Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số bất cập về lý luận, thực tiễn áp dụng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội giao cấu với trẻ em dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Một số bất cập về lý luận và thực tiễn áp dụng đối với tội giao cấu với trẻ em
3.1.1. Một số bất cập về lý luận
- Vấn đề về định nghĩa hành vi “Giao cấu”
Hiện nay, khái niệm về thuật ngữ “Giao cấu” vẫn thường được hiểu theo hướng dẫn của Bản tổng kết 329/HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao là “sự cọ sát dương vật vào bộ phận sinh dục người phụ nữ…”. Tức là, chủ thể phạm tội giao cấu với trẻ em chỉ có thể thuộc giới tính nam và nạn nhân thuộc giới tính nữ. Tuy nhiên đây cũng chỉ là một cách hiểu phổ biến thường được áp dụng như một “truyền thống” vì hiện tại các nhà làm luật chưa có hướng dẫn cụ thể về hành vi giao cấu. Và cách định nghĩa, cách hiểu này đã trở nên lạc hậu không thể bao quát được chính xác về hành vi tình dục giao cấu, do vậy có thể bỏ lọt tội phạm. Sự “lạc hậu” đó thể hiện trên hai phương diện cơ bản:
Thứ nhất, trên thực tế, trong xã hội tồn tại một mối quan hệ tình dục khác, hành vi tình dục khác và khá phố biến trong thời đại ngày nay là tình dục đồng giới. Hành vi tình dục đồng giới được thực hiện bởi những người cùng giới tính: nam với nam, nữ với nữ. Về mặt xã hội, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã công nhận mối quan hệ tình dục đồng giới nói chung cũng như hành vi tình dục đồng giới nói riêng là một phần của xã hội. Về mặt pháp luật, có nhiều nước đã công nhận quan hệ hôn nhân đồng giới và xu hướng này cũng đang trở nên phổ biến. Việt Nam hiện nay là quốc gia chưa công nhận tính pháp lý của hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là tình dục đồng giới không tồn tại ở Việt Nam mà ngược lại xu hướng này có phần gia tăng trong những năm gần đây ở nước ta. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này: do sự xâm nhập văn hóa, lối sống từ nước ngoài; do xã hội dân chủ, quan niệm xã hội cởi mở đã cho phép những con người vốn bẩm sinh có xu hướng tình dục đồng giới được công khai giới tính của mình… Như vậy, quan hệ tình dục, hành vi tình dục cùng giới đã và đang là một phần tất yếu của xã hội mà chúng ta không thể cố tình bỏ qua. Tổn thương về tâm lý, thể chất mà trẻ em nam bị xâm hại tình dục phải gánh chịu rất lớn nhưng luật chưa có quy định tương xứng, nhận định và xử lý loại tội phạm này còn nhiều hạn chế. Những ví dụ sau minh họa cho sự bất cập này: Cầm trên tay lá đơn tố cáo kẻ đã xâm hại tình dục hai con trai mình, chị T.T.T.L (SN 1977, ngụ quận Tân Phú – TPHCM) ứa nước mắt: “Tôi giật mình, lo lắng và hoảng sợ khi phát hiện 2 con trai bị một thanh niên đồng tính dụ dỗ quan hệ tình dục. Tương lai của con tôi sẽ ra sao khi bị lạm dụng trong một thời gian dài?”.
Theo đơn tố cáo của chị L., mỗi sáng chủ nhật, vợ chồng chị thường chở 2 con trai là cháu T.H.C.T (SN 2001) và T.H.Đ.A (SN 2007) sang nhà mẹ chị L. chơi, đến chiều đón về. Nhà mẹ chị L. cho thuê trọ, trong số này có một thanh niên tên Huỳnh Hoàng Phi (SN 1987, quê An Giang), tính tình hiền lành, dễ mến, chăm chỉ. Phi hay rủ cháu T. qua phòng mình nói chuyện, chơi game, mở phim sex đồng tính cho T. xem, sau đó dụ dỗ T. quan hệ đồng tính. Sau mỗi lần như vậy, Phi đều cho T. tiền chơi game và dặn không được nói cho người lớn biết. Chị L. buồn bã kể tiếp: “Tôi sẽ không biết chuyện nếu không chứng kiến có một hôm A. từ trên lầu chạy xuống với tâm trạng hoảng loạn. Khi tôi hỏi, A. đã kể lại hành vi của Phi. Tôi sực nhớ đến con trai đầu, vì mỗi lần sang nhà ngoại, cháu đều vào phòng Phi chơi. Phải an ủi, động viên nhiều lần, T. mới chịu kể mọi chuyện…”.
Sau khi nhận được đơn tố cáo của chị L., Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú đã mời Phi lên làm việc. Tại đây, Phi thừa nhận đã có hành vi quan hệ tình dục với 2 cháu bé. Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phi về hành vi “Dâm ô với trẻ em”. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Ví dụ thứ 2: Tháng 9-2012, Cơ quan điều tra Công an TPHCM nhận được văn bản của Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam – Cơ quan Thường trực phía Nam về việc một số trẻ em trai bị xâm hại tình dục. Qua xác minh, công an đã phát hiện Thi Trường Hận (SN 1992, ngụ huyện Hóc Môn – TPHCM) có hành vi quan hệ tình dục đồng tính với các bé trai từ 8 – 14 tuổi, sau đó dùng điện thoại di động quay lại để khống chế, ép buộc các em quan hệ với nhiều người khác, trong đó có cả người nước ngoài. Trao đổi với phóng viên, Công an huyện Hóc Môn cho biết hiện Cơ quan điều tra đã có kết luận điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị truy tố Thi Trường Hận về tội “Dâm ô với trẻ em”.
Ở hai trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng đã không thể khởi tố, truy tố và xét xử các đối tượng theo Điều 115 – Bộ luật Hình sự về tội giao cấu với trẻ em hoặc tội Hiếp dâm trẻ em theo Điều 112, tội Cưỡng dâm trẻ em theo Điều 113 được do không thể chứng minh hành vi giao cấu theo cách hiểu chúng ta vẫn đang áp dụng. Như vậy chúng ta chỉ có thể truy cứu các đối tượng trên về tội danh Dâm ô với trẻ em theo Điều 116- Bộ luật hình sự là một tội danh có khung hình phạt nhẹ hơn rất nhiều mặc dù bản chất hành vi của chúng là hành vi quan hệ tình dục. Hậu quả của hành vi quan hệ tình dục mà chúng gây ra cũng tương đương thậm chí còn nguy hiểm hơn hành vi giao cấu trong Điều 115 Bộ luật hình sự (tình dục qua đường hậu môn rất dễ gây tổn thương về mặt sức khỏe, nguy cơ lây nhiễm bệnh cao, gây ra những sang chấn tâm lý nặng nề cho nạn nhân, đặc biệt là với nạn nhân ít tuổi) tuy nhiên lại chỉ bị truy cứu ở khung hình phạt thấp nhất trong các tội xâm phạm tình dục trẻ em là lỗ hổng của pháp luật. Theo luật sư Nguyễn Thành Công (Đoàn Luật sư TPHCM), thực trạng trẻ em nam bị xâm hại tình dục rất đáng báo động, độ tuổi bị xâm hại có khi chỉ chừng 4 – 5 tuổi. Tổn thương về tâm lý, thể chất mà trẻ bị xâm hại phải gánh chịu rất lớn, nếu không phát hiện kịp thời để điều chỉnh về tâm sinh lý thì sau này có nguy cơ lệch lạc giới tính hoặc trở thành người có xu hướng tình dục đồng giới, tạo mầm mống xuất hiện các xử sự trái pháp luật hoặc vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, các cơ quan ban hành, và bảo vệ pháp luật chưa có quy định tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi xâm hại tình dục trẻ em nam, từ đó nhận định và xử lý loại tội phạm này còn nhiều hạn chế. Thực tế, khi đề cập sự xâm hại tình dục trẻ em (hoặc người chưa thành niên), pháp luật chỉ chú trọng đến trẻ em gái.
Các tội danh thuộc nhóm tội xâm hại tình dục trẻ em như “Hiếp dâm trẻ em”, “Giao cấu với trẻ em” (điều 112, 115 Bộ Luật Hình sự) có khung hình phạt cao nhất là tử hình chỉ xác định đối tượng bị hại là trẻ em gái. Trong khi đó, với đối tượng bị hại nam chỉ có 1 tội danh quy định tại điều 116 “Tội dâm ô với trẻ em” với khung hình phạt cao nhất là 12 năm.
Đây là sự bất cập trong Luật Hình sự khi điều chỉnh ở nhóm tội danh này. Các nhà làm luật cần nhìn nhận thực tế có hành vi quan hệ tình dục đồng tính để định nghĩa lại hành vi mại dâm, môi giới mại dâm đồng tính cũng như khái niệm giao cấu; người bị hại ngoài trẻ em gái, còn cả trẻ em nam, từ đó mới có cơ sở xử lý triệt để và điều chỉnh tương xứng với hành vi phạm tội, bảo vệ sự phát triển bình thường của trẻ em nam. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Thứ hai, quan hệ tình dục hiện nay được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là hành vi giao cấu thuần túy giữa nam và nữ để thực hiện chức năng sinh sản mà bao gồm nhiều hành vi tình dục khác vì mục đích khoái cảm hoặc thể hiện tình yêu, sự gần gũi. Nếu chỉ quy định hành vi giao cấu theo nghĩa hiện tại chúng tôi cho rằng sẽ không thể hiện hết tinh thần của điều luật quy định tội giao cấu với trẻ em vì điều luật này nhằm bảo vệ quyền được tôn trọng về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Vụ án Nguyễn Văn Lương xảy ra ở huyện Đông Anh, Hà Nội [26] là một ví dụ: Sau khi nhận được đơn trình báo của chị Đàm Thị H. tố cáo hàng xóm là Nguyễn Văn Lương đã có hành vi xâm phạm tình dục với con gái chị là cháu Nguyễn Ngọc T (sinh năm 2004), công an huyện Đông Anh đã khẩn trương tiến hành điều tra và căn cứ kết quả điều tra cho thấy Nguyễn Văn Lương đã có hành vi xâm phạm về tình dục đối với trẻ em. Cụ thể, lần thứ nhất vào khoảng 14h20’ một ngày đầu tháng 2/2009, như thường lệ cháu T sang chơi với con gái Lương. Lúc đó Lương vừa ngủ trưa dậy, thấy cháu T đang tha thẩn chơi trong buồng. Lợi dụng lúc nhà vắng người, chỉ có Lương và cháu T., Lương đã giở trò dâm ô bỉ ổi, bắt cháu T dùng tay và miệng kích thích dương vật của y theo hướng dẫn của y. Sau khi đạt được khoái cảm, Lương xuất tinh vào miệng cháu T.. Sợ bị phát hiện nên Lương lấy khăn lau miệng cho cháu T. và lấy kẹo cho cháu ăn. Khoảng nửa tháng sau, vào 13h30’ thấy cháu T. đang chơi một mình ở phòng khách nhà mình, thấy nhà vắng vẻ Lương lại tiếp tục giở trò bỉ ổi. Lần này Lương gạ cháu T. làm như lần trước nhưng quá sợ hãi nên cháu T. bỏ chạy thục mạng. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Lương đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Cơ quan điều tra công an huyện Đông Anh đã khởi tố Nguyễn Văn Lương về tội danh dâm ô với trẻ em.
Hành vi của Nguyễn Văn Lương ở ví dụ này không đủ để cấu thành tội “Giao cấu với trẻ em” mà chỉ bị xét xử ở tội danh có khung hình phạt thấp hơn nhiều là “Dâm ô với trẻ em”. Tuy nhiên, hành vi của bị can Lương về mức độ xâm phạm danh dự, nhân phẩm và sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em không thua kém hành vi giao cấu với lối hiểu truyền thống. Hành vi này cũng gây căm phẫn cao trong dư luận bởi tác động nguy hiểm của nó đến sự phát triển bình thường và tâm lý chấn động của nạn nhân. Vì vậy, thuật ngữ “giao cấu” hiện nay đã không thể hiện hết tính nguy hiểm của nhóm tội phạm xâm hại tình dục nói chung và tội danh giao cấu với trẻ em nói riêng.
3.1.2. Một số bất cập về thực tiễn áp dụng đối với tội giao cấu với trẻ em Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Khi xảy ra hành vi giao cấu với trẻ em, để có căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo về tội danh gì thì cần phải có kết luận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳng định ai là người thực hiện hành vi phạm tội và sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử. Trên thực tế có nhiều vụ giao cấu với trẻ em nhưng không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trước pháp luật. Có nhiều trường hợp, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng nên vô hình chung đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Có trường hợp sau khi bị xâm hại một thời gian dài, người bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội do sợ danh dự, nhân phẩm của bản thân và gia đình bị ảnh hưởng. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi. Do đó, việc điều tra, truy tố cũng như xét xử của các cơ quan tố tụng đối với các trường hợp này rất khó khăn.Thông thường đối với các vụ án về xâm hại tình dục, cơ quan điều tra thường thu thập các dấu vết để buộc tội gồm: tinh dịch của thủ phạm ở âm đạo, hậu môn, trên bề mặt da, trên hiện trường; lông tóc rụng trên người, trên quần áo, tại hiện trường; nước bọt… Tuy nhiên các chứng cứ này nếu không thu thập kịp thời thì sẽ nhanh chóng tự biến mất, bị xóa hoặc không còn khả năng chứng minh. Chính vì những khó khăn trong việc thu thập dấu vết tội phạm mà rất nhiều vụ án giao cấu với trẻ em bằng chứng buộc tội chủ yếu chỉ căn cứ vào lời khai của bị hại và nạn nhân. Đây là một điểm yếu rất lớn trong việc buộc tội của cơ quan công tố bởi có nhiều trường hợp bị can lúc đầu thừa nhận nhưng trong quá trình điều tra lại thay đổi lời khai, chối tội. Ví dụ về một vụ án giao cấu với trẻ em xảy ra năm 2012 tại huyện Từ Liêm, Hà Nội [26]: Nạn nhân là cháu Trần Quỳnh N (sinh năm 1998), thủ phạm là ông lão hàng xóm Phạm Phú Biên (sinh năm 1940). Nhận được tin báo của bố mẹ cháu N, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Từ Liêm đã nhanh chóng vào cuộc, tuy nhiên sự việc đã xảy ra cách hai tuần nên các dấu vết tại hiện trường cũng như trên thân thể, quần áo nạn nhân không còn. Tại lời khai ban đầu, thủ phạm đã khai nhận hành vi phạm tội trùng khớp hoàn toàn với lời khai báo của nạn nhân. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Phú Biên về hành vi giao cấu với trẻ em theo khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự đồng thời xét bị can tuổi cao, nhân thân chưa tiền án tiền sự nên cho tại ngoại trong thời gian điều tra. Tuy nhiên trong lần hỏi cung bị can lần thứ hai, Phạm Phú Biên đã quay ngược đổ tội cho gia đình cháu Trần Quỳnh N vu oan cho y, Biên cho rằng do bản thân tuổi cao sức yếu, dương vật không còn khả năng cương cứng vì vậy việc gia đình Trần Quỳnh N tố cáo Biên giao cấu với N là sai sự thật. Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra đồng thời dùng phương pháp kích thích dương vật đối với Biên và kết quả cho thấy dương vật của Biên hoàn toàn có thể cương cứng và thực hiện hành vi giao cấu. Nạn nhân là cháu Trần Quỳnh N cũng đưa ra một số đặc điểm nhận dạng dương vật của thủ phạm hoàn toàn trùng khớp với đặc điểm dương vật của Biên nên cuối cũng Phạm Phú Biên cũng phải cúi đầu nhận tội. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Đối với vụ án này, cơ quan điều tra đã buộc tội bằng cách chứng minh ngược lại với lý lẽ chối tội của bị can đồng thời nạn nhân đã may mắn cung cấp được một số đặc điểm nhận dạng vùng kín của đối tượng nên đối tượng buộc phải thừa nhận hành vi. Nhưng có rất nhiều vụ án vì chứng cứ yếu, không đủ nên khi bị can phản cung đã gây khó khăn rất lớn cho việc buộc tội.
Khó khăn nhiều lúc lại phát sinh từ phía người bị hại. Điểm đặc biệt của các vụ án giao cấu với trẻ em là việc giao cấu có sự đồng thuận từ phía nạn nhân. Có nhiều vụ việc giữa nạn nhân và thủ phạm tồn tại quan hệ yêu đương, thậm chí là vợ chồng nên nạn nhân cũng thay đổi lời khai trong quá trình tố tụng, có khi còn che giấu cho bị can, bị cáo. Trong nhiều vụ án mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với họ. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện,… qua đó đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án đó.
Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với trẻ em, bị hại và gia đình bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên nhiều người chưa dám lên tiếng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân họ hoặc người thân khi bị xâm hại. Khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà giấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án. Chẳng hạn vụ Nguyễn Trung Tín phạm tội giao cấu với trẻ em. Theo hồ sơ, đầu năm 2010, Tín và em LTMT (hơn 14 tuổi) nảy sinh tình cảm. Trưa 11-5-2010, Tín cùng bạn xuống Cần Giờ (TP.HCM) chơi, hẹn gặp em T. Sau đó, cả ba đến một nhà nghỉ trên địa bàn, thuê hai phòng nghỉ. Tại một phòng nghỉ, em T. đã chủ động ôm hôn Tín rồi cả hai “quan hệ”… Trưa hôm sau, về nhà được một lúc, em T. quay lại tìm Tín rồi cả hai tiếp tục thuê phòng nghỉ lại. Đến tối, cha mẹ em T. phát hiện, báo công an. Tín bị khởi tố, truy tố về tội giao cấu với trẻ em. Tại phiên xử sơ thẩm hồi tháng 3, do Tín thành khẩn nhận tội, ngoài ra còn có một số tình tiết giảm nhẹ khác nên Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ chỉ phạt một năm tù. Tuy nhiên, Tín lại kháng cáo kêu oan, phủ nhận rằng chưa hề “quan hệ” với em T. Em T. cũng có bản tường trình rằng cả hai thuê phòng chỉ để nghỉ ngơi, nói chuyện, chơi game. Quá trình điều tra, em đã nhiều lần khẳng định là giữa em với Tín chưa đến mức độ yêu nhau vượt quá giới hạn nhưng cán bộ điều tra nói Tín đã nhận hết rồi, cứ nhận đi để xếp hồ sơ. Do còn nhỏ, chưa hiểu biết pháp luật nên em mới nhận đại cho xong việc. Giải thích về kết luận giám định rằng màng trinh có vết rách, em T. khai “một lần trong giờ học thể dục tập nhảy bị trượt chân té và giấu người nhà”…
Trước đó, tại Hà Nội từng xảy ra một vụ bị cáo và nạn nhân “hợp tác” kêu oan, nhờ đó bị cáo thoát tội hiếp dâm trẻ em [26]. Cụ thể, Bùi Văn Hoạt làm nghề mổ gia cầm thuê, ở trọ trong khu lán tạm gần chợ Long Biên (quận Ba Đình). Hoạt quen biết rồi yêu cháu O. (SN 1997, học sinh cấp 2). Tháng 3-2010, lúc cháu O. sang chỗ làm của Hoạt chơi, Hoạt đã xâm hại tình dục. Sự việc bị phát hiện, gia đình cháu O. trình báo công an. Ban đầu, Hoạt và cháu O. khai nhận cả hai đã “quan hệ”. Tuy nhiên, sau đó cháu O. làm đơn khai lại, bản thân Hoạt cũng thay đổi lời khai rằng hai người không có “quan hệ” gì cả. Vì vậy, cuối cùng tòa chỉ có thể xử Hoạt sáu tháng tù về tội dâm ô đối với trẻ em. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Có trường hợp người bị hại có quan hệ tình dục với nhiều người trong thời gian dài, nên khi cơ quan điều tra tiến hành điều tra thì không có đủ chứng cứ để buộc tội tất cả các đối tượng. Cũng có trường hợp khi biết sự việc thì phía gia đình bị hại và gia đình bị cáo tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, sau đó do không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo sau đó không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Thực tiễn xét xử đã xảy ra trường hợp Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung và sau đó viện kiểm sát đã đổi tội danh truy tố đối với bị cáo.
Bên cạnh đó, trong nhiều vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm khi vụ án được đưa ra xét xử, bị cáo được tư vấn của luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc vì một lý do nào đó đã không đồng ý với bản kết luận giám định pháp y đã nhận được trước đó nên đã đề nghị với Hội đồng xét xử cho giám định pháp y lại, dẫn đến kéo dài thời gian và gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án của Tòa án. Trong khi đó, công tác giám định về xâm hại tình dục đối với trẻ em còn nhiều hạn chế và tại Luật Giám định tư pháp được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 đã không quy định việc trưng cầu giám định pháp y về xâm hại tình dục đối với trẻ em là loại đặc biệt, phải được thực hiện nhanh để xác định thủ phạm. Như vậy, nếu trẻ em bị xâm hại tình dục mà bị phát hiện chậm hoặc đưa đi giám định không kịp thời sẽ thiếu mất bằng chứng quan trọng để xác định người phạm tội cũng như gây khó khăn cho công tác xét xử. Mới đây, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại TP.HCM đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, chuyển tội danh từ dâm ô trẻ em sang hiếp dâm trẻ em đối với Trần Nhật Bằng và phạt 16 năm tù thay cho bảy năm tù như án sơ thẩm. Một tối tháng 6-2010, lợi dụng lúc vợ đi làm về trễ, Bằng ép con gái lớn (11 tuổi) “quan hệ”. Những ngày sau, Bằng tiếp tục có hành vi đồi bại với con. Quá hoảng sợ, cháu bé kể lại cho em gái biết. Đứa em nói lại với mẹ. Bằng bỏ trốn, đến tháng 12-2010 thì bị bắt. Tại cơ quan điều tra, Bằng chỉ thừa nhận có hai lần do say rượu đã dùng tay sờ vào chỗ kín của con chứ không có việc giao cấu. Tuy nhiên, dựa trên lời khai của nạn nhân cùng kết quả giám định (cháu gái bị rách màng trinh), cơ quan điều tra và VKS thấy đủ cơ sở khởi tố, truy tố Bằng về tội hiếp dâm trẻ em.
Xử sơ thẩm hồi tháng 4-2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai lại cho rằng chưa đủ cơ sở vững chắc để xét xử bị cáo về tội này. Bằng chỉ thừa nhận có cởi quần và dùng tay sờ mó âm hộ của con chứ không có hành vi giao cấu. Vụ việc cũng không có nhân chứng trực tiếp nào khác. Kết luận giám định xác định nạn nhân bị rách màng trinh nhưng chưa đủ cơ sở xác định vì lý do gì. Vì vậy chỉ có thể xử lý Bằng về tội dâm ô đối với trẻ em… Sau đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai kháng nghị. Tòa phúc thẩm nhận định chứng cứ điều tra, lời khai, khám nghiệm pháp y đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội hiếp dâm… nên đã tuyên án như trên. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Vụ án này là một trong nhiều vụ gây tranh cãi do việc giám định không được thực hiện kịp thời. Nhiều chuyên gia cho biết về thực tế, hiện công tác giám định về xâm hại tình dục trẻ em còn hạn chế. Chẳng hạn ở TP.HCM, chỉ có Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ được chỉ định giám định pháp y về xâm hại tình dục và cũng chỉ giám định trong giờ hành chính. Về mặt quy định, Luật Giám định tư pháp lại không hề quy định việc trưng cầu giám định pháp y về xâm hại trẻ em là loại đặc biệt, phải được thực hiện nhanh để xác định thủ phạm dù tinh trùng chỉ sống được tối đa 72 giờ. Như vậy, nếu trẻ em bị xâm hại tình dục mà phát hiện trễ hoặc đưa đi giám định không kịp thời thì sẽ thiếu mất bằng chứng quan trọng để xác định thủ phạm.
Liên quan đến công tác giám định trong các vụ án xâm hại tình dục nói chung và tội giao cấu với trẻ em nói riêng không thể không nhắc đến kỳ án “ông ngoại hay cha?” tại Tiền Giang như một ví dụ điển hình cho những vướng mắc trong công tác giám định: Tháng 4/1998 Nguyễn Minh H (sinh năm 1983) ở ấp Phú Khương A, xã Phú Kiết, Tiền Giang phát hiện có thai, H đã viết thư cho gì ruột là Đỗ Thị Phượng hỏi vay tiền và chỉ chỗ phá thai, trong thư có đoạn “… có người cha không thể tưởng tượng được”. Hay tin chị Phượng liền báo cho bà nội Minh H là bà Phạm Thị Sứ (vì mẹ đẻ Minh H đã ly hôn với bố H là ông Nguyễn Văn Tho từ năm 1988) biết. Ngày 11/5/1998, bà nội đưa H đến bệnh viện Từ Dũ, thành phố Hồ Chí Minh để phá thai nhưng các bác sỹ xác định thai nhi đã 23 tuần tuổi nên không thể phá thai vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng của mẹ.
Ngày 25/5/1998 ông Nguyễn Văn Tho (sinh năm 1962) gửi đơn đến cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Tiền Giang tố cáo Nguyễn T (sinh năm 1978) là hàng xóm và bạn của anh trai Nguyễn Thị Minh H đã hiếp dâm Nguyễn Thị Minh H làm H có thai. Ngay sau đó, ngày 27/5/1998 nhiều người dân ở ấp Phú Khương A, xã Phú Kiết nơi sinh sống của gia đình ông Tho cùng ký đơn gửi cơ quan điều tra tố cáo chính Nguyễn Văn Tho đã có hành vi “ngủ” với con gái mình.
Ngày 24/8/1998, Nguyễn Minh H sinh con trai đặt tên là Nguyễn Văn. Cơ quan cảnh sát điểu tra công an tỉnh Tiền Giang đã tiến hành thu mẫu của ông Tho, Minh H, Nguyễn T và bé H rồi niêm phong, ghi ký hiệu dưới dạng mẫu ẩn (còn gọi là mẫu mù – ví dụ mẫu máu của ông Tho là B1 chỉ có cơ quan điều tra biết, nơi được trưng cầu giám định không biết mẫu B1 là của ai). Tại bản kết luận giám định 2146/C21-P6 ngày 10/11/1999 của Viện Khoa học hình sự – Bộ công an khẳng định: Nguyễn Văn Tho là bố đẻ của bé Nguyễn Văn H, loại trừ Nguyễn T. Kết luận giám định này là căn cứ để ngày 25/11/1999, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Tiền Giang ra quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam Nguyễn Văn Tho về tội Giao cấu với người dưới mười sáu tuổi theo điều 114 Bộ luật hình sự 1985. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Tho và gia định nhất mực kêu oan, xin được giám định lại và cam đoan chịu mọi phí tổn cho việc giám định lại. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Ngày 12/12/2000, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang ra quyết định số 02/KSĐT.TA.AN trưng cầu tổ chức giám định pháp y – bộ Y tế (nay là Việc giám định pháp y quốc gia – bộ Y tế) giám định lại lần 1. Tổ chức này đã cử cán bộ vào Tiền Giang trực tiếp thu mẫu của bốn đối tượng đưa ra Hà Nội. Tuy nhiên, tổ chức này không có dây chuyền công nghệ phân tích ADN nên đã phải nhờ đến Viện Huyết học và truyền máu Hà Nội xét nghiệm các chỉ số huyết học và Trung tâm công nghệ sinh học Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích gien. Khi có các kết quả xét nghiệm và phân tích này họ tổng hợp thành bản giám định mẫu phụ hệ số 11/GĐMPH với kết luận bé Nguyễn Văn H là con đẻ anh Nguyễn T và Nguyễn Thị Minh H. Như vậy vụ án đã có sự xung đột qua 2 lần giám định và làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Tiền Giang lúng túng, đành phải thỉnh thị ý kiến chỉ đạo của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên.
Ngày 12/7/2001 tại Hà Nội, Cơ quan cảnh sát điều tra – Bộ Công an đã chủ trì cuộc hội thảo khoa học về hai kết luận giám định này. Dự hội thảo có Viện khoa học hình sự là cơ quan quản lý Trung tâm Giám định pháp y – sinh vật (đơn vị giám định lần thứ nhất), Tổ chức Giám định pháp y – Bộ Y tế, nơi đã giám định lần thứ hai (tức giám định lại lần 1) và đại diện Trung tâm Công nghệ sinh học, Đại học Quốc Gia Hà Nội- nơi đã giám định giúp cho Bộ Y tế, Vụ Kiểm sát án trị an Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Hội thảo còn mời thêm các chuyên gia về di truyền học và phân tích gien công tác trong và ngoài lực lượng công an. Nội dung của cuộc hội thảo là phân tích đánh giá về trình độ năng lực cán bộ, chất lượng dây chuyền máy móc của các bên tham gia giám định và qua đó xem xét độ tin cậy của các giám định đã đưa ra. Sau khi thống nhất ý kiến của các bên tham gia, hội nghị đi đến kết luận do giám định trái ngược nhau nên cần tiến hành giám định lại một lần nữa (giám định lại lần 2). Ngày 10/9/2001, Thiếu tướng Đỗ Hùng, Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra – Bộ Công an ký Quyết định trưng cầu giám định lại số 372/P4 (C16) trưng cầu hội đồng giám định quốc gia bao gồm các giám định viên thuộc viện Khoa học Hình sự – Bộ Công an, Viện pháp y quân đội, Viện Y học tư pháp trung ương – Bộ Y tế (được thành lập trên cơ sở Tổ chức giám định pháp y trung ương – Bộ Y tế) do ông Nguyễn Trọng Toàn, Viện trưởng Viện pháp y quân đội làm chủ tịch. Việc thu mẫu giám định các đối tượng do Viện pháp y quân đội chủ trì có sự chứng kiến của các cơ quan chức năng tỉnh Tiền Giang. Mẫu giám định được niêm phong và đóng gói dưới dạng mẫu ẩn chuyển ra Hà Nội giao cho các cơ quan giám định ba ngành tiến hành giám định độc lập. Pháp y quân đội phân tích ba gien đơn lẻ theo công nghệ thủ công.
Trung tâm Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội lại tiếp tục phân tích “giúp” pháp y – Bộ Y tế gien của các đối tượng giám định cũng bằng công nghệ thủ công vốn có. Viện khoa học hình sự phân tích tổ hợp mười gien trên dây chuyền NineplexII hoàn toàn tự động của Mỹ. Sau đó kết quả của các cơ quan giám định được đưa ra trước hội đồng để công khai ký hiệu mẫu, so sánh, đối chiếu. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Tại bản kết luận giám định số 424PY ngày 15/12/2001, Hội đồng giám định quốc gia thống nhất xác định: Nguyễn Văn Tho là cha đẻ của Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Minh H với xác suất 99,999%; Nguyễn T không có quan hệ huyết thống bố con với Nguyễn Văn H.
Căn cứ kết luận giám định trên của Hội đồng giám định quốc gia, tại bản án sơ thẩm số 25/HSST ngày 28/3/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang tuyên phạt Nguyễn Văn Tho ba năm tù giam vì tội Giao cấu với trẻ em. Nhưng tại bản án phúc thẩm số 888/HSPT ngày 19/5/2005, Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy bản án sơ thẩm 25/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, trả hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm điều tra, xét xử theo thủ tục chung với lý do: “Có những hạn chế của việc lấy mẫu, niêm phong mẫu”.
Cho đến ngày 29/9/2005, Cơ quan cảnh sát điểu tra công an tỉnh Tiền Giang lại ra Quyết định trưng cầu giám định số 01 trưng cầu Viện khoa học hình sự giám định lại lần thứ 3. Trước đó, công an tỉnh Tiền Gian đã nhờ giám định viên của Viện khoa học hình sự tư vấn về quy trình thu mẫu giám định gien theo đúng yêu cầu chuyên môn. Trực tiếp thu mẫu là các bác sỹ, kỹ thuật viên của Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang. Dưới sự chứng kiến và giám sát của đại diện Cơ quan cảnh sát điểu tra,Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh, Công an xã Phú Kiết, Hội phụ nữ xã, luật sư. Việc thu mẫu được chụp ảnh, quay camera… để đảm bảo không còn “kẽ hở”.
Lần này, Bản kết luận giám định số 2950/C21 (P7) của Viện khoa học hình sự vẫn không thay đổi: Nguyễn Văn Tho là bố đẻ của Nguyễn Văn H; Nguyễn T không có quan hệ huyết thống với Nguyễn Văn H”. Đến ngày 28/2/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang lại xét xử và tuyên phạt Nguyễn Văn Tho năm năm tù giam về tội giao cấu với trẻ em. Nguyễn Văn Tho lại kháng án… Ngày 18/5/2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử vụ án, có mời giám định viên Viện khoa học hình sự tham dự.
Tại phiên xét xử, Tòa phúc thẩm hoàn toàn thừa nhận kết luận giám định của Viện khoa học hình sự là chính xác nhưng với lý do “chiểu theo nguyện vọng của bị cáo”, Tòa án tuyên bố tạm hoãn phiên xét xử để giám định lại ADN một lần nữa.
Căn cứ Quyết định trưng cầu giám định số 252/2006/QĐTCGĐPT ngày 10/7/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh gửi Bộ trưởng Bộ Y tế, Vụ Điều trị – Bộ Y tế gửi công văn 7480/ BYT – ĐTr ngày 4/10/2006 đề nghị Viện Khoa học hình sự cử giám định viên tham gia Hội đồng giám định quốc gia một lần nữa. Được sự chấp thuận của Bộ Công an, Viện khoa học hình sự đã từ chối tham gia giám định bằng công văn số 1123/C21 (P7) với lý do Viện đã ba lần giám định gien của bốn đối tượng nói trên, trong đó đã có một lần với tư cách là thành viên của Hội đồng giám định quốc gia. Kết luận giám định “Nguyễn Văn H là con đẻ của Nguyễn Văn Tho và Nguyễn Thị Minh H.” là không thể thay đổi qua các lần giám định và các Tòa sơ thẩm tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang và Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đều thừa nhận, việc giám định thêm một lần nữa chỉ gây tốn kém tiền bạc và lãng phí thời gian.
Qua vụ việc trên chúng tôi thiết nghĩ công tác giám định trong các vụ án giao cấu với trẻ em nói riêng và trong việc giải quyết án hình sự của các cơ quan tố tụng là hết sức quan trọng, kết quả giám định có thể làm thay đổi toàn bộ nội dung vụ án, quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự nặng hay nhẹ, có tội hay vô tội… Tuy nhiên còn tồn tại nhiều bất cập trong công tác này: trình độ chuyên môn của giám định viên, trang thiết bị máy móc, sự thống nhất giữa các cơ quan giám định, căn cứ trưng cầu giám định, quy trình giám định…Vì vậy, theo chúng tôi giữa các cơ quan tố tụng cũng như các cơ quan có chức năng giám định cần phải thống nhất về các vấn đề trên, khắc phục các vướng mắc đã và đang tồn tại để không còn những vụ án kéo dài vô lý như vụ Nguyễn Văn Tho.
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội Giao cấu với trẻ em Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
3.2.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự đối với tội giao cấu với trẻ em
Từ những bất cập trên đây cho thấy các nhà làm luật cần có hướng dẫn mới và cụ thể về hành vi giao cấu. Từ “giao cấu” theo tiếng Anh là “copulatory” với ý nghĩa chỉ về mặt sinh lý giữa giống đực và giống cái hầu như không được dùng trong các văn bản pháp lý trên thế giới. Cách hiểu và áp dụng phổ biến hiện nay về mặt khoa học và pháp lý trên thế giới được các nước thừa nhận là định nghĩa của Wikipedia về hành vi quan hệ tình dục là:
Hành vi đưa bộ phận sinh dục nam/đực vào trong bộ phận sinh dục nữ/ cái. Quan hệ tình dục cũng có thể là giữa những thực thể khác hoặc cùng giới tính hoặc lưỡng tính. Những năm gần đây, việc thực hiện với những bộ phận không phải là bộ phận sinh dục (qua đường miệng, đường hậu môn, hoặc dùng ngón tay) cũng được bao gồm trong định nghĩa này. Có hành vi tình dục thâm nhập và hành vi tình dục không thâm nhập. Tình dục đường âm đạo, đường miệng, đường hậu môn được coi là tình dục thâm nhập. Những hành vi tình dục khác và thủ dâm lẫn nhau được coi là tình dục không thâm nhập.
Với cách hiểu về mặt khoa học cũng như thực tiễn áp dụng của nhiều quốc gia trên thế giới, chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng hướng dẫn cụ thể về hành vi “giao cấu”, sửa đổi để quy định một cách tương xứng giữa tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm và mức hình phạt của tội phạm này. Thực tế nhức nhối hiện nay về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nam đòi hỏi các nhà làm luật cân đối các tội danh và lượng hình tương đương với các tội danh xâm hại tình dục trẻ em gái. Tranh tình trạng như hiện nay các tội danh thuộc nhóm tội xâm hại tình dục trẻ em như “Hiếp dâm trẻ em”, “Giao cấu với trẻ em” (Điều 112, 115 Bộ luật Hình sự) có khung hình phạt cao nhất là tử hình chỉ xác định đối tượng bị hại là trẻ em gái. Trong khi đó, với đối tượng bị hại nam chỉ có một tội danh quy định tại Điều 116 “Tội dâm ô trẻ em” với khung hình phạt cao nhất là 12 năm.
Các nhà làm luật cần nhìn nhận thực tế có hành vi quan hệ tình dục đồng tính để định nghĩa lại hành vi mại dâm, môi giới mại dâm đồng tính cũng như khái niệm giao cấu; người bị hại ngoài trẻ em gái, còn cả trẻ em nam, từ đó mới có cơ sở xử lý triệt để để bảo vệ sự phát triển bình thường của trẻ em nam.
3.2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội giao cấu với trẻ em Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi xâm hại tình dục trẻ em, điều đó được thể hiện qua các bộ luật: Bộ luật hình sự 1985 và Bộ luật hình sự 1999. Đây là đường lối đúng đắn nhằm bảo vệ quyền trẻ em, hạn chế tình trạng xuống cấp đạo đức, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng không quên rằng hình phạt qui định trong Bộ luật hình sự ngoài mục đích trừng trị còn có mục đích cao hơn là giáo dục người phạm tội, giúp họ trở thành người có ích cho xã hội. Bộ luật hình sự 1999 quy định về mục đích của hình phạt như sau:
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [18, Điều 27].
Qua điều luật có thể thấy mục đích cao nhất và cuối cùng của hình phạt cũng là để giáo dục người phạm tội, giúp họ sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với tội giao cấu với trẻ em, chủ thể tội phạm nhiều khi là những đối tượng khá đặc biệt. Họ có thể là người yêu, là chồng của nạn nhân, họ có thể là những người nông dân thiếu hiểu biết pháp luật, cũng có thể là người dân tộc thiểu số sống ở miền sâu miền xa nơi tập quán phong tục kết hôn sớm vẫn còn phổ biến… Vì vậy, có thể nói về chủ thể của tội danh này bên cạnh những đối tượng cần phải trừng trị đích đáng, nghiêm minh là các đối tượng cố tình dụ dỗ trẻ em quan hệ tình dục để thỏa mãn nhu cầu sinh lý bệnh hoạn, đối tượng băng hoại đạo đức (quan hệ có tính chất loạn luân, quan hệ với nhiều người…)… thì vẫn có những chủ thể tội phạm, tuy hành vi của họ đã thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của tội giao cấu với trẻ em nhưng xem xét trên góc độ xã hội họ cũng là nạn nhân. Dưới góc độ này thì những người tiến hành tố tụng cần phân loại, đánh giá đúng bản chất hành vi, vấn đề lỗi, ý thức của người phạm tội để áp dụng pháp luật một cách mềm dẻo nhằm đạt được mục đích cuối cùng của pháp luật nói chung và hình phạt nói riêng là giáo dục nhân cách con người, giúp họ thành người có ích cho xã hội. Gần đây ở thành phố Hồ Chí Minh xảy ra một vụ án mà dư luận hết sức quan tâm và kết quả của vụ án đối với những người dân là một kết thúc “có hậu” còn dưới con mắt những người làm luật thì đó là một vụ án có tính nhân văn mà phán xét của cùng của tòa án tuy thể hiện tính khoan hồng nhưng vẫn đạt được giá trị giáo dục cao. Theo bản án sơ thẩm, năm 2009, Lê Đức Thiên Tân và Nguyễn Thị Thanh Huyền quen nhau khi anh vừa tròn 18 còn người yêu cũng vừa bước sang tuổi 15. Một năm sau họ về sống với nhau như vợ chồng tại nhà cha mẹ Tân trên đường Bình Đông (quận 8). Tháng 5/2010, mẹ Tân đưa con dâu đi khám thì phát hiện Huyền có thai 16 tuần tuổi. Tối hôm đó, do mâu thuẫn trong việc ăn uống, Tân đánh Huyền và bị công an phường mời tới làm việc. Cảnh sát phát hiện Tân giao cấu với Huyền khi cô chỉ hơn 15 tuổi. Năm tháng sau Huyền sinh bé gái bụ bẫm cũng là lúc Tân bị khởi tố. Trong thời gian chờ bị xét xử, đôi vợ chồng trẻ lại có thêm đứa con thứ hai. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Cuối tháng 11/2012, Tân bị Tòa án nhân dân quận 8 tuyên phạt 3 năm 6 tháng tù. Phán quyết này khiến vợ chồng Tân bất ngờ và họ cùng làm đơn gửi lên tòa phúc thẩm xin xem xét giảm nhẹ hình phạt. Ngày 9/4, tại phiên phúc thẩm, Tòa án nhân dân TP HCM chấp nhận kháng cáo của Tân, tuyên bị cáo phạm tội Giao cấu với trẻ em nhưng được miễn hình phạt tù giam để có điều kiện đi làm chăm sóc hai con nhỏ. “Hồi bị tạm giữ em cũng không biết mình mắc tội gì.
Đến khi nghe công an bảo quan hệ với vợ còn nhỏ tuổi là phạm tội, em sợ lắm vì cứ nghĩ yêu nhau thiệt tình thì làm gì có tội. Ngày bị tòa quận 8 tuyên phạt tù, em như muốn chết vì mình vợ làm sao chăm được hai con. Giờ được khoan hồng em cảm ơn pháp luật lắm”.
Thẩm phán Phạm Đức Oánh, Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm cho biết, bản án miễn hình phạt tù giam đối với Tân được sự đồng thuận của tất cả Hội đồng xét xử. Đi đến quyết định này, các thành viên Hội đồng xét xử đã cân nhắc rất kỹ hoàn cảnh, ý thức phạm tội của bị cáo là vì thiếu hiểu biết pháp luật. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ, hiện Tân và vợ – cũng chính là bị hại của vụ án – đã có hai con nhỏ rất cần được chăm sóc, dạy dỗ trong khi hoàn cảnh gia đình khó khăn. Việc bỏ tù bị cáo sẽ khiến gia đình khổ sở, những đứa trẻ sẽ mất mát, thiệt thòi rất nhiều”, ông Oánh chia sẻ.
Những trường hợp như vợ chồng Tân trong vụ án trên không phải là tình trạng hiếm gặp ở Việt Nam. Theo thống kê của Ủy ban dân số – Gia đình và trẻ em, trên địa bàn 15 tỉnh thành phố nước ta có tới 1% trẻ em kết hôn trong độ tuổi từ 14 đến 16 tuổi. Nguyên nhân của tình trạng này là do tập quán lạc hậu của người dân, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây xu hướng chung của các nước trên thế giới, trong khu vực cũng như ở nước ta độ tuổi “quan hệ tình dục lần đầu” đang có xu hướng trẻ hóa. Theo công bố của tiến sỹ Nguyễn Thiện Trưởng- Phó chủ tịch Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam thì tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh niên Việt Nam năm 2010 đã giảm đi gần hai tuổi so với năm 2005 và những năm gần đây nhất vẫn thể hiện xu hướng giảm dần. Tương tự là nước láng giềng Singapore: theo nghiên cứu của Trung tâm phát triển thanh thiếu niên Singapore thì độ tuổi này ở Singapore là từ 12 đến 15 tuổi. Khác với các trường hợp kết hôn sớm do phong tục tập quán, do nhận thức lạc hậu như đã đề cập ở trên thì tình trạng giảm dần độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu lại thể hiện rõ nét hơn ở thanh thiếu nên sống ở các vùng đô thị, vùng kinh tế xã hội phát triển. Nguyên nhân của thực trạng này cũng khác biệt: các nhà khoa học đã chứng minh rằng hiện nay, với chế độ dinh dưỡng và điều kiện sống tốt hơn, sự phát triển về cơ thể cũng như thời kỳ dậy thì của các em cũng sớm hơn trước đây. Dưới góc độ tâm lý học, quá trình phát triển tâm lý có quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa mà thanh thiếu niên đang sống. Nhiều người cho rằng, hiện nay thanh thiếu niên có sự nhận thức về quan hệ tình dục sớm hơn trước rất nhiều, và đó cũng là một xu hướng xã hội mà chúng ta cần xem xét.
Qua những phân tích trên đây chúng tôi đi đến kết luận rằng đối với tội danh giao cấu với trẻ em, ngoài việc áp dụng các hình phạt theo pháp luật quy định để đạt được mục đích trừng trị và giáo dục thì việc phổ biến pháp luật đi kèm với việc tích cực tuyên truyền và vận động là phương pháp phòng ngừa đạt hiệu quả cao nhất.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu thạc sỹ ngành luật hình sự, người viết đã cố gắng vận dụng những kiến thức đã được học tập tại giảng đường khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội và trường Đại học Luật Hà Nội, đồng thời kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn công việc để hoàn thành đề tài. Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn hẹp và đây là đề tài khá nhạy cảm nên không tránh khỏi những thiếu sót. Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung và Bộ luật Hình sự 1999 nói riêng, người viết đã sử dụng các kiến thức cá nhân cùng sự tổng hợp, tham khảo, phân tích, đánh giá, so sánh các tài liệu chuyên ngành khác như xã hội học, tâm lý học, Luật Dân sự… và các quy định pháp lý liên quan của một số nước trên thế giới cũng như trong khu vực để làm nối bật các vấn đề cốt lõi nhất. Đặc biệt là các vấn đề còn vướng mắc, còn sự chênh lệch giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước trên thế giới cũng qua đây được nêu ra một cách rõ nét để trên cơ sở đó người viết đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các vấn đề liên quan đến tội danh Giao cấu với trẻ em được quy định tại Điều 115 – Bộ luật Hình sự mà pháp luật Việt Nam còn tồn tại sự bất cập. Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
