Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam và liên hệ tới sự cố môi trường Formosa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam

2.1.1. Pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1986

Đây là giai đoạn Việt Nam đang trong tiến trình giải phóng đất nước và xây dựng, khôi phục lại đất nước. Tuy nhiêm, vấn đề ĐTM vẫn được Nhà nước triển khai và các nhà khoa học sớm quan tâm nghiên cứu. Ngay từ những năm 1980 nhiều nhà khoa học bắt đầu tiếp cận với công tác ĐTM thông qua các hội thảo và các khoá đào tạo do các tổ chức Quốc tế thực hiện (UNEP, UNU). Chính phủ Việt Nam cũng sớm nhận thức được vấn đề bảo vệ môi trường và ĐTM nên đã tạo điều kiện cho các cơ quan, cá nhân tiếp cận các lĩnh vực này. Đầu những năm 80, một nhóm các nhà khoa học Việt Nam, đứng đầu là Giáo sư Lê Thạc Cán đã đến Trung tâm Đông – Tây ở Ha – Oai nước Mỹ nhằm nghiên cứu về luật, chính sách môi trường nói chung và ĐTM nói riêng[20, tr.8]. Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và môi trường do Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước triển khai và đặt nền móng quan trọng cho việc nghiên cứu, thực hiện ĐTM tại Việt Nam. Tháng 4/1984, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội kết hợp với Chương trình nghiên cứu quốc gia về Môi trường, đã tổ chức khoá huấn luyện về ĐTM cho các giảng viên từ các trường Đại học và Viện nghiên cứu TW đầu tiên tại Việt Nam. Sau đó, ĐTM đã được xác định cụ thể trong các văn bản quan trọng của Nhà nước về đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, cụ thể là: Nghị quyết số 246 – HĐBT ngày 20/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)[8]. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Trong giai đoạn này, các trường đại học, các viện nghiên cứu đã thực hiện một số nghiên cứu xem xét, đánh giá ban đầu về môi trường (IEE: Initial environmental examination) hoặc theo “hướng” ĐTM đối với một số dự án lớn. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, quá trình quy hoạch phát triển hoàn toàn không có những quy định pháp luật bắt buộc liên quan đến ĐTM; cũng như những phương pháp tiến hành ĐTM chưa được biết đến rộng rãi ở Việt Nam, nên những nghiên cứu trên đã thực hiện không theo một chuẩn mực nhất định, và tách biệt hoàn toàn với quá trình quy hoạch cũng như quá trình xây dựng dự án [26, tr.2]. Đây là giai đoạn pháp luật về ĐTM mang tính nghiên cứu và học hỏi, chưa được luật hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.

2.1.2. Pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam giai đoạn sau năm 1986

  • Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2004

Từ năm 1987 chương trình đào tạo sau Đại học về quản lý môi trường và ĐTM được Trung tâm Tài nguyên Môi trường thuộc Đại học Tổng Hợp Hà Nội thường xuyên tổ chức. Tuy nhiên, cũng vào thời điểm đó thì mức độ và quy mô còn chưa đồng bộ và rộng khắp ở các nghành và các địa phương.

Trong giai đoạn 1987 – 1990, Nhà nước đã đầu tư vào chương trình điều tra cơ bản và được xem như công tác kiểm tra hiện trạng môi trường. Đó là các chương trình điều tra vùng Tây Nguyên, vùng ĐBSCL, Quảng Ninh…[8]. Tiêu biểu có dự án xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình được xem như hình mẫu điển hình trong thực hiện ĐTM vào năm 1989[26, tr.2].

Sau năm 1990, Nhà nước ta cho tiến hành chương trình nghiên cứu môi trường mang mã số kinh tế 02, trong đó có một đề tài trực tiếp nghiên cứu về ĐTM, đề tài mang mã số KT 02 – 16 do Giáo sư Lê Thạc Cán chủ trì. Trong khuôn khổ đề tài này, một số báo cáo ĐTM mẫu đã được lập, đáng chú ý là báo cáo ĐTM của nhà máy giấy Bãi Bằng và ĐTM công trình thuỷ lợi Thạch Nham. Mặc dù chưa có Luật Bảo vệ môi trường và các điều luật về ĐTM song Nhà nước đã yêu cầu một số dự án phải có báo cáo ĐTM, chẳng hạn như công trình thuỷ điện Trị An, nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ.

Một số tổ chức quản lý Nhà nước như Cục Môi trường, Sở Khoa học Công Nghệ và Môi trường, các trung tâm, Viện Môi trường cũng đã được tập huấn công tác tư vấn cho lập báo cáo ĐTM và tổ chức thẩm định các báo cáo ĐTM.

Hoạt động ĐTM ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học biết đến từ lâu, nhưng phải đến năm 1993 khi Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên của Việt Nam có quy định về ĐTM thì hoạt động này mới được biết đến rộng rãi ở Việt Nam. Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 của nước CHXHCN Việt Nam là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập đến ĐTM, đánh dấu cột mốc quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, và tất nhiên là bước phát triển đột bậc đối với pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đưa ra định nghĩa: “Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường” và có quy định về Đánh giá tác động môi trường trong các điều 17 và 18. Theo đó, các dự án trong và đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, các dự án đã hoạt động hay mới lên kế hoạch thực hiện đều phải thực hiện đánh giá tác động môi trường. Tiếp đó, là hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành để hướng dẫn thêm về ĐTM, như: Nghị định của chính phủ số 175-CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường; Nghị định của Chính phủ số 143/2004/NĐ-CP ngày 12/7/2004 về việc sửa đổi, bổ sung Điều 14 Nghị định 175-CP; Thông tư của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường số 1420/MTG ngày 26/11/1994 hướng dẫn đánh giá tác động môi trường đối với các cơ sở đang hoạt động; Thông tư của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29/4/1998 hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư;… Theo Báo cáo phân tích chính sách do Trung tâm con người và thiên nhiên thực hiện năm 2009, thống kê ban đầu đã có khoảng 14 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐTM được ban hành trong khoảng 1993 – 2005 (trước khi Luật bảo vệ môi trường năm 2005 ra đời). Pháp luật ĐTM thời kỳ này mang tính khởi đầu, học hỏi, rút kinh nghiệm, vẫn rất sơ sài và khả năng áp dụng, thi hành chưa cao, hiệu quả đem lại chưa thực sự đạt được như đúng mục đích của các nhà làm luật khi đưa ĐTM vào là một quá trình bắt buộc đối với các dự án. Tuy nhiên, đây cũng là bước phát triển mang tính đột phá, thể hiện nỗ lực và cố gắng của Chính phủ trong việc Bảo vệ môi trường và cụ thể là trong việc thực hiện ĐTM ở Việt Nam.

  • Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013

Với sự thay đổi về thời gian, hàng loạt các vấn đề về kinh tế – xã hội, môi trường cũng dần thay đổi, yêu cầu tất yếu đặt ra là sự thay đổi cơ chế pháp luật về môi trường, đòi hỏi phải có những quy định mới phù hợp với hoàn cảnh và thực tiễn. Hệ thống pháp luật về đánh giá tác động môi trường dần đa dạng và tiến bộ hơn. Đầu tiên phải kể đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội thông qua 29/11/2005, đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất về lĩnh vực môi trường. Theo đó, hệ thống pháp luật về đánh giá tác động môi trường về cơ bản đã được sửa đổi theo. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó” và quy định chi tiết các vấn đề liên quan đến đánh giá tác động môi trường (tại Chương III, từ Điều 18 đến Điều 23). Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định chặt chẽ, rõ ràng hơn các dự án đầu tư phải thực hiện đánh giá tác động môi trường; những dự án đầu tư còn lại thì yêu cầu phải đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường thay thế cho bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường trước đây (theo Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Bộ Tài nguyên và môi trường). Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Triển khai các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005, công tác đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường đã đi vào nề nếp. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng và ban hành Thông tư số 218/2010/TT-BTC ngày 29/12/2010 quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Ngay sau khi Nghị định số 29/2011/NĐ-CP được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nhanh chóng xây dựng và ban hành Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 hướng dẫn thực hiện Nghị định; Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập, đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản. Để nâng cao chất lượng công tác ĐMC và ĐTM, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức xây dựng và hoàn thành 04 hướng dẫn kỹ thuật lập báo cáo ĐTM chuyên ngành cho các loại hình dự án: nhà máy điện hạt nhân; khai thác than bằng công nghệ khí hóa; xây dựng khu du lịch và xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp đốt; triển khai xây dựng hướng dẫn kỹ thuật lập báo cáo ĐTM đối với dự án chế biến đất hiếm và đề án thu phí thẩm định báo cáo ĐTM ở cấp địa phương (theo Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Bộ Tài nguyên và môi trường).

Điểm khác biệt cơ bản về ĐTM trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là ở đối tượng phải thực hiện ĐTM. Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định ĐTM là bước bắt buộc bắt buộc đối với các dự án, còn Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định thực hiện ĐTM đối với một số dự án. Các dự án thuộc Danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định trong Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 thì sẽ phải thực hiện báo cáo ĐTM chi tiết, còn các dự án không thuộc danh mục này chỉ cần thực hiện Cam kết Bảo vệ môi trường (theo Báo cáo phân tích chính sách do Trung tâm con người và thiên nhiên thực hiện năm 2009). Các cơ sở đang hoạt động chưa lập báo cáo ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường theo quy định sẽ phải tiến hành xây dựng Đề án BVMT theo quy định tại Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và văn bản quy phạm pháp luật ban hành trong giai đoạn 2005-2013 về đánh giá tác động môi trường đã cho thấy sự tiến bộ, hiệu quả, thiết thực trong thực tế, nhưng vẫn còn những hạn chế như: việc tạo điều kiện để người dân tham gia vào đánh giá tác động môi trường còn chưa cao; báo cáo đánh giá tác động môi trường vẫn còn mang tính thủ tục, chưa thực chất; việc xác định ranh giới giữa đánh giá tác động môi trường và cam kết BVMT, quy định vai trò chủ dự án tự và tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường,… còn bất cập. Theo đó, cần phải xây dựng hệ thống pháp luật môi trường dựa trên sự khảo sát, đánh giá toàn diện thực tế môi trường, rút kinh nghiệm từ những hạn chế của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

  • Giai đoạn từ năm 2014 đến nay

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được ban hành ngày 23/6/2014 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2015. Trong đó nhiều nội dung đã được cụ thể hóa nhiều điểm so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 gồm 20 chương và 170 điều – tăng 5 chương và 34 điều so với Luật Bảo vệ môi trường 2005. Về cơ bản, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 kế thừa các nội dung của Luật Bảo vệ môi trường 2005; khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Bảo vệ môi trường 2005; đồng thời luật hóa chủ trương của Đảng, bổ sung một số nội dung mới về bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.

Đánh giá tác động môi trường được quy định cụ thể tại Mục 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, tại Chương 4 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường và Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

So với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã một số thay đổi về Đánh giá tác động môi trường, cụ thể như sau:

Đánh giá tác động môi trường được định nghĩa ngắn gọn, chắt lọc mà đúng bản chất hơn: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”. Về đối tượng phải lập ĐTM đã được thu hẹp góp phần hạn chế việc lạm dụng yêu cầu phải thực hiện ĐTM và các báo cáo ĐTM chỉ mang tính lý thuyết. Luật bảo vệ môi trường năm 2014 còn bổ sung một số điểm mới như: quy định yêu cầu về chứng chỉ tư vấn ĐTM; yêu cầu lồng ghép nội dung về biến đổi khí hậu trong báo cáo ĐTM; đánh giá sức khỏe cộng đồng trong ĐTM.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã bỏ hoạt động “Cam kết Bảo vệ môi trường” được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2005(Cam kết bảo vệ môi trường dành cho các dự án không thuộc danh mục phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường do Chính phủ ban hành) và thay vào đó là quy định về “Kế hoạch bảo vệ môi trường”. Do trên thực tế, việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường có nhiều khó khăn, thiếu thực thi, mang tính lý thuyết và trong nhiều trường hợp đã dẫn đến tiêu cực trong công tác quản lý. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Trên đây, chỉ là một vài điểm thay đổi tiêu biểu, dễ nhận thấy nhất của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 về hoạt động ĐTM, những thay đổi sẽ được tác giả tiếp tục trình bày trong các phần sau của Khóa luận tốt nghiệp.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật được ban hành đã phần nào tháo gỡ, giải quyết các vấn đề tồn tại mà trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 chưa được đề cập đến hoặc làm rõ, đặc biệt là trong công tác lập, thẩm định báo cáo ĐTM, xác nhận kế hoạch Kế hoạch bảo vệ môi trường đối với các dự án đầu tư được quản lý, siết chặt hơn tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan quản lý trong quá trình triển khai thực hiện, yêu cầu doanh nghiệp ngày càng phải chấp hành nghiêm túc các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình triển khai, thực hiện dự án, đảm bảo phát triển bền vững, hài hòa với bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hiện nay, ở Việt Nam đã có một đội ngũ tương đối đông đảo những người làm công tác ĐTM, trong đó có nhiều chuyên gia được đào tạo trong và ngoài nước, bước đầu đã tập hợp được những kinh nghiệm quý báu qua những công trình đã đánh giá thực tế. Việc thực hiện ĐTM ở Việt Nam cũng còn những vấn đề tồn tại cần tiếp tục giải quyết, tuy nhiên, có thể nói cho đến nay hệ thống văn bản pháp lý cho thực hiện ĐTM đã tương đối đầy đủ và tiếp cận được yêu cầu của thực tế. Việc thực hiện ĐTM đã dần đi vào nề nếp và đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước. Nội dung và quy trình thực hiện ĐTM tại Việt Nam đã có những thay đổi và phát triển theo từng thời kỳ. Quy trình thực hiện ĐTM trước đây Việt Nam còn đơn giản và lạc hậu so với quy trình chung của thế giới, nhưng cho đến nay đã được điều chỉnh phù hợp hơn. Các yêu cầu và chất lượng của các báo cáo ĐTM cũng đã được nâng cao rõ rệt nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường.

2.2. Nội dung điều chỉnh của Pháp luật đánh giá tác động môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

2.2.1. Đối tượng thực hiện đánh giá tác động môi trường

Xác định được đối tượng phải thực hiện ĐTM là kết quả của bước sàng lọc – bước khởi đầu cho quá trình ĐTM. Những dự án không phải thực hiện ĐTM sẽ phải thực hiện Kế hoạch bảo vệ môi trường – là một trong các biện pháp bảo vệ môi trường dành cho những dự án đơn giản hơn, khả năng tác động tới môi trường không nhiều.

Hiện pháp luật ĐTM đã quy định tương đối cụ thể về giai đoạn này. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường tại Điều 18 Mục 3 Chương II và các đối tượng cụ thể hơn được quy định tại Phụ lục II của Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Yêu cầu thực hiện ĐTM tùy vào loại dự án và quy mô dự án. Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường gồm: các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; dự án có sử dụng đất của vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển; các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại, làng nghề và các khu sản xuất kinh doanh tập trung khác; dự án xây dựng cơ sở khám chữa bệnh và cơ sở y tế khác có quy mô từ 50 giường trở lên; dự án xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng; dự án xây dựng lò phản ứng hạt nhân; dự án khai thác, chế biến khoáng sản rắn có sử dụng hóa chất độc hại hoặc vật liệu nổ công nghiệp; dự án chế biến, tinh chế kim loại màu…Tổng số danh mục dự án phải thực hiện ĐTM là 113 danh mục.

ĐTM là hoạt động cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường, đem lại hiệu quả đáng kể trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, ĐTM là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự đầu tư cả về khả năng, kinh nghiệm và đương nhiên là cả thời gian cũng như kinh phí cho quá trình này. Vì vậy, yêu cầu phải thực hiện ĐTM chỉ nên dành cho những dự án có quy mô lớn, vai trò quan trọng, có nguy cơ tác động tới môi trường lớn để tiết kiệm thời gian, kinh phí khi triển khai dự án. Theo tác giả, quy định về đối tượng phải thực hiện ĐTM như hiện nay là tương đối hợp lý, đầy đủ và rõ ràng, đã có sự phân loại dự án, vị trí thực hiện và quy mô của dự án.

Ngoài ra, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định đối tượng phải thực hiện ĐTM thay cho quy định về Đối tượng phải lập báo cáo ĐTM của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, đây là một thay đổi tương đối đúng đắn, bởi ĐTM là một quá trình, gồm nhiều bước, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ là một bước trong quá trình ĐTM, do vậy thay đổi này là hoàn toàn hợp lý, thể hiện sự tiến bộ, thấu đáo của các nhà làm luật.

2.2.2. Quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

  • Thứ nhất, quy định về chủ thể lập báo cáo đánh giá tác động môi trường 26

Pháp luật ĐTM của Việt Nam quy định chủ thể thực hiện ĐTM có thể là chủ dự án hoặc các tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM được chủ dự án thuê thực hiện. Chủ thể thực hiện ĐTM phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ĐTM và các thông tin, số liệu được sử dụng trong báo cáo ĐTM, tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM còn phải chịu trách nhiệm trước chủ dự án đã thuê mình thực hiện ĐTM cho dự án. Chủ dự án chịu trách nhiệm đối với chi phí lập và thẩm định báo cáo ĐTM cho dự án của mình.

Chủ thể thực hiện ĐTM của dự án phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 13 Nghị định 18/2015, cụ thể:

Một là, cán bộ thực hiện ĐTM phải đáp ứng điều kiện, đó là có trình độ đại học trở lên và phải có chứng chỉ tư vấn ĐTM đúng chuyên ngành;

Hai là, tổ chức thực hiện ĐTM phải có cán bộ chuyên ngành liên quan đến dự án với trình độ đại học trở lên;

Ba là, phải có phòng thí nghiệm, các thiết bị kiểm chuẩn được xác nhận đủ điều kiện thực hiện đo đạc, lấy mẫu, xử lý, phân tích mẫu về môi trường phục vụ việc ĐTM của dự án; trường hợp không có phòng thí nghiệm, các thiết bị kiểm chuẩn đáp ứng yêu cầu, phải có hợp đồng thuê đơn vị có đủ năng lực.

Về chứng chỉ tư vấn ĐTM đối với cán bộ thực hiện ĐTM do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý việc đào tạo, cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, từ khi Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ có hiệu lực, đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có Thông tư chính thức hướng dẫn quy định quản lý việc đào tạo, cấp chứng chỉ tư vấn ĐTM. Việc chưa có hướng dẫn cụ thể dẫn tới công tác đánh giá trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực hiện ĐTM là rất khó khăn và hạn chế. Khi những tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn đối với chủ thể thực hiện ĐTM chưa rõ ràng thì thực trạng năng lực thực hiện ĐTM và lập báo cáo ĐTM còn yếu kém như hiện nay là đương nhiên xảy ra. Điều này khiến cho chất lượng công tác ĐTM là không cao, không đáp ứng được yêu cầu của ĐTM. Nhà nước cần sớm ban hành các quy định, tiêu chuẩn đối với chủ thể thực hiện ĐTM, cũng như thường xuyên tổ chức hướng dẫn, nâng cao năng lực chuyên môn cho các chủ thể thực hiện ĐTM.

Ngoài ra, sự phối hợp giữa chủ dự án với tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM thực tế thiếu chặt chẽ. Chủ dự án giao khoán, phó mặc cho tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM do mình thuê thực hiện hoạt động ĐTM. Đơn vị được thuê thực hiện ĐTM khi thiếu sự tham gia đóng góp ý kiến của chủ dự án – người nắm rõ nhất về cơ chế, quy mô, hoạt động của dự án sẽ dẫn tới báo cáo ĐTM thiếu tính chính xác, các nội dung đánh giá tác động, biện pháp khắc phục không phù hợp,…Chủ dự án thì do bỏ mặc cho đơn vị tư vấn thực hiện ĐTM nên không nắm rõ được nội dung báo cáo ĐTM và dẫn tới không thực hiện được những yêu cầu, cam kết đúng như theo báo cáo ĐTM. Do đó, giữa chủ dự án với tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM cần phải có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất cùng tham gia thực hiện ĐTM để đảm bảo hoàn thành tốt các nghĩa vụ ĐTM của mình, tránh khỏi các vi phạm trong ĐTM.

  • Thứ hai, quy định về tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường

Tham vấn có thể hiểu là hoạt động tham khảo ý kiến tư vấn, đánh giá của người khác đối với một lĩnh vực, vụ việc cụ thể. Tham vấn mang tính hỗ trợ người được tham vấn, giúp họ xác định và làm sáng tỏ vấn đề, xem xét các khả năng và giúp họ đưa ra lựa chọn tối ưu để giải quyết vấn đề của mình. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Tham vấn trong quá trình thực hiện ĐTM nhằm tham khảo ý kiến từ nhiều phía, thu thập kiến thức bản địa giúp cho chủ dự án có những nhận định, đánh giá, quyết định đúng đắn, toàn diện, bao quát hơn cho hoạt động ĐTM. Tham vấn trong quá trình thực hiện ĐTM là nhằm hoàn thiện báo cáo ĐTM, hạn chế thấp nhất các tác động xấu của dự án đến môi trường và con người, bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Tham vấn cộng đồng cũng góp phần tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của cộng đồng với vấn đề môi trường. Đây là giai đoạn được hầu hết các quốc gia, tổ chức thừa nhận và thực hiện trong hoạt động ĐTM. Việc tham vấn ý kiến cộng đồng khi thực hiện ĐTM trở thành yêu cầu bắt buộc, thể hiện sự dân chủ, nhân văn, khoa học…

Tuy nhiên, không phải dự án nào cũng cần thiết phải có ý kiến tham vấn. Khoản 3 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định các dự án không phải thực hiện tham vấn gồm: (1) Dự án phù hợp với quy hoạch của khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cho giai đoạn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; (2) Thuộc danh mục bí mật nhà nước.

Đối với các dự án không thuộc danh mục trên, chủ dự án phải tổ chức tham vấn Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thực hiện dự án, các tổ chức và cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án; nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các đối tượng liên quan được tham vấn. Việc tham vấn được tiến hành theo hai cấp:

  • Một là, Tham vấn Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức có liên quan

Chủ dự án gửi báo cáo ĐTM của dự án đến UBND cấp xã nơi thực hiện dự án và các tổ chức chịu tác động trực tiếp bởi dự án kèm theo văn bản đề nghị cho ý kiến;

UBND cấp xã nơi thực hiện dự án và các tổ chức chịu tác động trực tiếp bởi dự án có văn bản phản hồi trong thời hạn tối đa mười lăm (15) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của chủ dự án, hoặc không cần có văn bản phản hồi trong trường hợp chấp thuận việc thực hiện dự án. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

  • Hai là, Tham vấn cộng đồng dân cư

Chủ dự án và UBND cấp xã nơi thực hiện dự án đồng chủ trì tổ chức họp cộng đồng dân cư với sự tham gia của những người đại diện cho Uỷ ban mặt trận Tổ quốc cấp xã, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ dân phố, thôn, bản được UBND cấp xã triệu tập. Ý kiến của các đại biểu tham dự cuộc họp phải được thể hiện đầy đủ, trung thực trong biên bản họp cộng đồng.

Trường hợp dự án thuộc địa bàn nhiều xã, chủ dự án có thể tự quyết định hình thức tổ chức cuộc họp tham vẫn cộng đồng dân cư của từng xã hoặc liên xã.

Bộ TN&MT đã có hướng dẫn biểu mẫu cụ thể cho các văn bản liên quan đến hoạt động tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường tại Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, bao gồm: mẫu văn bản của chủ dự án gửi xin ý kiến tham vấn Ủy ban nhân dân cấp xã/cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp bởi dự án về nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường; mẫu văn bản trả lời của cơ quan, tổ chức được xin ý kiến tham vấn; mẫu biên bản họp tham vấn cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án.

Quy định về tham vấn cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án thông qua hình thức họp – cơ chế thông tin hai chiều là một cơ chế rất tiến bộ, tạo điều kiện cho người dân được ý kiến trực tiếp, sẽ giúp chủ dự án lập được báo cáo ĐTM hoàn thiện, khách quan hơn. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Hoạt động tham vấn về cơ bản chỉ được thực hiện trong giai đoạn lập báo cáo ĐTM; còn trong giai đoạn thẩm định, chỉ trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định mới lấy ý kiến tham vấn của các cơ quan, tổ chức và các chuyên gia về môi trường; phạm vi tham vấn đã thu hẹp hơn. Ở các quốc gia phát triển, tham vấn cộng đồng được tổ chức một cách toàn diện, công khai hơn với nội dung tham vấn đầy đủ, thời gian tham vấn lâu, phương thức tham vấn đa dạng, việc tham vấn cũng được thực hết hầu hết các giai đoạn của ĐTM nên đem lại chất lượng tham vấn rất cao.

Hiện nay, pháp luật ĐTM Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng, chặt chẽ về cơ chế tham vấn cộng đồng dân cư. Quy mô cộng đồng dân cư chịu tác động còn chưa rõ ràng, dự án thuộc địa phận xã này, nhưng tác động của dự án tới môi trường đâu chỉ trong phạm vi xã đấy mà còn có thể lan rộng ra các địa phương xung quanh.Mỗi giai đoạn của dự án lại có thể tác động tới các đối tượng khác nhau, nên việc xác định đối tượng chịu tác động để tiến hành tham vấn vẫn còn hạn chế. Đối tượng được tham vấn cũng quá hẹp (chỉ bao gồm UBND cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án, tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án). Trong khi đó, theo yêu cầu của việc tham vấn rộng rãi còn có rất nhiều các đối tượng khác cần được tham vấn như: các cơ quan, tổ chức, cá nhân có mối quan tâm đến dự án và các tác động của dự án; các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu, các chuyên gia có chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vực của dự án và các vấn đề môi trường liên quan đến dự án…[28]Pháp luật ĐTM của Việt Nam cũng cần quy định chặt chẽ hơn về cuộc họp tham vấn cộng đồng dân cư để đảm bảo cho người dân được lên tiếng, được thoải mái góp ý vào dự án như về việc cung cấp tài liệu tới dự án cho cộng đồng dân cư trước khi tiến hành họp, ý kiến tham vấn như nào là hợp lý mà chủ dự án phải tiếp thu, ý kiến mà chủ dự án không tiếp thu cần có giải trình,…

Khi pháp luật quốc gia còn chưa khắc phục được những hạn chế trên thì hoạt động tham vấn sẽ còn hạn chế, còn mang tính thủ tục, chưa thể hiện được vai trò của mình trong ĐTM.

  • Thứ ba, quy định về Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

Báo cáo ĐTM là hình thức thể hiện kết quả của quá trình ĐTM. Báo cáo ĐTM hợp lệ cần phải tuân thủ các yêu cầu về cả hình thức và nội dung, để từ đó các cơ quan có thẩm quyền xem xét, ra quyết định phê duyệt.

Về hình thức của báo cáo ĐTM, báo cáo ĐTM được thể hiện dưới dạng văn bản và phải đáp ứng yêu cầu về hình thức do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tại Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT quy định mẫu trang bìa, trang phụ bìa của báo cáo ĐTM tại Phụ lục 2.2 và quy định cấu trúc của báo cáo ĐTM tại phụ lục 2.3.

  • Về nội dung của Báo cáo đánh giá tác động môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Nội dung của Báo cáo đánh giá tác động môi trường là vấn đề cơ bản, mấu chốt của báo cáo ĐTM. Nội dung báo cáo ĐTM là thể hiện kết quả quá trình ĐTM, là kết quả của nỗ lực nghiên cứu, thăm dò, đánh giá tác động của dự án tới môi trường, là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt ĐTM, để dự án được triển khai. Điều 22 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đồng thời, tại Phụ lục 2.3 Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Bộ tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường cũng quy định về nội dung và hướng dẫn điền thông tin vào Báo cáo đánh giá tác động môi trường mẫu. Báo cáo ĐTM về cơ bản bao gồm các nội dung chính như:mô tả dự án về vị trí, công nghệ, quy mô; đánh giá hiện trạng môi trường, tình hình kinh tế – xã hội; đánh giá tác động của dự án tới môi trường; các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa tác động xấu; kết quả tham vấn; chương trình quản lý, giám sát môi trường.

Như vậy, báo cáo ĐTM không chỉ phản ánh kết quả của quá trình của phân tích, đánh giá, dự báo các tác động của dự án tới môi trường tự nhiên và cả tác động tới sức khỏe cộng đồng. Đây là điểm rất đáng ghi nhận của pháp luật ĐTM ở Việt Nam, phần nào cho thấy sự quan tâm của nhà làm luật tới môi trường xã hội. Nhiều nước trên thế giới yêu cầu báo cáo ĐTM là xem xét các tác động tới môi trường nói chung là bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường xã hội với các yếu tố như văn hóa, kinh tế, sức khỏe, xã hội. Quy định về ĐTM của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 của Việt Nam không bắt buộc xem xét đến tất cả các vấn đề về xã hội, mà mới chỉ yêu cầu đối với sức khỏe cộng đồng, theo tác giả đây là quy định phù hợp, cần thiết. Sức khỏe con người suy cho cùng là mục đích cuối cùng của việc bảo vệ môi trường, nên đương nhiên cần phải được các chủ dự án, người lập báo cáo ĐTM xem xét tới khi tiến hành ĐTM dự án của mình, đây là vấn đề cấp thiết, mấu chốt và phải được bắt buộc. Còn những vấn đề xã hội khác đúng là cũng quan trọng, nhưng chưa phải là cấp thiết trong hoàn cảnh hiện giờ của Việt Nam, khi mà hoạt động ĐTM vẫn chưa thực sự hoàn thiện, tiến bộ, còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Các vấn đề xã hội khác sẽ được quan tâm bằng những phương thức khác, chứ chưa thể lồng ghép ngay vào báo cáo ĐTM, việc này sẽ gây khó khăn cho người tiến hành ĐTM, gây hạn chế hoạt động đầu tư, cản trở phần nào sự phát triển của dự án, của phát triển kinh tế.

2.2.3. Thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

  • Quy định về thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM được xác định căn cứ vào quy mô, tính chất của dự án, vào thẩm quyền quyết định, phê duyệt chủ trương đầu tư. Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM thuộc về Bộ TN&MT; các bộ, cơ quan ngang bộ; UBND cấp tỉnh; được phân định như sau:

Bộ TN&MT chịu trách nhiệm thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các dự án liên ngành, liên tỉnh;… Danh mục các dự án thuộc thẩm quyền thẩm định, phê duyệt của Bộ TN&MT được quy định tại Phụ lục III Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Bộ, cơ quan ngang bộ tổ tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của các dự án thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt đầu tư của mình, trừ các dự án do Bộ TN&MT thẩm định, phê duyệt nêu trên.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của các dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh và các dự án thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt đầu tư của mình, trừ các dự án thuộc thẩm quyền thẩm định, phê duyệt của Bộ TN&MT.

UBND cấp tỉnh tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của các dự án đầu tư trên địa bàn của mình, không thuộc các dự án đã nêu trên. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Đối với các dự án thuộc thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của UBND cấp tỉnh đầu tư vào các khu công nghiệp đã được phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đã hoàn thành xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; UBND cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Ban quản lý các khu công nghiệp thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Điều kiện là Ban quản lý các khu công nghiệp đã thành lập Phòng Quản lý môi trường và có đủ biên chế từ năm (05) người trở lên có chuyên môn về bảo vệ môi trường. Ban quản lý các khu công nghiệp này phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ đến UBND cấp tỉnh; chịu sự kiểm tra, hướng dẫn của UBND cấp tỉnh và Sở TN&MT theo quy định của pháp luật.

Có sự phân cấp thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM sẽ góp phần phân chia khối lượng công việc, tránh sự quá tải, ùn ứ tại một bộ phận nhất định. Việc phân cấp này cần dựa trên khoa học – kỹ thuật và trên thực tiễn triển khai. Qua thực tế cho thấy phần lớn các báo cáo ĐTM do Bộ TN&MT thẩm định, phê duyệt; các báo cáo ĐTM do Bộ, cơ quan ngang Bộ thẩm định, phê duyệt tương đối ít, duy chỉ có Bộ Giao thông vận tải là thẩm định, phê duyệt nhiều hơn cả. Việc tuân thủ quy định pháp luật hiện nay về phân định thẩm quyền đang được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tương đối tốt. Việc phân cấp thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM cho địa phương là hướng đi đúng đắn, tuy nhiên, một số địa phương còn hạn chế về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cũng như các trang thiết bị cần thiết phục vụ hoạt động thẩm định, phê duyệt còn thiếu, Đặc biệt tại các tỉnh miền núi có trình độ phát triển kinh tế xã hội chưa cao, các cán bội chuyên trách còn hạn chế về năng lực chuyên môn nên triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường chưa cao. Ngoài ra, cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM đang gần như đồng thời là cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, nên phần nào hạn chế sự độc lập, khách quan khi phê duyệt báo cáo ĐTM; bởi nhiều địa phương vẫn chú trọng phát triển kinh tế hơn là đầu tư cho bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, xuất phát từ việc thiếu sự đồng nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật, khiến cho việc tuân thủ, thi hành gặp nhiều khó khăn và sai phạm là khó tránh khỏi. Tiêu biểu như theo văn bản số 4952/UBND-TNMT ngày 10/10/2016 của UBND tỉnh Lào Cai gửi Bộ TN&MT về việc xem xét thẩm quyền thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM các dự án thủy điện. Văn bản nêu rõ sự bất nhất giữa các văn bản Nghị định 18/2015/NĐ-CP, Thông tư 27/2015/TT-BTNMT và Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

  • Tài nguyên nước. Cụ thể: Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định: dự án khai thác nước thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì sẽ do Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM (mục 6 Phụ lục III). Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định: dự án khai thác nước với công suất 2000kW (2MW) trở lên do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép xây dựng (điểm d Khoản 1 Điều 28). Như vậy: dự án với công suất 2MW trở lên do Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM

  • Nghị định 18/2015/NĐ-CP cũng quy định: công trình thủy điện có công suất 10MW trở lên phải thực hiện ĐTM (mục 27 Phụ lục II)
  • Thông tư 27/2015/TT-BTNMT lại quy định: nhà máy thủy điện công suất dưới 10MW chỉ phải đăng ký Kế hoạch bảo vệ môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường (Mục 8 Phụ lục 5.1).

So sánh ba quy định nêu trên đã cho thấy sự thiếu đồng nhất của pháp luật. Ngay trong chính Nghị định 18/2015/NĐ-CP đã có sự bất nhất, công trình thủy điện trên 10MW mới phải thực hiện ĐTM, vậy mà lại quy định công trình thủy điện 2MW do Bộ TN&MT thẩm định báo cáo ĐTM. Thêm nữa Thông tư 27/2015/TT-BTNMT đã khiến cho các cơ quan môi trường Lào Cai nói riêng và các cơ quan quản lý về môi trường địa phương nói chung lúng túng, khó khăn trong xác định trách nhiệm, thẩm quyền. Chính sự thiếu đồng nhất của các văn bản quy phạm pháp luật đã khiến cho việc thực hiện phân cấp thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Quy trình thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

  • Bước 1:Chủ dự án nộp sơ đến cơ quan có thẩm quyền thẩm định

Hồ sơ bao gồm: 01 văn bản đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM, Báo cáo ĐTM của dự án (thường là 7 bản theo số lượng thành viên hội đồng thẩm định, chủ dự án phải cung cấp thêm nếu số lượng thành viên hội đồng thẩm định cao hơn)

  • Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt nhận hồ sơ

Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, cơ quan thẩm định có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến cho chủ dự án trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Nếu hồ sơ hợp lệ, cơ quan phải giao giấy biên nhận cho chủ dự án.

  • Bước 3: Thẩm định báo cáo ĐTM Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Việc thẩm định báo cáo ĐTM do một Hội đồng thẩm định thực hiện. Hội đồng này sẽ do thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan thành lập với ít nhất 7 thành viên. Cơ cấu hội đồng thẩm định gồm Chủ tịch hội đồng, một (01) Phó Chủ tịch hội đồng trong trường hợp cần thiết, một (01) Ủy viên thư ký, hai (02) Ủy viên phản biện và một số Ủy viên, trong đó phải có ít nhất ba mươi phần trăm (30%) số thành viên hội đồng có từ bảy (07) năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá tác động môi trường. Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án để kịp thời ứng phó với thiên tai, dịch bệnh có thể được thực hiện thông qua hình thức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan, không nhất thiết phải thông qua hội đồng thẩm định.

Trong quá trình thẩm định, cơ quan thẩm định được tiến hành các hoạt động sau đây: Khảo sát, kiểm chứng các thông tin, số liệu về hiện trạng môi trường tại địa điểm thực hiện dự án và khu vực kế cận; Lấy mẫu phân tích kiểm chứng; Tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp phản biện nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường; Tổ chức các cuộc họp đánh giá theo chuyên đề. Sau khi hội đồng thẩm định có trách nhiệm xem xét nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường và đưa ra ý kiến thẩm định để làm cơ sở cho cơ quan thẩm định xem xét, quyết định việc phê duyệt báo cáo ĐTM.

Trong thời hạn 45 ngày làm việc đối với báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và môi trường, 30 ngày làm việc đối với các báo cáo ĐTM còn lại, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thẩm định báo cáo ĐTM, cơ quan thẩm định phải trả kết quả thông qua không cần chỉnh sửa, bổ sung hoặc thông qua với điều kiện phải chỉnh sửa, bổ sung. Trường hợp không thông qua, cơ quan thẩm định có văn bản trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do.

  • Bước 4: Phê duyệt và gửi kết quả

Sau khi nhận kết quả thẩm định. Chủ dự án hoàn thiện và gửi cơ quan thẩm định hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM. Hội đồng thẩm định trình hồ sơ đề nghị phê duyệt cho thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền phê duyệt do chủ dự án gửi đến, để ban hành quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Trường hợp không phê duyệt thì cơ quan phê duyệt phải có văn bản nêu rõ trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM. Sau khi phê duyệt, cơ quan phê duyệt ban hành quyết định phê duyệt và xác nhận báo cáo ĐTM đã được phê duyệt trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM, sau đó các tài liệu này sẽ được gửi đến chủ dự án và các đơn vị liên quan. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Như vậy dự án được phê duyệt báo cáo ĐTM là dự án có Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM và báo cáo ĐTM của dự án đã có xác nhận phê duyệt vào mặt sau của phụ bìa.

Một vấn đề đối với quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đó là trong đó không có nội dung quy định việc phối hợp hoặc ủy quyền cho địa phương thực hiện kiểm tra, giám sát sau phê duyệt, dẫn tới các cơ quan địa phương không chủ động xử lý khi có vi phạm trong thực hiện báo cáo ĐTM.

  • Về lệ phí thẩm định

Lệ phí đối với các dự án thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 195/2016/TT-BTC ngày 08 tháng 11 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết do cơ quan trung ương thực hiện thẩm định. Chủ dự án nộp hồ sơ thẩm định sẽ đồng thời nộp lệ phí thẩm định cho cơ quan thẩm định. Lệ phí này được phân chia như sau: 90% được sử dụng để chi phí cho việc thực hiện các hoạt động liên quan đến thẩm định báo cáo ĐTM và 10% còn lại nộp vào ngân sách nhà nước. Lệ phí hiện nay trong khoảng từ 6 – 96 triệu đồng, tùy thuộc vào loại dự án và vốn đầu tư vào dự án.

Đối với báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền thẩm định của UBND cấp tỉnh, việc tổ chức thu phí được thực hiện trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Thông tư số 250/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương mà quy định mức thu cho phù hợp với quy mô dự án; chuyên ngành dự án hoặc mức độ phức tạp của công tác thẩm định. Khác với trước kia, mức thu phí thẩm định được quy định chung cho các tỉnh là như nhau từ 5 – 26 triệu đồng trên một báo cáo ĐTM [1].Như vậy, địa phương được tự quy định mức phí, việc quản lý, sử dụng phí thẩm định đối với báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền thẩm định của mình. Các dự án có mức vốn đầu tư giống nhau, tuy nhiên lại được thực hiện ở địa phương khác có sự khác nhau về vị trí địa lý, tình hình kinh tế – xã hội, văn hóa,… sẽ dẫn tới hoạt động thẩm định có sự khác nhau, do vậy phí thẩm định báo cáo ĐTM cho các dự án này được địa phương tự quy định là phù hợp. Tuy nhiên, địa phương tự quy định về phí thẩm định cũng có hạn chế đó là cơ sở để địa phương tự thiết lập kế hoạch thu phí là chưa rõ ràng; trình độ cán bộ nhân viên chuyên ngành thiếu năng lực, kinh nghiệm sẽ khiến cho mức phí thẩm định báo cáo thiếu tính phù hợp, không đáp ứng được các yêu cầu thẩm định. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Về chi phí thẩm định báo cáo ĐTM quy định như hiện nay là rất thấp, chiếm một phần rất nhỏ vốn đầu tư của dự án, trong khi các quốc gia khác quy định phí này có thể lên tới 1-3% tổng vốn đầu tư. Với mức phí thấp như hiện nay khó có thể đáp ứng các yêu cầu khảo sát, đo đạc một cách nghiêm túc và cập nhật các chỉ tiêu môi trường ở các khu vực dự án cụ thể phục vụ quá trình thẩm định báo cáo ĐTM.

Pháp luật hiện hành đã quy định tương đối cụ thể đầy đủ về các vấn đề liên quan đến hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM, bởi đây là một giai đoạn rất quan trọng, là giai đoạn tiệm cận cho quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Các quy trình, thủ tục thẩm định ĐTM được quy định rõ ràng, minh bạch theo hướng cải cách hành chính, đảm bảo chất lượng của công tác thẩm định. Từ năm 2005 đến nay, hơn 100 dự án đầu tư trên các lĩnh vực khác nhau đã phải thay đổi địa điểm hoặc không được phê duyệt vì không đảm bảo các yêu cầu về BVMT. Như vậy, có thể thấy ĐTM trở thành công cụ hữu ích khi gắn trách nhiệm của chủ dự án đối với công tác BVMT [27].Tuy nhiên, xét về tính đồng bộ, toàn diện thì các quy định về ĐTM hiện nay đang thiếu những yêu cầu, tiêu chí cần thiết để đảm bảo chất lượng của các báo cáo ĐTM. Các quy định hiện hành thiếu những quy định về cơ sở để đánh giá chất lượng của báo cáo ĐTM đó.Điều này dẫn đến thực tế là việc thẩm định các báo cáo của ĐTM chủ yếu dựa vào ý chí chủ quan của người thẩm định, chưa có các căn cứ cụ thể để thẩm định và cơ chế pháp lí cụ thể ràng buộc yêu cầu thẩm định. Hạn chế của pháp luật ĐTM đã khiến cho chất lượng thẩm định, phê duyệt một số báo cáo ĐTM một cách tùy tiện, không đảm bảo chất lượng.

2.2.4. Các nội dung bảo vệ môi trường sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt

Sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt, chủ dự án sẽ có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM, có thể còn phải điều chỉnh nội dung của dự án đầu tư để đảm bảo các biện pháp, công trình bảo vệ môi trường theo yêu cầu này trong trường hợp cần thiết.

  • Niêm yết công khai kế hoạch quản lý môi trường

Chủ dự án lập kế hoạch quản lý môi trường gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã tham vấn ý kiến trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường để được niêm yết công khai trước khi khởi công xây dựng, đồng thời gửi UBND tỉnh và SởTN&MT để kiểm tra và theo dõi. Kế hoạch quản lý môi trường của dự án được lập dựa trên cơ sở chương trình quản lý môi trường và giám sát môi trường đã đề xuất trong Báo cáo ĐTM.

  • Báo cáo tiến độ triển khai và các thay đổi của dự án Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Chủ dự án phải báo cáo rõ thời gian bắt đầu thi công, các hạng mục đã và đang xây dựng và các biện pháp bảo vệ môi trường. Các thay đổi của dự án (nếu có) sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt.

Dự án đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng trong quá trình triển khai thực hiện có một trong những thay đổi dưới đây, chủ dự án phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường:

Thứ nhất, Dự án không triển khai trong thời gian 24 tháng kể từ thời điểm quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM;

Thứ hai, khi có thay đổi địa điểm thực hiện dự án so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt;

Thứ ba, khi bổ sung những hạng mục đầu tư có quy mô, công suất tương đương với đối tượng thuộc danh mục dự án phải thực hiện ĐTM quy định tại Phụ lục II Nghị định 18/2015/NĐ-CP;

Thứ tư, dự án có thay đổi về quy mô, công suất, công nghệ hoặc những thay đổi khác làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt mà các công trình bảo vệ môi trường không có khả năng giải quyết được các vấn đề môi trường gia tăng;

Thứ năm, lập lại báo cáo ĐTM theo đề nghị của chủ dự án.

Quy trình lập lại báo cáo ĐTM được thực hiện như khi lập mới báo cáo ĐTM. Chủ dự án được chỉ tiến hành thực hiện những thay đổi nêu trên sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt lại báo cáo ĐTM.

Trường hợp thay đổi quy mô, công suất, công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt nhưng chưa đến mức phải lập lại báo cáo ĐTM, chủ đầu tư dự án phải giải trình với cơ quan phê duyệt và chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM.

Quy định về việc lập lại báo cáo ĐTM như vậy là hợp lý và cần kiểm soát việc thực hiện các quy định đó chặt chẽ, không để lọt các đối tượng thuộc diện phải lập lại báo cáo ĐTM mà lại không thực hiện. Bởi hoạt động này đóng vai trò như một báo cáo ĐTM mới, cũng là công cụ quản lý môi trường, quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của chủ dự án đối với bất kỳ hoạt động nào của mình. Quy định về lập lại báo cáo ĐTM góp phần điều chỉnh các biện pháp bảo vệ môi trường cho phù hợp với dự án, với thực tiễn, giảm thiểu những tác động tiêu cực mới phát sinh khi dự án có sự thay đổi.

Tuy nhiên, kiểm soát được sự thay đổi của các dự án để yêu cầu lập lại báo cáo ĐTM là hoạt động tương đối khó. Theo quy định, khi có sự thay đổi mà pháp luật yêu cầu thay đổi đó thuộc diện phải lập lại báo cáo ĐTM, chủ dự án phải tự giác tiến hành thực hiện lập lại báo cáo ĐTM. Nhưng chủ đầu tư thường không lập lại thủ tục môi trường trước khi nâng công suất, quy mô sản xuất và chỉ khi cơ quan quản lý kiểm tra phát hiện và yêu cầu thì các cơ sở này mới làm thủ tục môi trường lại. Vẫn có một số trường hợp chây ì chưa thực hiện. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

  • Kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải

Chủ dự án có trách nhiệm thông báo kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải đến tổ chức nơi tham vấn, cơ quan thẩm định 10 ngày làm việc trước khi tiến hành vận hành các công trình đó. Tổ chức vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải đồng thời với quá trình vận hành thử nghiệm dự án. Trường hợp gây ra sự cố môi trường thì phải dừng ngay hoạt động vận hành thử nghiệm và báo cáo kịp thời tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để hướng dẫn giải quyết; chịu trách nhiệm khắc phục sự cố môi trường, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Việc vận hành thử nghiệm không quá 6 tháng, để kéo dài thời gian vận hành thử nghiệm phải được sự chấp thuận của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM.

  • Xác nhận công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành

Đối với các trường hợp quy định tại cột 4 Phụ lục II Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính Phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, chủ dự án phải báo cáo kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành gửi cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường để kiểm tra, xác nhận hoàn thành trước khi đưa dự án vào vận hành chính thức. Đối với dự án đầu tư có nhiều giai đoạn, việc báo cáo kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án được thực hiện theo từng giai đoạn của dự án.

Sau đó, thủ trưởng cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM thành lập đoàn kiểm tra để thực hiện công tác kiểm tra các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án.

Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành nghiên cứu hồ sơ dự án, tiến hành các cuộc họp, hoạt động kiểm tra thực tế các công trình, tham gia đối thoại trực tiếp với chủ dự án để rồi đưa ra đánh giá công trình đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu.

Trường hợp công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án đã được xây dựng phù hợp với báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và văn bản chấp thuận cho phép điều chỉnh, thay đổi của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM (nếu có), cơ quan kiểm tra cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Đối với các công trình mà đoàn kiểm tra cần tiến hành lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu môi trường để kiểm chứng thì thời hạn cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường là 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ báo cáo kết quả thực hiện công trình bảo vệ môi trường; và 15 ngày đối với các công trình mà đoàn kiểm tra không cần tiến hành lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu môi trường để kiểm chứng.

Nếu công trình bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu của phê duyệt báo cáo ĐTM thì trong thời hạn năm (05) ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra, cơ quan kiểm tra có thông báo bằng văn bản đến chủ dự án. Chủ dự án sẽ tiến hành khắc phục những tồn tại, những điểm chưa đáp ứng yêu cầu mà cơ quan kiểm tra đưa rồi báo cáo lại để được xem xét, xác nhận. Trong 5 ngày làm việc, cơ quan kiểm tra có trách nhiệm xem xét, cấp giấy xác nhận hoặc có văn bản trả lời chủ dự án.

Có thể thấy pháp luật hiện hành quy định chưa thực sự đầy đủ về cơ chế kiểm tra sau phê duyệt báo cáo ĐTM, chưa quy định rõ về các nội dung phải kiểm tra, trường hợp nào cần tiến hành lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu môi trường, trường hợp nào không? Vấn đề về nhân sự, pháp luật cũng chưa quy định cụ thể về điều kiện của thành viên đoàn kiểm tra, những người nào đủ điều kiện, khả năng để tham gia kiểm tra công tác hậu kiểm sau phê duyệt báo cáo ĐTM. Cùng với các nguyên nhân thuộc về ý thức chấp hành của chủ dự án nên tình trạng các dự án chưa đảm bảo thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phù hợp với quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM còn tồn tại nhiều, hay những công trình đã được cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường nhưng thực tế công trình đó lại không hề đem lại hiệu quả bảo vệ môi trường. Công tác kiểm tra, giám sát các công trình, hoạt động thực hiện báo cáo ĐTM cần phải chặt chẽ, đầy đủ trong các giai đoạn của dự án nhất là giai đoạn sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, đồng thời phải quy định rõ trách nhiệm của những người tham gia kiểm tra công trình bảo vệ môi trường.

2.2.5. Xử lý vi phạm pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Mỗi chủ thể khi có hành vi vi phạm pháp luật sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do pháp luật quy định. Đây chính là trách nhiệm pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền sẽ quy định để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật ĐTM.Tùy thuộc vào mức độ, vào hậu quả của hành vi vi phạm mà chủ thể thực hiện hành vi sẽ phải hình thức xử lý vi phạm khác nhau. Với những hành vi vi pháp luật ĐTM mà gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân khác, có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và pháp luật có liên quan.

  • Xử lý hành chính

Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường được quy định trong Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Các hành vi vi phạm quy định về thực hiện báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ có khung xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng tùy vi phạm. Vi phạm nhẹ nhất là việc chủ dự án không gửi kế hoạch quản lý môi trường cho UBND cấp xã để thực hiện niêm yết công khai trước khi khởi công xây dựng dự án và mức xử phạt nặng nhất là đối với hành vi không lập báo cáo ĐTM. Với các báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền phê duyệt của UBND tỉnh, của các Bộ, cơ quan ngang Bộ có khung xử lý vi phạm hành chính trong khoảng từ 2.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng, với việc phân loại vi phạm tương tự như các báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Ngoài chịu các hình thức xử phạt về tài chính nêu trên, với một số vi phạm chủ dự án còn phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung và phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Với hành vi xây lắp, lắp đặt thiết bị, đường ống hoặc các đường thải khác để xả chất thải không qua xử lý ra môi trường; không vận hành thường xuyên hoặc vận hành không đúng quy trình đối với công trình bảo vệ môi trường; không vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải đồng thời với quá trình vận hành thử nghiệm dự án sẽ vừa phải chịu phạt về tài chính là từ 80.000.000 đồng 100.000.000 đồng, vừa bị đình chỉ hoạt động trong 03 tháng đến 06 tháng và buộc phải vận hành đúng quy trình đối với công trình bảo vệ môi trường, buộc tháo dỡ công trình bảo vệ môi trường được xây lắp trái quy định về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường. Những hành vi vi phạm khác như: không lập hồ sơ báo cáo kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường, không có giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án; không lập báo cáo ĐTM cũng sẽ bị phạt về tài chính, đình chỉ hoạt động 03 tháng đến 06 tháng và phải thực hiện các biện pháp khắc phục đó là xây lắp, vận hành công trình bảo vệ môi trường và lập hồ sơ báo cáo kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Nghị định cũng quy định việc xử phạt đối với vi phạm của các tổ chức tư vấn lập báo cáo ĐTM cho chủ dự án với các mức từ 5.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đồng thời bị đình chỉ hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng. Các tổ chức tư vấn lập báo cáo ĐTM sẽ bị xử phạt nếu không có đủ điều kiện cung ứng dịch vụ về cơ sở vật chất, về cán bộ có chuyên môn; hay cung cấp những thông tin sai lệch, sai sự thật trong báo cáo ĐTM.

Các mức phạt tiền nêu trên là mức áp dụng với cá nhân có hành vi vi phạm, còn đối với tổ chức mức phạt tiền được nâng lên gấp đôi.

Theo số liệu từ Tổng cục Tài nguyên và môi trường, năm 2015, Tổng cục Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 138 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền là 21.933 triệu đồng và 17 Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm theo quy định. Đây mới chỉ là con số thu thập được ở cấp trung ương, chưa tính tới cấp địa phương, cũng như chưa tính tới thời điểm hiện nay nên có thể thấy lượng vi phạm các quy định về môi trường hiện nay là cực kỳ lớn. Do đó, cơ chế xử phạt là vô cùng cần thiết và cần được tiến hành thường xuyên, nghiêm khắc hơn nữa.

Điểm tiến bộ của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP đó nếu tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng nội dung đánh giá tác động môi trường nhưng làm cho môi trường tốt hơn đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận sẽ không bị phạt. Thẩm quyền xử phạt hành chính các vấn đề về môi trường có thể là: chủ tịch UBND các cấp, Công an nhân dân, Thanh tra chuyên ngành, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Thuế, Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội địa,…Các cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm về môi trường có liên quan đến lĩnh vực mình quản lý. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về môi trường là tương đối đa dạng, việc này nhằm tăng cường giám sát thực hiện bảo vệ môi trường tại nhiều lĩnh vực, nhiều địa điểm. Tuy nhiên, cũng sẽ khó tránh việc chồng chéo về thẩm quyền, đùn đẩy trách nhiệm xử lý vi phạm. Theo mức xử phạt hiện nay, có thể thấy đây vẫn là mức xử phạt tương đối thấp, chưa đủ tính răn đe. Những dự án phát triển kinh tế – xã hội hiện nay đều có lượng vốn đầu tư tương đối lớn, nên mức xử phạt hiện nay chưa khiến chủ dự án lưu tâm, chú trọng và vẫn tiếp tục vi phạm. Hơn nữa, quy trình chứng minh, xử lý vi phạm vẫn rất phức tạp và cần thời gian dài.

  • Một vài trường hợp vi phạm pháp luật ĐTM cụ thể như: Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Tháng 8/2017 UBND tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình Dân dụng và Công nghiệp tỉnh Ninh Bình – chủ đầu tư dự án Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình số tiền 400 triệu đồng do không có báo cáo ĐTM. Theo Quyết định, Dự án đã vi phạm quy định tại Điểm d, Khoản 5, Điều 11, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ (quy định xử phạt với hành vi không lập báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM của Bộ Tài nguyên và Môi trường). Do đó, bị đình chỉ hoạt động xây dựng trong thời gian 60 ngày, đồng thời, yêu cầu Ban quản lý Dự án hoàn tất các thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường trình Bộ TN&MT phê duyệt [24].

Ngày 13/10/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định số 1751/QĐ-XP xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với công ty TNHH Khải Thần Việt Nam hoạt động sản xuất sản phẩm từ plastic, các sản phẩm khác từ bìa và giấy. Theo đó Công ty TNHH Khải Thần Việt Nam bị xử phạt với những sai phạm sau: (1) Xây dựng các hạng mục công trình không đúng vị trí, diện tích và hệ thống xử lý nước thải không đúng kích thước, công nghệ so với nội dung báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, quy định tại điểm e khoản 1 Điều 9 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP và mức xử phạt là 70.000.000 đồng; (2) Không vận hành thử nghiệm các công trình đồng thời với quá trình vận hành thử nghiệm dự án, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 9 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP và chịu mức phạt là 140.000.000 đồng; (3) Không xây lắp công trình BVMT theo quy định, quy định tại điểm m khoản 1 Điều 9 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP và mức xử lý vi phạm là 260.000.000 đồng;… Ngoài ra Công ty Khải Thần Việt Nam còn bị đình chỉ hoạt động trong thời hạn 03 tháng để khắc phục vi phạm; bị buộc phải chấm dứt ngay hành vi vi phạm nêu trên; vận hành thử nghiệm các công trình BVMT đồng thời với quá trình vận hành thử nghiệm dự án theo quy định; thực hiện xây lắp các công trình BVMT theo nội dung báo cáo ĐTM đã được phê duyệt [18].

  • Xử lý hình sự

Ngoài các hình thức xử lý nêu trên, khi chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật ĐTM gây hậu quả nghiêm trọng có thể sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự, đây chính là hình thức xử lý nghiêm khắc nhất. Hiện nay, trách nhiệm hình sự đã được áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân thương mại theo Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tội phạm về môi trường được quy định tại Chương XIX Bộ luật Hình sự năm 2015, tuy không quy định cụ thể tội danh cho hành vi vi phạm pháp luật ĐTM nhưng có quy định về tội gây ô nhiễm môi trường; tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại; tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản;… Hành vi vi phạm pháp luật về ĐTM mà kéo theo đó là gây ô nhiễm môi trường, hay hủy hoại nguồn lợi thủy sản,… cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật hình sự. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Việc xử lý trách nhiệm hình sự sẽ căn cứ vào mức độ và tính chất nghiêm trọng của hành vi của các chủ thể có hành vi vi phạm. Theo đó, chủ thể vi phạm có thể bị xử phạt tiền lên tới 15 tỷ VNĐ, phạt tù 7 năm, phạt đình chỉ hoạt động trong vòng 3 năm, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hay nhiều hình thức xử phạt khác. Quy định xử lý trách nhiệm hình sự với tội phạm về môi trường thể hiện đường lối, chính sách xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường, các trường hợp vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử lý với mức phạt tiền rất cao, cá nhân có thể phải chịu hình phạt tù, pháp nhân có thể bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Việc quy định trách nhiệm hình sự sẽ nâng cao hiệu quả răn đe, trừng trị mà cơ chế xử lý vi phạm hành chính còn hạn chế.

Các quy định về xử lý hình sự vi phạm pháp luật môi trường còn rất mới, khả năng áp dụng vào thực tiễn không cao; tới nay chưa có pháp nhân nào bị xử lý hình sự, lượng cá nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn tương đối ít.

Vi phạm trong thực hiện hoạt động đánh giá tác động môi trường hiện nay diễn ra khá phổ biến. Các vi phạm điển hình như: “trốn” ĐTM, không thực hiện đúng kế hoạch bảo vệ môi trường như đã cam kết trong báo cáo ĐTM,…Vi phạm này chủ yếu do nhận thức về nghĩa vu bảo vệ môi trường của chủ dự án còn kém, nhu cầu đẩy nhanh trong triển khai dự án cùng sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Và cơ chế xử lý vi phạm như hiện nay còn quá nhẹ, mức phạt còn rất thấp so với lợi ích kinh tế mà dự án đem lại nên chủ dự án, do đó không đủ sức răn đe, chủ dự án vẫn bất chấp vi phạm pháp luật để chạy theo lợi ích kinh tế. Hơn nữa, do cơ chế thanh tra, kiểm tra của nước ta hiện nay về vấn đề còn chưa sát sao, việc kiểm tra thực hiện báo cáo ĐTM chưa được quy định cụ thể trong Luật bảo vệ môi trường, việc phát hiện sai phạm chủ yếu do người dân địa phương phát hiện và tố cáo hay do các chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường thực hiện.

2.3. Liên hệ tới sự cố môi trường Formosa Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Sự cố môi trường được dư luận chú ý tới nhất hiện nay phải kể đến vụ việc cá chết hàng loạt ở vùng biển thuộc bốn tỉnh miền Trung: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Huế vào năm 2016. Các cơ quan có thẩm quyền đã tích cực triển khai tìm hiểu nguyên nhân và xác định thủ phạm gây ra sự cố là do việc xả thải trái phép của Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa). Đây là sự cố nghiêm trọng và phạm vi ô nhiễm lan rộng nên đã có sự vào cuộc điều tra, xử lý không chỉ của Bộ Tài nguyên và Môi trường mà còn có sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan như: Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ NN&PTNT…

2.3.1. Tóm lược sự cố môi trường Formosa

Ngày 7/4/2016 hiện tượng cá chết bắt đầu xuất hiện trên vùng biển Hà Tĩnh, đặc biệt là khu vực Vũng Áng, gần nhà máy Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Sau đó lần lượt lan vào Quảng Bình, Quảng Trị và đến ngày 20/4/2016 đến lượt Thừa Thiên Huế. Đến ngày 26/4 Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ Phạm Công Tạc cho biết các kết quả phân tích cho thấy đã đủ căn cứ khoa học để loại trừ hầu hết các nhóm nguyên nhân tự nhiên từ địa chấn, sốc nhiệt, dịch bệnh… Ngày 1/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trực tiếp vào Hà Tĩnh chỉ đạo phải tìm cho ra nguyên nhân cá chết, đồng thời ký quyết định hỗ trợ khẩn cấp cho người dân tại các bị ảnh hưởng do cá chết bất thường. Ngày 2/6, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết đã tìm ra nguyên nhân cá chết nhưng chưa công bố vì chờ phản biện. Ngày 30/6, Chính phủ tổ chức họp báo công bố nguyên nhân cá chết là do nước thải từ Fomosa. Công ty Formosa đã thừa nhận, xin lỗi nhân dân Việt Nam và cam kết bồi thường 500 triệu USD để khắc phục hậu quả.

  • Về thiệt hại mà sự cố môi trường Formosa gây ra

Trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về vụ hải sản chết hàng loạt ở Miền Trung do việc xả thải của công ty Formosa, Chính phủ đã công bố chi tiết những thiệt hại cả kinh tế và xã hội việc hải sản chết hàng loạt. Về kinh tế, riêng số hải sản chết dạt vào bờ được đánh giá khoảng 100 tấn, các rạn san hô, phù du sinh vật cũng chết khiến suy giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản khu vực, ảnh hưởng đến sinh kế lâu dài của dân. Chính phủ xác định có tới trên 17.600 tàu cá và gần 41.000 người đã bị ảnh hưởng trực tiếp. Trên 176.000 người phụ thuộc bị ảnh hưởng theo. Do không thể đánh bắt trong phạm vi từ bờ đến 20 hải lý, có tới 90% tàu lắp máy công suất thấp và gần 4.000 tàu không lắp máy đã phải nằm bờ. Sản lượng khai thác ven bờ thiệt hại khoảng 1.600 tấn/tháng.Với hoạt động nuôi trồng thủy sản, có 9 triệu tôm giống bị chết, hàng ngàn lồng nuôi cá cũng bị thiệt hại.

Hoạt động du lịch của các tỉnh miền Trung cũng theo đó bị chững lại. Lượng khách du lịch giảm hẳn, tỉ lệ đặt phòng khách sạn, nhà nghỉ giảm đi khoảng 40%-50%. Việc tiêu thụ hải sản cũng theo đó giảm đi đáng kể. Sự cố môi trường này gây ảnh hưởng rất nặng nề với người dân các tỉnh miền Trung.

Về xã hội, người dân rơi vào cảnh thất nghiệp, nợ nần do không tiêu thụ được hải sản, đời sống khó khăn. Người dân phần nào mất niềm tin vào nhà nước, bởi các sai phạm của Formosa hầu hết do người dân phát hiện, khi được dân báo cáo, cơ quan nhà nước mời vào cuộc tìm ra sai phạm cụ thể. Vậy còn những sai phạm khác, mà người dân chưa “may mắn” tìm ra được thì sẽ ra sao? Tuy nhiên, với những gì Chính phủ đang thực hiện, cũng cho thấy phần nào sự quan tâm sát sao, trách nhiệm của nhà nước đối với các thiệt hại mà người dân đã và đang phải gánh chịu, người dân cũng đang dần khắc phục những khó khăn đó, phần nào lấy lại niềm tin hơn vào các cơ quan Nhà nước.

2.3.2. Vi phạm pháp luật ĐTM của Formosa Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Để xác định nguyên nhân và thủ phạm, các Bộ cùng các nhà khoa học trong đó có cả các nhà khoa học đến từ Mỹ, Đức, Nhật Bản, Isarael cùng tham gia quá trình này. Sau nhiều ngày tiến hành điều tra, xác minh, thu thập bằng chứng, các cơ quan điều tra đã xác định được nguyên nhân và thủ phạm, đồng thời chính Formosa cũng đã thừa nhận sự cố môi trường khiến thủy sản chết hàng loạt dọc ven biển 4 tỉnh miền Trung, nguyên nhân là do quá trình vận hành thử nghiệm của Formosa Hà Tĩnh đã xả ra biển các độc tố Phenol, Xyanua, Hydroxit Sắt vượt quá mức cho phép. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố 53 hành vi vi phạm của Formosa Hà Tĩnh, từ các sai sót trong thiết kế, thi công, xây dựng cho đến vận hành.

Vào ngày 30/6/2016 Chính phủ đã họp báo công bố những vi phạm và sự cố trong quá trình thi công vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy của công ty Formosa Hà Tĩnh là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng, làm hải sản tại 4 tỉnh miền Trung chết bất thường [9]. Cụ thể, nguồn gây ô nhiễm vùng biển Vũng Áng được xác định là nước thải xả ra biển phát sinh từ quá trình vận hành thử nghiệm hệ thống lò luyện cốc có chứa các độc tố Phenol, Xyanua, Hydroxit Sắt vượt quá mức cho phép [30].

Để dẫn tới sai phạm nêu trên có một phần nguyên nhân là do sai phạm trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án do Formosa làm chủ đầu tư đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt. Những vi phạm dưới đây không phải chỉ riêng đối với trường hợp của Formosa, mà còn tồn tại rất nhiều trong thực tế, là những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật ĐTM ở Việt Nam hiện nay.

  • Vi phạm trong lập báo cáo ĐTM của Formosa Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Về nội dung báo cáo ĐTM của Formosa, các yêu cầu về đánh giá chi tiết các tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực hiện, dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình gây ra, biện pháp cụ thể giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường vô cùng sơ sài, giản lược. Trong đó, đánh giá tác động của nước thải đến môi trường trong giai đoạn vận hành nhà máy chưa đến 2,5 trang với 1,5 trang là các bảng biểu, 1 trang là phần đánh giá tác động môi trường, nhưng chủ yếu là liệt kê các nguồn nước thải của nhà máy ra môi trường, đặc điểm của các loại nước thải đó. Ngoài ra, không có thông tin nào cho biết lượng nước thải này có ảnh hưởng như nào đến môi trường. Cũng không có một dòng nào về sự cố với môi trường biển, đất và không khí. Có thể đánh giá với nội dung như vậy, báo cáo ĐTM của dự án Formosa có chất lượng quá thấp, mang tính đối phó, như một thủ tục để được phê duyệt chứ không phải một báo cáo có tính khoa học thực sự [1].

Báo cáo ĐTM của Formosa hầu như rất sơ sài, thiếu xót nhiều, không đảm bảo các yêu cầu dự báo các tác động của dự án tới môi trường, từ đó không đưa được những biện pháp, công trình để bảo vệ môi trường tránh khỏi những tác động đó. Sai phạm có lẽ cũng có phần thuộc về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM – Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường – người ký phê duyệt lần đầu cho các báo cáo ĐTM cho Formosa cho rằng: Formosa được phê duyệt báo cáo ĐTM từ năm 2008, với hai báo cáo là về: một là về sản xuất thép, hai là về xây dựng cảng Sơn Dương; báo cáo ĐTM của Formosa lúc bấy giờ là sơ sài, nhưng là phù hợp với quy định lúc bấy giờ, là giống với những báo cáo ĐTM khác. Ông cho rằng, nguyên nhân là do cơ chế pháp luật yêu cầu phải có báo cáo ĐTM trước khi có quyết định chủ trương đầu tư, khi đó chưa có thiết kế cơ sở, chưa rõ công nghệ, nguyên vật liệu đầu vào…, thông tin về môi trường cũng hạn hẹp nên không thể đưa ra những đánh giá, dự báo đầy đủ, chi tiết được. Và về sau báo cáo ĐTM về hoạt động sản xuất thép đã có sự thay đổi và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, còn báo cáo ĐTM về xây dựng cảng Sơn Dương thì đã phải lập lại báo cáo ĐTM khác do có những thay đổi lớn và cũng đã được phê duyệt báo cáo ĐTM mới.

Nhận định báo cáo ĐTM đối với dự án của Formosa còn sơ sài, chung chung một phần do cơ chế pháp luật khi đó, cụ thể là Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Nhưng không thể vì thế mà đổ lỗi hoàn toàn do cơ chế pháp luật lúc bấy giờ, bởi các cơ quan quản lý hàng năm đều có kiểm tra, giám sát vậy mà lại không phát hiện những thay đổi của dự án cần phải được ĐTM bổ sung hay lập lại báo cáo ĐTM. Báo cáo ĐTM sơ sài có lỗi của người lập – chủ dự án, tổ chức tư vấn lập báo cáo ĐTM khi không nghiêm túc tuân thủ quy định về lập báo cáo ĐTM, không tự ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường, nhưng theo tác giả trách nhiệm phần lớn thuộc về những người có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM – những người có chuyên môn, có quyền hành, nghĩa vụ chấp thuận báo cáo ĐTM hay phải yêu cầu sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu của pháp luật.

Báo cáo ĐTM của Formosa là cực kỳ sơ sài, thiếu rất nhiều các nội dung quan trọng. Đối với phương án xử lý chất thải của lò coke và lò cao đều là những chất thải vô cùng nguy hại hoàn toàn không được đề cập trong báo cáo ĐTM của Formosa. Trong báo cáo ĐTM của Formosa về quản lý xả thải:chỉ nói sau khi nước thải xử lý đạt chuẩn sẽ thải ra sông Quyền, rồi ra biển mà không nói rõ nồng độ, loại chất gì; xử lý nước thải xong xả thẳng ra môi trường mà không qua bể lắng, mà thông thường trong xử lý nước thải cần phải có bể trung chuyển nuôi cá thử nghiệm, nước này không làm chết cá thì mới được thải ra ngoài, ngược lại cá chết nghĩa là nước thải xử lý chưa đạt, không được xả ra môi trường. Báo cáo ĐTM cũng không nói đến lượng bụi nguy hiểm lọt qua các biện pháp xử lý lọc túi vải, tĩnh điện cũng như phương án xử lý, thu gom. Đối với cặn kim loại, báo cáo ĐTM đã không tính tới nồn độ chất độc nguy hại, dự tính sức chịu tải của môi trường để xác định giới hạn để ra quyết định dừng lại hoặc giảm sản lượng sao cho cân bằng với môi trường [5]. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Báo cáo ĐTM của Formosa thiếu xót rất nhiều các nội dung quan trọng, không đảm bảo yêu cầu về nội dung của báo cáo ĐTM. Thực tế hiện nay, những trường hợp như vậy không phải là ít. Do chủ dự án coi báo cáo ĐTM là một thủ tục để được cấp phép đầu tư, xây dựng, chứ không hề quan tâm tới mục đích bảo vệ môi trường nên đã thực hiện việc lập báo cáo ĐTM một các chung chung, thậm chí còn có trường hợp sao chép báo cáo ĐTM của dự án khác để áp vào dự án của mình.

Theo Luật Bảo vệ môi trường, một báo cáo ĐTM nói chung cần phải tuân thủ theo một bố cục và những yêu cầu về nội dung nhất định như phải có các nội dung mô tả liên quan đến dự án, điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội khu vực dự án, dự báo và đánh giá tác động… Tuy nhiên, chất lượng báo cáo ĐTM trên thực tế không đạt được những yêu cầu theo quy định của pháp luật. Cụ thể, nội dung về mô tả dự án chưa nêu được những vấn đề thuộc về đặc thù của dự án có liên quan tới môi trường, từ đó dẫn đến hệ quả là phần này trong báo cáo quá dài, lại không cung cấp đủ thông tin phục vụ cho việc dự báo và đánh giá tác động, cũng như giải pháp giảm thiểu tác động xấu và giám sát môi trường sau này.

Việc đánh giá sự cố rủi ro trong các giai đoạn của dự án của nhiều báo cáo còn hời hợt hoặc chỉ liệt kê dự báo rủi ro mà không chú ý đánh giá tác động tới môi trường khi các sự cố rủi ro xảy ra, dẫn đến việc chủ đầu tư không lường trước hết các tác động tiêu cực để đầu tư thích đáng cho hoạt động kiểm soát rủi ro môi trường. Việc lập báo cáo ĐTM của chủ đầu tư hay của tổ chức tư vấn lập báo cáo ĐTM được thực hiện với chất lượng rất thấp; báo cáo ĐTM với nội dung, giá trị đánh giá các tác động môi trường và biện pháp, phương án hạn chế, khắc phục tác động tiêu cực tới môi trường gần như không đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường. Yêu cầu của báo cáo ĐTM hầu như không được đảm bảo, các báo cáo ĐTM được lập rất sơ sài, chung chung, không có hiệu quả thực thi.

Với thực trạng chất lượng báo cáo ĐTM yếu kém như vậy có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau: năng lực chuyên môn của người lập báo cáo ĐTM chưa cao; ý thức chấp hành các quy định của pháp luật ĐTM đồng thời ý thức bảo vệ môi trường của người lập báo cáo ĐTM còn kém; pháp luật ĐTM còn thiếu các hướng dẫn kỹ thuật về lập báo cáo ĐTM, thiếu các thông tin phục vụ hoạt động ĐTM. Cần sớm khắc phục những hạn chế nêu trên để hạn chế vi phạm trong giai đoạn lập báo cáo ĐTM, cải thiện chất lượng báo cáo ĐTM. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

  • Vi phạm trong tham vấn khi thực hiện ĐTM của Formosa

Vi phạm trong hoạt động tham vấn của Formosa là chưa có cơ sở khẳng định, tuy nhiên nhìn vào những gì đang diễn ra, tác giả cho rằng quá trình tham vấn khả năng cao có dấu hiệu vi phạm. Bởi lẽ, đường ống xả thải khổng lồ ngầm dưới biển của Formosa có lẽ chưa được tham vấn cộng đồng, do người dân địa phương có phần bất ngờ khi biết sự tồn tại của đường ống này. Mà theo Bộ TN&MT đã công bố đường ống xả thải này đã được đề xuất trong báo cáo ĐTM sửa đổi và sau đó đã được cấp phép xây dựng. Quy định về việc lập lại báo cáo ĐTM hay có sửa đổi, bổ sung báo cáo ĐTM trước khi được chấp thuận đều phải thông qua bước tham vấn cộng đồng và chính quyền địa phương.

Hoạt động tham vấn trong báo cáo ĐTM của Formosa nói riêng và hoạt động tham vấn khi thực hiện ĐTM ở Việt Nam nói chung chưa thực chất, chưa đem lại hiệu quả cao. Do chủ dự án cung cấp thông tin cho địa phương khi tham vấn không đầy đủ, gây khó khăn cho người dân địa phương khi đưa ra ý kiến. Các ý kiến của người dân địa phương không thực sự được quan tâm, không được phản ánh đẩy đủ trong báo cáo ĐTM; không phản ánh chính xác tâm tư nguyện vọng của người dân.

  • Vi phạm trong thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của Formosa

Báo cáo ĐTM của Formosa được phê duyệt năm 2008, nhưng Nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT – người ký quyết định phê duyệt lại không tham gia vào hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM của Formosa, mà là được Bộ trưởng Bộ TN&MT ủy quyền ký.Khi sự cố môi trưởng Formosa xảy ra Ông cũng chỉ tuân theo ý kiến của Hội đồng thẩm định mà ký quyết định phê duyệt mặc dù cũng thấy nhiều thiếu xót trong báo cáo ĐTM đó. Do cho rằng Hội đồng thẩm định với những người có chuyên môn cao đã thẩm định báo cáo ĐTM đạt yêu cầu, và khi đó cũng là lúc nhu cầu đầu tư đang dâng cao nên Ông buộc phải chấp nhận phê duyệt báo cáo ĐTM. Thiết nghĩ, với những lý lẽ trên liệu vai trò của người ký quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là gì? Bỏ mặc cho cơ quan thẩm định, không hề có ý kiến, trách nhiệm trong việc phê duyệt hay không phê duyệt báo cáo ĐTM, mà hoàn toàn phê duyệt theo quyết định của Hội đồng thẩm định? Nếu vậy, giai đoạn thẩm định và giai đoạn phê duyệt báo cáo ĐTM phải chăng có thể gộp thành làm một? Tác giả rất không đồng tình với quan điểm đùn đẩy trách nhiệm của một người có trọng trách ký quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM của một dự án lớn, mang tầm quốc gia như vậy.Có thể thấy có sự bất nhất trong ý kiến của Nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT: báo cáo ĐTM thời điểm đó là phù hợp với pháp luật, là phù hợp do khi dự án chưa được triển khai, thiếu thông tin nên chỉ có thể dự báo được như thế;so với ý kiến Ông cũng nhận thấy báo cáo ĐTM của Formosa sơ sài nhưng cả hội đồng thẩm định đã đồng ý thông qua thì Ông phải theo. Tức là Ông đang cho rằng nếu có sai trong việc thẩm định báo cáo ĐTM của Formosa thì một là do pháp luật lúc bấy giờ hạn chế, còn không thì sẽ là do hội đồng thẩm định, chứ Ông chỉ có trách nhiệm ký theo ý kiến của Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Theo báo cáo ĐTM năm 2008 của Formosa sẽ thực hiện xả thải vào dòng sông Quyền. Về sau, khi nhận định lưu lượng nước sông Quyền không đáp ứng được nguồn nước thải của Formosa xả ra nên Formosa đã đề xuất phương án xả thải ra biển trong Báo cáo ĐTM Cảng năm 2013 (do thay đổi quy mô công suất Cảng nên theo quy định Formosa phải lập lại Báo cáo ĐTM) và đã được Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ký quyết định phê duyệt. Tháng 7/2014, Nguyên thứ trưởng Bộ TN&MT đã được Bộ trưởng ủy quyền ký quyết định chấp thuận để Formosa xả thải ra biển. Ngày 11/12/2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường lại ký quyết định cho phép Formosa xả nước thải ra vùng biển ven bờ vịnh Sơn Dương. Vấn đề xả thải ra biển không mới, là biện pháp được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện, tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, nước thải trước khi được xả ra biển cần phải thông qua hệ thống xử lý, đảm bảo quy chuẩn môi trường trước khi xả thải. Và nước thải được Formosa thải ra biển đã chưa đạt được tiêu chuẩn ấy. Ngoài ra, vấn đề còn nằm ở chỗ: hệ thống xả thải này được lắp đặt ngầm, mà theo quy định của pháp luật Việt Nam đường ống xả thải phải tạo điều kiện cho quá trình giám sát, tiếp cận, kiểm tra một cách dễ dàng. Luật không quy định vấn đề hệ thống “ngầm’ hay “nổi”, tuy nhiên hệ thống xả thải ngầm là không phù hợp, là gây khó khăn cho việc kiểm tra, giám sát của cơ quan chức năng và cộng đồng. Do đó Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà đã yêu cầu Formosa phải đưa đường ống xả thải ngầm lên để thuận tiện cho việc theo dõi, giám sát.

Chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM của Formosa cũng như các báo cáo khác đã cho thấy điểm yếu trong việc thực thi pháp luật ĐTM ở Việt Nam hiện nay. Các địa phương còn quá chú trọng đến lợi ích kinh tế, đến thu hút đầu tư mà không màng đến vấn đề môi trường. Hội đồng thẩm định chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật khi tiến hành nhiệm vụ của mình, đánh giá báo cáo ĐTM một cách qua loa, đại khái, một phần do chế tài xử lý vi phạm trong thẩm định báo cáo ĐTM hiện nay chưa được pháp luật quy định. Hạn chế trong quá trình thẩm định còn nằm ở năng lực thẩm định của cơ quan có thẩm quyền chưa cao, đặc biệt là những cơ quan địa phương, ở những tỉnh mới, tỉnh miền núi. Kết quả là thẩm định sai quy định, chất lượng thẩm định không cao, không đáp ứng được yêu cầu đặt ra, từ đó để lọt những dự án chưa có báo cáo ĐTM đạt tiêu chuẩn, những dự án gây nguy hại lớn cho môi trường được phê duyệt. Hơn nữa, việc thiếu những hướng dẫn kỹ thuật cần thiết cho chủ dự án và cho cán bộ có trách nhiệm thẩm định báo cáo ĐTM; thiếu những tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường – đây là căn cứ để lập báo cáo ĐTM, là cơ sở để thẩm định báo cáo ĐTM khiến cho việc lập và thẩm định khó khăn, thiếu tính khả thi, hiệu quả không cao.

  • Vi phạm sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Ngay trước khi sự cố môi trường Formosa diễn ra, việc thanh, kiểm tra đã được thực hiện với dự án Formosa theo cơ chế định kỳ. Tuy nhiên, đoàn thanh tra đã kết luận không hề có vi phạm pháp luật môi trường. Vậy mà sau khi sự cố cá chết xảy ra, được sự chỉ đạo của chính phủ, hoạt động thanh tra lại một lần nữa được thực hiện với dự án này. Và lần này, kết luận thanh tra được công bố là dự án Formosa có 53 vi phạm pháp luật môi trường, nguy hiểm nhất là việc Formosa tự ý thay đổi công nghệ mà không báo cáo cơ quan chức năng. Cụ thể, Formosa đã tự ý thay đổi công nghệ nghệ xử lý cốc, từ công nghệ xử lý cốc khô – công nghệ thân thiện sang công nghệ xử lý cốc ướt, phát tán rất nhiều chất thải, đặc biệt là khí thải. Ngoài ra, theo báo cáo của Chính phủ về việc sự cố cá chết ở miền Trung: Formosa đã không xây lắp bể lọc cho trạm xử lý nước thải sinh hóa như cam kết họ đã chấp nhận trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Chính những hành vi này đã gây ra những hệ lụy không nhỏ về môi trường, cũng như kinh tế xã hội và chỉ được phát hiện khi đoàn thanh tra kiểm tra sau sự cố môi trường gây hải sản chết hàng loạt tại biển miền Trung.

Ngoài ra, sai phạm còn thể hiện ở quá trình kiểm tra, giám sát sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Quá trình điều tra nguyên nhân về vụ việc, các cơ quan chức trách phát hiện, Giám đốc Sở TN&MT Hà Tĩnh đã giao cho Trung tâm Quan trắc Kỹ thuật môi trường, một đơn vị trực thuộc, ký hợp đồng quan trắc với Formosa. Suốt một thời gian dài, Sở TN&MT Hà Tĩnh bỏ mặc việc kiểm định chất lượng nguồn nước thải của Formosa, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Điều nguy hại ở chỗ, thay vì trực tiếp xuống hiện trường, điểm xả thải của Formosa lấy mẫu nước thải để kiểm định, Trung tâm Quan trắc Kỹ thuật môi trường của Sở TN- MT Hà Tĩnh chỉ lấy mẫu mà Formosa gửi đến và mấy tháng mới kiểm định một lần. Cách làm này đã dẫn đến hệ quả là các mẫu kiểm định luôn đạt ngưỡng cho phép, không phát hiện ra dấu hiệu sai phạm của Formosa để ngăn chặn kịp thời hành vi xả độc tố ra môi trường biển [11].

Hiện nay, kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với sai phạm của Formosa đã có từ lâu, tuy nhiên lại chưa được công bố rộng rãi gây hạn chế nhiều cho tác giả trong việc nghiên cứu những sai phạm thực tế của Formosa để có thể rút ra những bài học về môi trường, về ĐTM ở Việt Nam hiện nay. Nhưng rõ ràng, ĐTM của Formosa là rất chung chung, thiếu tính chi tiết, cụ thể – yêu cầu đặt ra đối với một quá trình nghiên cứu, đánh giá dự báo những tác động của dự án tới môi trường, từ đó những biện pháp bảo vệ môi trường được đưa ra cũng sẽ không hoàn chỉnh, không đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường. Đúng quy trình, các báo cáo ĐTM phải sửa đổi bổ sung liên tục đến khi dự án đi vào hoạt động, là một quy trình về quản lý, giám sát và hoàn thiện báo cáo ĐTM. Dự án đi vào hoạt động thì một quy trình về quản lý giám sát ĐTM phải được triển khai. Lúc này cơ quan quản lý nhà nước phải căn cứ vào hiện trạng của dự án và những kết quả kiểm toán môi trường thường xuyên của dự án để giám sát. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý hầu như chỉ căn cứ vào các báo cáo ĐTM khi nộp hồ sơ cấp phép dự án, rồi báo cáo ĐTM được để đó, không ai quan tâm tới, không ai giám sát việc thực hiện báo cáo ĐTM như thế nào.

2.3.3. Xử lý vi phạm trong sự cố môi trường Formosa Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

  • Xử lý vi phạm của Formosa

Ngày 28/6/2016, Công ty Formosa Hà Tĩnh nhận trách nhiệm về việc gây ra sự cố môi trường, làm hải sản chết hàng loạt tại 4 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế trong thời gian qua, đồng thời cam kết: (1) Công khai xin lỗi Chính phủ và nhân dân Việt Nam vì để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng; (2) Thực hiện việc bồi thường thiệt hại kinh tế cho người dân và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp; bồi thường xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung của Việt Nam với tổng số tiền tương đương trên 11.500 tỷ đồng (500 triệu USD); (3) Khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế của hệ thống xử lý chất thải, nước thải, hoàn thiện công nghệ sản xuất, bảo đảm xử lý triệt để các chất thải độc hại trước khi thải ra môi trường theo yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước của Trung ương và tỉnh Hà Tĩnh để không tái diễn sự cố môi trường như đã xảy ra; (4) Phối hợp với các bộ, ngành của Việt Nam và các tỉnh miền Trung xây dựng các giải pháp đồng bộ để kiểm soát môi trường biển miền Trung, bảo đảm phòng, chống ô nhiễm, không để xảy ra sự cố môi trường tương tự để tạo niềm tin với người dân Việt Nam và quốc tế; (5) Thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết, không để tái diễn các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT.

Ngày 30/8/2016, Formosa đã hoàn thành việc thực hiện chuyển tiền bồi thường cho Việt Nam với tổng số tiền là 500.000.000 đô la Mỹ theo đúng cam kết. Mặt khác, Bộ TN&MT cũng đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Formosa với số tiền phạt là 4.485.000.000 đồng và buộc Formosa phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm theo quy định của pháp luật [14].

Trước đây, chính quyền nhiều nước, vùng lãnh thổ đã phát hiện và xử phạt nặng nhiều doanh nghiệp, nhà máy bí mật lắp ống xả để đổ chất thải độc hại ra sông, biển, gây tổn hại nặng nề cho môi trường. Hồi đầu tháng này, tòa án ở bang Hawaii (Mỹ) đã phạt Công ty hàng hải Doorae Shipping của Hàn Quốc 950.000 USD vì vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường. Doorae Shipping là chủ sở hữu tàu chở dầu B.Sky bị phát hiện lén gắn ống xả gần 1.892 lít nước thải chứa dầu ra biển.

Trước đó, Bộ Bảo vệ môi trường Israel vào tháng 3 phạt Công ty lọc dầu Paz Ashdod gần 5 triệu USD vì hành vi cài cắm ống xả thẳng nước thải chưa qua xử lý ra biển, theo trang Sviva.gov.il. Tại Đài Loan, Cơ quan bảo vệ môi trường vùng lãnh thổ này (EPA) vẫn đang điều tra vụ nhà máy mạ điện ở TP.Đài Nam sử dụng đường ống ngầm bí mật để dẫn nước thải ra sông Tam Gia, bị phát hiện vào tháng 9.2015. Tờ Taipei Times dẫn kết quả điều tra cho thấy nước thải đổ ra sông chứa đầy hóa chất độc hại. Chủ sở hữu nhà máy đã bị buộc đóng phạt hơn 600.000 USD cũng như đối mặt một cuộc điều tra hình sự [10].

Có thể thấy, với những thiệt hại mà Formosa gây ra và so với mức xử phạt hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường ở nhiều quốc gia trên thế giới thì đây là mức xử phạt còn tương đối nhẹ, mang tính chất bồi thường thiệt hại chứ chưa mang đem lại hiệu quả răn đe. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Theo đánh giá tổng thể của Bộ TN&MT, đến nay Formosa đã khắc phục được 52/53 lỗi vi phạm. Riêng hạng mục chuyển đổi từ dập cốc ướt sang dập cốc khô sẽ được hoàn thành vào năm giữa năm 2019. Formosa cũng đã hoàn thành bổ sung hệ thống xử lý nước thải khu vực dập cốc ướt; bổ sung hệ thống xử lý nước mưa chảy tràn tại bãi chứa phế liệu, bãi chứa quặng, than; bổ sung các hạng mục cải thiện đối với hệ thống xử lý nước thải sinh hóa, sinh hoạt và công nghiệp; lắp đặt bổ sung hệ thống quan trắc tự động nước thải tại xưởng xử lý nước thải sinh hóa, xưởng xử lý nước thải sinh hoạt; lắp đặt bổ sung hệ thống quan trắc tự động tại các ống khói…

Cho đến nay, phải khẳng định Formosa đã hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu mà Bộ TN&MT và Hội đồng liên ngành đề ra. Hiện tại, Formosa đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện công nghệ, thực hiện các hạng mục cải thiện công trình bảo vệ môi trường, xử lý chất thải. Các thiết bị quan trắc chất thải cũng được Formosa quan tâm triển khai xây dựng, lắp đặt theo cam kết, đi cùng với quá trình hoàn thiện công nghệ sản xuất. Formosa cùng với các cơ quan chức năng vẫn đang tích cực khắc phục hậu quả sự cố môi trường đã xảy ra. Các cơ quan có thẩm quyền đánh giá về các thiệt hại trước mắt đã được hạn chế, khắc phục được phần nào, tuy nhiên với những tác hại lâu dài mà sự cố môi trường Formosa gây ra với môi trường biển, với hệ sinh thái dưới biển thì cần thời gian dài nữa mới có thể khắc phục [12].

  • Xử lý vi phạm cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền

Vụ việc Formosa là tiêu biểu cho việc chủ dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội xem thường các tác động môi trường mà chỉ chú trọng lợi ích kinh tế. Đây là bài học cho Việt Nam trong việc cấp phép đầu tư với các dự án đầu tư nước ngoài. Sự cố môi trường Formosa có báo cáo ĐTM rất sơ sài, thiếu nhiều nội dung quan trọng, việc thực hiện đúng cam kết trong báo cáo ĐTM cũng không được Formosa thực hiện nghiêm túc, cùng với đó là sai phạm của các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của Formosa. Do đó, Đảng đã có kết luận xử lý trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức có liên quan để kiểm điểm, nêu gương tránh để xảy tình trạng của dự án Formosa thứ hai. Formosa cũng đã tự nhận lỗi và đưa ra cam kết khắc phục sự cố cũng như đưa ra phương án bồi thường cho người dân miền Trung chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự cố nên tuy đây là sự cố gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhưng chưa bị xem xét đến trách nhiệm hình sự.

Trong hai ngày 18 và 21/4/2017, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Hà Nội, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét báo cáo của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên (số 74 và 75-BC/UBKTTW, ngày 17/4/2017). Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

Ban Bí thư kết luận Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cá nhân liên quan Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2011-2016 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; buông lỏng quản lý, điều hành; thiếu kiểm tra, giám sát; để xảy ra các vi phạm trong công tác thẩm định, phê duyệt, chấp thuận thay đổi đánh giá tác động môi trường, điều chỉnh địa điểm xả thải và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh, gây ra hậu quả rất nghiêm trọng cho môi trường và đời sống của nhân dân; làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Theo đó, kết luận quy định hình thức xử lý các cá nhân bao gồm:

Thứ nhất, kỷ luật cảnh cáo Ông Nguyễn Minh Quang – Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Thứ hai, kỷ luật cách chức Uỷ viên Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2011 – 2016 hai Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến đã thiếu trách nhiệm khi ký phê duyệt các báo cáo ĐTM, bỏ qua sự cảnh báo ảnh hưởng đến môi trường; buông lỏng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, giám sát việc xây dựng các hạng mục công trình bảo vệ môi trường của Công ty Formosa và Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã thiếu trách nhiệm trong việc thẩm định, ký giấy phép cho Công ty Formosa xả nước thải xa bờ không đúng quy định.

Thứ ba, cách chức Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhiệm kỳ 2005 – 2010 và nhiệm kỳ 2010 – 2015 đối với ông Võ Kim Cự – Nguyên Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh đã trực tiếp ký nhiều văn bản không đúng quy định trong việc cấp giấy chứng nhận đầu tư; giao và cho thuê mặt nước biển; đồng ý chủ trương cho Công ty Formosa tự giải phóng mặt bằng để xây dựng đường ống xả nước thải không đúng quy định… đồng thời Ông cũng thiếu trách nhiệm chỉ đạo, thanh tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện Dự án [19].

Ngoài ra còn một số các cán bộ ở cấp Trung ương và địa phương có liên quan cũng bị xem xét kỷ luật theo đúng chủ trương của Đảng đã đề ra khi sự cố bị phát hiện là sẽ xử lý đến cùng, triệt để, không bao che, sai đến đâu xử đến đó. Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho thấy sự quyết liệt, nghiêm túc trong việc trừng trị những hành vi gây ô nhiễm môi trường, tạo thêm niềm tin cho người dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường

One thought on “Khóa luận: Thực trạng pháp luật đánh giá tác động môi trường

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật về đánh giá tác động môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464