Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường và Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam
Các quy định pháp luật về ĐTM hiện nay đã được ban hành, điều chỉnh tương đối phù hợp tình hình thực tế ở Việt Nam. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ÐTM đã được hoàn thiện với luật, nghị định và thông tư hướng dẫn lập báo cáo ÐTM đối với các loại hình dự án đầu tư khác nhau. Nhờ các văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung cho nên các quy trình, thủ tục thẩm định ÐTM được quy định rõ ràng, minh bạch theo hướng cải cách hành chính, bảo đảm chất lượng của công tác thẩm định. Các nội dung và chất lượng của báo cáo ÐTM có những tiến bộ nhất định, nhiều dự án trước khi vận hành chính thức đã được xác nhận thực hiện các công trình BVMT theo yêu cầu của báo cáo ÐTM. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện ÐTM tồn tại không ít khó khăn, bất cập như: có sự bất đồng trong quy định giữa các Luật, Nghị định, thông tư; quy định về hoạt động tham vấn còn sơ sài, thiếu chi tiết; cơ chế hậu kiểm gần như chưa được quy định;…Kết quả là việc thực hiện ĐTM ở nước ta còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện ĐTM còn mang tính hình thức, chủ dự án chưa nhận thức được vấn nạn môi trường hiện nay dẫn tới không chú trọng việc lập báo cáo ĐTM, thực hiện báo cáo ĐTM; chủ thể có thẩm quyền tham vấn, thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM còn thiếu trách nhiệm, thực hiện nhiệm vụ một cách hời hợt dẫn tới những báo cáo ĐTM được phê duyệt mà không đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu của báo cáo ĐTM;… kết quả là tình trạng các dự án gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Do đó, hệ thống pháp luật về ĐTM cần phải được hoàn thiện, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và toàn diện hơn với những định hướng sau: Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
- Hoàn thiện pháp luật ĐTM bảo đảm tính thống nhất, đồng thời có sự phân công, phân cấp rõ ràng trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân
Hoàn thiện pháp luật phải tập trung vào các vấn đề cơ bản, trọng tâm chính về ĐTM trong Luật bảo vệ môi trường và các luật có liên quan khác; các quy định về ĐTM cần bảo đảm sự thống nhất giữa các luật có liên quan với Luật bảo vệ môi trường. Cụ thể Rà soát các quy định của pháp luật ĐTM trong các luật có liên quan như Luật đầu tư, Luật quản lý tài nguyên nước, Luật khoáng sản,… để xử lý các bất cập, vướng mắc và bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong các quy định về ĐTM. Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về ĐTM nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả, nâng tầm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường phù hợp các quan điểm, chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường; tương thích với thông lệ quốc tế; tạo hành lang pháp lý đồng bộ về bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng làm rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành, giữa trung ương, và địa phương, UBND các cấp về bảo vệ môi trường; tăng cường phân cấp và tăng trách nhiệm của địa phương trong quản lý hoạt động ĐTM trên địa bàn để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Đồng thời, tăng cường nghĩa vụ, trách nhiệm cho cá nhân tham gia thực hiện ĐTM để từ đó các cá nhân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật ĐTM, nâng cao ý thức tự giác bảo vệ môi trường.
- Hoàn thiện pháp luật ĐTM theo hướng tiếp cận quan điểm quốc tế
Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng,thời gian qua, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều Điều ước thương mại song phương và đa phương nhằm mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội; trong đó có nhiều nội dung liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường.Để thực thi đầy đủ các cam kết môi trường trong các Điều ước này, trước hết đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường nói chung và pháp luật về ĐTM tương thích, và phù hợp với các quy định đã ký kết. Hiện nay các dự án đầu tư thực hiện vay vốn tại các Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),… là rất phổ biến. Mà các tổ chức này cực kỳ chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động đầu tư nên có những quy định hết sức chặt chẽ và tiến bộ, Việt Nam rất cần học hỏi các quy định này để hoàn thiện pháp luật ĐTM. Các chủ đầu tư khi vay vốn tại các tổ chức này để tiến hành hoạt động đầu tư phải đảm bảo tuân thủ các quy định về ĐTM của tổ chức đó. Như vậy, chủ đầu tư phải tuân thủ các quy định về ĐTM theo cả pháp luật Việt Nam và theo cả pháp luật của các tổ chức cho vay quốc tế. Do đó, vừa nhằm mục đích hoàn thiện pháp luật DDTM, vừa tạo sự thuận lợi cho chủ đầu tư, Việt Nam cần có sự nghiên cứu, tiếp thu những điểm tích cực, hiệu quả pháp luật ĐTM của các tổ chức quốc tế. Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, Việt Nam cần tiếp tục tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm quản lý môi trường thành công của các nước tiên tiến, các nước có điều kiện tương đồng trên thế giới, nhất là trong việc đưa ra các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường, cũng như giải quyết các vấn đề về ô nhiễm, sự cố môi trường trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Hoàn thiện pháp luật theo hướng cân bằng thu hút đầu tư nước ngoài với yêu cầu bảo vệ môi trường trong nước, đảm bảo phát triển bền vững
Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) luôn là một trong những trụ cột cho phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm qua. Tuy nhiên cần có cơ chế chọn lọc những dự án ít gây tác động tới môi trường nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đã và đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho Việt Nam. Thực tế hiện nay cho thấy một số địa phương là vì áp lực tăng trưởng nên đã dung túng cho những hành vi sai trái của các nhà đầu tư. Theo đuổi tăng trưởng là cần thiết, nhưng phải có kế hoạch, phải cân đối được các vấn đề xung quanh khác, chứ không phải tăng trưởng bằng cách đánh đổi mọi thứ.
Pháp luật cần có quy định cân nhắc lựa chọn dự án và nhà đầu tư để bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội đất nước cân đối với vấn đề bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững. Cần ưu tiên các dự án có công nghệ và dịch vụ hiện đại, tiết kiệm năng lượng, ít phát thải khí các bon và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, có công nghệ thân thiện với môi trường, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần xây dựng “kinh tế xanh” và bền vững, theo đúng chỉ đạo của Nghị quyết số 103/NQ-CP đề ra định hướng mới và hệ thống giải pháp, coi trọng hơn cơ cấu, chất lượng và hiệu quả kinh tế – xã hội của FDI. Các địa phương cần loại bỏ tư tưởng thành tích trong thu hút FDI, tránh việc ưu ái cho những dự án quy mô lớn, mà không lường tới nguy cơ tác động xấu tới môi trường, phải nói không với các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Pháp luật môi trường và pháp luật đầu tư cần có mối liên hệ với nhau, cùng thống nhất tạo nên cơ chế lựa chọn dự án đảm bảo phát triển về kinh tế mà vẫn cân bằng được vấn đề môi trường. Cần kiểm soát chặt dự án FDI ngay từ khi thẩm định, cấp phép và giám sát chặt trong quá trình triển khai. Chính phủ cần siết chặt kỷ luật, đặt ra rào cản cho các lĩnh vực có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường.
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Để hoạt động ĐTM trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý và bảo vệ môi trường cần hoàn thiện khung pháp lý về ĐTM của Việt Nam ở các khía cạnh sau đây:
3.2.1. Xây dựng và ban hành các quy định về đảm bảo chất lượng của báo cáo đánh giá tác động môi trường
Hệ thống pháp luật ĐTM cần được bổ sung các quy định đảm bảo chất lượng của báo cáo ĐTM được lập, trong đó có việc đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng của báo cáo ĐTM. Việc đưa ra các tiêu chí cụ thể về mặt nội dung đối với báo cáo ĐTM vừa đảm bảo tính minh bạch của các quy định về lập và thẩm định báo cáo ĐTM, vừa làm cơ sở cho các tổ chức, cá nhân lập báo cáo ĐTM; vừa là căn cứ cho việc thẩm định, phê duyệt báo cáo; nhằm kiểm soát chất lượng của báo cáo ĐTM được lập.
Bộ TN&MT cũng đã ban hành được một số hướng dẫn lập báo cáo ĐTM cho ngành nghề riêng biệt, tuy nhiên một số hướng dẫn đã được ban hành từ lâu, tới nay đã xuất hiện nhiều điểm không còn phù hợp. Hiện nay, Bộ TN&MT cũng tích cực xây dựng các hướng dẫn này và kêu gọi, khích lệ sự tham gia, đóng góp của các chuyên gia, của cộng đồng một cách công khai trên Cổng thông tin điện tử Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường Việt Nam eia.vn.
Để nâng cao chất lượng hoạt động ĐTM, pháp luật Việt Nam cũng cần hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường cũng sẽ góp phần đảm bảo chất lượng báo cáo ĐTM. Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là căn cứ để đánh giá, kiểm soát sự thay đổi của môi trường, là cơ sở pháp lý để nhà nước kiểm soát những tác động tiêu cực gây ra cho môi trường. Từ sự cố môi trường Formosa đã cho thấy lỗ hổng pháp lý trong việc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật về môi trường trong kiểm soát nguồn thải. Hệ thống xả thải của Formosa áp dụng theo quy chuẩn 52 (QCVN 52:2013/BTNMT) về nước thải công nghiệp sản xuất thép. Quy chuẩn này được xây dựng quá đơn giản, không có quy định tiêu chuẩn thải cho từng loại nhà máy thép, không có quy định định tiêu chuẩn cho từng loại kỹ thuật và quy trình sản xuất thép khác nhau, cũng không đặt ra lộ trình để buộc nhà đầu tư nâng cao tiêu chuẩn nước thải trong vòng đợi dự án. Đây chỉ là hạn chế tiêu biểu đã được bộc lộ ra, còn với các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường khác cũng đã tồn tại những bất cập. Do đó, Nhà nước cần sớm rà soát, sửa đổi, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường bảo đảm kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt đối với các ngành, lĩnh vực có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường ngành phải nghiêm ngặt hơn các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường nói chung, đặc biệt chú trọng các ngành nhuộm, thuộc da, sản xuất giấy, luyện thép từ quặng…, tiếp cận với quy chuẩn kỹ thuật về môi trường của các nước tiên tiến.
Khi các quy định nêu trên được ban hành một cách đầy đủ, hoàn thiện sẽ tạo nên một hệ thống cơ sở pháp lý để chủ dự án thực hiện tốt hoạt động ĐTM, còn nhà nước sẽ đảm bảo kiểm soát những tác động tiêu cực gây ra cho môi trường, đạt được hiệu quả của hoạt động ĐTM
3.2.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về tham vấn cộng đồng Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Quyền tham gia của cộng đồng được đưa ra trong các rất nhiều cam kết quốc tế như Tuyên bố Rio năm 1992, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, Tuyên ngôn về quyền phát triển năm 1986, Công ước quốc tế về các quyền dân sự-chính trị và kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Tuyên bố Stockholm năm 1972 về môi trường và con người, Tuyên bố Dublin về nước và phát triển bền vững năm 1992, Kế hoạch hành động Mar del Plata năm 1977 [16,tr.6]. Tham vấn cộng đồng trong ĐTM là sự ghi nhận sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập, thẩm định báo cáo ĐTM. Mục đích của việc làm này nhằm đảm bảo quyền lợi của các nhóm đối tượng chịu tác động từ dự án, đồng thời hỗ trợ quá trình ra quyết định đối với các dự án phát triển. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác này thời gian qua còn mang nặng tính hình thức; quy trình, thủ tục tham vấn chưa đảm bảo minh bạch, công khai, làm giảm đáng kể ý nghĩa và hiệu quả hoạt động tham vấn [15].
Như đã trình bày những hạn chế về hoạt động tham vấn, pháp luật cần quy định cụ thể hơn về hoạt động này. Cần quy định thế nào là “chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dự án” để từ đó xác định được đúng, đủ những đối tượng được tham vấn; tức là xác định rõ ràng phạm vi tham vấn. Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Nên quy định việc tham vấn trong nhiều giai đoạn của dự án. Hiện nay việc tham vấn mới chỉ được thực hiện trong giai đoạn lập báo cáo ĐTM, pháp luật tuy có quy định những trường hợp cần thiết có thể tiến hành tham vấn trong quá trình thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM. Tuy vậy, nhưng việc tham vấn trong các giai đoạn này hầu như không được thực hiện. Vấn đề ở chỗ “trường hợp cần thiết”, pháp luật đang quy định rất chung chung, trường hợp nào là cần thiết phải tham vấn cộng đồng trong giai đoạn thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Khi pháp luật không rõ ràng sẽ khiến những những người có quyền áp dụng pháp luật khó khăn trong áp dụng quy định đó. Vậy nên pháp luật ĐTM cần quy định rõ ràng các trường hợp buộc phải thực hiện tham vấn cộng đồng trong giai đoạn thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Cũng cần tiến hành tham vấn cộng đồng xuyên suốt các giai đoạn của dự án, để có thể đảm bảo dự đoán được cơ bản các tác động xảy đến với môi trường khi xây dựng dự án, để có hướng khắc phục các tác động đó một cách kịp thời, hiệu quả nhất.
Cộng đồng tham gia tham vấn là những người dân trực tiếp sống ở địa phương nơi hoạt động của dự án, có một bộ phận là những người không có chuyên môn cao về lĩnh vực môi trường, nên khó có thể đánh giá đầy đủ, chính xác những ảnh hưởng của dự án tới môi trường khi mà dự án mới chỉ trên giấy tờ như vậy; nhưng không vì thế mà bỏ qua những ý kiến tham vấn của họ được, bởi họ là những người sẽ trực tiếp chịu ảnh hưởng của môi trường nơi xây dựng dự án, họ sẽ trực tiếp nhận thấy được sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn của dự án. Để công tác tham vấn cộng đồng đạt hiệu quả cao, trước khi tham vấn cần phổ biến tài liệu liên quan tới cộng đồng, cung cấp kiến thức về môi trường cho cộng đồng tham gia tham vấn. Pháp luật ĐTM cần quy định chủ dự án khi tiến hành tham vấn cộng đồng phải cung cấp thông tin, có những hướng dẫn kỹ thuật cơ bản cho người dân tham gia tham vấn để người dân có những kiến thức, hiểu biết cơ bản đối với dự án và tới môi trường chịu tác động bởi dự án. Việc không cung cấp đầy đủ thông tin hay sai lệch thông tin của dự án cho cộng đồng dân cư nơi chịu tác động bởi dự án chủ dự án phải chịu trách nhiệm, phải có chế tài xử lý để răn đe và đảm bảo thực hiện nghiêm túc.
Đồng thời pháp luật ĐTM cần quy định rõ những ý kiến tham vấn như thế nào thì phải được chủ dự án ghi nhận, đưa vào báo cáo ĐTM và với những ý kiến tham vấn không thực hiện thì cần phải giải trình bằng văn bản với cộng đồng dân cư và với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Pháp luật ĐTM cũng cần quy định việc tham vấn rộng rãi qua các hình thức văn bản, gặp mặt và đăng tải trên mạng internet trong quá trình lập báo cáo đánh giá. Cần có quy định rõ ràng về việc lưu trữ và báo cáo trung thực tất cả các ý kiến, không chỉ của người dân mà cả các ý kiến của chuyên gia. Giai đoạn thẩm định và phê duyệt BC, cơ quan thẩm định có nghĩa vụ tiếp thu tất cả các ý kiến đóng góp. Toàn bộ tài liệu do chủ đầu tư nộp phải được công bố rộng rãi trên mạng internet kèm với khoảng thời gian thẩm định cùng đầu mối tiếp nhận và phản hồi, giải trình đối với các ý kiến. Như vậy, cơ chế tham vấn mới thực sự đem lại hiệu quả cho chủ dự án trong quá trình lập báo cáo ĐTM cũng như cơ quan có thẩm quyền phê duyệt có cơ sở để ra quyết định phê duyệt hay loại bỏ dự án một cách chính xác nhất.
3.2.3. Quy định về cơ chế hậu kiểm rõ ràng, chặt chẽ Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Bản chất ĐTM là dự báo, do vậy báo cáo ĐTM khó có thể chi tiết về định lượng cũng như chính xác về những tác động, sự cố, rủi ro về môi trường có thể xảy ra trong suốt chu trình của dự án. Vì vậy cần xem công tác giám sát môi trường sau khi thẩm định ĐTM là một trong các yếu tố quan trọng nhất trong quản lý môi trường của dự án. Điều quan trọng là chủ dự án, tổ chức tư vấn, cộng đồng dân cư, cơ quan thẩm định, cơ quan phê duyệt, lãnh đạo các cấp cần phải nhận diện các vấn đề phức tạp về môi trường của dự án có thể nảy sinh để quyết định phải giám sát đến mức độ nào đối với dự án đó. Xác định phạm vi, mức độ giám sát, kiểm tra thực hiện báo cáo ĐTM rồi từ đó xác định phân cấp trách nhiệm kiểm tra, giám sát cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức cho phù hợp. Hiện nay tuy có sự hạn chế về trình độ, năng lực, số lượng cán bộ thực hiện giám sát hay về chi phí cho hoạt động giám sát, kiểm tra hậu báo cáo ĐTM, tuy nhiên vấn đề còn nằm ở pháp luật đã không quy định rõ ràng cơ chế kiểm tra, giám sát, cơ quan. Cần quy định cụ thể: cá nhân nào có trách nhiệm kiểm tra, giám sát; kiểm tra, giám sát ở những giai đoạn nào; quy trình tiến hành kiểm tra, giám sát; nghĩa vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, của chủ dự án khi thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát; kèm theo đó là trách nhiệm khi các bên có liên quan không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Cần xây dựng quy trình kiểm tra, xác nhận công tác bảo vệ môi trường theo từng giai đoạn của dự án và theo các cấp độ khác nhau rong đó nêu rõ trách nhiệm của các bên từ chủ dự án đến các cơ quan quản lý môi trường các cấp và có sự tham gia của chính quyền, nhân dân địa phương.Có như vậy, chủ dự án mới nghiêm túc thực hiện những cam kết bảo vệ môi trường đã nêu trong báo cáo ĐTM.
Sự cố môi trường Formosa là bài học cho Việt Nam về công tác giám sát môi trường của cơ quan quản lý nhà nước. Nội dung giám sát không chỉ là đo đạc, phân tích đánh giá chất lượng môi trường mà còn phải giám sát đánh giá sự tuân thủ các yêu cầu về thực hiện các biện pháp giảm thiểu và quản lý môi trường, an sinh xã hội trong báo cáo ĐTM được thẩm định. Tổ chức, phương pháp và kết quả giám sát phải minh bạch, không bị chi phối bởi lãnh đạo địa phương, bộ ngành và chủ đầu tư. Cần hoàn thiện pháp luật về giám sát môi trường theo hướng chủ động và thường xuyên hơn: ngoài giám sát định kỳ còn phải tiến hành nhiều cuộc thanh, kiểm tra đột suất; việc giám sát phải được tiến hành sát sao, kỹ lưỡng hơn chứ không phải với những thông số đơn giản như hiện nay; việc kiểm tra, giám sát phải được tiến hành trực tiếp, tận nơi chứ không chỉ là chủ đầu tư đưa mẫu đến cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm nghiệm, đánh giá, kiểm tra. Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa Trung ương với địa phương trong việc kiểm tra, giám sát thực hiện báo cáo ĐTM. Các dự án lớn dù thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ, cơ quan ngang Bộ hay UBND cấp tỉnh, thì việc kiểm tra, giám sát thực tế vẫn là gần nhất với cơ quan nhà nước về lĩnh vực môi trường ở địa phương như Sở, Phòng TN&MT, UBND cấp xã. Đây là các cơ quan trực tiếp quản lý các vấn đề môi trường tại địa phương, là các cơ quan có điều kiện để trực tiếp kiểm tra, giám sát các dự án xây dựng trên địa phương mình. Do đó, các cơ quan này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát việc đảm bảo thực hiện theo báo cáo ĐTM của dự án, việc dự án có thay đổi cần phải lập lại báo cáo ĐTM.
Pháp luật cần có quy định cụ thể hơn sự giám sát chặt chẽ, nâng cao trách nhiệm trong thẩm định, giám sát các dự án để bảo đảm an toàn môi trường. Hoạt động giám sát, kiểm tra còn góp phần giúp cho chủ dự án có những thay đổi về biện pháp, phương án bảo vệ môi trường kịp thời trước sự thay đổi ủa các yếu tố môi trường và xã hội theo thời gian, trước rất nhiều vấn đề sẽ phát sinh trong quá trình xây dựng, vận hành dự án để bảo vệ môi trường hiệu quả nhất.
3.2.4. Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm của các chủ thể tham gia thực hiện đánh giá tác động môi trường
Hệ thống pháp luật ĐTM của Việt Nam hiện nay được đánh giá là tương đối đầy đủ, hoàn thiện với các quy định quy trình ĐTM rất chi tiết từ Luật, Nghị định đến thông tư cùng rất nhiều những hướng dẫn thực hiện ĐTM cho từng loại dự án cụ thể. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy hoạt động ĐTM ở Việt Nam chưa đạt được hiệu quả cao. Theo tác giả, vấn đề nằm ở việc tuân thủ pháp luật ĐTM. Pháp luật ĐTM đang thiếu những quy định về trách nhiệm từng chủ thể tham gia vào hoạt động ĐTM.
Với các sự cố môi trường của Việt Nam trong thời gian qua có thể thấy các chủ thể liên quan đã không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, tuy nhiên lại khó xác định sai phạm cụ thể do cá nhân nào và xử lý ra sao. Các nghĩa vụ hiện nay, đặc biệt của các cơ quan chức năng thường mang tính tập thể nên khi có sai phạm việc quy trách nhiệm sẽ có xu hướng đùn đẩy cho tập thể. Cũng vì thế, trách nhiệm của từng cá nhân có liên quan trong hoạt động thẩm định, phê duyệt không được thực hiện nghiêm túc, dẫn tới báo cáo ĐTM được thông qua với chất lượng thấp, không đảm bảo yêu cầu.
Pháp luật ĐTM Việt Nam cần gắn trách nhiệm cho từng cá nhân, quy định người nào thực hiện không đúng người đó phải chịu trách nhiệm. Theo quan điểm cá nhân tác giả, thẩm định là một trong những giai đoạn rất quan trọng trong quá trình phê duyêt một báo cáo ĐTM. Đây là khâu mà cơ quan nhà nước tham gia trực tiếp, kết quả của giai đoạn này là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM. Do đó, trách nhiệm của cơ quan thẩm định phải được quy định rõ hơn cả. Việc thẩm định được thực hiện thông qua một hội đồng thẩm định, mỗi thành viên đều phải có ý kiến riêng được ghi chép lại trong kết quả thẩm định của hội đồng, người nào đồng ý hay không đồng ý thông qua báo cáo ĐTM đều phải giải trình rõ. Theo đó, nếu báo cáo ĐTM được phê duyệt mà có sai sót thì những thành viên hội đồng đã bỏ phiếu thuận phải chịu trách nhiệm, những thành viên đã bỏ phiếu chống được miễn trách nhiệm. Quy định này khiến từng thành viên hội đồng phải rất cẩn trọng đồng ý thông qua cho mỗi báo cáo ĐTM. Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Ngoài ra trách nhiệm của các cá nhân khác trong các giai đoạn khác cũng cần được quy định cụ thể. Như trách nhiệm của chủ dự án, của tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM trong quá trình lập báo cáo ĐTM. Các cá nhân phải đảm bảo thực hiện đúng nhiệm vụ của mình và đảm bảo có sự phối hợp chặt chẽ với nhau để cùng hoàn thiện báo cáo ĐTM. Khi có sai phạm từ quá trình lập báo cáo ĐTM, các cá nhân này có thể bị phạt tiền, tạm đình chỉ hoặc tịch thu chứng chỉ, hay nặng hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với giai đoạn phê duyệt báo cáo ĐTM cũng không ngoại lệ, trách nhiệm lớn nhất có lẽ thuộc về người có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM, người này dựa trên kết quả thẩm định của hội đồng thẩm định cùng với ý kiến, quan điểm cá nhân để ra quyết định phê duyệt hay không phê duyệt báo cáo ĐTM. Người ký quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM phải có quan điểm, đánh giá của cá nhận, không được phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả thẩm định của hội đồng thẩm định, để rồi khi có sai phạm lại đủn đầy trách nhiệm do hội đồng thẩm định được.
Để quy định được trách nhiệm của cá nhân khi có sai phạm thì trước đó phải quy định được nghĩa vụ, vai trò của từng cá nhân trong từng khâu của ĐTM. Việc quy định trách nhiệm cá nhân là cơ sở xử lý vi phạm nên sẽ khiến các chủ thể nghiêm túc chấp hành quy định của pháp luật hơn, thận trọng trong việc đưa ra các quyết định của mình, nâng cao được chất lượng ĐTM.
3.2.5. Hoàn thiện pháp luật với quy định hai bước đánh giá tác động môi trường cho dự án đầu tư
Theo thông lệ quốc tế, ĐTM thực hiện theo 02 bước. Bước đánh giá sơ bộ tác động môi trường tập trung vào vấn đề lựa chọn địa điểm thực hiện dự án, thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi dự án; đánh giá tác động môi trường chi tiết xem xét toàn diện các vấn đề môi trường của dự án, chi tiết hóa các biện pháp giảm thiểu tác động xấu, thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu khả thi dự án. Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Và thực tế hiện nay, Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM (báo cáo chi tiết) là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, Luật Đầu tư khi quy định về hồ sơ phải nộp khi xin chủ trương đầu tư lại không có thành phần này. Do vậy việc han hành quy định ĐTM theo hai bước sẽ giúp hài hòa được cả pháp luật môi trường và pháp luật đầu tư. Quy định về ĐTM hiện nay là quy định dành cho ĐTM chi tiết. Để hoàn thiện hệ thống pháp luật ĐTM cần bổ sung quy định về ĐTM sơ bộ.Với nội dung như sau:
ĐTM sơ bộ được lập đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trường của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao (danh mục dự án do Chính phủ quy định chi tiết).Nội dung của ĐTM sơ bộ sẽ do Chính phủ hướng dẫn chi tiết, bảo đảm đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp, chỉ bao gồm những thông tin chủ đầu tư tự khai như dự kiến dự án có chất thải nguy hại không, nước thải có kim loại nặng không, dự kiến khối lượng chất thải, khoảng cách từ dự án đến một số thành phần môi trường nhạy cảm như khu bảo tồn, nguồn nước…
ĐTM sơ bộ sẽ do chủ đầu tư lập theo mẫu, không cần thẩm định trước nhưng phải nộp cùng bộ hồ sơ xin chấp thuận chủ trương đầu tư. Khi cơ quan tiếp nhận hồ sơ lấy ý kiến các cơ quan có liên quan thì phải lấy ý kiến cơ quan bảo vệ môi trường. Cơ quan bảo vệ môi trường sẽ xem xét báo cáo ĐTM sơ bộ và trả lời cơ quan đầu tư về tính phù hợp của dự án đối với môi trường. Quyết định cuối cùng thuộc về cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.
Với quy định hai bước ĐTM như vậy sẽ bảo đảm sự thống nhất hệ thống pháp luật. Đồng thời loại bỏ các dự án mà địa điểm, quy mô và công nghệ không phù hợp về bảo vệ môi trường, có thể gây tác động lớn về môi trường.
Ngoài những đề xuất nêu trên, pháp luật về ĐTM để hoàn thiện và đem lại hiệu quả quản lý, bảo đảm an toàn cho môi trường cần phải tiếp tục được rà soát hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo, bất nhất khiến các chủ thể khó áp dụng, thi hành; cần ban hành đầy đủ hơn các quy định về quản lý năng lực của các những người có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM, của cá nhân tham gia thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Về chi phí cho ĐTM, pháp luật cần nâng cao lệ phí thẩm định báo cáo ĐTM cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn, đảm bảo mức lệ phí này là đủ cho các hoạt động cần thiết phải thực hiện khi tiến hành thẩm định, đủ điều kiện để tiến hành những hoạt động có tính khoa học, chuyên môn cao hơn, đáp ứng được nhu cầu thẩm định. Hơn nữa, cần có quy định thêm về lệ phí kiểm tra công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án, lệ phí kiểm tra, giám sát các chương trình, kế hoạch bảo vệ môi trường như đã đề xuất trong báo cáo ĐTM.
3.3. Các kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Để hoạt động đánh giá tác động môi trường được thực hiện có hiệu quả, ngoài việc quy định của pháp luật phải được hoàn thiện, phù hợp thì cần cơ chế thúc đẩy cho việc thực thi, áp dụng những quy định pháp luật đó vào thực tiễn. Dưới đây, tác giả xin được đưa ra một số các kiến nghị của cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật ĐTM:
3.3.1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đánh giá tác động môi trường
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và đóng vai trò hết sức quan trọng, là cầu nối thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhà nước đến mọi người dân. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là yêu cầu chung toàn bộ hệ thống pháp luật, chứ không riêng gì đối với pháp luật ĐTM. Tuy nhiên, do ĐTM là hoạt động chưa thực sự phổ biến với người dân, nên yêu cầu phổ biến, tuyên truyền đối với pháp luật này càng cần được chú trọng hơn. Khi các chủ thể trong xã hội đều biết tới pháp luật ĐTM, đều hiểu được vai trò cũng như các nghĩa vụ cơ bản của pháp luật ĐTM thì hoạt động ĐTM đương nhiên sẽ được thực hiện một cách hiệu quả, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.
Khi các chủ thể nhận thức được pháp luật ĐTM trước tiên sẽ nâng cao được chất lượng tham vấn cộng đồng trong quá trình thực hiện ĐTM. Người dân khi hiểu về vai trò của mình trong giai đoạn tham vấn, khi hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình sẽ tích cực tham gia tham vấn hơn để tự mình tham gia trực tiếp vào hoạt động bảo vệ môi trường cho địa phương mình. Khi chủ thể hiểu biết về pháp luật ĐTM sẽ tự có ý thức hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật ĐTM, hạn chế các hành gây ô nhiễm môi trường. Chủ dự án, tổ chức tư vấn lập báo cáo ĐTM nắm rõ về pháp luật ĐTM, về vai trò của hoạt động ĐTM sẽ nghiêm túc tuân thủ quy định pháp luật ĐTM, có như vậy mới đem lại hiệu quả thực hiện ĐTM. Mọi người dân đều nên được phổ biến về pháp luật ĐTM, đặc biệt hơn cả các chủ dự án phải thực hiện ĐTM để nghiêm túc thực hiện ĐTM, đem lại hiểu quả bảo vệ môi trường cao. Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Cần đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyền truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ĐTM thông qua các hội nghị, hệ thống truyền thanh, hoạt động câu lạc bộ phát luật, tọa đàm, buổi nói chuyện, hoạt cảnh tình huống, cung cấp các tin bài, cấp phát tài liệu hỏi đáp, tờ gấp, tờ rơi, panô, áp phích, khai thác, tìm hiểu pháp luật qua tủ sách pháp luật,…Có như vậy người dân sẽ dễ dàng tiếp cận được với pháp luật ĐTM. Với tình trạng ô nhiễm môi trường phổ biến và nghiêm trọng như hiện nay người dân về cơ bản đã có xu hướng quan tâm hơn tới ĐTM và tới pháp luật ĐTM. Nhà nước cần tận dụng tình trạng này để phổ biến, hướng dẫn người dân tham gia đóng góp ý kiến tham vấn, ý kiến xây dựng và hoàn thiện pháp luật ĐTM. Khi hiểu biết của cộng đồng về pháp luật ĐTM được nâng cao sẽ kéo theo đó là việc thực thi pháp luật ĐTM hiệu quả hơn, chủ dự án phải nghiêm túc thực hiện ĐTM, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi chịu sự giám sát của người dân có trình độ pháp luật cao sẽ buộc phải nghiêm túc tuân thủ pháp luật, thực hiện hết trách nhiệm của mình và không ngừng nâng cao trình độ của mình. Từ đó, việc thực thi pháp luật ĐTM của toàn xã hội sẽ đạt được hiệu quả tối đa.
3.3.2. Nâng cao năng lực chuyên môn của các chủ thể thực hiện đánh giá tác động môi trường
Năng lực chuyên môn của chủ thể thực hiện ĐTM bao gồm: năng lực lập báo cáo ĐTM, năng lực tham vấn, năng lực thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM, năng lực giám sát, xử lý vi phạm pháp luật ĐTM. Khi năng lực chuyên môn của các chủ thể đều được nâng cao, đảm bảo các tiêu chí nhất định sẽ đem lại hiệu quả thực thi pháp luật ĐTM, hiệu quả bảo vệ môi trường được nâng cao.
Bộ TN&MT cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn về việc cấp chứng chỉ đủ điều kiện thực hiện ĐTM. Cần ban hành quy định rõ ràng về tiêu chí, yêu cầu đối với người lập báo cáo ĐTM và những cá nhân có thẩm quyền quản lý nhà nước về môi trường. Cần cụ thể hoá các quy định về điều kiện chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ lập báo cáo ĐTM nhằm đảm bảo năng lực cung cấp dịch vụ của các tổ chức tư vấp lập báo cáo ĐTM, góp phần chuyên môn hoá công tác lập báo cáo ĐTM và đảm bảo chất lượng của công tác ĐTM trên thực tế.Cần tích cực tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ thẩm định báo cáo ĐTM cho các cán bộ, cá nhân tham gia quản lý nhà nước về môi trường. Việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng của công tác thẩm định, phê duyệt và cả giai đoạn hậu kiểm sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt.
Năng lực chuyên môn của chủ thể thực hiện ĐTM là các yếu tố quyết định tới chất lượng của hoạt động ĐTM. Khi con người có khả năng, có kiến thức chuyên môn thì pháp luật mới được áp dụng, thi hành một cách hiệu quả. Chính vi vậy, nâng cao năng lực chuyên môn là yêu cầu, nhiệm vụ cần được Nhà nước chú trọng đầu tư đúng mức và thường xuyên.
3.3.3. Công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường
Công khai thông tin luôn là yêu cầu được đặt ra để đảm bảo dân chủ, minh bạch. Báo cáo ĐTM phải được công khai tới mọi người dân, trừ những báo cáo có liên quan đến bí mật quốc gia. Khi báo cáo ĐTM được công khai, các cá nhân, tổ chức, cơ quan quan tâm có điều kiện được tiếp cận, nghiên cứu, đưa ra những đánh giá, nhận xét, góp ý sẽ góp phần hoàn thiện báo cáo ĐTM, sẽ đưa ra được những vấn đề môi trường chịu tác động một cách rộng hơn, đầy đủ hơn và từ đó những biện pháp phòng ngừa, khắc phục cũng đầy đủ hơn, hiệu quả hơn.
Ở các nước khác, việc tiếp cận các báo cáo ĐTM là rất dễ dàng. Chẳng hạn như ở Mỹ, bất kể người dân Mỹ nào cũng có thể truy cập địa chỉ https://www.epa.gov/nepa để tra cứu và góp ý đối với tất cả báo cáo ĐTM được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia này. Vì lẽ đó mà các cơ quan nhà nước không thể làm ngơ, làm ẩu đối với các vấn đề môi trường, người dân sẽ giám sát tất cả.
Còn ở Việt Nam hiện nay, báo cáo ĐTM chỉ được chia sẻ cho cán bộ cơ quan Nhà nước, người dân rất khó khăn trong việc tiếp cận. Trong khi những báo cáo ĐTM hầu hết đã được scan và upload dưới dạng bản mềm. Vậy thì việc tải các báo cáo ĐTM này lên trang cơ sở dữ liệu để người dân được tiếp cận là tương đối thuận lợi, vậy tại sao lại không thực hiện.
Với báo cáo ĐTM chưa được phê duyệt chuẩn bị thực hiện tham vấn, pháp luật ĐTM cần quy định công khai các báo cáo này và lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức, cơ quan quan tâm thông qua mạng Internet, góp phần nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM. Báo cáo ĐTM đã được phê duyệt cùng tất cả các hồ sơ của chủ đầu tư và của cơ quan thẩm định phải được lưu trữ và công bố công khai để mọi người dân đều dễ dàng tiếp cận. Việc công khai có thể thực hiện trên nhiều kênh khác nhau: qua Internet là quan trọng nhất với phạm vi công khai rộng nhất, ngoài ra có thể qua văn bản niêm yết tại trụ sở UBND các cấp để người dân có thể tiếp cận trực tiếp. Pháp luật ĐTM cũng cần phải quy định rõ chế tài xử phạt với hành vi không công khai báo cáo ĐTM, công khai không đầy đủ báo cáo ĐTM.
Công khai báo cáo ĐTM của từng dự án sẽ giúp cho người dân, các cơ quan, tổ chức quan tâm có điều kiện theo dõi, giám sát môi trường sẽ nâng cao chất lượng tham vấn, kiểm tra, giám sát sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Đồng thời, việc công khai báo cáo cũng sẽ gia tăng trách nhiệm giải trình của các cơ quan hữu quan, tăng cường chất lượng báo cáo và công tác thẩm định báo cáo ĐTM, khiến các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nâng cao năng lực, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của mình, hạn chế sai xót, thiếu trách nhiệm trong quá trình thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM.
3.3.4. Tăng mức xử phạt vi phạm pháp luật ĐTM Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Hệ thống pháp luật về ĐTM hiện nay đã tương đối đầy đủ tuy nhiên thực tiễn áp dụng các quy định này lại chưa thực sự tốt. Các vi phạm pháp luật ĐTM diễn ra ngày càng nhiều và để lại hậu quả rất nghiêm trọng cho môi trường. Để các cá nhân, tổ chức có ý thức chấp hành nghiêm Luật Bảo vệ Môi trường thì việc quy định chế tài xử phạt đủ mạnh, đủ sức răn đe là hết sức cần thiết. Cơ chế xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về ĐTM hiện nay còn rất nhẹ và chưa đủ răn đe, đây là một trong những vấn đề chính khiến nhiều doanh nghiệp chưa mặn mà trong việc đầu tư xử lý môi trường một cách nghiêm túc. Do đó, để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật ĐTM cần quy định mức xử phạt với hành vi vi phạm quy định về ĐTM nặng hơn hiện nay.
Pháp luật cần quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với các vi phạm pháp luật việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện báo cáo ĐTM để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm, bổ sung chế tài đình chỉ dự án và yêu cầu khôi phục hiện trạng để tránh tình trạng có những chủ thể cố tình không lập báo cáo ĐTM nhưng vẫn triển khai dự án gây ra những hậu quả môi trường không thể khắc phục được. Hiện nay quy định xử phạt hành chính với cá nhân vi phạm pháp luật ĐTM tối đa là 200.000.000 VNĐ và tổ chức vi phạm là 400.000.000, mức xử lý như vậy còn quá thấp. So với vốn đầu tư của dự án, so với lợi ích kinh tế mà dự án đem lại thì mức xử phạt như vậy còn quá thấp, khiến chủ dự án chấp nhận vi phạm chứ không thực hiện nghiêm túc các quy định về ĐTM. Chế tài xử phạt hình sự mới thực sự mang tính răn đe, trừng trị, khiến các chủ dự án phải dè chừng thì việc cấu thành tội phạm môi trường lại khó khăn, nên tình trạng xử lý hình sự với hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây hậu quả nghiêm trọng còn rất ít. Với hành vi vi phạm pháp luật ĐTM thì việc xử lý trách nhiệm hình sự càng khó khăn hơn, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 không quy định tội danh cho hành vi vi phạm pháp luật về ĐTM, mà chỉ quy định tội danh cho các hành vi như xả thải, hủy hoại môi trường,… nên về cơ bản xử phạt hình sự đối với vi phạm pháp luật ĐTM là không có. Như vậy, cần phải nâng cao mức phạt vi phạm hành chính lên nhiều lần để mang hiệu quả răn đe hơn, có thể quy định thêm hình thức xử phạt buộc tạm dừng hoạt động có thời hạn, hoặc đình chỉ dự án.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
Hiện nay, môi trường là vấn đề nhận được sự quan tâm hàng đầu và cũng là thách thức lớn đặt ra với toàn cầu. Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ, trách nhiệm của mọi quốc gia trên thế giới. Con người cần có ý thức, trách nhiệm với chính bản thân mình và với toàn thế giới về việc thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, tìm cách ngăn chặn, hạn chế và khắc phục các tác động xấu tới môi trường. Thực hiện tốt đánh giá tác động môi trường chính là một trong những biện pháp góp phần giải quyết triệt để vấn đề này. ĐTM đã và đang ngày càng cho thấy vai trò của mình trong việc hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực trong hoạt động phát triển kinh tế – xã hội của con người tới môi trường tự nhiên; là công cụ quản lý môi trường hữu hiệu trong thời đại hội nhập khi mà các quốc gia đang rất chú trọng hoạt động thu hút đầu tư. ĐTM cho thấy rõ vai trò hạn chế các tác nhân ô nhiễm môi trường ngay từ khi mọi thứ mới chỉ trong giai đoạn chuẩn bị, chưa hình thành, điều này mang tính chất phòng ngừa cao, giải quyết vấn đề từ gốc; và ĐTM vẫn theo sát quá trình chuẩn bị vận hành dự án, đảm bảo chủ dự án thực hiện các biện pháp, công trình bảo vệ môi trường như đã cam kết. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy các chủ dự án vẫn chỉ coi ĐTM là một thủ tục để được cấp phép đầu tư dự án, chứ chưa thực sự quan tâm đến vai trò bảo vệ môi trường của ĐTM. Dẫn tới, việc lập báo cáo ĐTM chỉ mang tính hình thức, thủ tục qua mặt cơ quan quản lý, chứ không mang tính thực chất, không đem lại hiệu quả môi trường như đúng yêu cầu của ĐTM. Pháp luật về ĐTM hiện còn một số điểm bất cấp, gây hạn chế trong quá trình áp dụng, thi hành pháp luật. Một bộ phận những người thi hành pháp luật ĐTM còn hạn chế về năng lực, thiếu trách nhiệm nên đã để xảy ra những vi phạm gây thiệt hại nặng nề đối với môi trường. Tiêu biểu là Sự cố cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung, mà thủ phạm là Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa. Formosa với hàng loạt các sai phạm như xả thải, vận hành công nghệ,… không đúng với báo cáo ĐTM. Sai phạm của vụ việc còn nằm ở các nhà chức trách có thẩm quyền phê duyệt, thẩm định báo cáo ĐTM, các cơ quan có trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát thực hiện báo cáo ĐTM cũng như việc bảo đảm công tác bảo vệ môi trường. Điều đó, cho thấy cơ chế quản lý các vấn đề môi trường còn kém, thiếu minh bạch, thiếu tính khả thi, chưa đảm bảo sự răn đe của pháp luật. Do đó, vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và đánh giá tác động môi trường nói riêng cần phải được quan tâm, chú trọng hơn để có thể hoàn thiện, thắt chặt hệ thống pháp luật, đảm bảo sự nghiêm minh, thiết thực, vai trò quản lý quan trọng trong đối với các vấn đề môi trường.
Trong phần nội dung của Khóa luận, tác giả đã đưa ra được những lý luận cơ bản về ĐTM, tác giả cũng phân tích, đánh giá sơ lược thực trạng pháp luật về ĐTM Việt Nam, tình hình công tác quản lý nhà nước về ĐTM, thực tiễn áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về ĐTM. Đồng thời, tác giả cũng phân tích đánh giá những thành tựu và hạn chế của các văn bản này, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về ĐTM ở Việt Nam.
Khóa luận này được hoàn thành với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, dưới sự hướng dẫn tận tình và có hiệu quả của Tiến sĩ Lê Kim Nguyệt. Tác giả hy vọng rằng Khóa luận góp phần nhỏ vào tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến pháp luật về đánh giá tác động môi trường. Khóa luận: Giải pháp pháp luật đánh giá tác động môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
