Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo quy định của bộ luật hình sự 2015 và thực tiễn xét xử trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý hình sự

  • Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Khách thể của tội phạm là yếu tố bắt buộc của tội phạm.

Vậy khách thể trực tiếp của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người, là tình trạng sức khỏe của con người đang sống trong điều kiện bình thường. Sức khoẻ là trạng thái tâm, sinh lý, sự hoạt động hài hòa bình thường trong cơ thể con người tạo nên khả năng chống lại bệnh tật.

Đương nhiên, thương tích hoặc tổn hại về sức khoẻ ở đây phải là của người sống. Người sống được hiểu là con người, từ lúc đã ra khỏi bụng mẹ cho đến khi ngừng hơi thở cuối cùng. Vì vậy, việc gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của bào thai không được coi là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác và hành vi xâm phạm sức khoẻ người mẹ mang thai không thể coi là hành vi phạm tội đối với nhiều người.

Một vấn đề đặt ra là nếu một phần cơ thể của thai nhi đã ra khỏi cơ thể mẹ và thai nhi bị xâm phạm đến thân thể, sức khoẻ thì hành vi của kẻ xâm hại trên có được coi là phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác không.

Nếu theo tinh thần của Nghị quyết 04/HĐTP, ngày 29/11/1986 thì thai nhi chưa được coi là một con người. Bởi vậy, hành vi gây thương tích cho một phần cơ thể thai nhi khi một phần cơ thể ấy ra khỏi cơ thể người mẹ không bị coi là phạm tội. Điều này, có quan điểm cho rằng chưa đúng với đạo lý truyền thống của dân tộc, mặt khác liên hệ pháp luật dân sự tại Điều 613 BLDS 2015 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.

Như vậy, mặc dù là thai nhi nhưng BLDS 2015 vẫn thừa nhận được hưởng các quyền dân sự trong đó có quyền hưởng di sản với điều kiện khi sinh ra phải còn sống. Thiết nghĩ cần phải xem xét, nghiên cứu và có quy định cụ thể hơn về vấn đề này, tránh những thiếu sót, sơ hở về mặt pháp luật, bảo đảm công tác phòng và chống tội phạm một cách triệt để. Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng khách thể trực tiếp của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác không đơn thuần chỉ là quyền được bảo hộ sức khoẻ, mà còn là danh dự, nhân phẩm của người khác.

Theo học viên, quan điểm này rất cần được bàn thêm, bởi lẽ sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của con người thường gắn kết chặt chẽ với nhau khi họ là một nhân cách hoàn chỉnh. Trong nhiều trường hợp, hậu quả do hành vi gây thương tích cho người khác thì có thể chữa lành vết thương về thể xác, nhưng vết thương về danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm thì rất khó lành, đôi khi nó mang dấu ấn suốt đời của người bị hại. Ví dụ, vì ghen tuông trong tình yêu mà kẻ phạm tội đã dùng dao cắt một bên tai của người tình địch, vết thương đó không những là thể xác mà là nỗi đau về tinh thần, danh dự và nhân phẩm bị xâm phạm thì ám ảnh người đó suốt cả cuộc đời. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

  • Mặt khách quan của tội phạm

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cũng như bất cứ tội phạm nào, khi xảy ra đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể nhận biết được. Đó là:

Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được thể hiện dưới dạng hành động; hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như một số dấu hiệu khác của hành vi như: phương tiện, công cụ, thời gian, địa điểm, phương pháp, thủ đoạn.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội cấu thành vật chất nên các dấu hiệu bắt buộc của nó là: Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được thể hiện dưới dạng hành động; hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Còn các dấu hiệu khác tuy chúng không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng có ý nghĩa để định tội danh và quyết định hình phạt. Cụ thể:

Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là dấu hiệu pháp lý đầu tiên, quan trọng nhất của mặt khách quan.

Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hành vi tác động vào cơ thể con người, gây tổn thương một bộ phận hay toàn bộ cơ thể, hoặc gây tổn hại hay làm mất chức năng của một cơ quan nào đó trong cơ thể con người như làm què tay, cụt chân, mù mắt, làm trụy thai, tuyệt đường sinh đẻ, dập gan, phổi…

Thương tích hoặc sự tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể do chính người phạm tội trực tiếp gây ra như đấm, đá bằng tay, chân; dùng vũ khí, dùng súng, dao hay dùng súc vật như suỵt chó cắn; hoặc do người phạm tội bắt buộc người bị hại phải tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình như bắt người bị hại phải tự chặt ngón tay, hoặc uống thuốc trụy thai…

Hậu quả của cấu thành cơ bản tội phạm này đòi hỏi là thương tích hoặc tổn thương khác cho sức khỏe ở mức độ có tỷ lệ thương tật là từ 11% trở lên hoặc thương tật từ 1% đến 11% nhưng phải có một trong 10 tình tiết định khung cơ bản.

Như vậy, ở trường hợp này, thương tích từ 1% đến dưới 11% là hậu quả bắt buộc và 10 tình tiết định khung cơ bản cũng là những tình tiết bắt buộc của cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích gây ra có thể là: thương tật, chết người, chết nhiều người hoặc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác được coi là tình tiết định khung tăng nặng có hình phạt như sau:

Tỷ lệ thương tật từ 31% đến 61% hoặc thương tật từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong 10 tình tiết đã nêu ở trên, thì có khung hình phạt tù từ hai năm đến sáu năm được qui định ở khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự;

Tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc thương tật từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong 10 tình tiết đã nêu ở trên hoặc dẫn đến chết người có khung hình phạt tù từ năm năm đến mười năm được qui định ở khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự;

Thương tật dẫn đến chết người hoặc Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc 10 tình tiết đã nêu trên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong 10 trường hợp đã nêu trên có khung hình phạt tù từ bảy năm đến mười bốn năm, được qui định ở khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Ngoài ra, hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cho người khác còn là dấu hiệu để xác định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định ở Điều 52 Bộ luật hình sự, như: hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Không những thế, hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cho người khác còn là dấu hiệu để xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định ở Điều 51 Bộ luật hình sự, như: người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn.

Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Khi đã xác định có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe và có hậu quả của nó, thì đòi hỏi phải xác định hậu quả này phải do chính hành vi đó gây ra. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Ngoài ba dấu hiệu bắt buộc nói trên còn có một số dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng rất có ý nghĩa để định tội danh (cấu thành cơ bản hay cấu thành tăng nặng), như: công cụ, phương tiện, thủ đoạn…

Về thủ đoạn, có các tình tiết sau: Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội; Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội; Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội; Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm, để phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định ở Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về công cụ, phương tiện có các tình tiết sau: Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định ở Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nói trên nếu đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ (Điều 52 và Điều 51 Bộ luật hình sự).

  • Mặt chủ quan của tội phạm

Cũng như các tội phạm khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội. Nội dung hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm: lỗi của người phạm tội, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội. Trong các dấu hiệu của mặt chủ quan thì lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này, còn động cơ và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Lỗi đó có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc là lỗi cố ý gián tiếp. Người phạm tội có thể mong muốn hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng cũng có thể không mong muốn mà thờ ơ bỏ mặc để cho hậu quả xảy ra.

Xét về mặt lý trí, người có hành vi phạm tội này dưới hình thức cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp đều nhận thức được hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là nguy hiểm cho xã hội đồng thời cũng nhận thức được rằng hậu quả nguy hại có thể xảy ra. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Xét về mặt ý chí, người có hành vi phạm tội này dưới hình thức cố ý trực tiếp mong muốn thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như hậu quả nói trên xảy ra. Còn đối vối người có hành vi phạm tội này dưới hình thức cố ý gián tiếp không mong muốn hậu quả nguy hại xảy ra nhưng thờ ơ bỏ mặc hậu quả xảy ra thế nào cũng được.

Trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến chết người hoặc chết nhiều người là những trường hợp hỗn hợp lỗi đuợc qui định ở khoản 4 và 5 Điều 134 Bộ luật hình sự. Đây là trường hợp, xét về mặt lý trí, người có hành vi phạm tội này dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp đều nhận thức được hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là nguy hiểm cho xã hội đồng thời cũng nhận thức được rằng hậu quả nguy hại có thể xảy ra. Xét về mặt ý chí, người có hành vi phạm tội này dưới hình thức hỗn hợp lỗi đã không muốn hậu quả chết người xảy ra (vô ý đối với hậu quả chết người).

Mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu thành tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Mặc dù, mục đích phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành nhưng nó có ý nghĩa định khung tăng nặng.

Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, động cơ có thể làm tăng lên tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, như: tính chất côn đồ là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được qui định ở Điều 134 Bộ luật hình sự hoặc phạm tội vì động cơ đê hèn; có tính chất côn đồ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định ở Điều 52 Bộ luật hình sự.

  • Chủ thể của tội phạm

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là người từ đủ 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 4, 5 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015

Nói chung, chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thể hiện tư tưởng, truyền thống Á Đông kính trọng đối với người đã sinh thành “… mồng một Tết mẹ, mồng hai Tết cha, mồng ba Tết thầy…” sẽ có chủ thể đặc biệt xuất hiện và là tình tiết tăng nặng định tội được qui định ở khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự: phạm tội đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình nếu tỷ lệ thương tật dưới 11%; và đây cũng là tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, còn có tình tiết nhân thân liên quan đến chủ thể mà có ý nghĩa tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định ở Điều 48 Bộ luật hình sự, như: phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội có tính chất chuyên nghiêp.

2.1.2. Hình phạt Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định 5 khung hình phạt, bao gồm khung cơ bản và khung tăng nặng. Hình phạt này được cụ thể như sau:

  • Khung cơ bản

Mức khung hình phạt được quy định là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người: So với Bộ luật hình sự 1999 thì Bộ luật hình sự 2015 bổ sung thêm 02 tình tiết dùng vũ khí, vật liệu nổ làm tình tiết định khung. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của học viên việc bổ sung này không thực sự cần thiết, bởi học viên đồng tình theo hướng tiếp cận của tác giả Đinh Văn Quế khi xác định Hung khí nguy hiểm chính là phương tiện mà người phạm tội thực hiện để gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, nhưng phương tiện đó mang tính chất nguy hiểm như dao, các loại lê, các loại súng, lựu đạn, thuốc nổ,… Hung khí nguy hiểm là bản thân nó chứa đựng khả năng gây ra nguy hiểm đến tính mạng sức khoẻ, nó hoàn toàn không phụ thuộc vào cách sử dụng của người phạm tội [11, 78]. Như vậy, nội hàm của vũ khí nguy hiểm đã bao gồm vật liệu nổ, vũ khí nên việc bổ sung này không thật sự cần thiết.

Ngoài điểm mới trên, tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 còn có sự sửa đổi khi quy định hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Việc bổ sung cụm từ có khả năng là hoàn toàn cần thiết bởi theo Bộ luật hình sự 1999 quy định thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người nhưng thực tế xác định thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người là rất khó bởi theo hướng tiếp cận trên thì chỉ khi hậu quả đã xảy ra và đã gây nguy hại cho nhiều người thì mới được coi và áp dụng tình tiết trên, nhưng không phải trường hợp nào hậu quả cũng xảy ra, nên mặc dù cách thức thực hiện là có khả năng gây nguy hại cho nhiều người, nhưng nếu thực tế chưa gây nguy hại cho nhiều người thì không thể áp dụng tình tiết trên. Đây là quy định rất bất cập trong thực tiễn áp dụng, để khắc phục bất cập trên Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung theo hướng chỉ cần thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người là đủ để áp dụng tình tiết này. Đây là sự bổ sung tiến bộ và phù hợp.

Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm: Thực tiễn trong thời gian qua, nhiều vụ việc người phạm tội gây thương tích cho nạn nhân bằng cách tạt Qua giám định thương tích, có thể tỷ lệ tổn thương cơ thể không lớn nhưng hậu quả để lại cho nạn nhân là vô cùng nghiêm trọng, hủy hoại cuộc sống, tương lai của nạn nhân, gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho họ và cho cả những người thân suốt cả cuộc đời, đặc biệt là những trường hợp tạt axit vào mặt, làm hủy hoại gương mặt của nạn nhân. Những hành vi này gây bức xúc, bất bình lớn trong dư luận. Nhưng khung hình phạt đối với hành vi này được căn cứ theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 khi dựa vào tỷ lệ tổn thương cơ thể để xác định khung hình phạt. Như vậy, mức hình phạt đối với hành vi này sẽ không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi căn cứ vào tỷ lệ thương tích của nạn nhân. Do vậy, điểm b khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung thêm tình tiết ” Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm” để xử lý hình sự hành vi này trong trường hợp thương tích của nạn nhân dưới 11%.

Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ: Đây là trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người không có khả năng tự vệ. Cần lưu ý trường hợp phạm tội với trường hợp phạm tội “mà biết” biết là có thai là điểm mới so với Bộ luật hình sự 1999 (trước đây chỉ cần chứng minh nạn nhân phụ nữ có thai mà không phụ thuộc vào người phạm tội có biết hay không). Do đó, cần xác định người bị hại là người dưới 16 tuổi, là phụ nữ mà biết là có thai, là người già yếu, là người không có khả năng tự vệ mà tỷ lệ thương tật của những người này dưới 11% là người phạm tội đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 rồi. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình: Đây là trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mang tính chất phản trắc, bội bạc; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà người bị gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe đáng lẽ người phạm tội phải có nghĩa vụ kính trọng. Việc nhà làm luật coi trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình là trường hợp được áp dụng ngay cả khi tỉ lệ thương tật là dưới 11% là xuất phát từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, truyền thống tôn sư trọng đạo.

Hoặc tuy không phải là người thân thích với người phạm tội, nhưng là người chăm sóc, nuôi dưỡng người phạm tội trong các Trại mồ côi, Trại điều dưỡng.

Có tổ chức: Là trường hợp nhiều người tham gia vào một vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện việc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác; có sự phân công; có kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Nếu nhiều người cùng tham gia vào một vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ, mà chỉ có sự đồng tình có tính chất hời hợt thì không phải là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác có tổ chức.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Xuất phát từ thực tiễn cho thấy, đây là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn dùng ảnh hưởng của mình vì một lý do nào đó cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Khoản 2 Điều 352 Bộ luật hình sự 2015 xác định: Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được coi là trường hợp phạm tội nghiêm trọng hơn, vì họ đang bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, hoặc đang bị quản lý chặt chẽ mà họ vẫn phạm tội, nên người phạm tội tuy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người bị hại với tỷ lệ thương tật chưa đến 11% vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đang chấp hành án phạt tù là người bị kết tội và phải chịu hình phạt tù theo bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Đang bị đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đang bị giáo dục trong các cơ sở giáo dục của Bộ công an như: Trường giáo dưỡng, các Trung tâm cải tạo do Bộ công an quản lý, Trại cai nghiện…

Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê: Là trường hợp người phạm tội lấy việc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác làm phương tiện để kiếm tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Vì muốn có tiền nên người phạm tội đã nhận lời với người thuê mình để giết một người khác. Việc trừng trị đối với kẻ giết thuê là nhằm ngăn chặn tình trạng “đâm thuê chém mướn”, nhất là trong nền kinh tế thị trường, ở nơi này hoặc nơi khác đã xuất hiện những tên, những nhóm người chuyên hoạt động đâm thuê chém mướn, thì việc trừng trị thật nghiêm đối với bọn người này là rất cần thiết.

Có tính chất côn đồ: Là trường hợp khi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, người phạm tội rõ ràng đã coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngang ngược, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác vô cớ (không có nguyên cớ) hoặc cố tình sử dụng những nguyên cớ nhỏ nhặt để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Ví dụ: Đặng Văn T ngồi xem phim trong rạp, mặc dù đã có thông báo: “không hút thuốc lá trong rạp”, nhưng T vẫn cứ hút thuốc, những người ngồi bên cạnh góp ý. T không những không nghe mà còn gây gổ, chửi tục làm mất trật tự; buổi chiếu phim phải tạm dừng. Khi người bảo vệ đến yêu cầu T tắt thuốc lá và giữ trật tự để buổi chiếu phim tiếp tục, T tỏ thái độ hung hăng buộc người bảo vệ phải mời T ra khỏi rạp. T liền lao vào đánh người bảo vệ dẫn đến người bảo vệ bị tổn thương cơ thể là 10%. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân:

Đối với người đang thi hành công vụ: Đây là trường hợp người bị gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là người đang thi hành công vụ, tức là người bị gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác đang thực hiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao phó.

Cũng được coi là đang thi hành công vụ đối với những người tuy không được giao nhiệm vụ nhưng họ tự nguyện tham gia vào việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong một số trường hợp nhất định như: đuổi bắt người phạm tội bỏ trốn; can ngăn, hoà giải những vụ đánh nhau ở nơi công cộng v.v…

Nạn nhân bị gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác phải là lúc họ đang làm nhiệm vụ, thì người phạm tội mới bị coi là phạm tội trong trường hợp ” đang thi hành công vụ”. Nếu nạn nhân lại bị gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác vào lúc khác thì không thuộc trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác đang thi hành công vụ, mà tuỳ từng trường hợp có thể là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác bình thường hoặc thuộc trường hợp khác.

Nạn nhân bị cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe phải là người thi hành nhiệm vụ đúng pháp luật, nếu trái với pháp luật mà bị cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe thì người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe không phải là ” cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người đang thi hành công vụ”. Ví dụ: một người tự xưng là công an đòi khám nhà của người khác. Chủ nhà yêu cầu xuất trình lệnh khám nhà, nhưng người này không đưa, dẫn đến hai bên xô xát và chủ nhà gây thương tích cho người này.

  • Khung tăng nặng thứ nhất có mức khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm

Người phạm tội bị áp dụng mức khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%: Nội dung điều luật cho thấy, nhà làm luật đã lấy tỷ lệ thương tật của nạn nhân làm căn cứ để định khung hình phạt đối với người phạm tội. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, thì người bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khỏe phải có tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 với mức khung hình phạt từ 02 năm đến 6 năm. Căn cứ để xác định tỉ lệ thương tật dựa theo Điều 4 Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 Thông tư quy định về phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể như sau:

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%: Tình tiết này trong Bộ luật hình sự năm 2015 được quy định là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt tại điểm b khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Phạm tội 02 lần trở lên: Trước đây, Bộ luật hình sự 1999 quy định tình tiết này là: “Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người”. Tuy nhiên, trong pháp luật Hình sự Việt Nam, nhà làm luật chưa đưa ra khái niệm chính thức thế nào là “Phạm tội nhiều lần”. Tình tiết “Phạm tội nhiều lần” chỉ được đề cập thông qua một số văn bản hướng dẫn từ phía các cơ quan tư pháp trung ương, giáo trình luật hình sự, tình tiết này được giải thích như sau:

Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự thì: “… tình tiết “Phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 Điều 133, khoản 2 Điều 134a. Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại, nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản.”

Theo giáo trình Luật hình sự, đại học Luật Hà Nội: “Phạm tội nhiều lần là trường hợp thực hiện tội phạm mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa bị xét xử, hành vi phạm tội trong trường hợp này là sự lặp lại tội đã phạm trước đó nên có mức độ nguy hiểm cao hơn trường hợp bình thường”

BLHS 2015 không còn sử dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” mà cụ thể hóa rõ ràng bằng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên”. Tình tiết này có thể được hiểu như sau: Phạm tội 02 lần trở lên là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp, mà mỗi hành vi ấy đã có đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập (cùng là hành vi cố ý gây thương tích).

Nội dung điều luật xác định 02 trường hợp được coi là tái phạm nguy hiểm, tuy nhiên qua nghiên cứu học viên thấy rằng để áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 chỉ khi thuộc trường hợp là đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý mà không thể thuộc trường hợp là đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, bởi nếu phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý (khoản 3, 4, 5 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015) thì khi đó đã áp dụng ngay khoản 3, 4, 5 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 chứ không thể quay lại áp dụng theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 được.

Là trường hợp người phạm tội chỉ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng lại thuộc các trường hợp là dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

  • Khung tăng nặng thứ hai có mức khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

Mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được áp dụng khi Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Đây là trường hợp người phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nhưng không thuộc trường hợp làm chết người; Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

  • Khung tăng nặng thứ ba có mức khung hình phạt tù từ 07 năm đến 14 năm

Mức hình phạt tù từ 07 năm đến 14 năm được áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Làm chết người;
  • Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
  • Khung tăng nặng thứ tư có mức khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

Mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Làm chết 02 người trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.
  • Chuẩn bị phạm tội

Đây là quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình sự 1999 khi giành riêng một khoản quy định về chuẩn bị phạm tội đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Cụ thể khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

2.2. Thực tiễn xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

2.2.1. Khái quát chung về tỉnh Bắc Ninh

Là một tỉnh nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện Tiên Du, huyện Quế Võ, huyện Thuận Thành, huyện Lương Tài và huyện Gia Bình; có 126 đơn vị hành chính cấp xã. Năm 2015 Bắc Ninh có số dân là 1.028.800 người với mật độ dân số 1.250 người/km². Với những đặc điểm đó, Bắc Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Những đặc điểm về điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế – xã hội trên của tỉnh Bắc Ninh đã tác động tích cực tới chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh, cụ thể: Tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ, tiện lợi cho người dân đi lại trong quá trình giải quyết vụ án, sự tiếp cận pháp lý và khả năng nhận thức của người dân được cải thiện nên việc tuyên truyền, giải thích pháp luật có hiệu quả.

2.2.2. Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Hiện nay, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh được chia thành 04 Tòa chuyên trách bao gồm Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Hành chính và Tòa Kinh tế. Ngoài ra còn có các phòng chuyên môn gồm Phòng kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án, Phòng Tổ chức – cán bộ, Thanh tra và Thi đua khen thưởng và Văn phòng.

TAND tỉnh Bắc Ninh hiện nay có tổng số 50 biên chế, trong đó có: 01 Thẩm phán cao cấp; 11 Thẩm phán trung cấp; 06 Thẩm tra viên 27 Thư ký. 05 Chuyên viên.

Ngoài ra Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh còn có 24 Hội thẩm nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử theo quy định của pháp luật.

Về trình độ chuyên môn:

  • 01 Tiến sỹ;
  • 14 Thạc sỹ (01 người đang học NCS); 35 Cử nhân Luật và Đại học.

Về trình độ lý luận chính trị:

  • 13 đồng chí trình độ lý luận cao cấp chính trị
  • 37 đồng chí trình độ trung cấp chính trị hoặc tương đương trung cấp.

Từ số liệu trên cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh có đủ trình độ, khả năng và kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo tinh thần cải cách tư pháp.

2.2.3. Thực tiễn xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số các vụ án hình sự và trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội.

Theo số liệu thống kê được từ Văn phòng Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong 05 năm giai đoạn từ 01/01/2013 đến 30/12/2017. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra xét xử tổng số 5.379 vụ án, 10.594 bị cáo. Trong số đó các vụ về cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là 252 vụ án, 418 bị cáo. Cụ thể:

  • Bảng 2.1: So sánh tình hình tội phạm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2013 – 2017

Xét tương quan giữa tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm về cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong thời gian qua, có chiều hướng gia tăng.

Về mức hình phạt:

  • Bảng 2.2: Bảng biểu diễn mức hình phạt áp dụng khi xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Đặc điểm nhân thân của các bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thể hiện thông qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.3: Bảng biểu thể hiện đặc điểm nhân thân của bị cáo bị xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Về giới tính:

Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta thấy trong trong vòng 5 năm qua số bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đại đa số là nam giới với tỉ lệ 99%.

  • Về độ tuổi: Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Dộ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất. Đây là thực trạng đáng buồn bởi ở lứa tuổi này không thể nói về nhận thức còn hạn chế được, và những bị cáo này còn đang trong độ tuổi lao động, Vậy đâu là nguyên nhân dẫn họ vào con đường phạm tội? điều này cũng đặt ra một câu hỏi lớn cho các cấp, các ngành trong việc đấu tranh phòng, chống các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác và tiến tới ngăn ngừa tình trạng phạm tội nói trên xảy ra.

  • Về nghề nghiệp của các bị cáo:

Nhìn vào bảng trên cho chúng ta thấy, tình trạng nghề nghiệp của các bị cáo chiếm tỉ lệ cao nhất là không nghề nghiệp, sau đến làm ruộng. Điều đó thể hiện tỉ lệ thất nghiệp cao dẫn đến tội phạm cũng tăng cao, điều đó đòi hỏi phải có chiến lược về tạo công ăn việc làm cho người lao động trong thời gian tới.

  • Về trình độ học vấn:

Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy, đa số các bị cáo phạm tội có trình độ học vấn trên Trung học phổ thông (148 bị cáo) và Trung học cơ sở (83 bị cáo). Vì vậy, giáo dục con người sao cho hiệu quả, hạn chế tình trạng bỏ học, tình trạng trẻ em không được đến trường, tạo việc làm cho người lao động, xoá bỏ đói nghèo sẽ hạn chế được phần lớn tội phạm có thể xảy ra.

  • Đặc điểm về địa bàn, phương thức, thủ đoạn phạm tội.

Tình hình hoạt động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn biến phức tạp trên cả 8 huyện, thị xã, thành phố. Về phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm thường là: Manh động, liều lĩnh, côn đồ, càn quấy, thường diễn ra trắng trợn, công khai, thể hiện sự hung hãn với việc sử dụng vũ khí nóng như dao, súng, …với những nguyên nhân do xung đột va chạm, do thù tức hoặc mâu thuẫn cá nhân hoặc xuất phát từ các hoạt động bảo kê, đòi nợ thuê cũng như việc tranh giành địa bàn hoạt động, mối làm ăn của các băng nhóm xã hội.

Điển hình như vụ án: Do mâu thuẫn về việc đặt đường ống nước thải nên khoảng 15 giờ ngày 15/11/2015, ông Lê Thế Đ và ông Cao Văn B là hàng xóm xảy ra xô sát cãi nhau. Thấy vậy, Lê Thế L là con trai ông Đ cầm 01 con dao bay xây dựng bằng sắt có chuôi bằng gỗ hình trụ dài 13 cm, lưỡi bằng sắt dài 16cm, bản rộng nhất 08cm chạy sang nhà ông.

Quá trình ru đẩy nhau, L có khua con dao bay xây vào phần đuôi lông mày trái của ông B. Thấy vậy anh Cao Văn A là con trai của ông B lao vào ôm L từ phía trước và ru đẩy không cho đánh ông B, thì L dùng bay đánh vào trán anh A và ru đẩy anh A về phía sau làm anh A đập khuỷu tay phải vào tường. Lúc đó anh A giơ tay lên ôm đầu thì L tiếp tục dùng dao bay đánh vào tay và đùi của anh A. Ngay lúc đó ông Cao Văn T là chú ruột của anh A và mọi người can ngăn nên ông Đ và L đi về nhà. Anh A bị thương được gia đình đưa đến trạm y tế xã M điều trị, ông B do chỉ bị xây sát nhẹ nên không đi khám và điều trị, đến khoảng 07 giờ ngày 17/11/2015 thì ông B tử vong tại nhà. Cùng ngày, anh Cao Văn A có đơn trình báo Công an huyện TT. Tại biên bản làm việc hồi 14 giờ ngày 18/11/2015, ông Nguyễn Thế S –trạm trưởng trạm y tế xã M xác định: “anh A vào Trạm y tế trong tình trạng 01 vết thương ở phần trán kích thước 5cm; 01 vết thương tại phần đuôi lông mày trái trên diện 3cm x 1,5cm; 01 vết thương tại phần cẳng tay trái KT 2cm; 01 vết xây sát da tại khuỷu tay phải KT 3,5x4cm; 01 vết xước tại phần ngoài đùi trái KT 2cm”.Tại bản kết luận giám định số 10629/C54(TT1) ngày 01/12/2015 của Viện khoa học hình sự -Tổng cục Cảnh sát kết luận tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh Cao Văn A như sau: Sẹo vùng trán 01%, Sẹo vùng cung mày trái 02%, Sẹo vùng khuỷu tay phải 01%, Sẹo vùng cẳng tay trái 01%, Sẹo vùng đùi trái 01%.Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Cao Văn A tại thời điểm giám định là 06%. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vùng khuỷu tay phải của anh Cao Văn A do vật tày tác động gây ra, các thương tích còn lại của anh Cao Văn A do vật cạnh tác động gây ra. Sau khi ông Cao Văn B chết, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm tử thi và tại bản kết luận giám định pháp y số 03 ngày 27/01/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã kết luận: Ông B chết do suy tuần hoàn cấp trên người có nhiều ổ xơ hóa do nhồi máu cơ tim cũ không liên quan đến việc gây thương tích của Lê Thế L. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số 21/2016/HSST ngày 18 tháng 5 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh Bắc ninh đã tuyên xử bị cáo Lê Thế L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1, 2 điều 46; điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt: Lê Thế L 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Thông qua công tác xét xử nhận thấy tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mức độ ngày càng tăng, tính chất ngày càng phức tạp, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, các đối tượng ngày càng liều lĩnh, côn đồ, hung hãn hơn, hậu quả tội phạm gây ra ngày càng nghiêm trọng.

  • Thực tiễn xét xử các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Bên cạnh những số liệu nói lên diễn biến tình hình xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong những năm gần đây thì khi nói đến thực tiễn tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác còn phải nhắc đến thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh vẫn còn mắc phải một số thiếu sót dẫn đến việc hủy, sửa bản án, trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp bị hại, bị cáo. Cụ thể có thể kể đến các thiếu sót vi phạm sau:

  • Vi phạm thủ tục tố tụng trong việc thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Để giải quyết vụ án hình sự đúng người đúng tội đúng pháp luật không để oan người vô tội thì quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ là rất quan trọng. Để được coi là chứng cứ phải đáp ứng đầy đủ 03 thuộc tính là tính khách quan, tính liên quan và hợp pháp. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vẫn có có những vi phạm liên quan đến chứng cứ dẫn đến việc Tòa án ban hành một bản án không chính xác. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

  • Điển hình là vụ án do Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn xử “Đàm Thuận T cố ý gây thương tích”.

Nội dung vụ án: Theo cáo trạng của VKSND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh: Vào hồi 18h00 ngày 27/9/2013, bà Hoàng Thị H tìm đến nhà bà Đàm Thị Hòa để đòi số tiền cho bà B vay từ trước, do không đòi được tiền hai bên lời qua tiếng lại. Khi bà H đi đến gần cổng, để ra về bị Đàm Thuận T đi sau nhặt một chiếc dùi đục bằng gỗ (kích thước 60x4x6cm) vụt một cái vào vùng đầu phía bên trái làm bà H ngã xuống đất bất tỉnh, sau đó được đưa đi điều trị. Ngày 20/10/ 2013, bà H làm đơn tố cáo hành vi cố ý gây thương tích của Đàm Thuận T. Kết quả giám định pháp y tiến hành bởi Phòng Giám định Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh kết luận tỷ lệ thương tật của bà H 13% .Gồm một sẹo vùng đầu đỉnh trái, kích thước 02x01cm thương tật 3% vĩnh viễn. Một sẹo vành tai phải kích thước 01×0,5 cm thương tật 2% vĩnh viễn. Điện não đồ có sóng bất thường tương ứng với vùng tổn thương bằng 8% tạm thời. Quá trình tố tụng, Đàm Thuận T bị truy tố tội cố ý gây thương tích và Tòa án nhân dân thị xã Bắc Ninh xét xử sơ thẩm tuyên phạt 30 tháng tù giam.

Trong khi đó, bà Đàm Thị B mẹ bị cáo cho rằng, do mâu thuẫn nợ nần nên giữa bà và chủ nợ là bà Hoàng Thị H, có xảy ra xô xát, đánh nhau. Trong lúc hai bên túm tóc, xô đẩy giằng co khiến bà Hoàng Thị H bị trượt ngã, xây xước và chảy máu đầu. Con trai bà là Đàm Thuận T, không tham gia vào sự việc, nhưng từ đơn tố cáo của bà H, mà T bị cho là thủ phạm dùng hung khí là chiếc dùi đục bằng gỗ kích thước 60x4x6cm, bất ngờ từ phía sau vụt vào đầu bà H, khiến nạn nhân ngã ngửa gây thương tích ở vùng đỉnh đầu trái, và ở vành tai phải.

Qua nghiên cứu hồ sơ, nội dung vụ án, học viên thấy: “Với những tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thị xã Từ Sơn thu thập có trong hồ sơ vụ án thì không thể khẳng định bị cáo T có hành vi dùng dùi đục gây thương tích cho người bị hại. Trong trường hợp T có hành vi dùng hung khí gây ra thương tích cho bà H là thật đi chăng nữa thì Cơ quan tiến hành tố tụng thị xã Từ Sơn cũng chưa chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi dùng dùi đục đánh vào đầu bà H và hậu quả xảy ra là thương tích được phản ánh trong Giấy chứng thương”. Cụ thể, theo Giấy chứng thương số: 22/CN-KHTH ngày 08/11/2013 do Giám đốc Bệnh viện Đa khoa thị xã Từ Sơn cấp cho bà Hoàng Thị H thì thương tích của bà H như sau: “Vết xây sát vùng đỉnh trái rỉ máu, tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh kích thước 5cm x 6 cm. Vết thương vành tai phải kích thước 1 cm chảy máu”. Như vậy, theo Giấy chứng thương này bà Hoàng Thị H bị thương tích tại 02 điểm trên vùng đầu, đó là xây xát vùng đỉnh trái của đầu và 01 thương tích ở vành tai phải. Theo lời khai, lời trình bày của bà Hoàng Thị H cũng như những “người làm chứng” thì bà Hoàng Thị H bị T dùng dùi đục vụt một phát vào đầu từ phía sau khiến bà H …ngã ngửa xuống nền sân. “Kết hợp lời khai của bà H, lời khai của những người làm chứng khác với kết quả thương tích phản ánh trong Giấy chứng thương thì có một kết quả được đưa ra là: T dùng dùi đục vụt một phát vào sau gáy của bà H gây ra hai vết thương ở vùng đầu của bà H: 01 vết xây sát vùng đỉnh trái của đầu (vết này chỉ vết xước, thâm tím, tụ máu nhẹ dưới da) và 01 vết thương ở vành tai trái (vết thương này bà H phải khâu 03 mũi, và để lại sẹo vĩnh viễn). Hai vết thương độc lập này thuộc hai vùng đầu có khoảng cách tương đối xa nhau. Rõ ràng kết quả trên là hết sức vô lý, bởi lẽ theo cơ chế hình thành vết thương, khi tác động một lần, một vật vào một chỗ trên cơ thể thì chỉ có thể cho ra một vết thương. Hơn nữa, một “cú vụt” bằng dùi đục với lực của một thanh niên cao hơn 170 cm, nặng gần 80 kg không thể chỉ tạo ra ….vết xước ở lỗ tai.” Về hình thù của vết thương trên đầu bà H, theo quan sát từ bản ảnh (lưu trong hồ sơ vụ án) luật sư cho rằng có thể nhận thấy rõ vết thương này là chỉ là một vết xây xước, hình tròn (mờ), trong khi một thanh gỗ kiểu dùi đục, khi vụt vào đầu (tác động theo chiều dọc), sẽ cho một vết thương dài. Như vậy, có thể khẳng định vết thương trên đầu bà H không phải do dùi đục gây ra. Nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng lại cho rằng T dùng dùi đục kích thước 60x4x6cm gây nên thương tích như trên cho bà H – thực tế cơ quan chức năng cũng không thu thập được chiếc “dùi đục” này. Bản ảnh hình thù vết thương, cũng như khẳng định rõ ràng cụ thể về kích thức hung khí “không tìm thấy” đã nói lên sự sai lầm nghiêm trọng của cả vụ án này. Mặt khác, T là một thanh niên to khỏe (nặng 76 kg), thời điểm xảy ra sự việc T 22 tuổi. Do vậy, với sức vóc của một thanh niên trẻ khỏe như T, nếu dùng một hung khí nguy hiểm là chiếc dùi đục hay một thanh gỗ kiểu dùi đục để vụt vào đầu bà H từ phía sau (nạn nhân sẽ không có khả năng chống đỡ) như mô tả của bà H và những người làm chứng, thì chắc chắn sẽ tạo ra một thương tích rất lớn, thậm chí là có thể dẫn tới vỡ hộp sọ chứ không thể chỉ dừng lại ở việc xây xước nhẹ. Từ những phân tích trên, có thể thấy vết thương trên đầu bà H, không thể do dùng dùi đục (đánh vào đầu) gây ra. Như vậy, trong vụ án này các chứng cứ mà các Cơ quan tiến hành tố tụng thị xã Từ Sơn đưa ra để kết luận Đàm Thuận T Phạm tội gồm: Vật chứng là chiếc dùi đục bằng gỗ hoặc thanh gỗ kiểu dùi đục; Lời khai của người bị hại, người làm chứng; Bản giám định pháp y đều không thỏa mãn các thuộc tính của chứng cứ (đối với chiếc dùi đục hay thanh gỗ kiểu dùi đục không thu thập được và đặt trong bối cảnh vụ án nên được coi là không có thật; Lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại là không khách quan; Bản giám định pháp y của Phòng giám định pháp y thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh là không hợp pháp). Việc các chứng cứ quan trọng của vụ án không thu thập được hoặc các tài liệu do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập không đảm bảo tính khách quan, tính liên quan, do vậy với những tài liệu có trong hồ sơ vụ án không đủ để chứng minh được bị cáo Đàm Thuận T có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bà Đàm Thị H, từ đó có thể đi đến kết luận bị cáo Đàm Thuận T không thực hiện hành vi phạm tội. “Việc tuyên bị cáo Đàm Thuận T phạm tội “Cố ý gây thương tích” là thiếu cơ sở, chứng cứ rất yếu, lập luận buộc tội khiên cưỡng. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Thực tế, vụ án đã bị kháng cáo và giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh đã gửi công văn tới tòa xin rút lại Bản kết luận giám định pháp y số 75/2013/GĐPY. Ông Ngô Đắc Thê- Giám định viên được triệu tập tham dự phiên tòa đã giải thích về nguyên nhân xin rút bản kết luận giám định là do thời điểm giám định thương tật cho bà H, cán bộ thuộc phòng giám định pháp y tỉnh Bắc Ninh làm việc theo cơ chế kiêm nhiệm, không chuyên sâu. Do vậy, khi thực hiện hoạt động giám định đã có những lúng túng trong việc áp dụng pháp luật dẫn tới ban hành kết luận là chưa không phù hợp quy định của pháp luật. Trong một vụ án cố ý gây thương tích, Bản kết luận giám định pháp y là một chứng cứ vô cùng quan trọng, là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định mức độ thương tật của người bị hại, từ đó ra quyết định có khởi tố vụ án hay không. Do vậy, chuyển sang phần tranh luận, đại diện Viện KSND Bắc Ninh đã phải thay đổi quan điểm giải quyết vụ án: “Tại phiên tòa hôm nay, về phía bị hại, bị cáo, các nhân chứng và ý kiến của đại diện Trung tâm giám định pháp y đã làm thay đổi diễn biến phiên tòa, đây là những tình tiết mới phát sinh nên đề nghị HĐXX áp đụng Điều 250 Bộ luật hình sự hủy bản án sơ thẩm. Chuyển hồ sơ vụ án về cho các cơ quan tố tụng của thị xã Từ Sơn để giải quyết theo thủ tục chung”.

Sau khi nghị án, HĐXX cấp phúc thẩm xét thấy ở cấp sơ thẩm đã có sai sót trong quá trình tố tụng và việc xin rút lại bản GĐPY số 75 của Trung tâm GĐPY tỉnh Bắc Ninh dẫn tới chưa có cơ sở vững chắc để kết tội bị cáo Đàm Thuận T phạm tội Cố ý gây thương tích. Lời khai của những người làm chứng là không thống nhất, chứng cứ để kết tội bị cáo là chưa rõ ràng , cấp phúc thẩm không thể điều tra khắc phục được nên quyết định hủy bản án sơ thẩm số 26, ngày 1/12/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn giao cho VKSND thị xã Từ Sơn để điều tra lại.

Từ nội dung vụ án trên cho thấy, việc vi phạm trong thủ tục thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ ảnh hưởng nghiêm trong như thế nào đến tính đúng đắn của kết quả giải quyết vụ án.

Việc áp dụng hình phạt chưa phù hợp:

  • Vụ án thứ nhất:

Nội dung vụ án: Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T là bạn và cùng làm nhân  viên tại quán Karaoke Ubi ở thôn T Phong, xã Cách Bi, huyện. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Trưa ngày 26/02/2017, H cùng T đến ăn cơm tại nhà anh Nguyễn Đức Tân ở thôn Vạn Ty, xã Thái Bảo, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H sử dụng điện thoại di động Nokia 2700C-2 để vào facbook với nick là Còm Em, thì thấy có nick facebook là Đinh Quốc L đăng lên dòng trạng thái nick Còm Em của H với nội dung thách thức đánh nhau với H. H kiểm tra thì xác định đó là nick của anh Nguyễn Văn L (bạn của T) nên H đã đưa điện thoại cho T. T dùng điện thoại của H nhắn vào facebook của anh L, bảo L đến nhà anh T để nói chuyện. Khoảng 5 đến 10 phút sau, khi H đang đứng ở nhà T thì thấy anh Lđi xe mô tô chở sau là anh Nguyễn Bá V (bạn của anh L) đến. Khi gặp H, V nói:“bảo ra, bây giờ thế nào”, H trả lời:“thế nào cũng được” rồi H chạy vào trong nhà anh T nói với T:“hai thằng đó đang ngồi ngoài cửa rồi”. Thấy vậy, T cùng H đi ra cửa nhà Tân thì thấy L đang ngồi ở bậc thềm nhà bên cạnh. T nói:“chúng mày định như thế nào” rồi chạy tới vị trí L đang ngồi, dùng tay trái đấm vào vùng đầu và mặt của anh L, anh L cũng lao vào đánh trả lại T thì được anh V vào can ngăn kéo T ra chỗ khác. Cùng lúc đó H vào trong gian nhà ngang của nhà anh T rồi lấy 01 con dao bầu có chuôi bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng sắt màu đen, rồi cầm bằng tay phải chạy ra. Khi thấy T và anh Lvẫn đang giằng co xô đẩy nhau, H lao vào dùng chân trái đạp vào vùng thắt lưng bên trái của anh L, sau đó dùng tay phải cầm dao bầu đâm 01 nhát trúng vào vùng thắt lưng bên phải của anh L, Thấy vậy, V lao vào đạp H ra làm H bị ngã nên V giằng được con dao trên tay phải của H. Còn T tiếp tục dùng hai tay nhặt một viên gạch bê tông ở rìa đường giơ lên định ném về phía anh L nhưng bị mọi người vào can ngăn nên T không ném được mà rơi viên gạch xuống đường, T vẫn tiếp tục lao tới để tấn công L song lại bị mọi người can ngăn, đẩy vào trong nhà nên T không tấn công được L nữa. Sau đó, anh L được mọi người đưa đi cấp cứu còn H và T bắt xe về quán. Ngày 26/02/2017, Nguyễn Văn L nhập viện đa khoa huyện G đến ngày 02/3/2017, L chuyển viện lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Tại giấy chứng nhận thương tích số:232/CN-BVGB ngày 30/3/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện G xác định tình trạng thương tích của Nguyễn Văn L như sau:

Vết thương vùng thắt lưng phải, vết thương phần mềm kích thước 10cm, sâu 5 –6cm (theo dõi vết thương thấu bụng);

Vùng má trái, vết thương ngoài da kích thước 15cm. Tại giấy chứng nhận thương tích ban đầu số:29/CN ngày 23/3/2017 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh xác định tình trạng thương tích của anh Nguyễn Văn L như sau: Vết thương thắt lưng bên phải dài 10cm đã được khâu lại, hơi nề đỏ. Dẫn lưu ra dịch màu đỏ. Nghi ngờ rách cơ lưng phải. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1511/C54-TT1 ngày 10/4/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành thương tích đối với anh L như sau: Đối với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn L:

  • Sẹo nông vùng góc hàm trái: 1% (Mục 1, Phần I, Chương 9).
  • Sẹo vết thương vùng thắt lưng phải: 3% (Mục 1, Phần I, Chương 9).
  • Sẹo dẫn lưu vùng thắt lưng phải: 1% (Mục 1, Phần I, Chương 9).
  • Tổn thương cực dưới thận phải: 8% (Mục 1.1, Phần I, Chương 6).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích quy định tại Thông tư số: 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L tại thời điểm giám định là: 13%.Cơ chế hình thành thương tích của anh Nguyễn Văn L: Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

  • Sẹo vùng góc hàm trái do vật cứng có tiết diện hẹp gây nên.
  • Sẹo vùng thắt lưng phải do vật sắc nhọn gây nên.
  • Con dao gửi giám định có thể gây được các tổn thương trên.

Quá trình điều tra, gia đình H đã bồi thường cho anh L 30.000.000 đồng. Gia đình T đã nộp 20.000.000 đồng tại cơ quan thi hành án dân sự để bồi thường cho anh L và trực tiếp bồi thường cho anh L số tiền 5.000.000đồng. Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số:70/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện G đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46;

Điều 33; Điều 69, điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xử phạt Nguyễn Văn H 15 tháng tù . Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 24 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T, tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  • Ngày 25/9/2017, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Trong vụ án này bị cáo khi phạm tội còn là người chưa thành niên, nhận thức xã hội và pháp luật còn hạn chế, gia đình đã bồi thường cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm xử cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo H 15 tháng tù là quá nặng. Thực tế, bản án phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo xử sửa bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo H 15 tháng tù về tội cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo là phù hợp, thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, chỉ cần giáo dục, cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục và răn đe bị cáo trở thành công dân có ích.

Nguyên nhân của những hạn chế về áp dụng pháp luật trong xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

  • Nguyên nhân khách quan Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

Thứ nhất: Quy định của Bộ luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có nhiều điểm chưa rõ ràng: Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ chính xác, hiệu quả, thể hiện đúng vai trò, ý nghĩa cũng như mục đích mong muốn khi Nhà nước ban hành một quy phạm pháp luật khi hoạt động nhận thức pháp luật đúng đắn, đầy đủ. Mặc dù vừa có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, nhưng qua quá trình nghiên cứu các quy định tại điều 134 Bộ luật hình sự cũng như thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể thấy đã phát sinh một số hạn chế, vướng mắc, không thống nhất trong quá trình áp dụng. Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Thứ hai: Số lượng các vụ án phải giải quyết trong những năm qua liên tục tăng về số lượng vụ án; tính chất vụ án ngày càng phức tạp.

Thứ ba: Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, kinh phí để đầu tư các trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Chế độ kinh phí, tài chính đối với hoạt động xét xử còn chưa được quan tâm, chú trọng và chưa tương xứng với tính chất đặc thù của công tác và đòi hỏi yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của Tòa án.

  • Nguyên nhân chủ quan:

Kỹ năng sử dụng máy tính của một số Thẩm phán còn hạn chế, việc đưa ứng dụng công nghệ vào quá trình làm việc chưa được chú trọng và áp dụng dẫn đến việc tiến hành thủ tục tố tụng của Thẩm phán gây tốn kém thời gian, công sức cho chính mình và người tham gia tố tụng. Công tác kiểm tra, giám sát cán bộ công chức thực hiện nhiệm vụ chưa được thực hiện một cách thường xuyên và triệt để.

Tiểu kết chương:

Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là quy định có nhiều điểm mới được sửa đổi một cách toàn diện, tiến bộ hạn chế những bất cập từ thực tiễn xét xử của Bộ luật hình sự 1999. Tuy nhiên, trước diễn biến tình hình loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nguy hiểm thì một số nội dung của Điều luật đã được dự báo sẽ khó khăn trong quá trình áp dụng đòi hỏi các cơ quan chức năng kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật nói chung và chất lượng xét xử đối với loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng được hiệu quả. Từ việc phân tích thực tiễn áp dụng quy định trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh sẽ là tiền đề quan trọng giúp học viên đề xuất những giải pháp thiết thực, đúng trọng tâm và đạt hiệu quả trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh

One thought on “Luận văn: Pháp luật tội cố ý gây thương tích tại Tỉnh Bắc Ninh”

  1. Pingback: Luận văn: Tội cố ý gây thương tích theo pháp luật Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464