Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ trẻ em luôn luôn là trách nhiệm hàng đầu của cả xã hội. Tư tưởng đó cũng xuyên suốt trong hệ thống pháp luật Hình sự nước ta từ trước tới nay thể hiện ở việc coi trẻ em là khách thể cần được bảo vệ đặc biệt mà nếu bị xâm phạm đến thì hình phạt dành cho chủ thể tội phạm là nghiêm khắc hơn rất nhiều so với tội phạm có khách thể là người đã thành niên.

Tuy nhiên hiện nay có một thực trạng đáng lo ngại là sự gia tăng của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trên cả nước. Đặc biệt là trên địa bàn thành phố Hà Nội, tuy là khu vực thành thị có dân trí cao so với mặt bằng của cả nước nhưng lại là nơi mà tội phạm xâm hại tình dục đang có chiều hướng gia tăng về số lượng và nghiêm trọng về tính chất vụ việc.

Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu tội giao cấu với trẻ em trên toàn quốc song song với việc đi sâu phân tích địa bàn thành phố Hà Nội. Tội giao cấu với trẻ em được quy định tại Điều 115 – Bộ luật Hình sự 1999, thuộc chương XII – các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Điểm khác biệt của tội giao cấu với trẻ em so với các tội xâm phạm tình dục khác được quy định trong cùng chương này là hành vi giao cấu được sự thuận tình từ phía bị hại. Như vậy có thể hiểu các nhà lập pháp quy định điều luật này nhằm bảo vệ người bị hại là trẻ em khi các em còn chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý để quyết định về hành vi tình dục của mình. Cũng chính vì đặc trưng trên của tội danh này mà trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án giao cấu với trẻ em còn nhiều vướng mắc. Nhiều vụ án giao cấu với trẻ em rất khó chứng minh trên thực tế cũng như có những vụ án trong quá trình tố tụng đã phải đình chỉ hoặc thay đổi tội danh do những biến chuyển xuất phát từ chính lời khai của các bên đương sự, do sự xung đột kết quả giám định…

Chính vì những nguyên nhân trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam” bằng cách phân tích sâu những dấu hiệu pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử tội giao cấu với trẻ em, trên cơ sở đó tìm ra những vấn đề còn vướng mắc, bất cập cả về lý luận và thực tiễn, để từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này trên thực tế.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là nhóm tội phạm được quan tâm nghiên cứu rất nhiều vì đây là nhóm tội gây nguy hại cao cho xã hội, nó xâm hại trực tiếp đến con người là khách thể được pháp luật hình sự đặc biệt bảo vệ. Vì vậy cho tới nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nhóm tội danh này như: công trình khoa học “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của con người” do tác giả Trần Văn Luyện biên soạn (2000, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội); đề tài “Tìm hiểu các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” của hai tác giả Bùi Anh Tuấn và Hồ Thị Nệ; (2010, Tìm hiểu các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự con người, NXB Phụ nữ, Hà Nội) các bài viết đăng trên tạp chí Luật học: “Một số điểm mới trong chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật hình sự năm 1999” của tác giả Lê Đăng Doanh (Tạp chí Luật học số 4/2000); “ Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của con người – so sánh Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 1985” của giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Ngọc Hòa (Tạp chí Luật học số 1/2001); Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thùy Chi trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011 “Tội giao cấu với trẻ em theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành” cũng đã nghiên cứu một cách khá toàn diện và cơ bản về tội Giao cấu với trẻ em theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999.

3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trước tình hình tăng lên nhanh chóng về số lượng và diễn biến phức tạp về tính chất của các vụ án liên quan đến nhóm tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong đó đặc biệt là tội Giao cấu với trẻ em trong mấy năm gần đây, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam”. Mục đích nghiên cứu mà chúng tôi mong muốn đạt được là phân tích bao quát về toàn bộ lịch sử lập pháp của tội danh này trong pháp luật Việt Nam qua đó rút ra sự kế thừa, phát triển của việc pháp điển hóa điều luật này qua các thời kỳ lịch sử; bên cạnh đó chúng tôi cũng phân tích chuyên sâu những dấu hiệu pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi phát hiện ra những quan điểm còn mâu thuẫn, chưa thống nhất cả trên phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội danh này từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Từ thực tiễn công việc cùng với việc nghiên cứu, tham khảo các thông tin, tài liệu trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác, tôi nhận thấy tình hình tội giao cấu với trẻ em đang diễn biến phức tạp. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập trong công tác điều tra, truy tố và xét xử đối với tội danh này. Vì vậy với những nghiên cứu và kết quả thu thập được, chúng tôi hy vọng làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với tội giao cấu với trẻ em. Trên cơ sở phân tích một số vụ án điển hình, chúng tôi tìm ra những điểm bất cập và vướng mắc xuất phát từ các quy định của Bộ luật hình sự từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em theo điều 115 Bộ luật hình sự. Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra một số giải pháp cho công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm này.

3.3. Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi nghiên cứu tội giao cấu với trẻ em dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, trong đó đi sâu nghiên cứu các vấn đề: Khái niệm và lịch sử lập pháp của nước ta về tội giao cấu với trẻ em; các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội giao cấu với trẻ em được thể hiện trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm; đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em theo pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nghiên cứu một số vụ án giao cấu với trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm minh họa cho các vấn đề được đưa ra đồng thời phân tích những vướng mắc trong quá trình tố tụng của các vụ án từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử. Từ đó, đề xuất những vấn đề cần điều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật Việt Nam về tội giao cấu với trẻ em.

4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lê nin, đồng thời chúng tôi cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, so sánh, thống kê xã hội học kết hợp với tâm lý học và giải phẫu học nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu. Người viết cũng sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với các quy định về vấn đề tương tự trong pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới, từ đó phân tích, tổng hợp và đưa ra kiến nghị để hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự đối với tội giao cấu với trẻ em.

5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

  • Phân tích chuyên sâu về khái niệm “trẻ em”, đưa ra các quan điểm trong và ngoài nước về khái niệm này.
  • Phân tích chuyên sâu về khái niệm “giao cấu”, đưa ra các quan điểm trong và ngoài nước về khái niệm này và những bất cập trong luật hình sự Việt Nam liên quan đến khái niệm này.
  • Nêu và phân tích một số quan điểm về mặt “lỗi” trong cấu thành tội phạm tội Giao cấu với trẻ em theo Điều 115 Bộ luật hình sự.
  • Phân tích những bất cập còn tồn tại về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến tội Giao cấu với trẻ em theo Điều 115 Bộ luật hình sự.
  • Kiến nghị giải pháp hoàn thiện thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội giao cấu với trẻ em.

6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn bao gồm ba chương:

  • Chương 1:  Một số vấn đề lý luận về tội giao cấu với trẻ em.
  • Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội giao cấu với trẻ em.
  • Chương 3: Một số bất cập về lý luận, thực tiễn áp dụng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội giao cấu với trẻ em.

Chương 1: MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ

1.1. Khái niệm tội giao cấu với trẻ em

Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam cũng như trên thế giới, tội giao cấu với trẻ em là loại tội được quy định từ rất sớm. Tuy nhiên tại mỗi thời kỳ các quy định cụ thể về loại tội này là khác nhau.

Trước hết cần làm rõ về khái niệm “trẻ em”. Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em được hiểu tương đối thống nhất là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, trong các Công ước quốc tế như Tuyên bố của Hội quốc liên về quyền trẻ em năm 1924, Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước 138 của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1976 về tuổi tối thiểu được làm việc, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989… đã khẳng định việc áp dụng độ tuổi trẻ em của mỗi quốc gia có thể khác nhau, tùy thuộc tình hình thực tế của của mỗi nước có thể áp dụng về độ tuổi trẻ em trong nội luật. Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Ở Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi trẻ em chính thức được đề cập trong một văn bản pháp quy sau khi Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11 năm 1979, trong đó quy định: “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi” (Điều 1). Đến năm 1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành tại Điều 1 đã nâng độ tuổi trẻ em lên đến dưới 16 tuổi: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [19]. Độ tuổi này cũng được khẳng định lại tại Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 2004. Như vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em được xã hội, pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi. Mặc dù quy định độ tuổi thấp hơn so với Công ước quốc tế nhưng quy định về độ tuổi trẻ em của nước ta vẫn được coi là phù hợp với quy định mở của Công ước.

Bên cạnh văn bản luật chuyên ngành, trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới vấn đề trẻ em như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Thanh niên, Luật Quốc tịch, Luật Giáo dục, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học… Tuy nhiên mỗi ngành luật đều tiếp cận khái niệm trẻ em ở một khía cạnh khác nhau. Đặc biệt, một số văn bản luật đã có các chế định quy định về quyền tự định đoạt của trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên đối với các vấn đề liên quan trực tiếp tới mình như: nhận nuôi con nuôi; thay đổi họ, tên của con nuôi; quyết định ở với cha hay mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn…(Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000). Trẻ em từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000). Trẻ em từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lấy ý kiến bằng văn bản khi thay đổi quốc tịch (Luật Quốc tịch năm 1998)…

Trong thực tế có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau khi xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em. Người ta thường sử dụng cụm từ “trẻ em”, “trẻ con” hay “trẻ thơ” để chỉ những người ở một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của con người. Ở góc độ khoa học, trẻ em được định nghĩa tùy theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể. Trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tương lai của quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đối với chuyên ngành xã hội học, trẻ em được xác định là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn, do đó cần được toàn xã hội quan tâm, tạo điều kiện sinh thành, nuôi dưỡng, bảo vệ và chăm sóc để trẻ em phát triển tốt nhất. Trong tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách con người. Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuổi. Điều này có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào tuổi của người đó tại thời điểm xác định. Theo từ điển bách khoa Wikipedia thì trẻ em là một con người phát triển ở giai đoạn từ lúc sinh ra cho đến tuổi dậy thì. Mặc dù còn nhiều cách gọi tên hay vận dụng khác nhau nhưng tổng hợp lại chúng ta có thể thống nhất khái niệm về trẻ em như sau: Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người. Từ cách tiếp cận này, chúng ta có thể hiểu khái niệm về độ tuổi của trẻ em là con người trong khoảng thời từ khi được sinh ra cho đến năm 16 tuổi (theo pháp luật Việt Nam) hoặc năm 18 tuổi (theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hiệp quốc).

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 không đưa ra định nghĩa về trẻ em một cách cụ thể mà lại mô tả ngay trong các điều luật về độ tuổi của trẻ em. Ví dụ: Tội Hiếp dâm trẻ em quy định “Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ mười ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm” [18, Điều 112], tội Cưỡng dâm trẻ em quy định “người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ mười ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm” [18, Điều 114]. Bộ luật hình sự Việt Nam cũng quy định về tội giao cấu với trẻ em – Điều 115 “Người nào giao cấu với trẻ em từ đủ mười ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi”. Như vậy, “trẻ em” được quy định ở trong các điều luật trên là người dưới mười sáu tuổi và trẻ em là đối tượng của tội “Giao cấu với trẻ em” là người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Có người hiểu rằng trẻ em theo các điều luật trên là người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.Cách hiểu như vậy là chưa xác đáng bởi trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 là đối tượng của tội phạm được quy định tại các điều luật trên không đồng nghĩa với khái niệm trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam nói chung. Có sự tách biệt giữa trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi với trẻ em dưới 13 tuổi bởi đối tượng trẻ em dưới 13 tuổi được xác định về sinh học và xã hội học là lứa tuổi hết sức non nớt và cần sự bảo về đặc biệt từ xã hội. Do vậy, đối với các tội phạm xâm phạm đến trẻ em dưới 13 tuổi pháp luật sẽ điều chỉnh trong những quy phạm riêng, với sức răn đe đặc biệt. Ví dụ tại khoản 4 Điều 112 quy định “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Vậy việc giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi cho dù nhận được sự đồng tình từ phía nạn nhân thì vẫn bị coi là “hiếp dâm”, nó khác với việc giao cấu thuận tình với trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi được quy định tại điều 115 “Giao cấu với trẻ em”. Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên cũng cần được phân biệt rõ, tránh cách hiểu đồng nhất cũng như cách hiểu tách bạch khiên cưỡng đối với hai khái niệm này. Khi nghiên cứu vấn đề này, ta cần phân biệt rõ người chưa thành niên và trẻ em khác nhau như thế nào. Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên. Tham khảo thêm các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưa thành niên gồm: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations Convention on the Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29-11-1985; Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14-12-1990. Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên. Tại điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [8].

Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Cụ thể, Tại Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật…” [18]. Như vậy, độ tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi còn trẻ em là dưới 16 tuổi. Hai khái niệm “Trẻ em” và “người chưa thành niên” có sự giao thoa với nhau, trong đó, khái niệm “người chưa thành niên” rộng hơn khái niệm “trẻ em”. Khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên. Như vậy, có thể khái quát về khái niệm “Người chưa thành niên”: là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Thứ hai, về chủ thể của tội giao cấu với trẻ em. Dựa vào khái niệm “trẻ em” và người chưa thành niên” như đã phân tích ở trên thì “người đã thành niên” là người đủ 18 tuổi trở lên. Nhưng người đã thành niên có phải là chủ thể của tội giao cấu với trẻ em không? Câu trả lời là không phải người đã thành niên nào cũng là chủ thể của tội giao cấu với trẻ em được vì người này còn phải thỏa mãn những quy định của Bộ luật hình sự, theo đó người đã thành niên nhưng phải không thuộc các trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 13 – Bộ luật hình sự là: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”. Vậy, năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và điều khiển được hành vi ấy. Nếu một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng họ không nhận thức được hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội hoặc nhận thức được nhưng không điều khiển được hành vi đó là người không có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 1 điều 13 Bộ luật hình sự, thì tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là tình trạng của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Tiêu chuẩn (dấu hiệu) để xác định một người không có năng lực trách nhiệm hình sự là mắc bệnh (tiêu chuẩn y học) và tâm lý (mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển). Cả hai dấu hiệu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, cái này là tiền đề của cái kia và ngược lại. Một người vì mắc bệnh nên mất khả năng điều khiển và bị mất khả năng điều khiển vì họ mắc bệnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật Hình sự thì người bị mắc bệnh là bệnh tâm thần hoặc bệnh khác. Cho đến nay chưa có giải thích chính thức nào về trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 13 bộ luật hình sự. Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã thừa nhận một người không có năng lực trách nhiệm hình sự khi họ mắc một trong các bệnh sau: bệnh tâm thần kinh niên, bệnh loạn thần, bệnh si ngốc, các bệnh gây rối loạn tinh thần tạm thời. Thực tiễn xét xử cho thấy có trường hợp một người bị mắc bệnh tâm thần nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bởi vì khi thực hiện hành vi phạm tội họ không mắc bệnh. Pháp luật nước ta cũng như một số nước trên thế giới đều quy định: chỉ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng họ đang bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức thì mới không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (loại trừ trách nhiệm hình sự). Chỉ khi nào người mắc bệnh tâm thần tới mức làm mất khả năng nhận thức hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra mới được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự. Nếu bệnh của họ chưa tới mức làm mất khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình thì tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, họ phải chịu toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm hình sự. Luật hình sự nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới không loại trừ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh khác. Bởi vì họ là người có năng lực trách nhiệm hình sự và khi họ uống rượu hoặc sử dụng chất kích thích là tự họ đặt mình vào tình trạng “ say” nên đó chính là lỗi của họ. Say rượu là một hiện tượng không bình thường trong xã hội, là một thói xấu trong sinh hoạt, việc bắt người say rượu phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do họ gây ra còn là biểu thị thái độ nghiêm khắc của xã hội đối với tệ nạn say rượu. Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, ở nước ta không thừa nhận tình trạng say rượu dù đó là say rượu bệnh lý cũng không được loại trừ trách nhiệm hình sự. ở một số nước, trong đó có các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ coi trường hợp say rượu bệnh lý được loại trừ trách nhiệm hình sự. Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Người phạm tội cũng được loại trừ trách nhiệm hình sự nếu khi thực hiện hành vi phạm tội họ mắc một bệnh nào đó và bệnh đó đã làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình. Đây là trường hợp người phạm tội vẫn nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì bị bệnh nên họ không điều khiển được hành vi của mình theo ý muốn nên đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Thông thường những người ở trong tình trạng này là trường hợp theo quy định của pháp luật buộc họ phải hành động, nhưng vì bị bệnh nên họ không thể hành động theo ý muốn nên đã gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Một người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thực hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình phải được hội đồng giám định pháp y kết luận, nhưng nguyên nhân làm cho người bị mắc bệnh lại rất đa dạng. ở nước ta do hậu quả của nhiều cuộc chiến tranh để lại cho nên những người mắc bệnh tâm thần còn do hậu quả của chiến tranh như: bị thương, bị nhiễm chất độc màu da cam, bị sốt rét ác tính hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thực hoặc khả năng điều khiển hành vi.

Như vậy, người phạm tội – chủ thể của tội giao cấu với trẻ em phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, ta cần làm rõ về hành vi giao cấu. Có một số định nghĩa khác nhau về giao cấu được phổ biến trong các sách từ điển hiện nay ở nước ta: Giao cấu là từ Hán Việt, được Đào Duy Anh định nghĩa là âm và dương giao hợp với nhau = trai gái làm tính giao với nhau (relations sexuelles). Lê Văn Đức định nghĩa giao hợp = giao cấu và giao cấu là ăn nằm, đi lại, lấy nhau giữa một nam một nữ hay một đực một cái. Nguyễn Kim Thản định nghĩa giao cấu là giao nhau giữa bộ phận sinh dục ngoài của giống đực và của giống cái (ở động vật). Giao hợp là giao cấu (chỉ nói về người). Theo Đại từ điển tiếng Việt thì giao cấu là “cùng thực hiện chức năng sinh sản” [28]. Theo Bản tổng kết 329/HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao thì khái niệm về thuật ngữ “Giao cấu” hiện nay vẫn được hiểu là “sự cọ sát dương vật vào bộ phận sinh dục người phụ nữ…”. Tức là, chủ thể phạm tội giao cấu chỉ có thể thuộc giới tính nam và nạn nhân thuộc giới tính nữ. Điều này đối với thực tiễn hiện nay nên chăng cần có phạm vi rộng hơn. Bởi, thực tế trong xã hội phát triển, hiện đại hôm nay, sự xuất hiện tràn lan của “sex toys” (đồ chơi tình dục: với những công cụ, thiết bị, đồ vật được sản xuất có kết cấu giống bộ phận sinh dục nam hoặc nữ nhằm kích thích khoái cảm về tình dục), thuốc kích dục, quan hệ đồng giới (đồng giới nam hoặc đồng giới nữ)…khiến cho việc quan điểm như nói trên trở nên không bao quát được hết phạm vi của tội danh này, dẫn đến bỏ lọt tội phạm.

Vụ việc sau đây là một ví dụ cho sự bối rối của cơ quan chức năng khi gặp phải vấn đề này trên thực tế: Anh T. là Việt kiều (28 tuổi) có quan hệ quen biết với cháu H. là trẻ em chưa đủ 16 tuổi. Hai bên cũng đã nhắn tin qua lại và có nảy sinh tình cảm yêu đương. Ngày 2-8, Cảnh sát Quản lý hành chính Công an TP C. tiến hành kiểm tra hành chính một khách sạn trong thành phố phát hiện anh T. và cháu H. đang ở chung phòng trong khách sạn khai nhận trong khi ở chung phòng cả hai đã ba lần “quan hệ”. Ngay sau đó bị tạm giữ hình sự để điều tra hành vi dâm ô đối với trẻ em. Trong quá trình điều tra, xuất hiện một tình tiết mới đó là: T. là đối tượng chuyển giới, không có bộ phận sinh dục nam. Việc chuyển giới của T. cũng đã được chính quyền nơi T. sinh sống cho phép và công nhận đương sự là đàn ông trên giấy tờ nhân thân. T. cũng khẳng định không có bộ phận sinh dục nam mà đó chỉ là đồ giả làm bằng silicon. Cơ quan điều tra cũng trưng cầu giám định pháp y về tình dục đối với T. Kết luận của Trung tâm pháp y cho rằng: “T. là nữ giới đã phẫu thuật chuyển giới tính nhưng bộ phận sinh dục vẫn là nữ nên không thể quan hệ tình dục với nữ được”. Trong vụ án này, cháu H. và gia đình cháu không có đơn yêu cầu khởi tố T. Căn cứ vào những tình tiết trên cơ quan điều tra đã ra quyết định không khởi tố T. do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm dâm ô với trẻ em cũng như Giao cấu với trẻ em và do phía bị hại không có đơn yêu cầu khởi tố đối tượng. Quyết định này cũng đã được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn. Tuy nhiên việc Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cho rằng T không phạm tội đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều cũng như sự không đồng tình của dư luận.

Hành vi giao cấu được quy định trong tội giao cấu với trẻ em phải được sự đồng ý của người bị hại, vì nếu người bị hại không muốn hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi giao cấu thì lại cấu thành tội hiếp dâm trẻ em hoặc tội cưỡng dâm trẻ em chứ không phải tội giao cấu với trẻ em. Theo lý luận về cấu thành tội phạm trong khoa học pháp lý hình sự, những cấu thành tội phạm không mô tả dấu hiệu hậu quả thì được coi như thực hiện với lỗi cố ý, như vậy, tội phạm trong tội giao cấu với trẻ em – Điều 115 Bộ luật hình sự được coi như thực hiện với lỗi cố ý.

Từ ba điểm cần làm rõ ở trên, có thể đưa ra khái niệm chung về tội giao cấu với trẻ em là “Tội giao cấu với trẻ em là hành vi giao cấu do người có năng lực trách nhiệm hình sự từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một cách cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu về sinh lý với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi với sự hoàn toàn đồng ý của họ, xâm hại quyền được bảo vệ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em”.

1.2. Lịch sử lập pháp về tội giao cấu với trẻ em trong pháp luật hình sự Việt Nam Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

1.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất- Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985

Pháp luật là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội. Các bộ luật của nhà nước phong kiến ra đời trên cơ sở kinh tế và kết cấu giai tầng của xã hội này. Vì thế, pháp luật phong kiến là phương tiện để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến mà trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến. Trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, các nhà nước quân chủ và phong kiến ở Việt Nam đã nhận thức được vai trò của luật pháp và quan tâm, đầu tư cho việc ban hành pháp luật. Hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này gồm các bộ luật tổng hợp và các văn bản pháp luật khác như: Chiếu, Chỉ, Lệ, Lệnh, Dụ, Sắc… Trong đó, các bộ luật: Hình thư (thời Lý), Quốc triều Hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức – thời Lê), và Hoàng Việt Luật lệ (gòn gọi là bộ luật Gia Long – Thời Nguyễn) [1] là những bộ luật cổ tiêu biểu nhất được xây dựng và ban hành trong lịch sử pháp luật xã hội phong kiến (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX). Mặc dù như đã nói ở trên, việc xây dựng hệ thống luật lệ nói chung được quan tâm từ rất sớm nhưng chỉ tới thế kỉ XV thì các nhà lập pháp mới sớm xem xét về hành vi giao cấu với trẻ em.

Bộ luật Hồng Đức trong chương “Thông gian” quy định “việc gian dâm với con gái nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, dù người con gái có thuận tình cũng xử như tội hiếp dâm” [1]. Như vậy, đối tượng được pháp luật bảo vệ trong điều luật này là “người con gái” dưới 12 tuổi, dù “người con gái” đó có thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm vì ở tuổi này con gái vẫn chưa trưởng thành, dễ bị lừa gạt, khống chế. Bộ luật Hồng Đức do đó đã quy định tuổi được phép quan hệ tình dục với người nữ là trên 12 tuổi. Ra đời vào giữa thế kỷ XV, nhưng bộ “Quốc triều hình luật” đã đạt được giá trị và thành tựu nổi bật, có những đặc điểm tiến bộ và ưu thế hơn hẳn các bộ luật trước và cả sau nó. Thậm chí, nhiều yếu tố còn có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật của nước ta hiện nay. Điều tiến bộ nổi bật nhất mà chúng ta thường đề cập đến chính là sự quan tâm nhiều đến địa vị của người phụ nữ, quan tâm đến quyền lợi của họ, cho họ một sự bình đẳng tương đối với đàn ông trong xã hội và người chồng trong gia đình. Đó chính là yếu tố góp phần làm nên sự đặc biệt và ở chừng mực nào đó là sự đi trước thời đại của Bộ luật này. Trong bộ luật đã có nhiều điều luật quy định trực tiếp hoặc liên quan đến địa vị pháp lý của người phụ nữ – một điều ít thấy trong các bộ luật phong kiến. Trong chế độ phong kiến thế kỉ 15 nơi tư tưởng “trọng nam khinh nữ” phổ biến trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì có thể thấy đây là một điều luật rất tiến bộ nhằm bảo vệ sức khỏe và sự phát triển bình thường của người phụ nữ. Tuy nhiên Quốc triều hình luật – một bộ luật có kĩ thuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toàn diện với nhiều giá trị nổi bật trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến không đề cập đến tuổi được phép quan hệ tình dục của nam giới. Điểm đặc biệt nhất chúng ta có thể nhìn thấy đấy là sự quan tâm nhiều đến địa vị của người phụ nữ, bảo vệ trẻ em gái được thể hiện cụ thể qua điều luật trên. Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Tư tưởng đặc biệt và tiến bộ đi trước thời đại của bộ luật này cũng được các nhà cầm quyền phong kiến sau đó tiếp thu và áp dụng trong các bộ luật như Bộ luật Gia Long năm 1815 (Hoàng Việt luật lệ), Hình luật An Nam. Cả Bộ luật Hồng Đức [1] và Bộ luật Gia Long đều xử rất nặng tội gian dâm, đặc biệt là tội thông dâm đối với trẻ em gái (Điều 404 – Bộ luật Hồng Đức và Điều 1, quyển 18 – Bộ luật Gia Long).Có thể nói, bên cạnh những quy định quá khắt khe đối với người phụ nữ, thì việc nghiêm cấm và trừng phạt nặng đối với các tội thông dâm, cưỡng dâm đã phần nào gián tiếp bảo vệ thân thể và nhân phẩm của người phụ nữ.

Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã chia nước ta làm 3 xứ là Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì với chế độ chính trị cũng như pháp luật khác nhau để dễ bề cai trị. Về góc độ pháp luật, luật hình sự được áp dụng tại Bắc Kì là Bộ hình luật Bắc Kì 1918, tại Trung Kì là Hoàng Việt hình luật 1933, tại Nam kì là Hình luật Canh cải 1912. Chính quyền ở Nam Kì áp dụng bộ Hình luật Canh cải trong đó quy định về “sự xâm phạm tiết hạnh không có bạo hành” có chứa đựng nội dung cấm quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi (Điều 333 – Hình luật Canh cải, thuộc quyển 3 (từ Điều 75 đến Điều 463) quy định các trọng tội, khinh tội xâm phạm tới tài sản, an ninh công cộng, xâm phạm tới thân thể và tài sản của công dân.

Cho đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: trong những quy định của các bộ luật cổ thời quân chủ, địa vị của người phụ nữ về cơ bản là thấp kém. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, nhân phẩm của người phụ nữ vẫn được các bộ luật cổ đề cao và tôn trọng. Có thể nói, bên cạnh những quy định quá khắt khe đối với người phụ nữ, thì việc nghiêm cấm và trừng phạt nặng đối với các tội thông dâm, cưỡng dâm đã phần nào gián tiếp bảo vệ thân thể và nhân phẩm của người phụ nữ.

1.2.2. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1986

Trong thời kỳ áp dụng luật hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự quy định về các tội xâm phạm tình dục như tội hiếp dâm, tội dâm ô, tội cưỡng dâm… bên cạnh các tội phạm khác. Tuy nhiên, để củng cố và bảo vệ Nhà nước trong những ngày mới thành lập nên chính quyền cách mạng chủ yếu tập trung vào việc xét xử những tội phạm phản cách mạng, chống phá chính quyền nhân dân tại các Tòa án quân sự và một số tội đặc biệt nguy hiểm khác như: tội đầu cơ, tội tích trữ… Vì vậy, các văn bản hướng dẫn còn chưa thống nhất, quy định về các tội xâm phạm tình dục, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung cũng như tội giao cấu với người chưa thành niên nói riêng chưa được đề cập cụ thể.

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong thời kì này chính quyền non trẻ mới ra đời gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thù trong giặc ngoài do bị chiến tranh tàn phá nặng nề vì thế nhà nước ta chưa đủ điều kiện để xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Trước tình hình hết sức khẩn trương, xã hội cần có pháp luật mà lại không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết nói riêng trong đó có những quy định về tội giao cấu với trẻ em, ngày 10/10/1945, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 47 –SL quy định cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật”, Bộ “Hình luật pháp tu chính” với điều kiện “không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”. Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, các tòa án vẫn xử theo Luật hình cũ được tạm thời giữ lại. Tuy nhiên, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ nên các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa ở miền Bắc đã có sự thay đổi mạnh mẽ, các luật lệ của chế độ cũ không còn phù hợp. Để phù hợp với tình hình mới từ năm 1955, toàn bộ các luật lệ cũ không còn được áp dụng nữa và các tòa án bắt đầu xử theo án lệ, theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nên tới thời điểm này Nhà nước ta vẫn chưa ban hành một văn bản pháp luật hình sự mới quy định về tội giao cấu với trẻ em.

Để cho các quy định của pháp luật được đầy đủ và toàn diện hơn đồng thời giúp cho việc xét xử trên thực tế được dễ dàng và thuận lợi, năm 1976, trên cơ sở kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua bản tổng kết 329/HS2 ngày 11/5/1967 hướng dẫn đường lối xét xử tội giao cấu với trẻ em và các tội phạm khác xâm hại về tình dục.

Bản tổng kết này đã đề cập một cách toàn diện đến bốn hình thức phạm tội: giao cấu với người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm (trong đó có cưỡng dâm trẻ em), hiếp dâm (bao gồm cả hiếp dâm trẻ em), dâm ô (trong đó có dâm ô với trẻ em). Như vậy, giao cấu với trẻ em được ghi nhận là thuộc nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em.

Các đặc điểm riêng của hành vi giao cấu với trẻ em được nhấn mạnh trong phần khái niệm của tội giao cấu với trẻ em.

Bản hướng dẫn cũng đưa ra hướng dẫn về cách định tội danh, phân biệt tội giao cấu với trẻ em với hiếp dâm trẻ em. Cụ thể là:

Các hành vi giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi nói chung, không kể các em có sự thỏa thuận hay không thỏa thuận đều phải coi là hiếp dâm vì trí óc non nớt của các em, phải coi các em ở trong tình trạng không thể tự vệ và biểu lộ ý chí đúng đắn. Riêng đối với các em từ đủ 13 tuổi đến 14 tuổi, trong một số trường hợp cá biệt, có em đã dậy thì thì có thể thực sự thuận tình giao cấu. Cho nên, khi có sự thuận tình giao cấu với các em đó, cần căn cứ vào mọi tình tiết của vụ án (tính tình, thân hình, thái độ của các em) để nhận định xem có phải là tội hiếp dâm trẻ em hay tội giao cấu với người dưới 16 tuổi.

Trong khi chờ pháp luật có quy định đầy đủ và toàn diện hơn thì bản tổng kết có ý nghĩa rất lớn, nó đã tổng kết kinh nghiệm những năm qua, rút ra và chỉ thêm một số điểm để hướng dẫn công tác xét xử một số loại tội phạm về mặt tình dục được tốt hơn, đồng thời sơ bộ dùng làm cơ sở cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật góp phần đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Bản tổng kết 329 – HS2 ngày 11/5/1967 này đã được sử dụng cho đến khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời và có hiệu lực.

Ngoài ra, trong thời kì trước hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 1985, tại miền Nam cũng ban hành một số các quy định của pháp luật hình sự trong đó có đề cập đến hành vi giao cấu với trẻ em.

Tiêu biểu nhất là Bộ hình Luật ngày 20/12/1972 do Chính quyền Sài Gòn ban hành. Bộ hình luật có nhiều điều khoản quy định việc trừng trị các tội xâm phạm tình dục, đặc biệt là quy định về các tội xâm phạm tình dục trẻ em.

Ngay sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng thì Hội đồng Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng ban hành Sắc luật 03/SL ngày 15/3/1976 quy định các tội phạm và hình phạt làm cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, tài sản công cộng, thân thể và các quyền lợi khác của công dân. Sắc luật số 03/SL quy định về tội phạm và hình phạt trong đó không quy định cụ thể tội danh giao cấu với người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên điểm d của Điều 5 Sắc lệnh này quy định “Phạm các tội xâm phạm thân thể và nhân phẩm của công dân…” cho phép các Tòa án áp dụng nguyên tắc tương tự trong việc định tội. Do đó thực tiễn xét xử quy định thêm ba tội về tình dục khác là tội cưỡng dâm, tội giao cấu với người chưa đủ 16 tuổi và tội dâm ô.

1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 cho đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự 1999 Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

Bộ luật Hình sự 1985 ra đời khi nước ta đang chuẩn bị tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện về mọi mặt của đời sống xã hội đã góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới, các vấn đề xã hội và nhu cầu của cuộc sống ngày càng phức tạp. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và năm 1997.

Trong Bộ luật hình sự năm 1985, tội giao cấu với trẻ dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 114 – chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người với một cấu thành cơ bản. Điều 114 quy định “Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi: Người nào đã thành niên mà giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” [15].

Bộ luật Hình sự năm 1985 đã qua bốn lần sửa đổi, các quy định trong Bộ luật hình sự nói chung và tội giao cấu với trẻ em nói riêng cũng dần dần được hoàn thiện. Sau khi được ban hành, Luật sửa đổi bổ sung thêm khoản 2 “giao cấu với nhiều người hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm” và tới năm 1997 lại tiếp tục sửa đổi bổ sung, “tội giao cấu với người dưới 16 tuổi” được sửa đổi thành “Tội giao cấu với trẻ em”, hình phạt ở khoản 1 được sửa đổi theo chiều hướng tăng nặng từ “ba tháng đến ba năm” thành “từ một năm đến năm năm”; khoản 2 “giao cấu với nhiều người hoặc gây hậu quả nghiêm trọng” được sửa đổi thành “Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Phạm tội nhiều lần; b) Có tính chất loạn luân; c) Làm nạn nhân có thai; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân”; hình phạt “tù từ hai năm đến bảy năm” được sửa đổi thành “tù từ năm năm đến mười năm” và bổ sung thêm khoản 3 “Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 điều này thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm”.

1.2.4. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự 1999 đến nay

Qua gần 15 năm thi hành, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã giữ một vai trò quan trọng, đặc biệt tích cực trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm của nước ta. Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình đổi mới đất nước, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, có hiệu lực thi hành trên cả nước từ ngày 01/07/2000. Kế thừa và phát triển các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985, tội giao cấu với trẻ em tại Điều 115 được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 và được quy định bổ sung tình tiết khung tăng nặng tại điểm d – khoản 2 là “gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%”; tại điểm a – khoản 3 là “Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên” và điểm b – khoản 3 là “Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội” [18].

Như vậy, trong Bộ luật hình sự năm 1999, tội giao cấu với trẻ em sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, kĩ thuật lập pháp đã có những tiến bộ tích cực, thể hiện qua việc thay đổi tên tội danh từ “Giao cấu với người dưới 16 tuổi” thành “Tội giao cấu với trẻ em”; chi tiết hóa từ một khung cơ bản đã bổ sung thêm hai khung tăng nặng với các tình tiết định khung chi tiết. Việc quy định này đã tạo điều kiện để phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật tốt hơn, qua đó cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong thực tế chính xác hơn.

Có thể thấy rằng việc tăng mức hình phạt từ 3 năm lên 5 năm và bổ sung thêm hai khung tăng nặng với mức cao nhất của khung hình phạt lên tới 15 năm thể hiện chính sách hình sự của nhà nước đó là phải xử lý nghiêm khắc đối với người phạm loại tội này.

Như vậy, trải qua lịch sử lập pháp hàng trăm năm, chúng ta có thể nhận thấy ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói chung và tội giao cấu với trẻ em nói riêng được quy định không hoàn toàn đồng nhất. Sự không đồng nhất đó xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, đặc trưng của các chế độ nhà nước và trình độ nhà lập pháp. Tuy nhiên có một điểm xuyên suốt đó là thái độ nghiêm khắc của pháp luật đối với tội phạm này. Điều này một mặt phản ánh tư tưởng thống nhất của người Việt chúng ta luôn coi trọng thuần phong mỹ tục, bảo vệ trẻ em(đặc biệt là trẻ em gái), mặt khác cũng thể hiện sự tiến bộ trong lịch sử lập pháp. Đây chính là nền tảng quan trọng cho các nhà làm luật hiện nay phát huy, hoàn thiện các quy định pháp luật tội giao cấu với trẻ em và các điều luật, các quy định liên quan. Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em

One thought on “Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam”

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464