Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước
Như đã phân tích ở trên việc hạn chế quyền lực nhà nước là một nhu cầu tất yếu, nó nảy sinh cùng với việc hình thành nhà nước. Theo Stephen Holmes, một nhà hiến pháp học nổi tiếng ở đại học NewYork, Mỹ: “Bất cứ cơ quan nào sử dụng đủ quyền lực để bảo vệ tôi khỏi bị hàng xóm cướp bóc, tất có thể sử dụng đủ quyền lực để pháp hủy và nô lệ hóa tôi… Làm cách nào chúng ta ấn định đủ quyền lực cho người cầm quyền để điều khiển người bị trị mà vẫn có thể ngăn ngừa quyền hành tích lũy này không bị lạm dụng?” [89, tr.270-271]. Khi nảy sinh nhu cầu cần có nhà nước thì đồng thời cũng cần phải xác định cơ chế để giới hạn quyền lực của nó và những điều kiện để đảm bảo thực hiện được những cơ chế này trên thực tế, vấn đề này không dễ thực hiện. Các phương thức hạn chế quyền lực đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Nhưng các phương thức này chỉ hoàn thiện với cách mạng tư sản vì cách mạng tư sản không những chế ngự sự chuyên chế, lạm dụng quyền lực của triều đình phong kiến mà nó còn đấu tranh cho tự do, bình đẳng. Có nhiều cách khác nhau để giới hạn quyền lực nhà nước, nhưng tựu chung lại có thể chia thành hai nhóm là: những phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước từ bên ngoài và những phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước từ bên trong (tự hạn chế).
Trong đó, hạn chế sự lạm dụng quyền lực từ bên ngoài nhà nước được thực hiện thông qua các thể chế, tổ chức, quy định, luật lệ đã được thiết lập trong xã hội. Các công cụ này có thể tồn tại dưới hình thức thành văn và bất thành văn. Những phương thức bất thành văn là các thiết chế, quy ước, thông lệ, chuẩn mực, tập quán, văn hóa chính trị truyền thống đã được hình thành, có hiệu lực trên thực tế mà không cần phải quy định trong bất kỳ một văn bản nào. Chúng được tất cả mọi người trong xã hội bao gồm cả những người nắm giữ quyền lực nhà nước thừa nhận, tôn trọng và tuân thủ. Ngược lại, những công cụ thành văn là những thiết chế, tổ chức, quy định, luật lệ được ghi nhận trên văn bản và bảo đảm trên thực tế bằng sự cưỡng chế của nhà nước. Đó là Hiến pháp, các đạo luật, quy định của nhà nước; các cơ quan, tổ chức nhà nước với những công cụ, cơ sở vật chất cần thiết mà quan trọng nhất là quân đội, cảnh sát; các tổ chức, thiết chế xã hội và những con người thực thi cụ thể. Còn quá trình tự hạn chế quyền lực của các cơ quan nhà nước được hiểu là quá trình hạn chế xét theo cả chiều dọc (từ trung ương đến địa phương) và chiều ngang (giữa các cơ quan nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp), nhưng tập trung và biểu hiện rõ hơn theo chiều ngang.
Trong lịch sử chính trị – pháp lý của nhân loại đã hình thành nhiều cách thức để giới hạn quyền lực nhà nước, sự hình thành đó phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình chính trị, xã hội, điều kiện tự nhiên của từng quốc gia. Trong giới hạn của luận văn, tác giả khái quát lại nội dung này trong chín phương thức cơ bản sau đây. Những phương thức này đều đi đến một mục đích chung là hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Đây là những phương thức được nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay thừa nhận và áp dụng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước mình.
2.1.1. Hiến pháp
Theo giải thích của Từ điển chuyên ngành luật Black ( Black’s Law Dictionary) thì Hiến pháp là: “một hợp đồng giữa chính quyền và người dân theo đó quyền cai trị của chính quyền do người dân trao cho” [85, tr.385]. Hợp đồng này là hợp đồng công việc, trong đó liệt kê những công việc cụ thể mà nhân dân thuê một số viên chức để thực hiện nó. Trong một quốc gia dân chủ tự do, Hiến pháp chính là bản cam kết, ràng buộc chính quyền thực thi quyền lực nhân dân trao cho trong một giới hạn nhất định, ngược lại nhân dân cũng cam kết tuân thủ những quyền lực mà mình đã tự nguyện trao cho nhà nước. Hiến pháp đặt ra hình thức chính quyền với những mục đích, quyền hạn cụ thể, mà người cầm quyền không thể áp đặt một chính thể khác với chính thể mà nhân dân lựa chọn. Qua việc chọn chính thể, nhân dân có quyền đề ra những giới hạn cho những người làm việc trong chính quyền đó. Thông thường, nhân dân đặt ra những giới hạn như sau lên chính quyền:
Trước tiên, nhân dân phân chia quyền lực theo chiều ngang cho các cơ quan trung ương của chính quyền: cơ quan Quốc hội ( Nghị viện) được trao một số quyền, tổng thống (thủ tướng) một số quyền hạn và Tòa án một số quyền khác, các cơ quan này không được phép vượt quá giới hạn quyền lực người dân đã đặt ra. Chẳng hạn, tổng thống không được phép can thiệp vào công việc của Tòa án bằng cách phán xử các vụ kiện, cũng như không thể xen vào công việc của lập pháp bằng cách tự ra luật. Tam quyền phân lập chính là tên gọi chuyên môn của sự phân chia quyền lực giữa các thành phần khác nhau của quyền lực nhà nước. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Thứ hai, người dân có thể muốn phân định quyền hạn theo ngành dọc giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương, như cấp tỉnh chẳng hạn. Nhân dân có thể trao cho chính quyền trung ương toàn quyền về quân đội, và trao cho chính quyền địa phương các quyền về giáo dục và trường học địa phương. Một khi người dân đã phân định như vậy, cả chính quyền trung ương lẫn chính quyền địa phương đều phải tôn trọng và không được phép thay đổi. Nghĩa là chính quyền địa phương không được quyền sử dụng quân đội cho các vấn đề địa phương, và chính quyền trung ương không thể xen vào việc giáo dục, học đường của địa phương. Sự phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương như vậy được gọi là thể chế liên bang, hoặc có nơi gọi là thể chế tự trị.
Thứ ba, người dân yêu cầu chính quyền phải tôn trọng các quyền con người, các quyền công dân. Khi các quyền này được nhân dân bảo đảm, chính quyền không được phép vi phạm, trừ những trường hợp vô cùng đặc biệt đã được nhân dân nêu rõ trong hiến pháp.
Thứ tư, người dân đòi hỏi chính quyền phải chịu trách nhiệm với họ thông qua các cuộc bầu cử tự do và định kỳ. Thông thường dân chủ đòi hỏi những quy định chi tiết về việc tổ chức bầu cử: thời gian và phương pháp tổ chức bầu cử; ai có quyền bỏ phiếu, ai có thể ứng cử… Các quy định về bầu cử để đảm bảo bầu cử diễn ra thực sự tự do, công bằng, minh bạch là tối quan trọng. Nếu không, những người kiểm phiếu chứ không phải cử tri mới thực sự là những người lựa chọn người đại diện. Đặc biệt quan trọng hơn nữa là phải có nền dân chủ đa đảng, nếu không thì người dân sẽ không có sự lựa chọn thực chất giữa các ứng cử viên đề xuất các chính sách chính trị khác nhau. Một khi người dân đã đề ra các nguyên tắc đó, các quan chức chính quyền không được phép vi phạm, như tìm cách tại vị khi đã hết nhiệm kỳ, hoặc gạt bỏ quyền bỏ phiếu của một số người, hoặc doạ nạt cử tri, hoặc từ chối các chính đảng khác đăng ký tham gia tranh cử. Các quy định đảm bảo bầu cử tự do và công bằng được gọi chung là Luật bầu cử.
Thông thường những yêu cầu về giới hạn quyền lực mà nhân dân đặt ra cho chính quyền được thể hiện trong văn bản pháp lý có giá trị cao nhất là Hiến pháp, qua đó cũng cho thấy bản chất của Hiến pháp là công cụ hạn chế quyền lực nhà nước.Muốn Hiến pháp trở thành phương thức hiệu quả để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thì Hiến pháp đó phải có được những thuộc tính sau:
- Tính khách quan: Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Tính khách quan của Hiến pháp thể hiện: những nội dung trong việc điều hành chính quyền không xuất phát từ ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền, mà nó xuất phát từ nhu cầu thực tế của sự phát triển xã hội, từ yêu cầu tất yếu phải hạn chế quyền lực nhà nước của nhân dân. Muốn vậy, hoạt động xây dựng Hiến pháp phải được coi như một công việc khách quan hóa các giá trị chung, làm cho chúng không nằm trong khuôn khổ của sự điều khiển tùy ý của người cai trị. Hiến pháp, theo tinh thần này, trở thành một phương tiện biểu đạt các giá trị khách quan của chính thể trong sự so sánh với những khuynh hướng chủ quan của người điểu khiển chính thể. Trong chừng mực tạo ra được một môi trường để những ai quản trị quốc gia bị giới hạn bởi các giá trị có tính chất khách quan đối với họ, hiến pháp bảo vệ các quyền cơ bản của người dân trước nguy cơ lạm dụng quyền lực.
- Tính ngoại sinh
Tính ngoại sinh là một thuộc tính hệ quả từ tính khách quan của Hiến pháp, thuộc tính này chỉ ra rằng Hiến pháp không phải là một sản phẩm sinh ra từ trong nội tại chính quyền mà nó là một sản phẩm của sự thỏa thuận giữa nhân dân và nhà nước ( theo từ điển chuyên ngành luật Black). Hiến pháp học hiện đại thừa nhận một nguyên tắc căn bản rằng Hiến pháp tối cao so với chính quyền. Hệ quả tự nhiên của nguyên tắc này là hiến pháp phải đứng ngoài những nỗ lực chủ quan của chính quyền. Trong khi luật pháp được sinh ra bởi chính quyền thì Hiến pháp là một thứ bên ngoài tạo lập nên chính quyền.
Thomas Paine một triết gia chính trị người Mỹ trong cuốn “Quyền Con người” (The Right of Man) (1792) cho rằng: “Hiến pháp không phải là một đạo luật của chính quyền, mà là của nhân dân, những người cấu thành nên quyền” [ 91, tr.125]. Thomas Paine nói thêm: “Hiến pháp là một tài sản của quốc dân, không phải của những người điều hành chính quyền. Tất cả các bản hiến pháp ở Mỹ đều tuyên bố là được xây dựng trên cơ sở chủ quyền nhân dân. Ở Pháp, từ “quốc dân” được sử dụng thay thế cho từ “nhân dân”; nhưng trong cả hai trường hợp, hiến pháp là một thứ có trước chính quyền” [91, tr.125]. Chính quyền là một tạo vật của Hiến pháp thay vì điều ngược lại. Khi đó, các nhà lãnh đạo chính quyền bị ràng buộc bởi các điều khoản khách quan đến từ bên ngoài họ.
- Tính có thể nhận thức rõ
Cũng tương tự như tính ngoại sinh, tính có thể nhận thức rõ là một hệ quả tự nhiên từ tính khách quan của Hiến pháp. Tính chất này hiểu một cánh đơn giản nhất có nghĩa là dân chúng phải được biết một cách rõ ràng đối với các quy tắc hiến pháp.Tính có thể nhận thức rõ của Hiến pháp được bảo đảm ngay từ hoạt động lập hiến. Quy trình lập hiến minh bạch mới là điều kiện căn bản để hiến pháp trở nên có thể biết được một cách rõ ràng đối với dân chúng. Để bảo đảm tính có thể nhận thức rõ, các nền hợp hiến hiện nay cam kết với nguyên tắc chủ quyền nhân dân đối với Hiến pháp, thiết lập các hội nghị hiến pháp phổ thông để điều trần các điều khoản hiến pháp và trong nhiều trường hợp, phê chuẩn Hiến pháp trong các cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc. Khi Hiến pháp được thảo luận và phê chuẩn công khai trong các diễn đàn phổ thông, các quy tắc của Hiến pháp tự nhiên rõ ràng đối với dân chúng.
- Tính tự giới hạn Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Khi xây dựng Hiến pháp, nếu một chính quyền đi theo con đường hợp hiến thì sẽ phải tự giới hạn những ước vọng chung của cộng đồng và những phương tiện thuộc về cấu trúc của việc vận hành quyền lực công. Thông thường, các chính quyền hợp hiến giới hạn các mong muốn thực tế bằng việc tôn trọng các quyền căn bản của người dân. Các điều khoản của Hiến pháp về các quyền của công dân biểu hiện rõ nét các giới hạn ước vọng của một cộng đồng hợp hiến.
Các giới hạn về cấu trúc là những thiết kế về mặt thể chế để ràng buộc sự vận hành của quyền lực chính trị công nhằm tránh khả năng nhà lãnh đạo rời xa những giá trị chung. Các giới hạn về cấu trúc thường được biết đến rộng rãi như: hệ thống phân quyền giữa các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp; hệ thống phân quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương hoăc giữa chính quyền liên bang và chính quyền tiểu bang trong các quốc gia liên bang; chế độ lưỡng viện; chế độ điều trần; chế độ phủ quyết; chế độ bỏ phiếu bất tín nhiệm; chế độ độc lập tư pháp; và chế độ tài phán hiến pháp.
Hiến pháp là một phương tiện chính thức giải quyết các vấn đề quyền lực. Bốn thuộc tính nói trên cần thiết để Hiến pháp có thể làm cho quyền lực vận hành theo mục đích phát triển thay vì theo những đam mê cá nhân. Nói cách khác, một bản Hiến pháp đáp ứng được những yêu cầu trên sẽ là công cụ hiệu quả để ngăn ngừa sự lạm quyền từ phía Nhà nước.
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng thể hiện phần nào tư duy kiểm soát, hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thông qua quy định về việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước và chế định quyền con người.
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên đặt ra quy định “kiểm soát” quyền lực giữa các cơ quan nhà nước. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta từ thành lập nước đến nay tuy không theo nguyên tắc phân quyền, nhưng chúng ta có tiếp thu những điểm hợp lý trong lý thuyết phân quyền của các nhà nước tư sản. Trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp trước đó và có sự phát triển phù hợp với xu thế của thời đại, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã bổ sung một nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tại Khoản 3 Điều 2 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [23]. Đây vừa là quan điểm, vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới. Hiến pháp mới được ban hành năm 2013 đã thể hiện rõ nội dung ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được xác lập trên thực tế. Sự phân công rành mạch ba quyền này tạo cơ sở pháp lý cho cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện đồng thời với nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Mỗi cơ quan trong việc thực thi quyền lực nhà nước đều phải chịu sự kiểm soát lẫn nhau bằng các quyền cụ thể do pháp luật quy định, đồng thời mỗi cơ quan đều có trách nhiệm thực hiện đúng phạm vi quyền lực của mình, không xâm lấn nhau, không lạm quyền. Sự phân định các quyền như vậy là điều kiện cơ bản để nhân dân giao quyền mà quyền đó không bị lạm dụng, nhân dân kiểm soát và đánh giá được hiệu lực và hiệu quả thực hiện các quyền mà mình đã giao. Đồng thời các cơ quan được giao quyền sẽ đề cao trách nhiệm trong việc thực thi quyền lực nhà nước và tự kiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước được giao. Hiến định nguyên tắc trên tuy là điều kiện thuận lợi để thực hiện việc hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước, nhưng để kiểm soát giữa các nhánh quyền lực với nhau trong một cơ chế nhà nước tập quyền thì lại không đơn giản, nhất là chúng ta chưa hình thành cơ chế kìm chế, đối trọng trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước: “tức là tự kiểm soát giữa các nhánh quyền lực với nhau: giữa lập pháp với hành pháp và ngược lại, giữa hành pháp với tư pháp và ngược lại, giữa lập pháp với tư pháp và ngược lại” [8]. Mà Hiến pháp năm 2013 mới chỉ quy định một chiều kiểm soát giữa lập pháp với hành pháp, lập pháp với tư pháp. Đây là một hạn chế của Hiến pháp mới mà trong tương lai chúng ta cần phải thay đổi, nếu muốn Hiến pháp thực sự trở thành công cụ hiệu quả để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Trong quá trình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, sự phân công, phối hợp, kiểm soát luôn luôn được đặt trong nguyên tắc thống nhất quyền lực được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Nguyên tắc này bắt nguồn từ một nguyên tắc nền tảng là “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Nhà nước không tự có quyền lực mà được nhân dân ủy quyền, trao quyền. Từ đó Nhà nước thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực được giao,vì vậy, tất yếu quyền lực nhà nước phải được kiểm soát, hạn chế để tránh sự lạm quyền,nó là nhu cầu khách quan từ phía nhân dân – chủ thể của quyền lực nhà nước. Để khẳng định thêm về quyền làm chủ của nhân dân, Hiến pháp mới còn xác nhận nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến, Quốc hội không còn là thiết chế duy nhất có quyền lập hiến như Hiến pháp 1992. Khi nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến thì nhân dân có quyền đặt ra những giới hạn đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, để nhân dân thực sự trở thành chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước thì quyền lập hiến chỉ nên quy định là quyền của duy nhất nhân dân, Quốc hội chỉ có quyền lập pháp: “Nguyên tắc chủ quyền nhân dân đòi hỏi quyền lập hiến phải thuộc về toàn dân chứ không thuộc về bất kỳ cơ quan nào, kể cả Quốc hội.” [83, tr.697]. Ngoài ra, Hiến pháp sửa đổi còn đặt nền móng hiến định cho sự ra đời một cơ chế giới hạn quyền lực nhà nước từ bên ngoài là bằng hình thức dân chủ trực tiếp, Điều 6 Hiến pháp quy định:”Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”[23]. Việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân trong thời gian qua chính là cụ thể hóa Điều 6 Hiến pháp năm 2013, với việc thông qua Luật Trưng cầu ý dân trong thời gian sắp tới sẽ càng đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện trên thực tế, đồng thời nó cũng sẽ trở thành một trong những công cụ hữu hiệu để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Cùng với việc lần đầu quy định về nội dung kiểm soát trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, Hiến pháp mới cũng đề cao quyền con người với rất nhiều thay đổi bổ sung, không chỉ tại Chương II của Hiến pháp, mà còn trong nhiều chế định khác như Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã đưa vị trí Chương “Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của công dân” từ Chương V lên ChươngII, đồng thời thay đổi tên gọi của chương từ “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Việc thay đổi vị trí nói trên không đơn thuần là sự thay đổi về bố cục mà là một sự thay đổi về nhận thức. Với quan niệm đề cao chủ quyền Nhân dân trong Hiến pháp, coi Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, thì quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được xác định ở vị trí trang trọng hàng đầu trong một bản Hiến pháp. Việc thay đổi này là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Thêm vào đó, nhằm khắc phục sự tùy tiện khi ban hành các quy định trong việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 đã quy định nguyên tắc:”Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự án toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”[23]. Quy định này xác lập nguyên tắc quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế bằng Luật chứ không phải các văn bản dưới luật. Hiến pháp năm 1992 thừa nhận thuật ngữ “quyền con người”, không đồng nhất quyền con người với quyền công dân, nhưng chưa phân biệt được quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong các quy định của Hiến pháp. Khắc phục thiếu sót đó Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã phân biệt sự khác nhau giữa “quyền con người” và”quyền công dân”. Theo đó, quyền con người được quan niệm là quyền tự nhiên vốn có của con người từ lúc sinh ra; còn quyền công dân, trước hết cũng là quyền con người, nhưng việc thực hiện nó gắn với quốc tịch, tức là gắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với nhà nước, được nhà nước đảm bảo đối với công dân của nước mình. Chỉ có những người có quốc tịch mới dược hưởng quyền công dân của quốc gia đó, ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước. Để làm rõ sự khác biệt này, tham khảo các công ước Quốc tế về quyền con người và Hiến pháp của các nước, Hiến pháp sửa đổi đã sử dụng từ”mọi người”và từ”không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân” khi quy định về quyền công dân. Có thể nói, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã thể hiện được ý Đảng, lòng dân, là sự kết tinh của tinh thần dân chủ, đổi mới, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ mới. Việc hiến định, hiện thực hóa quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp sửa đổi là sự tiếp nối, kế thừa các bản Hiến pháp trước đây, đồng thời, chuyển hóa sâu sắc nhiều nội dung, tinh thần các Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự, quyền kinh tế, văn hóa…; tạo nền tảng pháp lý cao nhất bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được thực hiện, đáp ứng mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
2.1.2. Chủ nghĩa hợp hiến Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Chủ nghĩa hợp hiến không phải là một khái niệm mới trên thế giới, nó đã được biết đến từ thế kỷ 17, 18 ở châu Âu. Nhưng ở Việt Nam thuật ngữ này mới được đề cập đến trong vài năm gần đây và được nghiên cứu bởi những nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực khoa học pháp lý của Việt Nam. Thuật ngữ “constitutionalism” được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau như: chủ nghĩa hợp hiến, chủ nghĩa hiến pháp, chủ nghĩa lập hiến.
Việc lựa chọn cách dịch thế nào cho đúng không phải là vấn đề đơn giản, tùy thuộc vào quan điểm của mỗi cá nhân mà họ chọn cho mình cách hiểu riêng. Louis Henkin ( 1917-2010) một chuyên gia về Luật Quốc tế thuộc đại học Columbia của Mỹ đã từng viết: “chủ nghĩa hợp hiến không được định nghĩa ở đâu cả” [87]. Vì vậy, cách dịch thế nào cho đúng là rất quan trọng, để từ đó người đọc có thể tiếp cận được khái niệm ban đầu về thuật ngữ “constitutionalism”. Trong luận văn này, tác giả chọn cách dịch “chủ nghĩa hợp hiến” để nói về chủ thuyết chính trị đang mang tính thời sự hiện nay trên thế giới. Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng Việt hóa thuật ngữ này thành “chủ nghĩa hợp hiến” trong tài liệu “Chủ nghĩa hợp hiến và các nền dân chủ đang nổi lên” (nguyên tác “Constitutionalism anh Emerging Democracies”). Trong lý thuyết chính trị, chủ nghĩa hợp hiến là một khái niệm giải thích rằng một chính quyền không thể có được quyền lực từ chính bản thân mình, mà quyền lực của chính quyền là kết quả của việc có được một văn bản pháp luật trao cho thể chế cai trị những quyền lực nhất định. Khái niệm này cho thấy sự đối lập với chế độ quân chủ, chế độ thần quyền, và chế độ độc tài, trong đó quyền lực không xuất phát từ một văn bản pháp luật đã được soạn ra trước. Trong chế độ quân chủ, quyền lực bắt nguồn như là quyền bất khả xâm phạm của quân vương hoặc nữ hoàng. Trong một chế độ thần quyền, tất cả sức mạnh của một đảng cầm quyền có nguồn gốc từ một tập hợp các niềm tin tôn giáo, được cho là tồn tại do ý muốn của Thượng đế, và trong một chế độ độc tài, quyền lực được bắt nguồn từ ý chí của một người hoặc một nhóm người và ý thức hệ của họ, mà không không nhất thiết phải đại diện cho ý chí của nhân dân. Do đó chủ nghĩa hợp hiến tất nhiên quy định một hệ thống của chính quyền, trong đó quyền lực của chính phủ được giới hạn. Các viên chức chính phủ, dù do dân cử hay không, đều không được hành động chống lại hiến pháp của chính họ nếu hiến pháp ấy phù hợp. Hiến pháp là thể thức luật pháp cao nhất của một đất nước, trong đó mọi công dân, kể cả chính phủ, đều phải tuân thủ. Khá nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các hình thức của chủ nghĩa hợp hiến trong chính phủ của họ.
Chủ nghĩa hợp hiến không có mục đích làm yếu hay làm mạnh quyền lực. Chủ nghĩa hợp hiến không hướng đến quyền lực mạnh hay quyền lực yếu mà là quyền lực chính đáng. Bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là một trật tự chính trị – pháp lý bảo đảm một nền quy chuẩn và cấu trúc được xác lập theo lý tính mà dựa trên đó chính quyền có thể quan hệ một cách chính đáng với dân chúng. Tính chính đáng của quan hệ được xác định bởi việc nhà cầm quyền có trách nhiệm đối với các tiêu chuẩn công cộng thay vì tự do theo đuổi những mục đích riêng tư: “Bất kể một chính quyền nào thực sự cam kết về mặt lý thuyết cũng như thực hành đối với chủ nghĩa hợp hiến dưới bất cứ hình thức nào – đặc biệt là hình thức dân chủ – đều phải gắn kết với nguyên tắc trách nhiệm theo tất cả các nghĩa của nó” [88, tr.12]. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Chủ nghĩa hợp hiến có nghĩa là quyền lực của những người lãnh đạo và của các cơ quan chính quyền phải được hạn chế. Một chính quyền cam kết hợp hiến nghĩa là chính quyền ấy có nhiệm vụ trước hết là nhằm phục vụ cho toàn thể mọi người và bảo vệ quyền cá nhân. Đây là chế độ quản lý nhà nước theo Hiến pháp nhằm bảo vệ quyền sống và quyền tư hữu của cá nhân cũng như quyền tự do tín ngưỡng và tự do ngôn luận. Như vậy, chủ nghĩa hợp hiến nói đến mức độ tối cao của bản Hiến pháp, các cơ quan chính quyền không được đơn phương thay đổi các giới hạn quyền lực do Hiến pháp đặt ra. Ở đây, chúng ta cần phân biệt “chủ nghĩa hợp hiến” khác với Hiến pháp. Một quốc gia có Hiến pháp thành văn không hẳn sẽ có chủ nghĩa hợp hiến. Chính quyền hợp hiến là chính quyền bị hạn chế quyền lực, trong khi đa số các Hiến pháp thành văn ở nhiều quốc gia lại không đặt giới hạn cho những gì chính quyền có thể làm. Ngược lại, có quốc gia không có Hiến pháp thành văn nhưng lại là khuôn mẫu cho một chính quyền hợp hiến, đó chính là nước Anh. Vương quốc Anh tuy không có Hiến pháp thành văn nhưng họ lại có những văn kiện với sức mạnh như Hiến pháp đó là: Đại Hiến chương (1215), Đạo luật về quyền (1689), Đạo luật định cư (1701)…, những văn bản này cùng với truyền thống chính trị và pháp lý đã tạo thành nền móng vững chắc của một chính quyền hợp hiến ở Anh.
Hay như ở Hoa Kỳ, chỉ có một văn kiện duy nhất là Hiến pháp, dựa trên bản Hiến pháp thành văn duy nhất đó, các cơ quan tư pháp diễn giải và triển khai các quy định của Hiến pháp, từ đó tạo thành nền móng cho chính quyền hợp hiến Hoa Kỳ. Trong cuốn “Chính trị đối chiếu” của Gregory S.Mahler đã phân tích rõ hơn về vấn đề này: “Khi thảo luận về chính quyền hợp hiến, kỳ thực chúng ta không nói tới có văn kiện độc nhất và cụ thể hay không, mà chúng ta chú ý đến một loại thái độ chính trị, văn hóa chính trị, truyền thống chính trị, hoặc lịch sử chính trị… Hình thức có thể biến đổi nhưng kết quả về cung cách luôn giống nhau: chính quyền chỉ có thể làm những gì trong giới hạn được cho phép.” [90, tr.28].
Như vậy, chủ nghĩa hợp hiến không đồng nghĩa với việc có một bản hiến pháp. Mà vấn đề trọng tâm của chủ nghĩa hợp hiến là quyền lực có được kiểm soát một cách hiệu quả và thực tế hay không. Trong một quốc gia không có một Hiến pháp thành văn, nhưng nếu chính quyền được giới hạn bởi các quy định bất thành văn phản ánh các giá trị tự do, bình đẳng và công lý, chính quyền đó vẫn có thể được coi là chính quyền hợp hiến. Ngược lại, sự tồn tại về mặt hình thức của một bản hiến pháp thành văn không bảo đảm chắc chắn rằng chính quyền sẽ được giới hạn hiệu quả và thực tế. Craham Walker, một học giả về tư tưởng hiến pháp, cho rằng: “mọi chính thể đều có hiến pháp, thành văn hoặc bất thành văn… Nhưng rõ ràng là không phải mọi chính thể đều thực thi chủ nghĩa hợp hiến. Chủ nghĩa hợp hiến cần một loại hiến pháp nhất định” [92, tr.164-165]. Còn Hiến pháp thành văn mà gia tăng, củng cố thêm quyền lực cho chính quyền thì không phải là Hiến pháp mà chủ nghĩa hợp hiến đòi hỏi.
Tuy nhiên, việc cho rằng chủ nghĩa hợp hiến không đồng nghĩa với Hiến pháp không có nghĩa coi thường tầm quan trọng của Hiến pháp thành văn trong một trật tự hợp hiến. Nếu chủ nghĩa hợp hiến là những giới hạn thực tế và hiệu quả đối với quyền lực, thì một bản Hiến pháp thành văn có bản chất giới hạn quyền lực của chính quyền lại cần thiết đối với chính quyền hợp hiến. Thực tế cho thấy, các quốc gia khi nỗ lực xây dựng chế độ hợp hiến đều quan tâm đến việc ban hành Hiến pháp thành văn. Hiến pháp là một trong những yếu tố cấu thành chủ nghĩa hợp hiến. Louis Henkin đã định nghĩa chủ nghĩa hợp hiến được cấu tạo bởi những bộ phận sau: “1. Chính quyền phù hợp với Hiến pháp; 2. Phân chia quyền lực; 3. Chủ quyền nhân dân và chính quyền dân chủ; 4. Giám sát pháp lý; 5. Cơ quan tư pháp độc lập; 6. Chính quyền bị hạn chế bởi Đạo luật về quyền; 7. Kiểm soát cảnh sát; 8. Quân đội nằm dưới sự điều khiển của dân sự; 9. Không quyền lực nào của Nhà nước hoặc quyền lực nào của Nhà nước dù rất hạn chế, có thể đình chỉ hoạt động của một phần hoặc toàn thể Hiến pháp” [88, tr.203]. Chín yếu tố trên có thể chia thành hai nhóm, tương ứng với hai chức năng cơ bản của chủ nghĩa hợp hiến là chức năng liên quan đến việc xây dựng quyền lực và cung cấp quyền lực; và chức năng bảo vệ dân quyền. Hai nhóm trong định chế này hỗ trợ nhau để bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp. Để thực hiện chức năng thứ nhất là xây dựng và cung cấp quyền lực thì toàn bộ hệ thống chính quyền phải được tạo lập bởi Hiến pháp. Hiến pháp định nghĩa, phân phối, chỉnh đốn quyền hạn chính quyền. Trong quốc gia hợp hiến, thường có các cuộc bầu cử định kỳ để duy trì chủ quyền của quần chúng nhân dân. Đồng thời, trong hoạt động của cơ quan chính quyền thực hiện theo nguyên tắc phân chia quyền lực, có sự kiềm chế, đối trọng quyền lực. Chủ nghĩa hợp hiến xác định pháp trị là quy tắc tiêu chuẩn trong việc thực thi quyền lực của chính quyền. Cuối cùng, chủ nghĩa hợp hiến đặt giới hạn lên quyền tùy nghi và khẩn cấp của nhà nước. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Đối với chức năng thứ hai là bảo vệ quyền, đồng nghĩa với việc quốc gia hợp hiến phải đảm bảo các quyền tự do hiến định về ngôn luận, nhân thân và tài sản. Ngoài ra, dưới chủ nghĩa hợp hiến phải có cơ quan tư pháp độc lập làm nhiệm vụ giám sát pháp lý nhằm xem xét tính hợp hiến của các đạo luật do cơ quan lập pháp và các nghị định của cơ quan hành pháp ban hành, đây cũng là yếu tố quan trọng cho việc duy trì nguyên tắc phân chia quyền lực, kiềm chế và đối trọng quyền lực giữa ba nhánh quyền của quyền lực nhà nước.
Đến đây có thể kết luận rằng, bản chất của chủ nghĩa hợp hiến nằm ở sự phù hợp một cách thực tế và hiệu quả trong hành vi của chính quyền đối với những giới hạn được xác định. Hình thức của những giới hạn đó không quyết định bản chất của chủ nghĩa hợp hiến: những giới hạn đó có thể có hình thức chính thức là các luật được ban hành theo một quy trình chủ động do con người đặt ra, hoặc có thể là những quy tắc bất thành văn, những truyền thống, những nhận thức được thừa nhận chung của một cộng đồng về công lý, lẽ phải.
Như đã phân tích ở trên, chủ nghĩa hợp hiến không đồng nghĩa với có Hiến pháp thành văn, chính vì thế tuy Việt Nam đã trải qua 5 bản Hiến pháp (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013) nhưng ở Việt Nam vẫn chưa thể có chủ nghĩa hợp hiến. Nếu theo định nghĩa về chủ nghĩa hợp hiến của Louis Henkin thì chúng ta chưa đủ các yếu tố để hình thành như: phân chia quyền lực; quân đội nằm dưới sự điều khiển của dân sự; chính quyền bị hạn chế bởi Đạo luật về quyền…, thậm chí cả trong nhận thức của người dân và nhiều cơ quan nhà nước thì thuật ngữ “constitutionalism” vẫn còn rất xa lạ. Để thay đổi nhận thức dẫn đến thay đổi trong quy định của pháp luật là một quá trình lâu dài và kiên nhẫn, nhưng vẫn phải thực hiện. Vì khi xây dựng được chủ nghĩa hợp hiến thì sự hạn chế quyền lực nhà nước mới triệt để, từ đó mới xây dựng được một xã hội vì con người đúng nghĩa. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
2.1.3. Nhà nước pháp quyền
Ngay từ thời Cổ đại, khi nhà nước ra đời, tư tưởng cai trị xã hội bằng pháp luật đã được đề cao “chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất” [59, tr.220]. Mặc dù trong nhà nước thời kỳ Cổ đại và Trung đại đã có những tư tưởng tiến bộ cho rằng: pháp luật phải đứng về phía nhân dân, là “chốn nương thân của nhân dân” (Heraclit) (Thời Cổ đại) [ Theo70, tr.16]; quyền lực nhà nước phải được thực hiện như một thứ quyền lực phục vụ nếu không sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước (Augustino) và tư tưởng pháp luật phải bảo vệ quyền tự nhiên của con người: quyền sống, quyền hôn nhân, quyền sinh đẻ (Thomas Aquino) (Thời Trung cổ) [Xem 19, tr.81-85]… (Những tư tưởng này đã được kế thừa, phát triển và hoàn thiện trong các học thuyết về nhà nước pháp quyền sau này). Nhưng đây chưa phải là những tư tưởng về nhà nước pháp quyền bởi các nhà tư tưởng thời kỳ này đều đứng trên lập trường của giai cấp thống trị để lập luận cho các vấn đề về nhà nước nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của thiểu số – những người đang nắm giữ quyền lực nhà nước trong xã hội Cổ – Trung đại. Phải đến thời kỳ cận đại, học thuyết về nhà nước pháp quyền mới có sự tiến bộ vượt bậc. Với những đại diện tiêu biểu là Spinoda (1632 – 1677) – một trong những người đầu tiên đưa ra nền tảng lý luận cho nhà nước dân chủ, liên kết với luật pháp, đảm bảo cho quyền lợi và tự do thực sự của con người. Xuất phát từ quan niệm, con người sinh ra đã có quyền tự do và luật pháp ra đời là để bảo vệ tự do mà tự do đó được thoả thuận trong luật pháp, Spinoda khẳng định, nhà nước chỉ có thể hùng mạnh khi nó bảo đảm cho mỗi công dân không chỉ sống mà còn thoả mãn các lợi ích của họ và ngăn chặn những người cầm quyền khỏi sự xâm phạm đến sở hữu, an toàn, danh dự, tự do và các quyền lợi khác của nhân dân. Tiếp theo là John Locke, ông cho rằng nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quyền tự nhiên của con người: quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu. Trong nhà nước đó, luật pháp giữ vị trí tối thượng và phải phù hợp với quyền tự nhiên. Locke còn chỉ ra rằng: Quyền lực nhà nước về bản chất là thuộc về nhân dân, do nhân dân ủy nhiệm. Theo ông nhân dân được xem như một lực lượng để tiết chế sự lạm dụng quyền lực của nhà nước và có thể thiết lập chính quyền khác thay thế cho chính quyền hiện tại một khi nhà nước hiện tại không đáp ứng được yêu cầu của các công dân. Bên cạnh đó, John Locke còn là người khởi thảo lý thuyết phân quyền, một nội dung quan trọng trong lý thuyết sự hạn chế lạm dụng quyền lực nhà nước. Có thể nói, lý thuyết trên của Locke đã đặt nền móng cho sự ra đời của học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản. Montesquieu và Rousseou tiếp tục phát triển học thuyết phân quyền, làm cơ sở cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại. Đến cuối thời kỳ Cận đại, vào thế kỷ XIX, kế thừa tư tưởng tiến bộ của những nhà khai sáng Pháp, các nhà tư tưởng cổ điển Đức đã luận giải cho sự tồn tại của nhà nước pháp quyền. Kant cho rằng: nhà nước là sự liên kết mọi người trong khuôn khổ của pháp luật nhằm giám sát và đảm bảo quyền bình đẳng cho mọi công dân; nhà nước pháp quyền không là gì khác như một cộng đồng pháp lý, do vậy nó phải đảm đương trách nhiệm ngăn chặn sự chuyên quyền, độc đoán. Từ đó, Kant khẳng định: “Nhà nước pháp quyền phải là nhà nước cộng hòa thuần túy chân chính, nơi mà luật pháp ngự trị không phụ thuộc vào cá nhân nào trong đó hoạt động lập pháp là quan trọng nhất. Mục đích của quyền lập pháp là đảm bảo quyền tự do” [82, tr.29]. Hegel kế thừa tư tưởng về nhà nước của Kant, song, ông cho rằng hoạt động của nhà nước phải gắn liền với lĩnh vực đạo đức, “nhà nước là tính hiện thực của ý niệm đạo đức” [26, tr.127]. Sang cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Mohn và Valker là những người đầu tiên dùng thuật ngữ nhà nước pháp quyền. Hai ông đã chỉ ra nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền: “tính tối cao của pháp luật là nguyên tắc hàng đầu của nhà nước pháp quyền. Tính tối cao đó thể hiện chủ quyền của nhân dân dưới hình thức quyền lực của nghị viện. Tiêu chuẩn tiếp theo là sự bình đẳng của công dân trước pháp luật, còn pháp luật chỉ là công cụ bảo vệ quyền tự do của con người khỏi sự can thiệp từ bên ngoài” [70, tr.45]. Theo đó, “nhà nước pháp quyền là một kiểu nhà nước trong đó nhà lập pháp cũng phải tuân thủ pháp luật như mọi công dân khác” [79, tr.60]. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Hệ thống lý luận về nhà nước pháp quyền sau này tiếp tục được bổ sung và phát triển song hành với quá trình hiện thực hóa nhà nước pháp quyền trong thực tế. Năm 1992, Hội nghị quốc tế về nhà nước pháp quyền được tổ chức tại Benin nhằm làm rõ về nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền trong xã hội đương đại. Tại đây, các nhà nghiên cứu của hơn 40 quốc gia đã thống nhất đưa ra một quan niệm chung về nhà nước pháp quyền: “Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật, mọi quyền và nghĩa vụ của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ; các quy trình và quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng một hệ thống toà án độc lập. Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị của con người và đảm bảo cho công dân có khả năng, điều kiện chống lại sự tùy tiện của cơ quan nhà nước bằng việc lập ra cơ chế kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của pháp luật cũng như các hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài Hiến pháp và pháp luật đã quy định. Trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp giữ vị trí tối cao và nó phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo quyền tự do và quyền công dân” [Theo 73, tr.19]. Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, các học giả cũng đã đưa ra nhiều quan niệm và cách hiểu về nhà nước pháp quyền. Giáo trình Triết học dành cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không chuyên Triết của Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa: “Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở đó có sự ngự trị cao nhất của pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân” [2, tr.497]. Những định nghĩa này tập trung khẳng định vai trò của luật pháp trong nhà nước pháp quyền và coi nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó luật pháp thống trị. GS.Lê Cảm cho rằng: “Nhà nước pháp quyền là tổ chức quyền lực công khai trong hệ thống chính trị của xã hội công dân được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế, nhằm đảm bảo thực sự những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới – sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, sự ngự trị của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt xã hội, tính tối cao của luật trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, sự phân công quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và chủ quyền của nhân dân” [79, tr.81]. GS.TS Nguyễn Đăng Dung khẳng định: “Nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước được phân tích trong mối tương quan giữa nhà nước và pháp luật. Nhà nước pháp quyền thể hiện tính dân chủ của nhân loại” [3, tr.65]. Tất cả những quan điểm trên đều chỉ ra những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, bao gồm:
Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội. Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân được tập trung đầy đủ nhất thông qua Hiến pháp. Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Những nội dung cơ bản của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng duy trì quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, là nền tảng có tính chất hiến định để xem xét, đánh giá sự hợp hiến hay không hợp hiến của các đạo luật, cũng như các quyết sách khác của nhà nước và của các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội. Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân. Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xây dựng trên cơ sở ý chí chung của nhân dân và là nhà nước hợp hiến. Trong Nhà nước pháp quyền, tất cả công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Nhà nước và công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Để đảm bảo tính tối cao của pháp luật phải thực hiện được hai yếu tố: một là, bảo đảm sự thống trị của pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; hai là, tính bắt buộc của pháp luật đối với bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Pháp luật là tiêu chuẩn, là căn cứ cho mọi hoạt động của nhà nước và xã hội.
Tổ chức quyền lực nhà nước theo cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát, cân bằng quyền lực và quyền lực phải bị giới hạn bởi pháp luật. Để đạt được mục tiêu đó quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc dùng quyền lực để kiểm tra, giám sát quyền lực. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước thường được tổ chức theo hướng phân quyền thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Các quyền lực này được giao cho các cơ quan nhà nước tương ứng, nhằm tạo ra sự đối trọng và kìm chế lẫn nhau, tránh lạm quyền, bảo đảm cho nhà nước hoạt động trong khuôn khổ định sẵn, đảm bảo và duy trì nền dân chủ. Trong Nhà nước pháp quyền việc phân quyền không vì mục đích thoả hiệp hay chia quyền giữa các lực lượng đối lập trong xã hội mà nó bắt nguồn từ yêu cầu nội tại của sự ra đời, tồn tại và phát triển của chính quyền lực nhà nước. Sự phân quyền với nghiã phân công chức năng và kiểm soát quyền lực trở thành phương thức tồn tại của chính nó, phân quyền càng rõ ràng thì kiểm soát quyền lực càng chặt chẽ. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Nguyên tắc này cũng đặt ra yêu cầu mọi thiết chế quyền lực nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, không ai có thể lạm dụng quyền lực, và vì lẽ đó, cần phải sắp xếp quyền lực sao cho không có sự lạm quyền.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm trách nhiệm lẫn nhau giữa nhà nước và công dân, quyền và trách nhiệm luôn song hành cùng với nhau, quyền của bên này đồng thời là trách nhiệm của bên kia và ngược lại. Vì thế quyền công dân là trách nhiệm của nhà nước và ngược lại quyền của nhà nước là trách nhiệm của công dân. Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động của mình, còn công dân phải thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước và chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật.
Quyền cá nhân, quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền ngang nhau trong việc yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Đây là mục đích hàng đầu của Nhà nước pháp quyền. Vì vậy, trong Nhà nước pháp quyền quyền lực của nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc dùng quyền lực để hạn chế quyền lực, tránh lạm quyền, vượt quyền, xâm hại quyền tự do hợp pháp của cá nhân. Các cơ quan nhà nước được hành động nếu được nhân dân uỷ quyền và họ không được tự cho mình quyền đó; thẩm quyền đó phải do luật hay Hiến pháp quy định. Các quyền của công dân được mở rộng bao nhiêu thì thẩm quyền nhà nước bị giới hạn và bị kiểm soát chặt chẽ bấy nhiêu. Vì vậy, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là phương tiện ghi nhận quyền dân chủ, tự do và lợi ích chính đáng của con người, đồng thời cũng quy định cả những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và trừng trị những hành vi xâm hại đến các quyền và lợi ích đó.
Cơ chế bảo hiến là một bộ phận không thể thiếu trong nhà nước pháp quyền. Bảo hiến là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà nước pháp quyền. Bởi vậy, có người đã xem hoạt động bảo hiến như một đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, cũng như họ coi tòa án Hiến pháp (ở một số nước là hội đồng bảo hiến hay Viện bảo hiến) là biểu tượng hay “vương miện” dành riêng cho nhà nước pháp quyền. Nhắc đến nhà nước pháp quyền, người ta sẽ nói ngay đến vấn đề bảo hiến, chính vì thế, khi xem xét, đánh giá một quốc gia đã xây dựng được nhà nước pháp quyền hay chưa, người ta thường dựa trên tiêu chí Hiến pháp của quốc gia đó được bảo vệ ở mức độ nào. Mức độ được bảo vệ và tôn trọng của Hiến pháp cho phép chúng ta sơ bộ nhận định được về tình trạng bảo vệ và thực thi các quyền con người, quyền công dân của một quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc bất cứ quốc gia nào muốn tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền phải chú trọng và không được coi nhẹ vấn đề bảo vệ Hiến pháp ở đất nước mình. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Trên cơ sở phân tích, kế thừa, tiếp thu những lý luận về mô hình nhà nước pháp quyền trên thế giới, vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, tại Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [23]. Ngoài những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn có những đặc điểm riêng phù hợp với tình hình chính trị – xã hội của đất nước. Đó là:
- Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
- Pháp luật trong nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng, bảo vệ lợi ích của nhân dân và chi phối trong mọi hoạt động của các tổ chức và các cá nhân, kể cả trong hoạt động của các tổ chức Đảng và các cơ quan bộ máy nhà nước.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất trong đó có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực thi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; tổ chức và hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta được thực hiện với mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, dân tộc gắn với giai cấp. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; xây dựng một xã hội mà trong đó được xử lý bằng mối quan hệ giữa dân chủ toàn xã hội và luật pháp của Nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ mang giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, mà còn thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công – nông – trí làm nền tảng và nhân dân lao động làm chủ. Cơ sở pháp lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hiến pháp, luật pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước. Quy định của Hiến pháp mới góp phần giúp cho mỗi cơ quan Nhà nước, đội ngũ công chức và mọi công dân nhận thức đầy đủ hơn về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập. Tổ chức bộ máy nhà nước có chỗ còn chưa hợp lý. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn hạn chế. Luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn khá nghiêm trọng làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và nhà nước, ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta. Hiến pháp năm 2013 tuy đã tạo ra được nhiều thuận lợi để thúc đẩy quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, nhưng nhận thức về bản chất nhà nước pháp quyền của chúng ta vẫn còn rất khác so với thế giới. Bên cạnh đó, việc mở rộng dân chủ theo Hiến pháp 2013 vẫn chưa có quy định pháp lý rõ ràng và hiệu quả để thực hiện, mà dân chủ chính là nền tảng của nhà nước pháp quyền. Hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra rất nhiều thách thức buộc Đảng, nhà nước và nhân dân ta cũng như các nhà nghiên cứu chính trị – pháp luật Việt Nam cần phải tập trung giải quyết.
Như vậy, định nghĩa căn bản nhất về nhà nước pháp quyền là không có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân theo pháp luật. Một nguyên tắc bắt nguồn một cách logic từ ý tưởng cho rằng sự thật, cũng như luật, đều dựa trên những nguyên tắc căn bản có thể được phát hiện ra nhưng không thể được tạo ra theo ước muốn. Trong nhà nước pháp quyền chính quyền chỉ thực thi quyền hành một cách hợp pháp theo các luật được soạn thảo ra và phát hành rộng rãi. Những luật đó được thông qua và thực thi theo đúng các bước được gọi là thủ tục pháp lý. Nguyên tắc này nhằm mục loại bỏ, hạn chế sự lạm dụng quyền lực dù cho đó là lãnh đạo chuyên quyền hay quần chúng lãnh đạo. Nói cách khác, nhà nước pháp quyền ngăn ngừa được cả chế độ độc tài lẫn tình trạng vô chính phủ. Vì vậy, hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là yêu cầu tất yếu đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền.
2.1.4 Bảo hiến Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Bảo hiến hiểu một cách đơn giản nhất là bảo vệ Hiến pháp, trong đó giữ gìn sự toàn vẹn của Hiến pháp là việc đầu tiên cần làm, quan trọng hơn, cần phải giữ cho Hiến pháp không bị vi phạm, hay nói cách khác, giữ cho các quan hệ được Hiến pháp thừa nhận và bảo vệ không bị xâm hại đến. Nhưng điều này chỉ thực hiện được nếu chúng ta ngăn chặn được những vi phạm Hiến pháp trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Trong các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, thì Hiến pháp có thể được coi là phương thức quan trọng nhất để hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước, là đạo luật cơ bản của nhân dân, có vị trí tối thượng, “Trong các vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người, mà phải trói anh ta lại bằng sợi dây xích Hiến pháp để anh ta không còn làm được những điều ác “[Theo 4, tr.61]. Nhưng trong quá trình thi hành Hiến pháp không thể tránh khỏi vi phạm Hiến pháp, do vậy, bảo hiến là một nhu cầu tất yếu khách quan, cần phải thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để. Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nếu đã có cho riêng mình một bản Hiến pháp, dù thành văn hay bất thành văn cũng đều phải nghĩ tới vấn đề bảo vệ Hiến pháp.Ngoài ra, nhu cầu bảo vệ Hiến pháp cũng xuất phát từ mục tiêu xây dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền.
Bên cạnh đó, khi nói đến bảo hiến, không thể không nhắc đến chủ nghĩa hợp hiến vì đây là nền tảng căn bản cho sự hình thành chế độ tài phán hiến pháp. Bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là sự giới hạn quyền lực đối với cơ quan nhà nước, nên thông qua đó người ta tìm ra các biện pháp nhằm hạn chế quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Trong đó, đòi hỏi trước hết của chủ nghĩa hợp hiến là tổ chức và điều hành của chính quyền phải tuân theo các quy định của Hiến pháp. Bản Hiến pháp phải chứa đựng những quy định nhằm hạn chế bớt quyền lực của chính quyền, điều chỉnh hoạt động của chính quyền theo hướng bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Chính vì vậy, để giới hạn được quyền lực nhà nước, bắt buộc Hiến pháp phải được đứng ở vị trí cao nhất trong hệ thống pháp lý cũng như trong đời sống xã hội, hay nói cách khác, đứng trên mọi văn bản pháp luật khác do nhà nước ban hành và được toàn xã hội tôn vinh. Từ đây, lý thuyết về tính tối cao của Hiến pháp và quyền tài phán hiến pháp đã được hình thành và phát triển, được các quốc gia có nền lập hiến lâu đời ở Châu Âu và Châu Mỹ thừa nhận. Như vậy, có thể kết luận học thuyết Hiến pháp tối cao là cơ sở của học thuyết tài phán hiến pháp, bởi Hiến pháp sẽ không giữ được sự toàn vẹn và tính tối cao của nó nếu nội dung của nó bị xâm hại, đồng thời những hành vi xâm hại đó sẽ không bị phán xử bởi bất cứ một thiết chế nào. Như vậy, Bảo hiến là sự phát triển ở tầm cao của sự hạn chế quyền lực nhà nước tránh lạm quyền, xâm phạm quyền công dân, quyền con người. Hay nói cách khác, bảo hiến có nguồn gốc sâu xa từ yêu cầu của hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Ở thời kỳ đầu của nền lập hiến, cơ quan dân cử được giao nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, vì vậy, thẩm quyền bảo hiến được trao cho hội nghị dân cử, một ủy ban của Quốc hội, Nghị viện hoặc một trong hai viện của Quốc hội. Ở một số nước trên thế giới khi lựa chọn mô hình bảo hiến là một cơ quan trong bộ máy nhà nước thì thông thường trọng trách bảo hiến được trao cho cơ quan lập hiến. Tuy nhiên ở các nước đó có sự phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp. Khi đó, Hiến pháp được ban hành bởi một cơ quan ở vị trí thuận lợi để giải thích Hiến pháp, kịp thời nhận biết những vi phạm Hiến pháp và phải ở vị trí cao hơn cơ quan lập pháp. Song, quan niệm trao trọng trách bảo hiến cho cơ quan dân cử đã không còn phù hợp nữa, bởi nếu trao quyền bảo hiến cho cơ quan dân cử thì vấn đề sẽ được xem xét dưới khía cạnh chính trị hơn là khía cạnh pháp lý. Trong khi đó việc kiểm soát tính hợp hiến lại là một hành vi pháp lý thuộc về nghiệp vụ mang tính pháp lý, từ đó phát sinh quan niệm trao trọng trách bảo hiến cho cơ quan tư pháp. Quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó, lập pháp và hành pháp là hai lĩnh vực dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, đặc biệt là quyền lực hành pháp, nên dễ dàng xâm phạm đến các quyền con người và quyền công dân. Nhưng tư pháp với đặc thù là đại diện cho công lý để bảo vệ cho những quyền tự nhiên vốn có của con người, nên tư pháp trở thành công cụ hữu hiệu để kiểm soát tính hợp hiến và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con người và công dân. Bên cạnh đó, với việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, việc lựa chọn tư pháp- một ngành quyền lực có những khác biệt với ngành lập pháp và hành pháp, để trao trọng trách bảo hiến là hợp lý, điều này đảm bảo cho hoạt động bảo hiến diễn ra một cách khách quan. Vì chẳng cơ quan nào hay cá nhân nào muốn tự mình phán xử hay bãi bỏ một đạo luật hay văn bản pháp quy do mình ban hành khi văn bản đó chứa đựng nội dung vi hiến, trong khi tòa án có thừa khả năng để vô hiệu hóa những văn bản vi hiến đó. Chính vì thế, mô hình tài phán hiến pháp hiện nay được hầu hết các quốc gia trên thế giới lựa chọn là mô hình Tòa án hiến pháp-dùng tư pháp để kiềm chế và kiểm soát quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp. Theo đó, các quốc gia trên thế giới đều dựa vào quyền lực tư pháp để buộc các cơ quan hành pháp cũng như lập pháp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt động do các cơ quan này thực hiện và buộc họ trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải triệt để tuân thủ các quy định của Hiến pháp.
Sự phát triển của cơ chế bảo hiến trên thế giới được ghi dấu ấn đặc biệt từ nửa sau của thế kỷ 20 gắn liền với sự hình thành và phát triển của các thể chế tòa án hiến pháp ở nhiều quốc gia và khu vực. Quá trình này có thể chia thành 4 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn I: Sự hình thành và phát triển của cơ chế bảo hiến đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
- Giai đoạn II: Bắt đầu từ khoảng sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến trước chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đây là giai đoạn mà nền tài phán hiến pháp nói riêng và bảo hiến nói chung trên thế giới mang đậm dấu ấn của tài phán hiến pháp Áo. Được thành lập vào năm 1920, tòa án hiến pháp Áo đã mang lại ảnh hưởng to lớn đến hầu khắp các quốc gia Châu Âu.
- Giai đoạn III: Sự phát triển của chế độ bảo hiến sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của chế độ bảo hiến thế giới và kéo dài cho đến tận ngày
- Giai đoạn IV: Từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX cho đến ngày nay. Giai đoạn này xuất hiện những sự kiện tác động rất lớn tới sự hình thành và phát triển của chế độ bảo hiến trên thế giới. Mô hình bảo hiến kiểu Đức là một sáng tạo hoàn toàn mới của Đạo luật cơ bản Đức. Nó cũng là tổ chức nổi tiếng nhất ở Đức và trên toàn thế giới. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự hiện diện của tài phán hiến pháp ở một loạt các quốc gia Mỹ la tinh, Châu Phi và Đông Nam Á. Cơ quan tài phán hiến pháp không chỉ được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp mà còn trở thành đối trọng để cân bằng, hạn chế quyền lực nhà nước ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, không phải bất cứ quốc gia phát triển nào cũng tổ chức tòa án hiến pháp, có thể kể đến ở đây “như Hà Lan, Điều 120 Hiến pháp nước này quy định các thẩm phán không được phép đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật và hợp đồng” [65], hoặc điển hình như ở Anh, không thể phủ nhận “về mặt lý thuyết là tính đến thời điểm hiện nay, vương quốc này không có Hiến pháp thành văn, chỉ có truyền thống do các đạo luật của Quốc hội ban hành đem lại” [65]. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Ngày nay trên thế giới, cơ chế bảo hiến đã phát triển ở hầu khắp các quốc gia. Ở đâu có Hiến pháp, tất yếu ở đó phát sinh nhu cầu bảo vệ Hiến pháp, và đương nhiên, điều này đồng nghĩa với việc xuất hiện tài phán hiến pháp. Tất cả các quốc gia có Hiến pháp đều tìm kiếm, xây dựng cho mình một mô hình bảo hiến với mục tiêu đảm bảo dân chủ, nhân quyền, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, không có một khuôn mẫu chung cho mọi quốc gia, mà mỗi quốc gia căn cứ điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và truyền thống của mình mà xây dựng mô hình bảo hiến riêng. Có thể khái quát một số mô hình bảo hiến cơ bản sau:
Mô hình bảo hiến bằng tòa án tư pháp: Mô hình này không được tổ chức thành một thiết chế chuyên biệt, mà trọng trách bảo vệ Hiến pháp được trao cho tòa án, hay nói cách khác, tòa án kiêm luôn chức năng bảo hiến. Mỹ là quốc gia đầu tiên xác lập quyền giám sát Hiến pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án tư pháp và đã xây dựng mô hình cơ quan bảo hiến riêng. Do đó, mô hình này còn được gọi là mô hình kiểu Mỹ hay mô hình bảo hiến phi tập trung. Nguyên lý của mô hình này là vi phạm Hiến pháp cũng như vi phạm pháp luật thông thường khác cần được Tòa án tư pháp phán xét theo quy trình tố tụng. Trong mô hình này, thẩm quyền giám sát Hiến pháp được giao cho các Tòa án có thẩm quyền chung thực hiện. Theo đó, bất kỳ Tòa án nào cũng có thể ra phán quyết về tính hợp hiến của các đạo luật. Hoạt động bảo hiến gắn liền với việc giải quyết các vụ việc cụ thể tại Tòa án. Mô hình bảo hiến kiểu Mỹ có những đòi hỏi rất khắt khe khi thiết lập như: phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực nhà nước, có một hệ thống tập quán và án lệ cực mạnh, trình độ của các thẩm phán phải cực cao. Các quốc gia hiện đang theo mô hình này có thể kể đến như: Mỹ, Australia, New Zealand, Canada, Ấn Độ, Thụy Sỹ hay một số quốc gia Bắc Âu như Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan và hầu hết các nước khu vực Nam Mỹ…
Mô hình bảo hiến bằng cơ quan chuyên trách: Hay còn gọi là mô hình bảo hiến kiểu Áo – Đức. Cơ quan chuyên trách bảo hiến là một thiết chế quyền lực nhà nước đặc biệt, được hình thành ở những nước mà bộ máy nhà nước tổ chức và hoạt động theo thuyết tam quyền phân lập. Quyền lực nhà nước được chia thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tương đối rõ rệt. Mô hình này còn được xác định là mô hình bảo hiến tập trung. Những quốc gia xây dựng mô hình bảo hiến này có thể ví dụ như: Đức, Áo, Pháp, Bỉ Hy Lạp, I-ta-li-a, Liechtenstein, Tây Ban Nha, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hung-ga- ri, Séc, Nga, Albania, Belarus, Bosnia, Hercegovina, Bulgaria, Trung Phi, Chile, Congo, Colombia, Croatia, Ecuador, Ai Cập, Gruzia, Guatemala, Kazakhstan, Hàn Quốc, Kyrgyzstan, Latvia, Litva, Nam Phi, Tajikistan, Thái Lan, Turkmenistan, Uganda, Ukraina, .. Ở những nước theo mô hình này, chức năng phán quyết về những vi phạm Hiến pháp được trao cho một cơ quan chuyên trách là Tòa án hiến pháp hoặc Hội đồng hiến pháp. Cơ quan này tồn tại độc lập với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thẩm quyền của cơ quan này là xem xét và ra phán quyết về tính hợp hiến của các đạo luật và điều ước quốc tế; giải quyết các khiếu kiện về Hiến pháp; giải thích Hiến pháp; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực, giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, các tranh chấp liên quan đến kết quả bầu cử, các khiếu nại về trưng cầu ý dân; luận tội nguyên thủ quốc gia và các quan chức cao cấp khác của nhà nước khi có hành vi vi hiến…Mô hình bảo hiến này không đòi hỏi những điều kiện ngặt nghèo như mô hình bảo hiến kiểu Mỹ. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Mô hình bảo hiến hỗn hợp: Mô hình này kết hợp những yếu tố của hai mô hình bảo hiến bằng cơ quan chuyên trách và bảo hiến bằng Tòa án tư pháp. Ở các nước áp dụng mô hình này, thẩm quyền bảo hiến được trao cho cả cơ quan bảo hiến chuyên trách và Tòa án thuộc hệ thống tư pháp. Cơ quan chuyên trách có chức năng bảo hiến (Tòa án Hiến pháp) và Tòa án tối cao có thẩm quyền đối với những vụ việc cụ thể được quy định trong Hiến pháp, đồng thời các Tòa án khác khi giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và được quyền không áp dụng các đạo luật được xác định là không phù hợp với Hiến pháp. Ví dụ như: Bồ Đào Nha, Thụy Sỹ, Brazin, Columbia, Đài Loan…
Những mô hình bảo hiến trên là những mô hình phổ biến trên toàn thế giới được nhiều quốc gia lựa chọn, mỗi mô hình đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng. Vì vậy, để lựa chọn được mô hình bảo hiến phù hợp, các quốc gia cần phải xem xét kỹ trên cơ sở điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý cụ thể của đất nước mình.
Ở Việt Nam vấn đề bảo vệ Hiến pháp từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng, nhưng kể từ khi định hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đặt ra, chủ đề trên mới thực sự trở nên cấp thiết và thu hút được sự chú ý của toàn xã hội. Bởi trong nhà nước pháp quyền, Hiến pháp được đặt ở vị trí cao nhất, được xem như biểu tượng hay “vương miện của nhà nước pháp quyền”. Lý luận về nhà nước pháp quyền khẳng định nhà nước pháp quyền sinh ra để bảo vệ các quyền tự do của công dân được quy định trong nội dung Hiến pháp. Vì vậy, bảo vệ Hiến pháp cũng chính là bảo vệ các quyền công dân đã được Hiến pháp thừa nhận. Từ đó nảy sinh nhu cầu cần thiết phải có một cơ chế bảo hiến nhằm giữ cho các quy định của Hiến pháp được thực hiện và chấp hành ở mức cao nhất. Cơ chế này được quy định trong Hiến pháp mới năm 2013 với nhiệm vụ bảo hiến được giao cho toàn bộ Bộ máy nhà nước từ cơ quan quyền lực nhà nước đến cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp và cả Chủ tịch nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế:
Vì thẩm quyền bảo hiến được giao cho nhiều cơ quan cùng thực hiện, nên không có cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng bảo hiến, hoạt động bảo vệ hiến pháp hiện nay ở Việt Nam chỉ dừng lại là hoạt động giám sát mang tính hành chính, mà không mang tính tài phán. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân – có chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, nhưng Hiến pháp lại chưa quy định cơ chế giám sát Quốc hội một cách hữu hiệu nhằm bảo đảm cho chính Quốc hội làm đúng, làm đủ các quy định của Hiến pháp. Vì trong quá trình hoạt động, Quốc hội không thể tránh khỏi những sai sót, nhất là những sai sót trong việc thực hiện chức năng lập pháp, mà những sai sót trong lĩnh vực lập pháp không kém phần nguy hại so với các sai sót trong hoạt động hành pháp và hoạt động tư pháp. Vì thế, cần phải quy định cơ chế chuyên trách thực hành nhiệm vụ giám sát hoạt động của Quốc hội, để bảo đảm cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước đều chịu sự giám sát.
Hoạt động giải thích Hiến pháp nhằm bảo đảm sự thống nhất và ổn định trong cách hiểu về nội dung và ý nghiã của các quy phạm Hiến pháp là nhiệm vụ rất quan trọng để bảo vệ Hiến pháp. Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng giải thích Hiến pháp cần được giao cho một cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp gắn với các vụ việc cụ thể và theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền do luật định. Nhưng thực tế ở Việt Nam việc giải thích hiến pháp chưa có cơ quan chuyên trách thực hiện.
Tại Khoản 10 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội trong việc bãi bỏ văn bản của cơ quan nhà nước khác như sau: “Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” [23]. Nhưng trên thực tế chưa có văn bản nhà nước nào bị Quốc hội phán quyết là trái với Hiến pháp và luật, trong khi tình trạng này đã xảy ra (Ví dụ: Quyết định số 16/2007/QĐ-BGTVT, số 17/2007/QĐ-BGTVT ngày 26/3/2007 của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện Nghị định số 110/2006/NĐ-CP ngày 28/9/2006 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô, đã hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân mà Hiến pháp đã quy định. Hay Nghị quyết số 23/2011/NQ-HĐND ngày 24 tháng 12 năm 2011 của Hội đồng nhân dân Thành phố Đà Nẵng ban hành có quy định tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đã vi phạm quy định của Hiến pháp về quyền tự do đi lại và cư trú của công dân). Điều này cho thấy cơ chế bảo vệ Hiến pháp của Việt Nam hiện nay chưa hợp lý và không hiệu quả.
Từ những hạn chế nêu trên, có thể khẳng định rằng, hoạt động bảo hiến của Việt Nam hiện nay ít có khả năng phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý đối với vi phạm Hiến pháp. So với trên thế giới, bảo hiến ở Việt Nam tuy chưa hoàn thiện và đầy đủ nhưng trong tương lai để phù hợp với các điều kiện của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, cũng như để bảo vệ được Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, thì hoạt động này phải được thay đổi, bổ sung cho hoàn thiện với tình hình mới.
2.1.5. Học thuyết phân quyền Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Nhiều nhà nghiên cứu và học giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều đồng ý rằng, quyền lực chỉ có thể bị hạn chế bởi quyền lực: “Tự do chính trị… chỉ có được khi không có sự lạm dụng quyền lực. Nhưng kinh nghiệm muôn đời chỉ ra cho chúng ta rằng bất kỳ ai khi được trao quyền lực là sẽ có khuynh hướng lạm dụng quyền lực ấy, và sẽ tăng quyền lực của anh ta lên đến hết mức… Để ngăn chặm sự lạm dụng này, điều cần thiết rất tự nhiên là quyền lực phải được ngăn cản (kiềm chế) bởi quyền lực” [25, tr.75]. Mà quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan, các thiết chế của nó. Vì vậy, việc tìm kiếm mô hình tổ chức các cơ quan nhà nước cũng như những phương thức thực hiện quyền lực nhà nước chính là nội dung trọng tâm của hoạt động chính trị, pháp lý ở bất kỳ nhà nước nào. Trong lịch sử tư tưởng chính trị nội dung trên những tên gọi khác nhau như: hình thức chính trị (Platon), hình thức chính phủ (Aristote), hình thức chính quyền (Bertrand Russell) Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trên thực tế rất đa dạng và phong phú, các nhà nước có hình thức chính thể khác nhau thì cách thức thực hiện quyền lực nhà nước là khác nhau. Nhưng tựu trung lại có thể khái quát thành hai mô hình cơ bản là tập quyền và phân quyền.
Trong mô hình nhà nước tập quyền mọi quyền lực tập trung trong tay một cá nhân hoặc một nhóm người có khả năng chi phối và tạo lập hệ thống thể chế theo hình chóp. Còn trong mô hình nhà nước phân quyền thì quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và thuộc về các cơ quan nhà nước khác nhau. Trong mô hình phân quyền ba cấu trúc quyền lực nêu trên được thiết lập theo nguyên tắc vừa độc lập về phạm vi quyền hạn, trách nhiệm; vừa phụ thuộc và kiểm soát lẫn nhau. Giữa hai mô hình trên, mô hình phân quyền thể hiện được ưu thế trong việc giới hạn quyền lực, điều này không chỉ được thừa nhận ở các nước theo nguyên tắc phân quyền, mà ngay cả những nước theo mô hình tập quyền cũng phải thừa nhận giá trị này.
Tư tưởng phân quyền được bàn đến rất sớm ngay từ thời cổ đại, Aristote (384-322 tr.CN) đã chia hoạt động của nhà nước thành ba bộ phận: nghị luận, chấp hành và xét xử. Nhưng mới chỉ được mô tả một cách giản đơn về mặt cấu trúc, chức năng và thẩm quyền, chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các bộ phận đó. Phải đến thời kỳ Khai sáng, tư tưởng phân quyền mới hoàn thiện, trở thành một học thuyết toàn diện và độc lập. Người khai sinh ra lý thuyết này là John và người có đóng góp lớn nhất trong việc phát triển nó một cách hoàn chỉnh là Montesquieu. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở bốn phần: Quyền lực nhà nước được cấu thành từ ba quyền: lập pháp; hành pháp; tư pháp; Ba nhánh quyền lực này được trao cho ba cơ quan khác nhau thực hiện; Ba cơ quan này độc lập tương đối với nhau; Giữa những cơ quan này chế ước, kiểm soát lẫn nhau để chống lại lạm quyền. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Sự phân chia quyền lực ở đây phải được thể hiện trên cơ sở của pháp luật, nghĩa là các nhánh cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật quy định. Trong đó, quyền lập pháp là quan trọng nhất và hoàn toàn thuộc về Nghị viện (Quốc hội) – cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân uỷ quyền, được nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Lập pháp hiểu một cách đơn giản nhất là quyền làm luật, điều chỉnh và hủy bỏ luật. Giới hạn, phạm vi của quyền lập pháp do hiến pháp quy định. Còn quyền hành pháp được trao cho Chính phủ, bao gồm quyền lập quy và quyền hành chính. Quyền lập qui là quyền ban hành những văn bản pháp qui dưới luật, để cụ thể hoá luật pháp và hướng dẫn thực hiện luật do các cơ quan lập pháp ban hành trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền hành chính là quyền tổ chức, quản lý, điều tiết tất cả các mặt, các quan hệ xã hội thông qua sử dụng quyền lực Nhà nước. Quyền hành chính bao gồm các quyền về tổ chức nhân sự trong cơ quan hành chính, quyền tổ chức thực thi và áp dụng pháp luật trong các mối quan hệ giữa tổ chức với cá nhân, tổ chức với tổ chức và giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội.
Trong nhà nước pháp quyền vai trò của quyền hành pháp rất quan trọng vì nó là thiết chế quyền lực thực thi các quyền hiến định trên mọi phương diện của đời sống xã hội. Cuối cùng là quyền tư pháp. Quyền tư pháp là quyền bảo vệ luật pháp, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật. Thiết chế tổ chức thực hiện quyền tư pháp là Tòa án và Viện kiểm sát. Thông qua việc thực hiện chức năng của mình trong nhà nước pháp quyền cơ quan tư pháp thực hiện vai trò kiểm soát để chống lạm quyền của cả cơ quan lập pháp và hành pháp trong việc ban hành và thực thi luật pháp. Sự kiểm tra đó phải sát sao, thường xuyên và những hành vi vi phạm từ phía cơ quan lập pháp, hành pháp, những người có chức vụ cũng như mọi công dân phải được xem xét công minh, đúng người, đúng tội trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật.
Nội dung của học thuyết phân quyền không dừng lại ở việc phân chia quyền lực nhà nước cho các nhánh cơ quan độc lập, mà còn tiến đến một mục đích cao hơn, đó là hạn chế, kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh cơ quan này. Giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp cần có sự ngăn cản lẫn nhau. Cơ quan hành pháp không có quyền thông qua luật nhưng có quyền ngăn cản cơ quan lập pháp biểu quyết những đạo luật có hại cho quốc gia: “Nếu cơ quan hành pháp không có quyền ngăn cản các dự định của các cơ quan lập pháp thì cơ quan lập pháp sẽ trở thành chuyên chế, tự ban cho mình mọi thứ quyền hành mà xóa bỏ các quyền lực khác” [57, tr.115]. Ngược lại cơ quan lập pháp phải có quyền kiểm soát cơ quan hành pháp: “Không nên để cho quyền lực lập pháp có được chức năng ngăn cản quyền lực hành pháp, vì quyền hành pháp có những giới hạn theo bản chất của nó, bao giờ cũng giải quyết những công việc nhất thời… Nhưng trong một nước tự do, nếu cơ quan lập pháp không có quyền ngăn cản hành pháp thì nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào” [57, tr.115]. Cùng với đó, nhánh cơ quan tư pháp tồn tại độc lập là nhân tố sống còn để đảm bảo rằng, các cơ quan lập pháp và hành pháp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, phải giải trình và buộc phải thực hiện các điều khoản ghi trong Hiến pháp.
Nội dung của nguyên tắc phân quyền đã cho thấy rằng, phân quyền không những sẽ làm tăng thêm hiệu quả của mỗi nhánh quyền lực trong việc thực hiện những chức năng được giao, mà còn ngăn cản không để một cơ quan riêng biệt nào tập trung quyền lực quá mức, dẫn đến lạm dụng quyền hành trong khi thi hành công vụ. Thông qua đó, quyền tự do chính trị và quyền bình đẳng về cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân sẽ được bảo đảm và phát huy ở mức tối đa.
Kể từ khi ra đời đến nay, dựa trên nội dung của nguyên tắc phân quyền, trong thực tiễn đã hình thành những chính thể khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá của mỗi nước: chính thể Tổng thống, chính thể đại nghị (cả cộng hoà và quân chủ) và chính thể hỗn hợp. Ở các nước này, ba nhánh quyền lực nhà nước được thể chế hoá cao độ, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được chuyên nghiệp hoá rất cao, cơ chế kiểm soát quyền lực tỏ rõ tính hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Nước ta do một Đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam, vì vậy, khác với nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước tư sản, quyền lực nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất (hay còn gọi là tập quyền Xã hội Chủ nghĩa). Tại Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rõ điều này: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [23]. Theo nguyên tắc này, Quốc hội được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho toàn thể nhân dân.Các cơ quan còn lại trong bộ máy nhà nước do Quốc hội thành lập và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Tuy nhiên, trên thực tế Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng linh hoạt những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền khi nhấn mạnh đến khía cạnh phân công và kiểm soát quyền lực giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.Hiến pháp sửa đổi đã quy định rõ nét hơn, rành mạch hơn đối với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tại các Điều 69, 94, 102 Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Sự phân công rõ ràng về tính chất và phạm vi quyền lực của mỗi hệ thống cơ quan nhà nước xuất pháp từ chính đòi hỏi: việc thực hiện quyền lực nhà nước phải có giới hạn. Đây là bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về nguyên tắc tập quyền Xã hội Chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, với chế độ tập quyền do một Đảng lãnh đạo thì Việt Nam sẽ khó thực hiện được triệt để việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
2.1.6. Tư pháp độc lập
Theo lý thuyết hợp hiến thì một quốc gia được coi là hợp hiến khi có cơ quan tư pháp độc lập, đây cũng là một trong những tiêu chuẩn của nhà nước pháp quyền. Đồng thời để xây dựng được cơ chế bảo hiến hiệu quả thì độc lập tư pháp là một yêu cầu bắt buộc. Trong lý thuyết phân quyền để hạn chế được sự lạm quyền của nhà nước thì quyền lực phải được chia thành ba bộ phận là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Theo đó quyền tư pháp là quyền bảo vệ luật pháp, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật. Thiết chế tổ chức thực hiện quyền tư pháp là Tòa án và Viện kiểm sát. Thông qua việc thực hiện chức năng của mình trong nhà nước pháp quyền cơ quan tư pháp thực hiện vai trò kiểm soát để chống lạm quyền của cả cơ quan lập pháp và hành pháp trong việc ban hành và thực thi luật pháp. Việc áp dụng chế tài trong hoạt động xét xử của cơ quan tư pháp không phải là mục đích tự thân của quyền tư pháp. Mà mục tiêu chính của nó là bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại, chính là đảm bảo trật tự pháp luật, trật tự an ninh xã hội và sự tự do của công dân. Toà án là cơ quan tư pháp quan trọng nhất để thực hiện quyền tư pháp. Hoạt động của Toà án phân chia theo các cấp xác định từ cấp sơ thẩm đến cấp phúc thẩm và cuối cùng là cấp tối cao. Các Toà án chỉ có thể hoạt động có hiệu quả và thực hiện tốt các chức năng của của mình nếu như các Thẩm phán có sự độc lập thực sự mà trước hết là trong mối quan hệ với các cơ quan lập pháp và hành pháp. Khi một Thẩm phán buộc phải là người phụ thuộc (kể cả vật chất lẫn tinh thần), buộc là người “cầu xét” cơ quan lập pháp hay hành pháp (chế độ lương, đãi ngộ…) thì khó có thể nói đến sự độc lập thực sự. Sự độc lập của các Thẩm phán phải được củng cố bằng sự độc lập của các Toà án. Khác với lập pháp và hành pháp, hoạt động tư pháp không những nhân danh nhà nước mà còn nhân danh công lý. Phán quyết của Toà án có hiệu lực bắt buộc đối với mọi chủ thể liên quan. Thông qua hoạt động tư pháp hoạt động phán xét, mục đích, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện tạm thời qua cơ sở thực tiễn thấy được hiệu quả pháp luật, từ đó có những hướng hoàn thiện cho hệ thống pháp luật.
Quan niệm về quyền tư pháp trong lý thuyết phân quyền ở trên cũng tương đồng với quan niệm về quyền tư pháp hiện đại trên thế giới. Tư pháp được hiểu ở trên thế giới là xét xử- đồng nghĩa với hoạt động của Tòa án để tìm ra công lý, bảo vệ sự công bằng cho tất cả mọi người. Việc Tòa án độc lập với hai ngành cơ quan lập pháp và hành pháp có vai trò rất quan trọng để đánh giá một nhà nước dân chủ. Alexander Hamilton- một trong những nhà soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ, đã nhấn mạnh trên tờ Federalist, số 78 rằng “không thể có tự do, nếu quyền xét xử không được tách khỏi quyền lập pháp và hành pháp… Tự do không e ngại gì một mình tư pháp, nhưng rất sợ sự liên minh của tư pháp với một trong hai cơ quan quyền lực kia” [96]. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều dựa vào tư pháp để giải thích pháp luật và buộc hai nhánh quyền lực còn lại tuân thủ đúng pháp luật cũng như chấp hành đúng các quy định của Hiến pháp. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Trong tuyên bố Bắc Kinh về độc lập tư pháp- đã được thông qua bởi Chánh án Tòa án tối cao của 20 nước, trong đó có Việt Nam, đã khẳng định: “Cơ quan tư pháp là tổ chức mang giá trị cao nhất của bất kỳ xã hội nào”. Và “Tuyên ngôn nhân quyền (điều 10) và Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Điều 14 (1)) tuyên bố rằng mọi người đều có quyền được xét xử công khai và công bằng bởi một toà án độc lập, có thẩm quyền, khách quan và được thành lập theo pháp luật. Một cơ quan tư pháp độc lập chính là điều kiện không thể thiếu để có thể thực hiện được quyền này”[98].Tính độc lập của tư pháp thể hiện ở việc tòa án phải có quyền quyết định các vụ việc một cách vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc và theo pháp luật mà không chịu bất kỳ sự chi phối, tác động, ảnh hưởng nào không phù hợp, hoặc sự dụ dỗ, sức ép, đe dọa hay can thiệp sai trái, một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ bất kỳ chủ thể nào, dựa trên bất kỳ lý do nào. Ngoài ra, tòa án còn có quyền tài phán đối với mọi vụ việc thuộc thẩm quyền của mình cũng như có quyền quyết định các vụ việc được trình lên có thuộc chức năng xét xử của mình theo quy định của pháp luật hay không. Tính độc lập của tư pháp còn thể hiện ở việc Nhà nước phải đảm bảo tất cả các cơ quan khác của mình phải tôn trọng và tuân thủ tính độc lập của tòa án. Sự độc lập của tư pháp phải được nhà nước bảo đảm và ghi nhận rõ ràng trong Hiến pháp và pháp luật: “Độc lập tư pháp có nghĩa là: a) Cơ quan tư pháp quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền dựa trên sự đánh giá khách quan của mình về các sự kiện của vụ án và trình độ hiểu biết pháp luật của mình mà không chịu sự tác động sai trái, trực tiếp hay gián tiếp của bất kỳ cá nhân, tổ chức, hay cơ quan nào;b) Cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết trực tiếp hoặc xem xét lại đối với tất cả những vấn đề mang tính chất tư pháp”[98].
Một ngành tư pháp độc lập đòi hỏi rằng cả thẩm phán phải được độc lập khi thực thi quyền lực của họ đồng thời cả ngành tư pháp cũng phải độc lập. Thẩm quyền hoạt động của tòa án phải được bảo vệ trước mọi ảnh hưởng của các cơ quan khác của chính phủ, bất kể công khai hay bí mật. Theo Nguyên tắc Hành xử Tư pháp của Bangalore thì tính độc lập của tư pháp bao hàm cả khía cạnh “cá nhân và tập thể bộ máy tư pháp” [96]. Tính độc lập của thẩm pháp có hai cách đảm bảo: Một là thẩm phán phải được bảo vệ không bị đe dọa trả thù, để phán quyết của họ không bị nỗi lo sợ điều khiển. Hai là các phương pháp lựa chọn thẩm phán và các nguyên tắc đạo đức áp dụng đối với họ cần phải được xây dựng sao cho hạn chế đến mức thấp nhất khả năng tham nhũng và ảnh hưởng khách quan. Tính độc lập của tư pháp cũng cho phép thẩm phán đưa ra những phán quyết đi ngược lại quyền lợi của những nhánh quyền lực còn lại. Bên cạnh hai đảm bảo trên thì một đảm bảo khác cũng quan trọng không kém đó là chế độ đãi ngộ đối với thẩm phán. Việc duy trì một chế độ đãi ngộ tốt về tiền lương là điều kiện bảo đảm quan trọng để thẩm phán cảm nhận được vị trí xã hội, vinh dự nghề nghiệp của mình, yên tâm làm việc và duy trì được sự độc lập trong hoạt động xét xử. Hoa Kỳ – quốc gia có nền tư pháp tiến bộ nhất trên thế giới, đã quy định rất rõ tại Khoản 1 Điều 3 Hiến pháp về chế độ tiền lương của thẩm phán: “Các quan tòa của Tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình suốt đời, nếu luôn luôn có hành vi chính đáng. Trong thời gian đã nêu trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó” [1, tr.648], trên thực tế thì lương của thẩm phán tại Hoa Kỳ cao hơn nhiều so với lương công chức hành chính trong Chính phủ và cũng cao gấp 5-6 lần mức thu nhập bình quân đầu người của Hoa Kỳ [86].
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều đặt ra nguyên tắc độc lập của cơ quan tư pháp trong Hiến pháp và pháp luật quốc gia, tư pháp độc lập cũng được coi là nguyên tắc phổ quát trong điều ước quốc tế. Nhất là trong nhà nước pháp quyền bắt buộc phải đặt ra yêu cầu cơ quan tư pháp phải được tổ chức và hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc này được đề cao như vậy vì tầm quan trọng của nó trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là phương thức góp phần quan trọng cho việc hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền từ phía Nhà nước.
Mặc dù nguyên tắc độc lập tư pháp đã trở thành một nguyên tắc Hiến định ở Việt Nam, Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: ” Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật…” [23]. Nhưng thực hiện nguyên tắc này vẫn còn rất nhiều hạn chế như: Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
- Nguyên tắc độc lập của tòa án chưa được tuân thủ một cách triệt để ở nước ta, bởi lẽ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam vẫn phải theo theo nguyên tắc tập quyền. Nguyên tắc tập quyền không thể là cơ sở cho sự độc lập của tòa án bởi nó dẫn đến việc quyết định của tòa án khó tránh khỏi phụ thuộc vào sự chỉ dẫn, sự can thiệp của các cơ quan nhà nước khác.
- Quá trình xét xử của tòa án ở Việt Nam chưa thực sự theo nguyên tắc tranh tụng mà vẫn nặng theo nguyên tắc xét hỏi, luật sư chỉ đóng vai trò thứ yếu. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng lớn giữa các bên tham gia tố tụng, ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động xét xử.
- Kinh phí hoạt động của hệ thống tòa án vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào các cơ quan nhà nước khác, đồng thời phụ thuộc vào các tòa án cấp trên. Tình trạng này khiến cho các tòa án khó tránh khỏi sự tác động của các cơ quan nhà nước khác, cũng như khiến cho các tòa án cấp dưới khó duy trì sự độc lập xét xử với tòa án cấp trên.
- Việc bổ nhiệm thẩm phán ở nước ta dựa rất nhiều vào các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, trong khi lẽ ra cần nhấn mạnh các tiêu chuẩn về chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Do đó, nhiều thẩm phán được bổ nhiệm nhưng vẫn còn yếu kém về phẩm chất và năng lực. Đó là chưa kể quy trình bổ nhiệm có sự tham gia của quá nhiều chủ thể ngoài ngành, khiến áp lực đè lên các thẩm phán rất lớn, tất yếu khiến họ bị phụ thuộc và không thể giữ được tính độc lập trong hoạt động nghề nghiệp nếu như muốn được bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm.
- Chế độ bổ nhiệm thẩm phán ở nước ta là chế độ theo nhiệm kỳ. Các thẩm phán, mặc dù mức lương có cao hơn so với mức lương chung của các ngành khác, song vẫn thấp so với nhu cầu bảo đảm đời sống và tích lũy cho họ và gia đình. Đây cũng là những yếu tố mà theo kinh nghiệm quốc tế thường có ảnh hưởng lớn đến tính độc lập trong hoạt động nghề nghiệp của thẩm phán.
- Ngoài ra, pháp luật nước ta chưa có những quy định cụ thể về việc giữ bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ của thẩm phán. Điều này có thể gây rủi ro cho các thẩm phán trong hoạt động nghề nghiệp và ảnh hưởng đến việc xét xử độc lập của họ.
Vậy cần phải bảo đảm những yếu tố nào để Tòa án thực hiện được quyền tư pháp, đó cũng chính là sự độc lập tư pháp, sự độc lập của Tòa án trong hoạt động xét xử nhằm thực hiện đúng đắn, đầy đủ quyền tư pháp như Hiến pháp quy định tại Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [23]. Trước nhiệm vụ phát triển, bảo vệ đất nước và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới, Đảng ta chủ trương ban hành và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, lấy Tòa án trung tâm, xét xử làm trọng tâm và lấy tranh tụng làm khâu đột phá; trọng tâm của cải cách tư pháp là bảo đảm cho nguyên tắc Tòa án độc lập có hiệu lực trên thực tế.Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược CCTP đến năm 2020 nêu rõ: “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính. Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”. Để Tòa án nhân dân thực hiện đúng đắn quyền tư pháp theo Hiến định, Tòa án nhân dân không chỉ là cơ quan áp dụng pháp luật để trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật của người dân, mà còn trở thành công cụ để người dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước hành vi vi phạm của các cơ quan công quyền.Bảo đảm cho Tòa án được độc lập, Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đã định hướng: “Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”.
Để triển khai thực hiện các nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Đảng về cải cách tư pháp đến năm 2020 và thực hiện các nội dung mới của Hiến pháp 2013 về các vấn đề liên quan đến Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân tối cao đang gấp rút hoàn thiện Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) với nội dung kế thừa các quy định trước đây, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các điều kiện thực tiễn của đất nước, bảo đảm sự độc lập tư pháp, độc lập của Tòa án, để Tòa án hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
2.1.7. Sự ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Điều 1 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) đã được Liên hiệp quốc thông qua vào năm 1948 đề cập đến các trụ cột chính của hệ thống quyền con người, gồm: tự do, bình đẳng và đoàn kết. Tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo cũng như tự do quan điểm và tự do biểu đạt đều được quyền con người bảo vệ. Quyền con người cũng bảo đảm sự bình đẳng, như bảo vệ quyền bình đẳng chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong hưởng thụ tất cả các quyền con người, bao gồm quyền bình đẳng đầy đủ giữa nam và nữ. Sự đoàn kết thể hiện trong các quyền kinh tế và xã hội, như quyền được hưởng an ninh xã hội, được trả công, và có một mức sống đủ, quyền về sức khoẻ và tiếp cận giáo dục là một phần không thể thiếu trong khuôn khổ quyền con người. Các quyền này thuộc về 5 chủ đề chính là các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa, được ghi nhận pháp lý trong hai Công ước có quan hệ tương đương cùng với UDHR để hình thành nên Bộ luật về quyền con người. “Tất cả các quyền con người dành cho mọi người” [93] là khẩu hiệu của Hội nghị thế giới Vienna về quyền con người vào năm 1993. Quyền con người trao quyền cho các cá nhân cũng như các cộng đồng, nhằm tìm kiếm sự biến đổi xã hội, hướng tới việc thực hiện đầy đủ tất cả các quyền con người. Các xung đột cần phải được giải quyết trong hòa bình theo nguyên tắc pháp quyền và trong khuôn khổ quyền con người. Tất cả các quốc gia văn minh đều nỗ lực xác định và ủng hộ nhân quyền. Ở đâu cũng vậy, cốt lõi của khái niệm này là giống nhau, đó là: nhân quyền là các quyền mà mỗi con người đều có đơn giản là vì họ là con người. Nhân quyền là của mọi người và bình đẳng cho mọi người. Nhân quyền cũng là những quyền bất khả xâm phạm. Các quyền này có thể bị trì hoãn – một cách chính đáng hay sai trái, ở nhiều nơi nhiều lúc – song ý tưởng về các quyền con người không thể bị phủ nhận. Nếu mất đi những quyền này, con người sẽ không còn là con người nữa. Chính phủ nào liên tục gây ra các vụ vi phạm nhân quyền trắng trợn đều bị coi là bất hợp pháp.
Trong hệ thống pháp luật quốc gia, quyền con người được thể hiện chủ yếu ở quyền công dân và được qui định trong Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó. Không có sự đối lập giữa quyền con người và quyền công dân, không thể có quyền công dân bên ngoài quyền con người và ngược lại, không thể có quyền con người mà lại không bao hàm quyền công dân trong đó. Quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội cụ thể, trong một chế độ xã hội – chính trị nhất định cùng với các điều kiện kinh tế, văn hóa, truyền thống, lịch sử, các giá trị đạo đức và đặc biệt với một nền pháp luật cụ thể do nhà nước đó thừa nhận, qui định. Ở mỗi quốc gia, việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện tốt các quyền công dân chính là đã thực hiện nội dung cơ bản của quyền con người. Quyền con người và quyền công dân trong mối quan hệ thống nhất biện chứng đều ghi nhận các quyền của cá nhân nhưng chúng là những khái niệm không đồng nhất cả về chủ thể lẫn nội dung. Quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân bởi vì nó vừa ghi nhận trạng thái pháp lý về quyền cá nhân ở phạm vi quốc tế, vừa là quyền công dân ở trong phạm vi từng quốc gia nhất định. Về chủ thể của quyền con người rộng hơn chủ thể của quyền công dân, ngoài những cá nhân là công dân, chủ thể quyền con người còn bao hàm cả những người không phải là công dân (người nước ngoài, người không quốc tịch, người bị tước quyền công dân…) và những tập thể người (giới, nhóm…). Về nội dung cơ bản của quyền con người gắn với lịch sử đấu tranh cho quyền con người, được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia, trước hết là trong các Công ước quốc tế về quyền con người và Hiến pháp, văn bản luật có giá trị cao nhất của mỗi quốc gia. Tuy nhiên cả quyền con người và quyền công dân đều thể hiện ở những nhóm quyền chủ yếu sau:
- Các quyền và tự do dân chủ về chính trị bao gồm: quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử; quyền bình đẳng nam nữ; quyền tự do ngôn luận; quyền tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền được lập hội; quyền biểu tình, bãi công; quyền tự do tín ngưỡng… Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
- Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân) bao gồm: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng và sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại; quyền tự do đi lại và cư trú trong nước; quyền đi ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền khiếu nại, tố cáo…
- Các quyền về kinh tế – xã hội bao gồm: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền thừa kế, quyền học tập, phát minh, sáng chế, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được bảo hộ hôn nhân gia đình, những quyền mang tính chất ưu tiên như: quyền trẻ em, quyền người già, người cô đơn không nơi nương tựa…
Nội dung về quyền con người, quyền công dân đã được cộng đồng quốc tế ngày càng nhận thức đầy đủ và toàn diện, được phát triển và cụ thể hóa trong các Tuyên bố và Công ước quốc tế về quyền con người. Đây chính là căn cứ quan trọng nhất đảm bảo cho các quyền con người được tôn trọng và bảo vệ, trở thành chuẩn mực chung trong việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân ở từng quốc gia. Việc ghi nhận và đảm bảo quyền công dân trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia chính là thể hiện việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người. Đồng thời, nó cũng là đảm bảo cho việc ngăn ngừa những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân của các cơ quan công quyền. Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là điều kiện để giảm thiểu và ngăn ngừa những vi phạm quyền con người, quyền công dân. Ngược lại, sự ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp và pháp luật là phương thức quan trọng, góp phần giới hạn quyền lực nhà nước nhằm chống lại sự lạm quyền.
Tiếp thu tinh thần về quyền con người của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định các quyền cơ bản như: quyền bầu cử và quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, biểu tình, quyền và cơ hội bình đẳng giới… Bên cạnh đó, Hiến pháp mới còn bổ sung thêm nhiều nội dung quan trọng về quyền con người, quyền công dân đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân. Cụ thể:
Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân, thì Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” [23]. Quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 còn bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Việc quy định về hạn chế quyền là cần thiết để đảm bảo quyền con người, quyền công dân một cách minh bạch theo luật định, nhất là phòng ngừa sự cắt xén hay hạn chế các quyền này một cách tùy tiện từ phía các cơ quan nhà nước. Hiến pháp sửa đổi đã thêm một số quyền mới là thành tựu của gần 30 năm đổi mới đất nước, thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân như: Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định quyền sống; quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghiên cứu và thụ hưởng các kết quả khoa học; quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền được sống trong môi trường trong lành… Tuy nhiên, để thực hiện những quyền này thì phải đợi nó được cụ thể hóa dưới dạng văn bản Luật và dưới luật, cũng như phải đợi xây dựng cơ chế để bảo vệ những quyền hiến định này. Do đó, việc thực hiện những quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp quy định nếu không muốn trở thành những quyền lý thuyết thì Nhà nước ta cần ban hành sớm những văn bản pháp luật để hiện thực hóa chúng. Hiến pháp năm 2013 về cơ bản đã tiếp thu quy định của Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự; quyền kinh tế, văn hóa. Sự tiếp thu này là phù hợp với thời kỳ toàn cầu hóa và để những quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp được đầy đủ hơn. Đây cũng là điều kiện để Việt Nam thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền và thành viên Liên Hợp quốc trong nhiệm kỳ 2014 – 2016.
2.1.8. Sự giám sát của nhân dân Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhưng nhân dân không thể trực tiếp thực hiện mà phải ủy quyền cho chủ thể đại diện cho mình thực hiện. Nhưng khi được ủy quyền thì người đại diện cho nhân dân có thể sử dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích riêng cho mình. Như vậy, nhân dân không những không thực hiện được quyền làm chủ của mình mà còn bị xâm hại đến lợi ích của bản thân, do đó, nhân dân phải chủ động kiểm tra, giám sát hoạt động của người đại diện cho mình và buộc họ thực hiện quyền lực vì lợi ích của mình. Nếu nhân dân thụ động, thiếu trách nhiệm, trình độ thấp hoặc không có cơ chế để nhân dân thực hiện sự giám sát thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự lạm dụng quyền lực của nhà nước.
Vai trò quan trọng của sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động nhà nước đã được khẳng định trong lịch sử cũng như hiện tại. Trong Hiến pháp của hầu hết các nước đều khẳng định nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến, quyền thiết lập nên quyền lực nhà nước và giám sát quyền lực nhà nước vì nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Nhân dân giám sát thông qua các quy định trong Hiến pháp, pháp luật, thông qua những thiết chế xã hội hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng. Việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp là một trong những điều kiện để đảm bảo sự giám sát của nhân dân. Sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của nhà nước bảo đảm tính khách quan trong quá trình hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, bảo đảm sự thống nhất, phối hợp hiệu quả giữa những phương thức giới hạn quyền lực trong nội bộ nhà nước với phương thức giám sát của nhân dân. Hoàn thiện cơ chế nhân dân giám sát hoạt động của nhà nước trực tiếp góp phần ngăn chặn tình trạng tha hoá quyền lực, đặc biệt là căn bệnh quan liêu, tham nhũng – căn bệnh phổ biến trong chính phủ của hầu hết các quốc gia trên thế giới, vì thông qua sự giám sát của nhân dân không chỉ trực tiếp giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý tham nhũng mà quan trọng là nó còn tạo ra một áp lực xã hội có tính thường trực, đủ lớn để không thể tham nhũng.
Để đảm bảo nhân dân có thể tham gia vào quá trình giám sát quyền lực nhà nước cần phải xây dựng được các thể chế như: Tự do, tự chủ, công khai trong bầu cử để lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia vào đời sống chính trị và lựa chọn người đứng đầu đại diện; nhân dân có quyền bãi miễn nếu đại diện tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng. “Để ngăn chặn chuyển hóa của nhà nước và các cơ quan của nhà nước, từ chỗ là công bộc của xã hội thành ông chủ đứng trên đầu xã hội – sự chuyển hóa không thể tránh từ trước đến nay trong tất cả các chế độ – công xã đã áp dụng hai biện pháp rất chính xác. Thứ nhất, tất cả những chức vị quản lý, tư pháp, giáo dục nhân dân đều giao cho những người phổ thông đầu phiếu bầu ra.Ngoài ra, các cử tri có quyền bãi miễn bất cứ lúc nào những người mình bầu ra” [34, tr.95-96]. Tổ chức cho nhân dân hoặc đại biểu của nhân nhân giám sát quá trình ra chính sách, thực thi chính sách và kiểm tra đánh giá chính sách. Hàng năm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của nhân dân đối với một số chức danh cán bộ chủ chốt và đưa công khai trên phương tiện truyền thông đại chúng. Mở rộng các loại hình dân chủ trực tiếp như trưng cầu ý dân. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền đảm bảo quyền khiếu kiện của nhân dân. Khiếu kiện được xác định là một trong những quyền cơ bản của nhân dân. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (10/12/1948) ghi nhận: Mọi người đều có quyền khiếu nại hữu hiệu đến cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền, chống những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của con người đã được Hiến pháp hoặc luật pháp quy định. Các cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm xem xét, đôn đốc giải quyết kịp thời, kể cả những khiếu kiện nặc danh và việc khiếu kiện được giám sát chặt chẽ bởi một hệ thống cơ quan độc lập do nhà nước lập ra. Sự giám sát của nhân dân bao trùm lên toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước gồm tất cả các cơ quan nhà nước thuộc ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động giám sát diễn ra thường xuyên, liên tục trong phạm vi quốc gia và địa phương là phương thức hiệu quả để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Điều 4, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” [23]. Đây là nội dung mới quan trọng, hiến định vai trò giám sát của nhân dân đối với Đảng. Mặt khác, trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước Việt Nam chỉ do một Đảng lãnh đạo, nên Bộ máy nhà nước ta chịu sự giám sát của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, hoạt động giám sát của nhân dân đối với Bộ máy nhà nước Việt Nam là tối cao và toàn diện, nó thể hiện trên những khía cạnh sau:
Nhân dân xem xét, đánh giá phẩm chất năng lực của các đại biểu dân cử gồm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Họ do nhân dân lựa chọn và bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Theo quy định hiện hành, nhân dân có quyền xem xét, đánh giá tư cách của các đại biểu có xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân hay không. Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp có thể bị bãi nhiệm khi không còn sự tín nhiệm của nhân dân. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Trực tiếp tham gia quản lý nhà nước quản lý xã hội: Với quan điểm của Đảng ta là dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, nhân dân có quyền tham gia ý kiến với nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước. Nhân dân cũng có quyền trực tiếp tham gia các hoạt động của bộ máy nhà nước trong cách quản lý đời sống kinh tế – xã hội giữ gìn an ninh trật tự, tổ chức đời sống cộng đồng ở cơ sở. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định để thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã phường, thị trấn, trong doanh nghiệp, trong cơ quan đơn vị tổ chức hành chính sự nghiệp. Những nghị định này tạo cơ sở pháp lý để nhân dân được biết, được bàn trước khi cơ quan, tổ chức ra quyết định hoặc có những việc nhân dân được tự quyết định và thực hiện. Đó chính là yếu tố của quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước.
Thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại – tố cáo của công dân. Thực hiện quyền khiếu nại – tố cáo chính là việc nhân dân phát hiện ra những việc làm sai trái, những hành vi vi phạm pháp luật thông qua một trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Đề nghị cơ quan tổ chức có thẩm quyền xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Qua đó góp phần đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước được đúng đắn, ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước. Có thể nói việc thực hiện quyền khiếu nại – tố cáo là biểu hiện cao độ cho quyền làm chủ của nhân dân là một hình thức hữu hiệu để nhân dân giám sát bộ máy nhà nước.
Thông qua hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân. Đây là tổ chức do nhân dân và tập thể những người lao động bầu ra ở xã phường, thị trấn, cơ quan đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước. Thông qua tổ chức này nhân dân trực tiếp giám sát việc chấp hành pháp luật trong phạm vi địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, giám sát hoạt động của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và thủ trưởng cơ quan đơn vị.
- Thông qua các hội, đoàn thể, thực hiện chức năng phản biện xã hội đối với hoạt động của những cơ quan, công chức nhà nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hạn chế quyền lực không chỉ được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra, kiểm sát hay bởi các cơ quan quyền lực trung ương và địa phương kiểm soát lẫn nhau, mà điều quan trọng là phải để cho chính nhân dân giám sát các cơ quan quyền lực nhà nước. Nhân dân là người đã giao quyền của mình cho các cơ quan nhà nước thì nhân dân phải có quyền giám sát các cơ quan đó. Trong lần nói chuyện với nông dân Hưng Yên về làm việc đê điều, Người cho rằng có nhân dân kiểm soát thì mới tránh được cán bộ cơ quan nhà nước lạm dụng để tư túi tiền công quỹ dành cho đắp đê. Người nói: “Dân chúng có quyền kiểm soát việc làm để đề phòng những việc nhũng lạm có thể xảy tới” [46, tr.154]. Nhân dân tham gia giám sát quyền lực sẽ loại bỏ được các cán bộ “lên mặt làm quan cách mạng, hoặc độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư” [45, tr.21]. Như vậy, chỉ khi nhân dân thật sự tham gia giám sát các cơ quan quyền lực nhà nước thì họ mới giữ vững được vị trí chủ thể quyền lực đích thực của mình.
Quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước và cán bộ công chức nhà nước là một nội dung quan trọng của quyền làm chủ của nhân dân theo quy định của Hiến pháp 2013. Đây cũng là biện pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm sự bền vững của chế độ Nhà nước ta, khẳng định thêm truyền thống chính trị vì dân ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo tiền đề tiếp tục xây dựng và củng cố mối quan hệ bền chặt giữa nhân dân và Nhà nước.
2.1.9. Các phương thức khác hạn chế sự lạm dụng quyền lực từ bên ngoài nhà nước
- Hạn chế bằng truyền thông đại chúng Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Để thực hiện có hiệu quả giới hạn quyền lực từ bên ngoài nhà nước thì vai trò truyền thông, ngôn luận trong kiểm soát quyền lực hết sức quan trọng, được xem là vũ khí sắc bén trong việc vạch trần các hoạt động lạm dụng quyền lực, biến chất, suy đồi đạo đức, trục lợi cá nhân, tổ chức làm phương hại đến lợi ích của cộng đồng xã hội. Một nhà chính trị học người Mỹ nổi tiếng, A.Tocquevile đã viết: “Một Chính phủ của đại chúng mà lại không có những thông tin dành cho đại chúng thì không khác gì là một sự mở đầu cho một tấn hài kịch hoặc bi kịch hoặc có lẽ cả hai” [78, tr.55]. Trong xã hội hiện đại, truyền thông đại chúng có vai trò rất quan trọng đối với đời sông xã hội. Quá trình truyền thông đại chúng không chỉ đơn giản là quá trình truyền tin mà thông qua các hoạt động của nó, hệ thống chân lý, giá trị, chuẩn mực xã hội được xây dựng và duy trì. Hơn nữa, truyền thông đại chúng là một biện pháp để công khai, minh bạch hoạt động quyền lực nhà nước trước nhân dân. Truyền thông đại chúng có ưu thế rõ rệt, ngoài các chức năng phổ biến khác thì truyền thông đại chúng: “thực hiện hai chức năng chính: Thứ nhất, thông báo cho công chúng biết các nhà lãnh đạo của mình đang làm gì. Thứ hai, giám sát các hành động của Chính phủ” [27, tr. 227]. Cung cấp thông tin nhanh, rộng, toàn diện và công khai chính là truyền thông đã thể hiện một khía cạnh của mình đó là hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Phương tiện truyền thông đại chúng là diễn đàn để người dân bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình. Thông tin là yếu tố quan trọng trong quan hệ đại diện giữa nhà nước và nhân dân, là chìa khóa của minh bạch và trách nhiệm. Thiếu thông tin, công chúng không thể biết các đại diện đã hoạt động nhân danh mình như thế nào, không hiểu là thế nào và tại sao các quyết định lại được đưa ra nhân danh họ. Quyền được tiếp cận thông tin cho phép các cử tri chất vấn, chỉ trích và ngăn cản các hành động của Quốc hội và các đại biểu mà họ không đồng tình. Các phương tiện truyền thông đại chúng luôn gắn liền với tự do ngôn luận, tự do báo chí, mà tự do ngôn luận và tự do báo chí luôn gắn liền với thể chế chính trị, pháp lý của mỗi quốc gia. Vì vậy, thể chế đó sẽ chi phối và quyết định mặt tích cực hay tiêu cực của truyền thông đại chúng. Nếu cơ chế tự do, dân chủ thì truyền thông có tác dụng rất mạnh mẽ đến công luận, đến chính phủ, các nhà chính trị, các đảng phái … và đó là một hình thức đồng thời là một phương tiện hữu hiệu để nhân dân giám sát hoạt động của nhà nước.
- Hạn chế bằng các đảng phái chính trị đối lập
Ở các nước dân chủ tư sản trên thế giới, các đảng phái chính trị đối lập là công cụ để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước của đảng cầm quyền. Trong các cuộc bầu cử, đảng nào nhận được đa số sự ủng hộ của quần chúng nhân dân thì đảng đó lên nắm chính quyền, vì vậy, đảng chính trị luôn đại diện cho giai cấp, tầng lớp, nhóm lợi ích trong xã hội và việc thu hút sự ủng hộ của cử tri thì luôn là mục tiêu càng nhiều càng tốt, thậm chí việc tranh giành sự ủng hộ của cử tri đảng đối lập cũng là ưu tiên của bất kỳ đảng phái nào. Sự ra đời và phát triển của các đảng phái chính trị có liên quan chặt chẽ tới sự tồn tại của các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội, các nhóm lợi ích này hoặc hậu thuẫn hoặc kiểm soát, chi phối, lãnh đạo và hạn chế quyền lực của đảng cầm quyền tùy theo tương quan lực lượng giữa các đảng phái. Các đảng phái chính là các lực lượng chính trị đại diện cho các bộ phận nhân dân đấu tranh, tranh giành quyền lực nhà nước với nhau và với đảng cầm quyền. Hoạt động đảng phái chính trị rộng rãi, cạnh tranh theo luật cùng với cơ chế bầu cử dân chủ người đứng đầu nhà nước, đứng đầu Nghị viện (Quốc hội)… là những nội dung có ý nghĩa quan trọng để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước có hiệu quả. Do vậy, cơ chế phải có đảng đối lập là một phương thức để nhân dân hạn chế quyền lực nhà nước ở các nhà nước dân chủ pháp quyền tư sản..
- Hạn chế bằng cách thông qua hoạt động của các tổ chức trong xã hội Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Đầu tiên phải kể đến vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong việc giới hạn quyền lực từ bên ngoài nhà nước: các tổ chức này đóng vai trò đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân trong xã hội; tham gia giám sát, phản biện quyền lực nhà nước trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách, quyết định quan trọng về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, bày tỏ chính kiến của mình làm cho quyết định của nhà nước hợp với lòng dân, góp phần tạo ra và đảm bảo sự đồng thuận của xã hội, đoàn kết toàn dân, từ đó nhân dân và nhà nước ngày càng thống nhất, gắn bó với nhau. Như vậy, ngoài chức năng là đại diện lợi ích cho các tầng lớp, các nhóm xã hội khác nhau trong việc thảo luận và phản biện các chính sách công, các tổ chức này còn tạo nên một hệ thống giám sát quyền lực khá hữu hiệu và không tốn kém cho ngân sách nhà nước. Ngoài ra, bản thân các tổ chức này cũng làm nhiều các công tác cộng đồng, giảm nhẹ gánh nặng cho nhà nước.
Tiếp đến là các tổ chức xã hội dân sự,được hiểu là những tổ chức hoạt động phi nhà nước, phi lợi nhuận, không vì mục đích tranh giành quyền lực nhà nước. Các tổ chức xã hội dân sự bao gồm: các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội nghề nghiệp, các quỹ, các viện nghiên cứu độc lập, các tổ chức cộng đồng, các tổ chức tín ngưỡng, các tổ chức nhân dân, các phong trào xã hội và công đoàn. Các tổ chức này tập hợp, đoàn kết mọi người nhằm thúc đẩy các mục tiêu chung và lợi ích chung. Các tổ chức này hiện diện trong đời sống công cộng, đại diện thể hiện lợi ích, giá trị của mình, được thành lập theo pháp luật và dựa trên cơ sở đạo đức, văn hoá, tôn giáo hoặc từ thiện… Trên thế giới hiện nay, các tổ chức xã hội dân sự được coi là một bộ phận cấu thành xã hội, không hoàn toàn tách biệt với nhà nước, không hẳn đối lập với nhà nước. Các nhà nước dân chủ tư sản luôn đề cao, nhấn mạnh vai trò của xã hội dân sự trong bảo vệ tự do cá nhân, dân chủ trước sự can thiệp của quyền lực nhà nước. Tổ chức xã hội dân sự có vai trò thúc đẩy các công dân tham gia vào các vấn đề công cộng, tham gia vào quá trình hình thành và thực thi chính sách của nhà nước. Khi tham gia vào các tổ chức xã hội dân sự là cách để người dân chủ động tham gia vào công việc của nhà nước nhằm kiểm soát và làm cân bằng mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội.
- Hạn chế bằng bầu cử
Bầu cử tự do là yếu tố để công khai, minh bạch hoạt động quyền lực nhà nước được các nước dân chủ tư sản hết sức coi trọng. Bầu cử, thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhân dân sang nhà nước. Bằng bầu cử, nhân dân lựa chọn thành lập ra cơ quan đại diện và ủy thác quyền lực cho họ. Tuy nhiên, cũng chính trong quá trình chuyển giao quyền lực ấy mà phát sinh một hệ lụy ngoài mong muốn của nhân dân: mặc dù được nhân dân ủy thác trao cho quyền lực, song không phải ở đâu, bao giờ, nhà nước cũng phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân và không phải bao giờ quyền lực nhà nước cũng được thực hiện trong phạm vi, mức độ mà nhân dân trao cho. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được giới hạn, nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng lại đe dọa chính nhân dân. Vì thế, bầu cử không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện, mà còn là phương thức quan trọng để nhân dân giám sát, thậm chí chế ngự quyền lực nhà nước. Bầu cử là phương thức giám sát trực tiếp của nhân dân đối với cơ quan dân cử.Nó là yếu tố cơ bản để thực hiện việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. Bầu cử là hình thức uỷ quyền từ nhân dân tới những người đại diện. Chính vì vậy mà nó được xem là một phương thức để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước. Một chính quyền do người dân thành lập thông qua bầu cử theo những nguyên tắc tiến bộ: tự do, công bằng và trung thực, thì về nguyên tắc, chính quyền đó được coi là hợp pháp và được đón nhận một cách tự nhiên trong hoạt động chính trị và trong cộng đồng quốc tế. Còn chính quyền hình thành không thông qua bầu cử thì không thể mang tính dân chủ do đó không thể hiện được ý chí của nhân dân, sẽ rất khó được cộng đồng quốc tế chấp nhận hoặc chấp nhận rất dè dặt. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Việc bầu cử các chức danh nguyên thủ quốc gia, nghị sĩ quốc hội ở các nước dân chủ tư sản luôn là cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các ứng cử viên trong các đảng phái với nhau, giữa ứng cử viên của các đảng phái chính trị với nhau và giữa đảng cầm quyền với đảng đối lập. Nhân dân trên cơ sở pháp luật, qua phương tiện thông tin đại chúng, qua tiếp xúc với ứng cử viên…có thể tự do biểu đạt ý chí của mình bằng quyết định lựa chọn bầu hay không bầu cho ứng cử viên nào. Một chế độ bầu cử dân chủ cần bảo đảm tính cân đối, hợp lý, đại diện rộng rãi cho các bộ phận trong cơ cấu xã hội. Chế độ bầu cử dân chủ là chìa khóa cho đồng thuận xã hội, là phương thức quan trọng để hòa hợp dân tộc.
Thiết chế Hội đồng bầu cử quốc gia là thiết chế hoàn toàn mới trong Hiến pháp năm 2013, do Quốc hội thành lập. Khoản 1 Điều 117 Hiến pháp 2013 quy định: “Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp” [23]. Việc hiến định thiết chế Hội đồng bầu cử quốc gia trong Hiến pháp sửa đổi đã thể hiện đầy đủ, sâu sắc hơn chủ quyền nhân dân, tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình. Đồng thời, nó cho thấy các nhà lập hiến mong muốn sẽ khắc phục những hạn chế của công tác bầu cử trong thời gian qua, chuyên nghiệp hóa hoạt động tổ chức bầu cử trong thời gian tới. Với việc quy định Hội đồng bầu cử quốc gia, quyền bầu cử sẽ được một cơ quan độc lập, chuyên nghiệp do Quốc hội thành lập thực hiện; bảo đảm được tính khách quan trong chỉ đạo, điều hành, tính chuyên nghiệp trong việc tổ chức công tác bầu cử; bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng thông qua cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội, khắc phục được một số hạn chế trong công tác bầu cử ở nước ta hiện nay.
Bầu cử là yếu tố quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ và là biểu hiện, thước đo của dân chủ. Chính vì thế, dân chủ hóa hoạt động bầu cử là hoàn toàn cần thiết trong bối cảnh hoàn thiện hệ thống chính trị, xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước của dân, do dân và vì dân ở nước ta. Tuy nhiên, mọi thay đổi về bầu cử trong Hiến pháp chỉ có ý nghĩa tích cực nếu như nó phục vụ cho việc bảo đảm ý chí nhân dân, bởi lẽ ý chí nhân dân là bản chất dân chủ của bầu cử, là nguyên tắc của mọi nguyên tắc bầu cử.
2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Từ sự phân tích những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, cùng với việc so sánh, đối chiếu với thực trạng của nhà nước ta ở nội dung trên, tác giả luận văn rút ra bài học kinh nghiệm đối với tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước Việt Nam trong vấn đề giới hạn quyền lực nhà nước:
Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự lạm dụng quyền lực nhà nước là do thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hợp lý của người trao quyền đối với người nắm quyền và hậu quả của nó là sự thiệt hại cho lợi ích xã hội và tự do của con người. Hiểu được điều này, Hiến pháp 2013 đã có rất nhiều điểm mới trong quy định về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước như: Hiến pháp sửa đổi đã hình thành một cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía nhân dân bằng các hình thức dân chủ trực tiếp; hay bằng việc quy định Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, quy định này là cơ sở để xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 vẫn chưa quy định rõ ràng cơ chế bảo hiến, cũng như những thiết chế để đảm bảo cơ chế giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước… Đây là điểm hạn chế trong vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, hay hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước của Hiến pháp 2013. Để khắc phục những hạn chế này, Nhà nước ta cần ban hành sớm Luật Trưng cầu ý dân, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin… cũng như quy định để nâng cao sự giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Để đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc cho hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, đầu tiên cần nhấn mạnh đến vai trò của Hiến pháp – đạo luật gốc của mọi nhà nước, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các nhánh quyền lực, trong đó luôn thể hiện sự hạn chế lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực cũng như quá trình tự hạn chế chính mình. Trong xã hội, công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm còn cán bộ công chức, cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Hiến pháp, pháp luật càng giới hạn quyền lực của các cơ quan nhà nước chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì hiệu quả hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước càng cao bấy nhiêu. Sự phân công quyền lực nhà nước càng rõ thì ý thức trách nhiệm của cá nhân càng cao, giúp cho sự điều hành của bộ máy nhà nước càng hiệu quả; ngược lại nếu sự phân công quyền lực nhà nước không rõ ràng thì trách nhiệm cá nhân và tập thể không được xác định, đi ngược với xu thế xây dựng nhà nước pháp quyền hiện tại, nhà nước trở nên trì trệ, kém hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Điều kiện đảm bảo vững chắc cho Hiến pháp thực hiện vai trò hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là thi hành cơ chế bảo hiến. Việc hình thành một cơ quan bảo hiến và ngăn chặn sự vi phạm Hiến pháp cũng là một phương thức để hạn chế sự lạm quyền. Bất cứ một thể chế chính trị dân chủ nào cũng cần có giới hạn quyền lực nhà nước thông qua bảo hiến, điều này xuất phát từ nguyên lý toàn bộ hoạt động của xã hội nằm trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, để phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế và xu thế của thời đại, đồng thời để khắc phục những nhược điểm của cơ chế bảo hiến hiện nay ở Việt Nam, cần phải thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách là tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng Hiến pháp (việc lựa chọn mô hình nào là phụ thuộc vào đặc điểm đất nước ở từng thời kỳ), tồn tại độc lập, có quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể do luật định, thực hiện quyền bảo hiến các hoạt động của tất cả các nhánh quyền lực nhà nước. Điều này sẽ bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Qua đó đảm bảo hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước – một nhu cầu tất yếu khách quan, trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Qua phân tích hai nội dung 2.1.2 và 2.1.3 ở phần 2.1. Những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, đã cho thấy chủ nghĩa hợp hiến và lý thuyết về nhà nước pháp quyền có rất nhiều điểm giống về tiêu chí nhận diện. Dù rằng, chủ nghĩa hợp hiến gắn với việc giới hạn quyền lực chính quyền, còn nhà nước pháp quyền gắn với việc xây dựng một xã hội dân sự, nhưng cả hai chủ thuyết này đều đặt ra những yêu cầu về tính tối cao của Hiến pháp, về nguyên tắc phân chia quyền lực, về các quyền cơ bản của con người… Như vậy, khi chúng ta nhận thức rõ hơn bản chất của nhà nước pháp quyền phù hợp với quan điểm trên thế giới, thì cũng sẽ nhận thức được chủ nghĩa hợp hiến. Yêu cầu đặt ra ở đây cho vấn đề nhận thức được chính xác bản chất nhà nước pháp quyền đó là, giải quyết những nội dung mới, lần đầu quy định trong Hiến pháp mà chưa được bao giờ được thực hiện trên thực tế. Những nội dung quan trọng bao gồm: làm cách nào để ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp kiểm soát được nhau trong quá trình tổ chức và hoạt động theo chế độ tập quyền; cơ chế nào để nhân dân giám sát hoạt động của Đảng và làm sao để việc thực hiện quy định “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết…”[23] không bị lợi dụng để xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Giải pháp chung cho các vấn đề là phải xây dựng cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người. Nếu không thực hiện được những giải pháp này thì việc ngăn chặn những hành động lạm dụng, vi phạm các quyền hiến định kể trên là không thể tránh khỏi. Từ đó, mục đích hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước sẽ không đạt được.
Trong thể chế nhà nước cộng hòa trên thế giới, một phương thức góp phần giới hạn quyền lực nhà nước là việc các đảng phái đối lập cạnh tranh trong bầu cử giành vị thế cầm quyền, làm cho lực lượng cầm quyền khó có thể lạm quyền, chuyên quyền và phải cân nhắc, sửa đổi, bổ sung chính sách của mình cho phù hợp với hoàn cảnh đương thời của xã hội. Tuy nhiên, việc áp dụng kinh nghiệm này cho Việt Nam là rất khó, vì nhà nước ta thực hiện nhất nguyên chính trị, chấp nhận sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản, nhưng chúng ta vẫn có thể tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm về chủ động thiết lập cơ chế phản biện, cân bằng và kiểm soát quyền lực ngay trong nội bộ Đảng, trong bộ máy nhà nước, giữa các bộ phận của hệ thống chính trị, kiểm soát, phản biện nhân dân… Khi đó sẽ khắc phục được lạm quyền, chuyên quyền, đẩy lùi được quan liêu tham nhũng. Dù thực hiện nhất nguyên chính trị nhưng chúng ta vẫn có thể áp dụng cạnh tranh chính trị trong những điều kiện giới hạn nhất định như lựa chọn một số đảng viên có năng lực, phẩm chất lãnh đạo tốt tiến hành tranh cử vị trí người đứng đầu (Chủ tịch nước) thông qua hình thức bầu cử tự do, dân chủ, phổ thông đầu phiếu.
Các quốc gia trên thế giới khi nhắc tới vấn đề tự hạn chế quyền lực từ bên trong nhà nước, thường nghĩ ngay đến cơ chế kiểm soát, kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp như thế nào và quá trình tự kiểm soát trong mỗi nhánh quyền lực ra sao. Để thực hiện được nội dung này ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự hạn chế ở cả ba cơ quan: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Thứ nhất, đối với Quốc hội. Hiến pháp năm 2013 kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, vẫn quy định Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với mọi hoạt động của Nhà nước. Thông qua quy định này, có thể nói cơ chế giới hạn quyền lực nhà nước ở nước ta trước hết và chủ yếu được giao cho Quốc hội bằng phương thức giám sát tối cao. Tất cả các cơ quan nhà nước được Quốc hội lập ra đều phải có trách nhiệm báo cáo công việc trước Quốc hội cũng như Quốc hội sẽ giám sát các hoạt động của các cơ quan đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Đây là đặc trưng riêng có của nhánh quyền lực lập pháp ở Việt Nam, nhưng không có nghĩa là Quốc hội nắm toàn bộ quyền lực nhà nước, mà Quốc hội chỉ thực hiện đúng phạm vi, thẩm quyền, giới hạn quyền lực, chủ yếu là lập pháp: giám sát tối cao quyền lực toàn bộ hoạt động của nhà nước và chịu sự giám sát của nhân dân. Tuy nhiên, hiện tại các văn bản pháp luật chưa quy định cơ chế nào để giám sát hoạt động của Quốc hội và giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành: quyền hành pháp phải có trách nhiệm thi hành các đạo luật do Quốc hội biểu quyết mà không có quyền phủ quyết; quyền tư pháp không được phán xét về tính chất hợp hiến đối với các đạo luật đã được Quốc hội thông qua [ Luận văn kiểm soát quyền lực 22, tr.280]. Chính vì thực tế này nếu Hiến pháp không quy định cụ thể, giới hạn quyền Quốc hội sẽ dễ dẫn đến nguy cơ tiếm quyền, quyền lực của nhân dân không được phát huy dân chủ. Vì vậy, cần phải quy định cơ chế giám sát của Chính phủ đối với Quốc hội và trao cho quyền tư pháp xét xử tính hợp hiến của các đạo luật mà Quốc hội ban hành. Bên cạnh đó, cũng cần loại bỏ quy định Quốc hội có quyền giám sát cả Tòa án nhân dân tối cao, vì nguyên tắc độc lập tư pháp đòi hỏi cơ quan này xét xử độc lập và chỉ tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật. Ngoài ra, giới hạn nhiệm kỳ Quốc hội là điều kiện cần thiết trong hạn chế quyền lập pháp nhưng cần phải tính toán hợp lý về mặt thời gian, không trùng hoặc gần với nhiệm kỳ Đại hội Đảng nhằm phát huy hiệu quả giám sát của Quốc hội. Nâng cao tính chuyên nghiệp của đại biểu Quốc hội, tiếp tục tăng số lượng đại biểu chuyên trách, khắc phục tình trạng các cấp ủy viên của Đảng, cán bộ đầu ngành của các cơ quan hành chính, Mặt trận và các đoàn thể thực hiện kiêm nhiệm công tác của người đại biểu Quốc hội, khi ấy dễ dẫn đến tình trạng việc đầu tư chuyên môn không sâu và có xu hướng quyền lực bị thiêng lệch theo chiều hướng không thống nhất. Giảm việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch; xóa bỏ các loại hình văn bản do cơ quan tư pháp ban hành để cơ quan này tập trung vào việc xét xử chuyên môn.
Một nội dung quan trọng không thể không nhắc đến đó là cơ chế bầu cử, ứng cử. Một quốc gia muốn chứng minh được sự thành lập nhà nước là hợp pháp, có sự ủng hộ của nhân dân thì không có con đường nào khác ngoài con đường bầu cử tự do, dân chủ. Cho đến nay, thế giới vẫn chưa tìm kiếm được một định chế nào hay hơn, tốt hơn, dân chủ hơn định chế bầu cử, người ta vẫn phải dùng định chế này để thành lập bộ máy nhà nước, một bộ máy bao gồm những người được dân tín nhiệm, trao quyền lực để họ nắm giữ bộ máy, phục vụ lại cho mình và quan trọng hơn nữa, bằng phương thức này có thể hạn chế được quyền lực nhà nước mà vốn dĩ là có nguồn gốc từ nhân dân. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Việt Nam đã thực hiện định chế bầu cử tự do, dân chủ tại các cuộc bầu cử Quốc hội từ những ngày đầu thành lập nước, đến bây giờ chúng ta vẫn nên tiếp tục vận dụng, đồng thời đẩy mạnh đổi mới nhận thức về vấn đề bầu cử, dân chủ hóa quá trình đề cử ứng cử viên trong Đảng, tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng cử viên, đổi mới phương thức vận động bầu cử, tiếp xúc cử tri, chống bệnh hình thức trong bầu cử, đa dạng hóa các hình thức bỏ phiếu với mục đích tạo không khí chính trị tốt, có một Quốc hội thực sự của dân, do dân, vì dân.
Thứ hai, đối với Chính phủ. Hạn chế quyền lực hành pháp luôn được xem là tâm điểm của quá trình hạn chế quyền lực nhà nước, là mắt khâu được nhiều giới chuyên gia, các nhà khoa học cũng như hầu hết các nhà nước đều chú ý vì nó có tính chất quyết định trong toàn bộ quá trình tác động của pháp luật vào đời sống xã hội, có hệ thống cơ cấu chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, có hệ thống thẩm quyền rộng lớn, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân (quyền lập quy; bảo đảm và bảo vệ tự do; quyền kiểm tra, thanh tra và quyền quản lí nội vụ nhà nước…); thẩm quyền quyết định của người đứng đầu được tăng cường cao, mọi biểu quyết theo kết luận của người đứng đầu. Chính thẩm quyền vượt trội như vậy của cơ quan hành pháp sẽ dễ dẫn đến khả năng lạm dụng quyền lực của những cơ quan này. Thực tế này đòi hỏi cần phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ đối với nhánh quyền hành pháp và việc thực hiện kiềm chế, đối trọng giữa nhánh hành pháp đối với các nhánh quyền lực còn lại. Học tập điểm tiến bộ từ mô hình phân quyền của các nước trên thế giới về cơ chế giới hạn quyền lực nhà nước, chúng ta cần thực hiện những nội dung sau để hạn chế sự lạm dụng quyền lực của cơ quan hành pháp: Trong nhà nước pháp quyền, nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ rất rộng lớn, vì vậy chỉ nên quy định dưới dạng chung nhất vì quy định dưới dạng liệt kê như hiện tại không thể “khoanh vùng” chức năng Chính phủ. Thực tế cuộc sống luôn thay đổi, dẫn đến chức năng quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của Chính phủ cũng thay đổi theo, nên việc liệt kê các chức năng đôi khi không bao quát hết được mọi thay đổi. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc quyền hạn của Chính phủ là không giới hạn mà vẫn bị giới hạn nhất định theo cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực. Chính phủ có quyền đưa ra sáng kiến, dự thảo luật cho các vấn đề thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tiếp đó sẽ đưa dự thảo này vào chương trình nghị sự của Quốc hội để bàn bạc, thảo luận đi đến thống nhất chung. Hiến pháp quy định rõ quyền và trách nhiệm cá nhân và tập thể của Thủ tướng và Chính phủ. Thủ tướng thực quyền trong bổ nhiệm, cách chức nhân sự bộ máy Chính phủ. Thực hiện phân công, phân cấp thẩm quyền một cách hợp lý, rõ ràng nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa Chính phủ với các bộ, ngành, giữa các bộ, ngành với nhau, giữa Chính phủ với các địa phương trên cơ sở xác lập một cách ổn định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan. Ngoài ra, thực hiện hạn chế quyền lực cơ quan hành pháp còn thông qua cơ chế tự hạn chế. Đó chính là quá trình thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật. Chính phủ là nơi khởi thảo các dự luật và cũng là nơi mang luật đi vào cuộc sống, cho nên trong điều hành, quản lý xã hội nếu phát hiện trường hợp vi phạm pháp luật thì Chính phủ có quyền xử lý hoặc đề nghị tòa án xét xử. Để đảm bảo quá trình hạn chế sự lạm dụng quyền lực hành pháp diễn ra đạt kết quả thì đòi hỏi phải công khai, minh bạch hoạt động và trách nhiệm của cơ quan hành pháp để không chỉ các nhánh quyền lực còn lại tham gia hạn chế quyền hành pháp mà các phương tiện truyền thông đại chúng, nhân dân, các lực lượng Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội cũng có thể tham gia phản biện đối với quá trình điều hành và quản lý của Chính phủ.
Thứ ba, đối với Tòa án. Cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp hiện nay phải tập trung vào việc nâng cao năng lực cho tổ chức hoạt động của tòa án trên những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp, trong đó nguyên tắc tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân thủ theo pháp luật là một nguyên tắc Hiến định.Để đảm bảo nguyên tắc độc lập tư pháp ở nước ta trước hết phải đảm bảo quyền tư pháp được phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao chỉ nên quản lý về hành chính đối với hệ thống tòa án, không nên can thiệp và quá trình xét xử của tòa án cấp dưới để đảm bảo sự độc lập khi xét xử. Tiếp đến, cần trao cho cơ quan tư pháp, cụ thể là Tòa án quyền xét xử những hành vi vi phạm Hiến pháp của hai nhánh cơ quan lập pháp và hành pháp. Phải thay đổi phương thức xét xử tố tụng buộc tội sang tố tụng tranh tụng, để làm được điều này cần mở rộng vai trò của luật sư trong quá trình tố tụng. Điều quan trọng nữa để đảm bảo sự độc lập đó là ngân sách đảm bảo hoạt động của Tòa án phải được phân bổ riêng cho hệ thống Tòa án, Tòa án không phải phụ thuộc vào cơ quan khác khi xin kinh phí hoạt động. Cuối cùng, để đảm bảo độc lập tư pháp phải đảm bảo sự độc lập của thẩm phán. Muốn vậy phải đảm bảo cho thẩm phán có nhiệm kỳ lâu dài, chế độ lương bổng phù hợp và bảo đảm bí mật nghề nghiệp, quyền miễn trừ cũng như những điều kiện làm việc cho thẩm phán. Thực hiện nguyên tắc độc lập tư pháp là một bảo đảm để quyền tư pháp hạn chế sự lạm quyền của quyền lập pháp và quyền tư pháp, nhưng để hạn chế sự lạm quyền của quyền tư pháp thì các cơ quan tư pháp phải chịu sự giám sát của nhân dân và các tổ chức xã hội dân sự bên cạnh sự hạn chế của quyền lập pháp và quyền hành pháp đối với quyền tư pháp. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Để thực hiện sự giới hạn quyền lực nhà nước có hiệu quả ở Việt nam, thì không thể chỉ áp dụng đơn lẻ một phương thức nào đó, mà cần phải biết phối hợp nhiều phương thức khác nhau. Quan trọng là cần lựa chọn phương thức phù hợp với chế độ Nhà nước ta, để từ đó Nhà nước ta thực sự do nhân dân làm chủ.
Kết luận chương 2:Quyền lực nhà nước chỉ có thể hạn chế được khi có cơ chế xác định và các điều kiện cần thiết cho sự vận hành của nó trên thực tế. Cơ chế đó bao gồm kiểm soát bên ngoài lẫn kiểm soát bên trong quyền lực nhà nước. Ngày nay, các nước phát triển càng tiến tới gần nhau trong quan niệm về cách thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, trong đó nhấn mạnh vào sự tự hạn chế – quan trọng hơn hết là tự mình phải hạn chế lấy chính mình. Nói như vậy không có nghĩa là các cách thức hạn chế từ bên ngoài nhà nước (những phương thức mang tính nhân dân) không quan trọng. Sự hạn chế mang tính nhân dân giống như một thước đo của sự phù hợp giữa ý chí nhà nước và ý chí nhân dân, vì vậy không thể thiếu những phương thức hạn chế này nếu muốn đánh giá nhu cầu và ước muốn của nhân dân đối với nhà nước. Như vậy, trên thực tế các cơ chế kiểm soát này có tác dụng bổ sung, hỗ trợ nhau. Do đó, cần áp dụng phối hợp những phương thức khác nhau để đảm bảo hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng cần coi trọng hiệu quả của hai hệ thống hạn chế quyền lực nhà nước: từ bên trong bộ máy nhà nước và từ xã hội công dân; đồng thời phải thực hiện hạn chế hai chiều từ dưới lên và từ trên xuống.Chỉ có như vậy hệ thống hạn chế quyền lực nhà nước ở nước ta mới thực sự khách quan, toàn diện và hiệu quả.
KẾT LUẬN Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Ngay từ khi xuất hiện nhà nước, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định, mỗi quốc gia dân tộc luôn chú trọng xây dựng quyền lực nhà nước, đây là vấn đề trọng tâm của mọi cuộc cách mạng. Quyền lực nhà nước chính là quyền lực công do nhân dân tự nguyện chuyển gia cho giai cấp thống trị; nhưng giai cấp thống trị, lực lượng thống trị lại có xu hướng dùng quyền lực ấy mưu lợi cho mình, vi phạm thậm chí chà đạp lên lợi ích của xã hội. Khi đó nhân dân, các thành viên xã hội trở thành vô quyền trước những kẻ tiếm quyền, lạm quyền, chuyên quyền. Đó là sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Nguyên nhân trực tiếp của sự tha hóa ấy chính là do quyền lực nhà nước chưa thực sự bị hạn chế. Chính vì thế, yêu cầu bức thiết đặt ra cần phải có cơ chế giới hạn quyền lực, để ngăn chặn việc tiếm quyền và sự dụng quyền lực trái với lợi ích của nhân dân. Lịch sử đã chứng minh, hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước chính là nguyên nhân ra đời của Hiến pháp, đến lượt mình, Hiến pháp tác động trở lại, nó trở thành công cụ hữu hiệu để hạn chế quyền lực và ngăn ngừa những vi phạm quyền con người có thể xảy ra.
Để đảm bảo cho nhà nước hoạt động có hiệu quả, ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng công quyền, hạn chế tha hóa, cần phải xác lập và hoàn thiện những phương thức hạn chế quyền lực nhà nước ngay từ bên trong nhà nước và cả bên ngoài nhà nước.
Việc nghiên cứu, phân tích những phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực đang được các nước phát triển trên thế giới áp dụng, sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần xác định rõ mục tiêu phát triển tư bản chủ nghĩa không đồng nhất với mục tiêu phát triển xã hội chủ nghĩa, nhưng sự phát triển của xã hội là một tiến trình lịch sử, là sự kế thừa thành quả của các xã hội. Sự phát triển của Việt Nam không thể nằm ngoài con đường phát triển chung của nhân loại, nếu muốn xã hội phát triển thì chúng ta cần phải biết kế thừa những giá trị tiến bộ mà lý thuyết hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước trên thế giới đem lại. Đó chính là việc triển khai, ứng dụng phương thức quyền lực nhà nước bên trong nhà nước, kết hợp với những phương thức hạn chế từ bên ngoài, thông qua vai trò của nhân dân.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng cũng như các nước tiến hành xây dựng đất nước theo mô hình nhà nước pháp quyền nói chung phải chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý vững chắc, tạo nền tảng quá trình giới hạn quyền lực nhà nước; phân công, giới hạn rành mạch, rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm của cá nhân, tập thể cơ quan tổ chức thuộc các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp; có sự phân cấp quản lý hợp lý giữa Trung ương và địa phương, sao cho trên không can thiệp sai trái xuống dưới, dưới không vượt quyền, phải thực hiện đúng thẩm quyền của mình trong sự chủ động tối đa; tạo thế kiềm chế và đối trọng, kiểm soát lẫn nhau mang lại hiệu lực, hiệu quả cho quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Đồng thời, đi liền với quá trình này là sự tác động, hạn chế quyền lực từ bên ngoài nhà nước như: từ phía Đảng, nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội, truyền thông đại chúng… đây là những kênh kiểm soát quan trọng đối với quyền lực nhà nước. Luận văn: Phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Hiện nay, hiệu quả của việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhất là sự hoàn thiện của thể chế nhà nước, cơ chế vận hành của cả hệ thống chính trị. Việt Nam đang trên đà đổi mới, mở cửa hội nhập sâu rộng quốc tế nếu biết ứng dụng một cách hợp lý, hiệu quả kinh nghiệm hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước của các nước trên thế giới sẽ góp phần đẩy mạnh mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
