Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.3. Ảnh hưởng của nhập khẩu vàng tới vấn đề an ninh tiền tệ
2.3.1. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nhập khẩu vàng và vấn đề an ninh tiền tệ
Như đã trình bày ở trên, có nhiều yếu tố ảnh hưởng và cũng có nhiều tiêu chí để đánh giá vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia. Trong đó, vàng cũng là một loại hàng hóa – tiền tệ có vai trò đặc biệt. Những quốc gia có nhu cầu vàng cao, sản lượng khai thác trong nước lại không đủ đáp ứng nhu cầu thì tất yếu phải nhập khẩu từ bên ngoài. Vàng được nhập khẩu sẽ đi vào đời sống kinh tế – xã hội của toàn quốc gia. Nó tham gia vào tất cả các khâu, các bước trong quy trình kinh doanh. Ở các quốc gia gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vàng nhập khẩu thì các vấn đề liên quan đến vàng trong thị trường đó luôn có tác động qua lại tới vấn đề nhập khẩu vàng. Sẽ là thiếu xót nếu đánh giá về vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia mà bỏ qua các vấn đề liên quan tới vàng. Tại các quốc gia nhập khẩu vàng, đánh giá vai trò của vàng trong vấn đề an ninh tiền tệ cũng là đánh giá vai trò của việc nhập khẩu vàng, vai trò của số vàng được nhập khẩu trong mối liên quan tới vấn đề an ninh tiền tệ quốc gia. Nhập khẩu vàng tuy không có ảnh hưởng lớn đến an ninh tiền tệ của một quốc gia nhưng không phải không có mối liên hệ. Những ảnh hưởng mà nhập khẩu vàng có thể gây ra đối với vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia có thể kể ra như:
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.3.1.1. Nhập khẩu vàng làm tăng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN
Vàng là một loại hàng hóa đặc biệt, giá của nó nhiều khi thoát hẳn ra khỏi giá trị sử dụng, lớn hơn giá trị sử dụng rất nhiều lần. Vàng có giá cao hơn các loại kim loại khác như đồng hay nhôm. Vàng cũng có giá cao hơn nhiều loại khoáng sản khác như than đá. Ở một quốc gia mà sản lượng khai thác không đáp ứng được nhu cầu, để sở hữu vàng, quốc gia đó phải chi nhiều ngoại tệ cho việc nhập khẩu. Điều này ảnh hưởng không tốt đến cán cân thanh toán quốc tế, làm gia tăng thậm hụt thương mại của quốc gia đó.
Tình trạng này có thể được giải quyết với việc cho phép xuất khẩu vàng. Thị trường trong nước và thị trường thế giới có sự liên thông với nhau. Quốc gia đó không chỉ có ngoại tệ thu về từ xuất khẩu, mà vàng xuất khẩu thường là vàng đã gia công, chế biến, điều này giúp giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho một số đông dân số. Xét trên phương diện này thì nhập khẩu vàng còn có lợi đối với quốc gia đó.
Tuy nhiên, hiện nay có một số quốc gia không cho phép tự do xuất khẩu vàng. Muốn xuất khẩu vàng thì cần có sự cấp phép của các cơ quan quản lý nhà nước. Tại các nước này, vàng được nhập vào bằng tấm vé một chiều. Điều này là không có lợi. Nó làm tăng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế. Nó còn làm cho thị trường trong nước và thị trường thế giới không có sự liên thông với nhau, làm cho giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế nhiều khi vận động trái chiều nhau, điều này tất yếu làm nảy sinh các hoạt động buôn lậu. Thị trường bị thất thoát một lượng vàng lớn hoặc có thêm một lượng vàng không rõ nguồn gốc, nhà nước mất một khoản thu cho ngân sách từ việc thất thu thuế xuất, nhập khẩu lậu số vàng trên. Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN
Hiện nay còn có một luồng ý kiến khác về việc nhập khẩu vàng làm tăng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia. Những người theo trường phái này cho rằng không nên xét vàng là một loại hàng hóa thông thường, vàng cũng có vai trò tiền tệ, vậy tại sao không coi vàng như đô la Mỹ. Họ cho rằng dự trữ vàng cũng là một hình thức dự trữ ngoại tệ. Nhập khẩu vàng, tích trữ vàng chỉ là một biến thái của việc tích trữ đô la Mỹ. Họ cho rằng việc người dân, NHTW, NHNN tích trữ vàng cũng giống như khi họ tích trữ Đô la Mỹ, phần tài sản này sẽ được xem như tài sản dữ trữ quốc gia, có thể dễ dàng chuyển trở lại thành tiền mặt khi có nhu cầu. Do đó, chi phí nhập khẩu vàng không được xem như chi phí nhập siêu. Biến động của giá vàng hay giá Đô la Mỹ đều không được tính vào chỉ số giá tiêu dùng trong tháng, trong năm, vậy tại sao lại tính chi phí nhập khẩu vàng vào cán cân thanh toán quốc tế.
Tôi không đồng ý với quan điểm này. Bởi:
Thứ nhất, việc tích trữ vàng không còn là xu thế chủ yếu. Điều này có thể thấy ở việc các NHTW trên thế giới, tiêu biểu là NHTW các nước tham gia kí kết CBGA, đều có xu hướng muốn bán vàng khỏi quỹ dự trữ quốc gia để có thể được hưởng lãi suất từ những khoản dự trữ này.
Ngày nay, các NHTW có xu hướng chuyển dự trữ quốc gia của mình sang các tài sản có giá và có đảm bảo khác như USD, hay tiêu biểu và phổ biến nhất hiện nay là giữ trái phiếu chính phủ Mỹ. Đến cuối tháng 1-2009, Trung Quốc đã mua 739,6 tỉ đô la trái phiếu chính phủ Mỹ; và từ tháng 9-2023 Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ nhất. Việc các NHTW trên thế giới tham gia kí kết CBGA, giới hạn lượng vàng tối đa được bán trong năm cũng bởi vì họ không muốn ồ ạt bán vàng ra thị trường, làm dư cung, giảm giá và làm cho thị trường vàng hỗn loạn.
Thứ hai, như phân tích phân tích ở trên, nhu cầu vàng cho các ngành công nghiệp không có nhiều biến đổi qua các năm, nhu cầu vàng trong ngành nha khoa thậm chí còn giảm. Nhu cầu vàng trang sức ngoài các nước như Ấn Độ, Trung Quốc và một số quốc gia có nền văn hóa gắn chặt với vàng ở Châu Á vấn gia tăng thì nhu cầu vàng cho ngành kim hoàn ở các nước phát triển phương Tây đều giảm dần đều qua các năm. Chỉ có nhu cầu vàng cho đầu tư vẫn tăng trưởng đều thậm chí nhu cầu vàng cho đầu tư theo hình thức ETFs tăng trưởng rất nhanh trong năm 2023 vừa qua. Vàng dùng trong đầu tư, rõ ràng vai trò của nó cũng giống như các hàng hóa khác, nên chi phí để nhập khẩu vàng cung cấp cho các hoạt động này cũng nên tính như các loại hàng hóa khác, tức là cũng tính chi phí nhập khẩu vàng vào cán cân thanh toán quốc tế.
2.3.1.2. Nhập khẩu vàng giúp giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN
Tại những nước có đồng nội tệ yếu và hệ thống ngân hàng kém phát triển, việc hướng tới sử dụng đôla xảy ra khá thường xuyên. Người dân lo sợ lạm phát, lo ngại về sự ổn định của đồng nội tệ hoặc không tin tưởng các ngân hàng trong nước sẽ giữ tiền của họ bằng ngoại tệ. Tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là những nước nghèo, người dân cũng thích được trả lương bằng đôla hoặc đổi tiền nội tệ sang đôla.
Việc người dân gia tăng tích trữ vàng thay cho đô la sẽ phần nào hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế. Tuy nhiên, cả hai hình thức này đều tiềm ẩn nhiều rủi ro cho vấn đề an ninh tiền tệ nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung. Hậu quả của đô la hóa quá mức chúng ta có thể thấy trong cuộc khủng hoảng tiền tệ – khủng hoảng nợ của các nước châu Mỹ – Latinh những năm 2001-2002, khi đó giá trị của các các đồng nội tệ của các quốc gia Nam Mỹ này đều được cố định theo giá của đồng đô la Mỹ, dẫn đến chênh lệch quá cao giữa tỷ giá thực tế và tỷ giá được cố định, hậu quả là cả khu vực mà tiêu biểu nhất là Argentina đã rơi vào một cuộc khủng hoảng tiền tệ nghiêm trọng, buộc phải phá giá các đồng nội tệ quốc gia.
Dự trữ vàng tuy hạn chế tình trạng đô la hóa, đảm bảo giá trị trong hoàn cảnh lạm phát nhưng trong điều kiện khủng hoảng kinh tế như hiện nay thì, giá vàng đã bị đẩy lên quá cao so với giá trị thật của nó. Điều nà y cũng tiềm ẩn nguy cơ bong bóng. Khi nền kinh tế toàn cầu phục hồi, các công ty tài chính, những nhà đầu tư – những người đang rất sốt sắng mua vàng vào, các tổ chức tài chính quốc tế, hay các NHTW bán vàng ra để thu hồi lại vốn, tiền đã rót vào các gói cứu trợ. Nguồn cung tăng sẽ có thể làm giá vàng giảm mạnh, làm suy giảm giá trị của những khoản tích trữ.
2.3.1.3. Nguy cơ buôn lậu vàng qua biên giới
Một vấn đề nữa mà nhập khẩu vàng có thể ảnh hưởng đến vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia là nếu công tác quản lý xuất, nhập khẩu vàng không hợp lý, các quyết định hành chính không linh hoạt thì sẽ xảy ra tình trạng buôn lậu vàng qua biên giới.
Nếu xảy ra hiện tượng xuất lậu vàng qua biên giới sẽ rút ruột lượng vàng trong nước, gây ra nguy cơ thiếu nguồn cung vàng và đẩy giá vàng trong nước lên cao. Xuất lậu vàng còn khiến nhà nước thất thu một khoản thuế xuất khẩu đáng kể.
Còn nếu xảy ra hiện tượng nhập lậu vàng lại gây ra nguy cơ mất một khoản ngoại tệ đáng kể. Nhà nước cũng thất thu một khoản ngân sách từ thuế. Vàng nhập lậu không những không có đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, tuổi vàng khó xác nhận rõ ràng, người tiêu dùng khó có thể phân biệt thật giả. Hơn nữa, vì không phải nộp thuế nhập khẩu nên vàng nhập lậu có thể có giá cạnh tranh hơn so với vàng nhập khẩu chính ngạch. Điều này gây trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng hợp pháp.
Cả nhập lậu và xuất lậu đều có thể khiến cho thị trường vàng nhiễu loạn, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan chức năng, làm cho giá vàng biến đổi khó lường, làm doanh nghiệp nhập khẩu theo đường chính ngạch gặp khó khăn trong kinh doanh và làm ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
2.3.2. Đánh giá về những ảnh hưởng thực tế của nhập khẩu vàng tới vấn đề an ninh tiền tệ của Việt Nam Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN
Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới với một xuất phát điểm khá thấp: nền kinh tế nhỏ bé, lạc hậu đang chuyển dần sang kinh tế thị trường, hầu hết các loại thị trường đều chưa phát triển, nền kinh tế dang bộc lộ nhiều điểm hạn chế như: quy mô và tốc độ tăng GDP còn thấp, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ chậm phát triển, cơ cấu ngoại thương không hợp lý, kim ngạch xuất khẩu thấp, môi trường kinh doanh, cơ chế chính sách còn nhiều tồn tại, sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ thấp… Tất cả những yếu tố này đã và đang đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức và rủi ro, tiềm ẩn những nguy cơ tác động xấu đến các vấn đề an ninh tiền tệ: việc vay và trả nợ nước ngoài, quản lý sử dụng ODA, cán cân thanh toán quốc tế, dự trữ ngoại tệ… Đặc biệt, các cuộc khủng hoảng tiền tệ trong quá khứ và hiện nay là khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng đang ảnh hưởng mạnh đến ổn định kinh tế – tiền tệ của đất nước.
Vàng với vai trò của một loại hàng hóa đặc biệt, vừa là một loại hàng hóa có giá trị cao, vừa là tài sản tích lũy được ưa chuộng. Thị trường vàng biến động sẽ gây ảnh hưởng tới nhiều thị trường tài chính – tiền tệ khác như thị trường đô la Mỹ khi mà đô la Mỹ cùng với vàng đang là hai kênh dự trữ chính của các chủ thể kinh tế trong nước, thị trường bất động sản khi nhiều giao dịch về bất động sản vẫn được ấn định dựa trên giá vàng, và ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán khi mà thị trường chứng khoán cùng với thị trường đầu tư vàng đang là hai kênh đầu tư chủ yếu, tuy nhiên, chứng khoán dường như đang lép vế khi mà chỉ số VN- Index và HASTC – Index liên tục mất điểm. Rõ ràng, nhập khẩu vàng đã và đang có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tê nước ta.
Đánh giá vai trò của nhập khẩu vàng đối với vấn đề an ninh tiền tệ của Việt Nam chúng ta cần trả lời được một số câu hỏi sau:
- Nhập khẩu vàng có ảnh hưởng như thế nào tới cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam;
- Vàng nhập khẩu có ảnh hưởng như thế nào tới thực trạng đô la hóa;
- Nên xem xét vàng như một loại hàng hóa hay một loại ngoại tệ;
- Chính phủ có nên xem xét việc cho phép nhập khẩu vàng trở lại trong năm 2009;
- Có nên cho phép xuất khẩu vàng khối để cân bằng thị trường và đảm bảo cán cân thanh toán;
Về vấn đề này, từ thực tế và một vài phân tích lý thuyết ở trên, ta có thể rút ra một vài ảnh hưởng của việc nhập khẩu vàng tới vấn đề an ninh tiền tệ của Việt Nam như sau
Thứ nhất, ảnh hưởng tới cán cân thanh toán quốc tế Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN
Nhập khẩu vàng đã góp phần làm tăng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam. Đây cũng là nhận định của NHNN, nhập khẩu vàng là một nguyên nhân quan trọng làm tăng thăm hụt cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam. Khi mà chính phủ Việt Nam vẫn quy định chỉ cho phép xuất khẩu vàng trang sức và vàng theo các hợp đồng gia công quốc tế thì số lượng vàng đã nhập khẩu vào Việt Nam có thể coi như không được xuất khẩu ra bên ngoài nữa. Tính đến tháng 7 năm 2023, tức là tới tời điểm chính phủ tạm ngừng cấp phép nhập khẩu vàng, thì chúng ta đã nhập khẩu khoảng 62 tấn vàng, theo số liệu của Hội đồng vàng thế giới. Lượng nhập khẩu này bằng tổng lượng nhập khẩu của năm 2007. Nếu tính theo giá thị trường vào thời điểm ngày 07/08/2023 là 885 USD/ounce, thì 62 tấn vàng nhập vào Việt Nam trị giá khoảng 1,8 tỉ USD. Nếu đem so với con số dự trữ ngoại hối chính thức 20,7 tỷ USD được công bố lần đầu tiên vào tháng 6 năm 2023 (hiện nay dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào khoảng 21.9 tỷ USD – từ tháng 9 năm 2023) thì con số 1,8 tỷ dùng để nhập khẩu vàng chiếm 8.6%. Còn nếu đem so sánh với con số nhập siêu tính đến hết tháng 6 năm 2023 – thời điểm NHNN ra quyết định tạm ngừng cấp phép nhập khẩu vàng là 14.7 tỷ USD (Tổng Cục Thống kê) thì giá trị nhập khẩu vàng chiếm khoảng 12,24%. Cả hai con số này đều xấp xỉ 10%, rõ ràng là không nhỏ và không thể làm ngơ.
Đối phó với tình trạng này, để giảm nhập siêu, NHNN đã thực hiện nhiều biện pháp từ quản lý hành chính tăng mức thuế nhập vàng lên 1%, thay cho mức 0,5% như trước; đến biện pháp mạnh là tạm ngừng không cấp thêm quota nhập vàng. Với hai quyết định này, mối liên hệ duy nhất giữa thị trường vàng Việt Nam và thị trường vàng thế giới đã bị cắt đứt. Việt Nam cần giảm tỷ trọng nhập siêu, và ngừng nhập khẩu vàng sẽ phần nào hạn chế được điều này, nhưng những biện pháp NHNN đưa ra có thật sự tối ưu?
Thực chất của nhập siêu chính là việc tiêu dùng quá khả năng của đất nước. Tuy nhiên, nhập siêu vẫn có thể khắc phục được nếu cán cân thanh toán bảo đảm ở mức dương. Cán cân thanh toán bao gồm cán cân thương mại và các phần chênh lệch của xuất nhập khẩu hàng dịch vụ, du lịch, đầu tư, kiều hối, trợ cấp… Như vậy, dẫu cán cân thương mại âm nhưng nếu được bù đắp bởi phần dương của du lịch, kiều hối, đầu tư… thì nền kinh tế hoàn toàn có thể khắc phục được ảnh hưởng của nhập siêu và tự chủ về ngoại tệ.
Mục đích của việc tạm ngừng cấp phép nhập khẩu vàng, theo giải thích của NHNN là để giảm căng thẳng về nguồn cung ngoại tệ. Tuy nhiên, phân tích kỹ tình hình hiện nay thì có thể thấy Quyết định này chỉ là một giải pháp mang tính ngắn hạn, đối phó với những hậu quả khó khăn do chính NHNN (góp phần) tạo ra.
Một số lý do khiến cung ngoại tệ khan hiếm có thể kể ra như:
- Tiền đồng thực tế đã lên giá quá nhiều so với USD do chênh lệch lạm phát quá lớn ở Việt Nam và Mỹ. Mà lạm phát cao ở Việt Nam có nguyên nhân là hệ quả tất yếu của việc liên tục tăng cung tiền và chính sách tiền tệ nới lỏng của NHNN trong thời gian qua. Tiền đồng lên giá đồng nghĩa với tăng nhập siêu, lên tới 7,5 tỷ USD trong quý I năm 2023. Nhu cầu USD khổng lồ như vậy đã làm suy kiệt nguồn cung USD ở Việt Nam.
- Trong khi lạm phát tăng cao và người dân có kỳ vọng lạm phát cao trong tương lai thì NHNN lại áp đặt trần lãi suất tiền gửi là 12%, và thậm chí còn thông qua Hiệp hội Ngân hàng vận động các ngân hàng áp dụng trần lãi suất 11%, thấp xa so với mức lạm phát dự kiến trong năm. Lãi suất thực âm đã khuyến khích người gửi tiền rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng, chuyển sang các hình thức tích trữ khác như mua vàng để bảo toàn tài sản. Do đó, chỉ riêng trong quý I năm 2023, lượng vàng nhập khẩu về đã lên tới 40 tấn, tương đương với khoảng 1,5 tỷ USD ngoại tệ phải bỏ ra để nhập khẩu vàng. Bất cân đối cung cầu về ngoại tệ càng vì thế mà trầm trọng.
- Chính sách tỷ giá của NHNN khá cứng nhắc trong khi chênh lệch lãi suất tiền đồng và USD ở mức lớn (5-6%), nhiều người đổ xô vay ngoại tệ, chuyển ra tiền đồng để gửi ngân hàng hưởng lãi suất cao hơn.
Thứ hai, vai trò cất trữ giá trị của vàng
Cho đến nay chưa có con số thống kê chính thức đã có bao nhiêu vàng được nhập vào Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Việt Nam là một trong những nước nhập khẩu vàng lớn trên thế giới, gồm cả nhập chính thức và không chính thức. Trung bình mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 50-60 tấn vàng. Nếu tính theo mức 30 triệu USD/tấn thì mỗi năm số tiền chi ra để nhập vàng khoảng 1,5-1,8 tỉ USD. Theo tỉ giá hiện hành thì số tiền để mua vàng hằng năm vào khoảng 26.700-32.000 tỉ đồng.
Theo bà Cao Thị Ngọc Dung – tổng giám đốc Công ty CP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), lượng vàng trong dân hiện nay có thể lên tới 800 tấn. Trong đó có khoảng 500 tấn nhập khẩu chính thức, còn lại là nhập qua đường không chính thức và vàng có sẵn trong dân từ nhiều năm trước. Nếu tính theo thời giá hiện hành thì số vàng này trị giá khoảng 24 tỉ USD (tương đương 427.000 tỉ đồng).
Cũng có thể ước lượng số vàng trong dân thông qua số vàng miếng đã được bán ra thị trường. Theo số liệu của Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC), từ khi nơi này ra mắt thương hiệu vàng miếng SJC năm 1988 đến nay, đã có khoảng 11,7 triệu lượng vàng miếng được tung ra thị trường, tương đương khoảng 450 tấn vàng. Ngoài ra, theo ước tính của các công ty vàng, có khoảng 200 tấn vàng được dùng để chế tác nữ trang. Chưa kể còn nhiều thương hiệu vàng miếng khác cũng được người dân mua để cất giữ.
Giới kinh doanh vàng cho rằng nếu trừ đi một lượng vàng đã được xuất lậu ngược qua biên giới, số vàng trong dân còn khoảng 700 tấn thì trị giá không dưới 21 tỉ USD, theo thời giá hiện nay là 374.000 tỉ đồng.
Như vậy, vàng nhập khẩu về đã trở thành một kênh tích trữ rất lớn trong dân. Với đặc điểm dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt khi có nhu cầu, lại không bị mất giá trước áp lực lạm phát, vàng rõ rang là một kênh tích trữ rất hiệu quả, góp phần bình ổn thị trường tiền tệ.
Nếu như trước đây, vàng nhập khẩu về chủ yếu để tích trữ trong dân thì hiện nay, trong số vàng nhập khẩu vào Việt Nam, phần lớn trong đó được sử dụng để đầu tư. Đầu tư vàng đã trở thành một kênh đầu tư quan trọng.
Tuy nhiên, có một thức tế trái chiều vẫn đang diễn ra trên thị trường đầu tư vàng Việt Nam. Không ở đâu trên thế giới, khi nhà đầu tư muốn rút vàng vật chất khỏi giao dịch lại phải nộp một khoản phí rút vàng, hay khi nộp vào họ lại phải nộp thêm một khoản gọi là phí nộp vàng như ở Việt Nam. Thực tế này đã diễn ra tại sàn giao dịch vàng của Ngân hàng Thương mại Á Châu. Và thực tế này xảy ra chính là do quyết định ngừng cấp phép nhập khẩu vàng của NHNN. Quyết định này đã cắt đứt nguồn cung vàng từ nước ngoài, làm cho giá vàng vật chất tại Việt Nam và trên thị trường thế giới diễn biến trái chiều và luôn có một biên độ chênh lệch giữa giá trong nước và giá thế giới. Trong khi các giao dịch vàng tại các trung tâm giao dịch lại luôn bám sát theo những biến động của giá vàng thế giới. Những quyết định trên của các trung tâm giao dịch vàng về bản chất cũng giống như những quyết định thay đổi hạn mức rút vàng, chính là để hạn chế nhà đầu tư rút vàng khỏi tài khoản khi mức giá trên sàn thấp hơn so với mức giá giao dịch vàng vật chất bên ngoài. Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN
Thứ ba, tình hình nhập lậu vàng
Tình trạng nhập lậu vàng diễn biến khó lường không những làm nhà nước thất thu một khoản thuế lớn mà còn làm cho thị trường vàng trở nên không lành mạnh, làm ảnh hưởng tới tất cả các chủ thể tham gia. Trước khi các quyết định tăng thuế và tạm ngừng cấp phép nhập khẩu vàng được đưa ra, giá vàng trong nước và giá vàng thế giới có sự liên thông với nhau và khi hạn ngạch nhập khẩu bị giảm hoặc ngừng cấp phép nhập khẩu vàng thì đã xảy ra tình trạng mất cân đối cung-cầu trong nước tại một số thời điểm. Những lúc đó, khi nhu cầu tăng mà không có nguồn cung đáp ứng, giá vàng trong nước bị đẩy lên cao và người chịu thiệt là người tiêu dùng.
Khi giá vàng trong nước lên quá cao so với giá thế giới, có thể lấy ví dụ ngày 14/11/2023, tại thị trường vàng vật chất, giá vàng SJC của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết trong khoảng 16,40 triệu đồng/lượng (mua vào) và 16,49 triệu đồng/lượng (bán ra). Cùng thời điểm, giá vàng thế giới được giao dịch ở mức 729,75 – 730,25 USD/ounce. Nếu quy đổi theo tỷ giá USD/VND là 16.985 đồng thì giá vàng thế giới tương đương mức 15,316 – 15,327 triệu đồng/lượng. Như vậy, giá vàng trong nước cao hơn vàng thế giới là 1,163 triệu đồng/lượng. Mức chênh lệch trên thật sự rất hấp dẫn để những nhà kinh doanh tìm mọi cách đề đẩy nguồn cung tăng lên và dẫn đến nhập lậu vàng.
Nhìn lại cả quá trình lịch sử, Việt Nam bắt đầu cho nhập khẩu vàng từ năm 1990 và từ đó cho đến cuối năm 1996 thì có một khoảng thời gian 4-5 năm ngừng cấp hạn ngạch nhập khẩu vàng. Hậu quả là vàng nhập lậu ồ ạt đổ về và giá vàng trong nước đã cao hơn so với giá thế giới.
Trong khoảng thời gian 4-5 năm mà Việt Nam ngừng nhập khẩu vàng, theo số liệu của Hội đồng vàng thế giới thì nhu cầu tiêu thụ vàng của Campuchia tăng vọt (có năm, vàng nhập từ Singapore vào Campuchia lên mức 50 đến 60 tấn). Và trong thực tế thời gian đó, từ Campuchia, vàng đã chảy vào Việt Nam theo đường nhập lậu.
Việc nhập lậu vàng sẽ làm cho một khối lượng ngoại tệ trong nước chảy ra ngoài và làm cho thị trường ngoại tệ chợ đen hoạt động mạnh mẽ để hút ngoại tệ trôi nổi phục vụ cho việc nhập lậu vàng; giá đô la Mỹ ở thị trường chợ đen và trong các ngân hàng sẽ có chênh lệch lớn.
Điều này chỉ tạo ra lợi nhuận cho những người buôn lậu hoặc buôn ngoại tệ ở thị trường không chính thức trong khi các doanh nghiệp kinh doanh vàng hợp pháp và các ngân hàng thương mại thì khó khăn.
Với những phân tích ở trên chúng ta thấy, với việc tạm ngừng cấp phép nhập khẩu vàng, tuy bảng danh mục các mặt hàng nhập khẩu sẽ được giảm bớt và có thể làm giảm nhập siêu danh nghĩa, nhưng trên thực tế thì vàng vẫn chảy vào bằng con đường nhập lậu, và làm cho thị trường vàng, một thị trường rất nhạy cảm, có những diễn biến trái chiều.
Vậy, khi vàng đang trở thành vấn đề nóng trên thị trường thế giới và cả ở trong nước, và sự chênh lệch giá vàng cũng biến động từng giờ, từng phút, thì nhu cầu khai thông thị trường vàng bằng cách cho phép nhập xuất phải chăng là điều cần thiết? Đây chính là câu trả lời cho câu hỏi liệu Việt Nam có nên cho phép xuất khẩu vàng trở lại ra thị trường nước ngoài.
Phân tích rạch ròi hơn, cho phép xuất khẩu vàng sẽ giúp cho thị trường kinh doanh vàng lưu thông tốt hơn. Hiện nay, Việt Nam mới cho xuất vàng trang sức, chưa cho xuất vàng ký. Bảy tháng đầu năm 2023, Việt Nam xuất được bốn tấn vàng trang sức.
Trên thực tế, từ đầu năm nay (2009), NHNN đã bắt đầu cấp phép xuất khẩu vàng miếng cho một vài doanh nghiệp chủ chốt. Với quyết định này, theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, giá trị xuất khẩu nhóm hàng kim loại quý, đá quý và các sản phẩm có liên quan đã tăng vọt, từ mức chỉ vào khoảng 130 triệu USD trong tháng 2/2023 đến tháng 2/2009, con số đã vọt lên đến mức đáng kinh ngạc khi kim ngạch xuất khẩu loại hàng này ước tính lên đến trên 800 triệu USD. Việc này không chỉ làm kim ngạch tăng đột biến mà còn giúp các doanh nghiệp kiếm được một khoản lãi lớn nhờ tái xuất được một lượng vàng miếng đáng kể đã nhập khẩu với giá thấp hơn từ nửa đầu năm ngoái.
Sự gia tăng đột biến kim ngạch xuất khẩu vàng cũng xuất phát từ thực tế giá vàng quốc tế đột ngột leo thang, trong khi giá vàng trong nước tuy có lên theo nhưng luôn có khoảng cách thấp hơn giá quốc tế từ 300.000 – 800.000 đồng/lượng. Khoảng cách chênh lệch giá trong và ngoài nước khá lớn này cộng với những dòng người đổ xô đi bán vàng chốt lãi đã khiến việc xuất khẩu vàng trong nhiều ngày qua mang lại một nguồn lợi nhuận không nhỏ cho các doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vàng đều cho rằng việc xuất khẩu vàng có ý nghĩa rất lớn, giúp lưu thông hàng hoá, khiến giá cả vàng trong nước ngang bằng với giá thế giới.
Đặc biệt, trong hoàn cảnh hiện nay, việc xuất khẩu vàng cũng giúp thu về một khoản ngoại tệ lớn góp phần ổn định tỷ giá và cán cân thanh toán. Quyết định cho xuất khẩu vàng của Ngân hàng Nhà nước diễn ra kín đáo và rất nhanh chóng đã mang lại hiệu quả và được đánh giá rất cao trong việc điều hành. Bởi vì, quyết định đúng thời điểm để doanh nghiệp xuất khẩu được giá, lượng ngoại tệ mạnh thu về đã bù đắp vượt mức nguồn thiếu hụt do giải ngân FDI đạt thấp, kiều hối chuyển về giảm và nguồn vốn đầu tư gián tiếp có dấu hiệu chảy ngược ra nước ngoài.
Bên cạnh những mặt “được” kể trên thì xuất khẩu vàng cũng chứa đựng nhiều “nguy cơ” bất lợi. Xuất khẩu vàng nhiều không hẳn đã là dấu hiệu tốt, bởi sau này khi có nhu cầu, Việt Nam sẽ lại phải nhập khẩu. Và khi đó, nếu quản lý không tốt thì cầu ngoại tệ sẽ gia tăng cùng với việc giá vàng trong nước dễ lặp lại khả năng, luôn cao hơn nhiều so với giá quốc tế.
Nguy cơ mất cân đối trên thị trường tiền tệ là điều có thể.
Theo TS. Nguyễn Đại Lai, thị trường vàng mang lại nguồn lợi cho những đơn vị trên thị trường vốn, chứ chưa gắn được thị trường vốn với thị trường phát triển cho nền kinh tế của đất nước. Cùng đó, việc quản lý nguồn vốn thế nào cho hiệu quả cũng là điều cần quan tâm.
Thực tế, việc xuất khẩu vàng đã làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá vàng trong nước thời gian qua. Để có vàng xuất khẩu, doanh nghiệp phải thu mua vì các công ty kinh doanh vàng không có nhiều vàng, lượng vàng nhập khẩu đang được phân tán ở nhiều tổ chức và cá nhân, từ đó tác động đến giá. Đến một lúc nào đó, giá vàng trong nước sẽ không còn thấp hơn giá vàng thế giới, thậm chí “bật” lên cao hơn, ảnh hưởng đến tâm lý người dân, không loại trừ khả năng tạo ra một xu hướng mua vàng làm cho thị trường vàng căng thẳng. Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan về nhập khẩu vàng ở Việt Nam
When someone writes an piece of writing he/she maintains the idea of a
user in his/her brain that how a user can understand it.
Thus that’s why this article is outstdanding. Thanks!
rất hay
https://vietluanvanluat.com/dich-vu-viet-luan-van/
https://vietluanvanluat.com/dich-vu-viet-luan-van/
Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ
Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN