hiệp định; thường đươc biết dưới tên điều khoản không vi phạm (non-derogation clause).
Về hoạt động hợp tác, hoạt động hợp tác về lao động được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau, như việc hỗ trợ tăng cường năng lực quốc gia, đối thoại và trao đổi thông tin giữa các chính phủ. Tuy nhiên xu hướng chung rõ rệt nhất hiện nay là việc hoạt động hợp tác tập trung vào việc thi hành pháp luật nội địa, đặc biệt trong việc nâng cao thiết chế lao động trong nước. Về vấn đề hày, hoạt động hợp tác kỹ thuật thường bao gồm tất cả những hoạt động cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và nguồn tài chính cho nước đối tác để thực thi cam kết quốc tế. Thông qua nội dung này, tất cả các bên liên quan thậm chí các chủ thể tư cũng được hưởng lợi, chẳng hạn như hoạt động đào tạo của các nhà quản lý được nâng cao và việc tuân thủ của người lao động ngày càng chặt chẽ hay thể chế phục vụ cho hoạt động đối thoại và thương lượng tập thể cũng được tăng cường.
Về hoạt động giám sát, hoạt động giám sát là quá trình đánh giá một cách có hệ thống về tiến độ các chính sách trong một khoảng thời gian nhất định nhằm mục đích tăng cường minh bạch và thông tin cho các bên về tình hình thực tế của những vấn đề liên quan đến lao động. Giám sát có thể dưới hình thức báo cáo tiến độ của nhà nước với sự tham gia của các bên liên quan, ví dụ như thông qua việc nộp đơn kiến nghị có thể dẫn tới việc khởi động quá trình giải quyết tranh chấp, hoặc hợp tác nhà nước – tư nhân (ví dụ như giám sát ở mức độ doanh nghiệp trong chương trình Better Work hợp tác giữa ILO và Tổ chức Tài chính quốc tế (International Finance Corporation). Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Để thể hiện tầm quan trọng của các cam kết trên, các hiệp định thương mại thường thiết lập các điểm liên lạc (point of contact), họp thường xuyên với các quan chức cao cấp và sắp xếp những cơ hội hợp tác về các vấn đề phổ biến nhất, bao gồm việc làm, an sinh xã hội hoặc di cư lao động. Trong các trường hợp khác, thiết chế bổ sung có thể được thiết lập, chẳng hạn như Ủy ban chuyên gia với vai trò tương tự với thiết chế trọng tài trong trường hợp có thành viên không tuân thủ cam kết.
- Cơ chế giải quyết tranh chấp
Cơ chế giải quyết tranh chấp trao quyền cho một quốc gia tham gia hiệp định khiếu nại một quốc gia thành viên không tuân thủ việc bảo vệ quyền lao động của công dân. Những khiếu nại này được giải quyết bằng cách tham vấn giữa các chính phủ hoặc đưa vấn đề đến một hội đồng giải quyết tranh chấp quốc tế trung lập, xác định xem có xảy ra vi phạm hay không, thậm chí có thể xác định một số doanh nghiệp vi phạm để đưa ra những hành động cần thiết ở cấp độ doanh nghiệp. Mặc dù cơ chế này chỉ áp dụng đối với các tranh chấp giữa các quốc gia nhưng hầu hết các quy định cũng quy định cơ chế khiếu nại mà theo đó các bên thứ ba như cá nhân, công đoàn và các tổ chức phi chính phủ có thể đưa ra các khiếu nại đối với các trạm liên lạc quốc gia liên quan đến việc các quốc gia khác không tuân thủ các quy định về lao động, tham gia vào quá trình điều tra cũng như có thể triệu tập các phiên điều trần công khai về vấn đề khiếu nại.
Nếu hội đồng xác định có tồn tại sự không tuân thủ, bên khiếu nại có thể rút lại lợi ích thương mại từ phía bên vi phạm hoặc thực hiện các biện pháp thích hợp khác cho đến khi bên vi phạm tuân thủ cam kết về lao động, thông thường bằng cách cải thiện việc thi hành luật lao động như đã được trình bày tại phần 1.2.2.b.
1.2.3. Đặc điểm
Thứ nhất, có những hiệp định đặt ra điều kiện thực thi bằng cách yêu cầu một số hoạt động trước khi phê chuẩn
Trong một số trường hợp, trước khi phê chuẩn một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, có những nước thành viên phải cải cách thể chế và pháp luật để phù hợp với những yêu cầu nhất định, thông thường là yêu cầu về phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế để cải thiện quyền của người lao động hoặc thông qua các biện pháp bảo vệ người lao động mới trong đó nhấn mạnh quyền tự do hiệp hội. Chính nhờ những điều kiện phê chuẩn này mà pháp luật lao động nội địa đã có những thay đổi đáng kể.
Thứ hai, hiệu quả của các quy định về lao động phụ thuộc vào việc tham gia của các chủ thể phi nhà nước
Việc tìm kiếm và đàm phán các hiệp định thương mại là một công việc mang tính truyền thống của các chính phủ. Tuy nhiên, để đảm bảo sự tuân thủ các quyền lao động đòi hỏi phải có sự chung tay của cả chính phủ và các chủ thể phi nhà nước, đặc biệt là những người sử dụng lao động khu vực tư nhân bởi vì họ chính là yếu tố quyết định xem liệu quyền lao động có được thực tế hóa tại nơi làm việc.
Chính vì vậy, nhiều quốc gia cũng đã có những quy định nội địa nhất định để tăng cường sự tham gia của các chủ thể phi nhà nước. Trong giai đoạn đàm phán, các quốc gia có thể thiết lập cấu trúc tham vấn thường trực với thành viên cố định và cơ chế bao gồm cả sự tham gia rộng hơn của các nhân tố như tổ chức xã hội và cộng đồng. Trong giai đoạn thực thi, nhiều quốc gia thường tạo cơ hội tham vấn hoặc thành lập một nhóm tư vấn đến từ các chủ thể tư dựa trên cơ sở tự nguyện hoặc quy định bắt buộc các bên phải tham vấn cơ quan tư vấn, có cơ chế thể chế rõ ràng nhằm gia tăng cơ hội đối thoại giữa các tổ chức xã hội với các quốc gia đối tác.
Ngoài ra, sự tham gia của các chủ thể phi nhà nước, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp có thể giúp tối ưu hóa những ưu đãi hoặc chia sẻ gánh nặng của các khoản phạt vi phạm, từ đó điều chỉnh lợi ích kinh tế giữa chính phủ và doanh nghiệp với quyền lợi của người lao động. Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
Trong trường hợp có các khuyến khích về kinh tế, quyền lợi của các nhóm chủ thể doanh nghiệp được nhìn nhận khá rõ ràng. Ví dụ như khi khuyến khích về kinh tế bằng cách cấp hạn ngạch, tức hạn ngạch xuất khẩu đến nước nhận sẽ tăng nếu nước xuất khẩu cải thiện việc thực thi pháp luật lao động nội địa và bảo vệ quyền của người lao động được công nhận trên bình diện quốc tế. Do được hưởng lợi từ việc tăng hạn ngạch xuất khẩu nên các doanh nghiệp sẽ có xu hướng tuân thủ tự nguyên pháp luật lao động và chấp thuận các quyền lợi của người lao động. Hơn thế nữa, cấp hạn ngạch phụ thuộc vào hành động của toàn bộ ngành công nghiệp cho nên khi có những doanh nghiệp đơn lẻ không tuân thủ các quy định đã đề ra sẽ kéo theo rủi ro cho toàn bộ các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực ngành nghề. Từ đó, các doanh nghiệp không tuân thủ sẽ đối mặt với áp lực từ toàn bộ ngành công nghiệp bên cạnh chính phủ và người lao động bắt buộc họ phải thực hiện đúng các quy định về lao động. Vô hình trung, các doanh nghiệp trong một ngành đã cùng giúp nhau tạo động lực cải thiện việc tuân thủ các cam kết quốc tế.
Trong trường hợp một chính phủ phải gánh chịu một khoản phạt do vi phạm các quy định về lao động. Chính phủ có thể tạo dựng một cơ chế từ đó chỉ các doanh nghiệp không tuân thủ sẽ phải gánh chịu một phần trách nhiệm hoặc thu hồi lợi ích mà chính phủ đã trao cho các doanh nghiệp không tuân thủ bằng cách điều chỉnh mức thuế hoặc thu hồi trợ cấp.
Thứ ba, các điều khoản lao động có mối liên hệ chặt chẽ với quyền điều chỉnh (right to regulate) cũng như các tiêu chuẩn của ILO
Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có thể tương đối phức tạp, vì vậy, những nguyên tắc được đề cập gây nên sự thiếu mạch lạc nhất định. Có ba lý do chính cho vấn đề này. Thứ nhất, có thể có nhiều sự khác nhau giữa những nội dung mang tính quy phạm của các hiệp định thương mại khác nhau, cũng như giữa cơ chế thực thi được sử dụng bởi các chính phủ khác nhau. Vì vậy, cần kiểm tra và hiểu rõ những cách tiếp cận khác nhau để đảm bảo rằng mục tiêu chung là nâng cao tiêu chuẩn lao động thông qua các hiệp định thương mại có thể đạt được. Thứ hai, yếu tố phi lao động của các hiệp định như những quy định về bảo hộ đầu tư, có thể giới hạn năng lực của các chính phủ trong việc thực thi chính sách bền vững trong nhiều lĩnh vực khác, chẳng hạn như lĩnh vực lao động. Về thuật ngữ “quyền điều chỉnh” (right to regulate) hoặc “không gian chính sách” (policy space) thường nằm trong các hiệp định, để cân bằng một mặt là nhu cầu của các nhà đầu tư, một mặt là khả năng của nhà nước trong việc đạt được mục tiêu chính trị. Thứ ba, để nâng cao phạm vi các văn kiện của ILO được viện dẫn rõ ràng trong các hiệp định thương mại, nhấn mạnh khả năng xuất hiện xung đột trong áp dụng thỏa thuận trong mức độ quốc gia và quốc tế. Khóa luận: Quy định về lao động trong số hiệp định thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng quy định lao động hiệp định thương mại

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực thi các quy định về lao động trong hiệp định