Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội giao cấu với trẻ em dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Dấu hiệu pháp lý của tội giao cấu với trẻ em

Theo lý luận khoa học của pháp luật hình sự thì cấu trúc tội phạm “có đặc điểm chung là đều được hợp thành bởi những yếu tố nhất định tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể phân chia được trong tư duy và do vậy có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau” [5]. Cấu trúc đó bao gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.

2.1.1. Khách thể của tội giao cấu với trẻ em

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo Luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của Luật hình sự là những quan hệ xã hội được nêu trong Điều 8 của Bộ luật hình sự 1999 bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Bản chất của quan hệ xã hội là tồn tại khách quan giữa con người với con người. Xâm phạm vào một trong những yếu tố cấu thành của quan hệ xã hội và làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm là gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đó.

Tội giao cấu với trẻ em xâm hại đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là quyền được phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em. Vậy khách thể của tội giao cấu với trẻ em theo Điều 115 – Bộ luật Hình sự 1999 là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Xâm phạm khách thể của tội giao cấu với trẻ em chính là sự xâm hại đến sức khỏe, nhận phẩm, danh dự của trẻ em. Đối tượng tác động của tội phạm là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được khi tìm hiểu về khách thể của tội phạm. Đó chính là bộ phận khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động đến gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.

Đối tượng tác động của tội giao cấu với trẻ em có đặc điểm bắt buộc về độ tuổi. Nạn nhân của tội giao cấu với trẻ em là trẻ em từ đủ mười ba đến dưới mười sáu tuổi. Quy định này phù hợp với quy định tại Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 1991 “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [16, Điều 1].

Trẻ em được hiểu ở trong tội giao cấu với trẻ em theo Điều 115 – Bộ luật hình sự năm 1999 là không phân biệt là trẻ em trai hay gái, điều kiện duy nhất là độ tuổi: từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Nếu đủ hoặc trên 16 tuổi thì hành vi không cấu thành tội phạm vì nó không xâm phạm khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Ví dụ: Nguyễn Ngọc Tường K và Trần Minh N (sinh năm 1978, là bạn của bố Nguyễn Ngọc Tường K) có quan hệ tình cảm yêu đương. Ngày 6/6/2013 hàng xóm của Tường K là ông Trần Văn V đến nhà Tường K chơi bắt gặp Tường K và Trần Minh N đang quan hệ tình dục. Ông Trần Văn V gọi cho một người hàng xóm là anh Vi Văn A dẫn giải Trần Minh N lên công an xã vì cho rằng Trần Minh N đã dụ dỗ quan hệ trái pháp luật với cháu Nguyễn Ngọc Tường K. Tại đây qua lời khai cả Tường K và Trần Minh N xác nhận đây là lần đầu tiên hai người có quan hệ tình dục. Tiến hành xác minh tuổi của Tường K qua giấy khai sinh và lý lịch tại trường học và Ủy ban xã đều cho thấy Nguyễn Ngọc Tường K là học sinh lớp 9 trường Trung học cơ sở xã Ngọc Trạc, tuy nhiên do bị lưu ban 02 năm nên tuổi thực của Tường K là 17 tuổi (sinh ngày 2/4/1996). Vì vậy, Trần Minh N không phạm tội giao cấu với trẻ em. Vậy đối tượng trẻ em được bảo vệ trong quy phạm pháp luật này phải là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu trẻ đủ hoặc trên 16 tuổi tự nguyện quan hệ tình dục với người đã thành niên thì không cấu thành tội phạm này; ngược lại nếu trẻ em dưới 13 tuổi thuận tình giao cấu với đối tượng thành niên cũng không cấu thành tội phạm Giao cấu với trẻ em mà cấu thành tội Hiếp dâm trẻ em.

Ví dụ [24]: Ngày 22/2/2014, Nguyễn Tuấn Anh (sinh năm 1988) lấy nickname là “Boynhagiau” trên mạng xã hội để làm quen với Mai Thùy L (sinh năm 2002) nickname là “hothotchick”. Cả hai đã hẹn gặp và có quan hệ tình dục tại nhà của Nguyễn Tuấn Anh. Đến 2h sáng ngày 23/2/2014, Mai Thùy L về nhà của mình. Bố mẹ Thùy L thấy con gái về muộn đã gặng hỏi sự việc và Thùy L đã kể lại chuyện có quan hệ tình dục với Tuấn Anh. Cùng ngày, bố mẹ Mai Thùy L trình báo sự việc tại Công an quận Đống Đa. Ngày 26/2/2014 cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đống Đa đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tuấn Anh về tội danh “Hiếp dâm trẻ em” quy định tại khoản 4 điều 112 Bộ luật hình sự 1999. Như vậy, ở trường hợp này ta thấy rằng Nguyễn Tuấn Anh giao cấu với Mai Thùy L là thuận tình tuy nhiên nạn nhân Mai Thùy L tính đến ngày 22/2/2014 là dưới 13 tuổi nên không thể truy cứu Tuấn Anh theo tội danh Giao cấu với trẻ em mà phải xử lý ở tội danh nặng hơn là “Hiếp dâm trẻ em” theo khoản 4 điều 112 Bộ luật hình sự “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em ngay từ năm 1990, sau đó là việc ban hành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã thể hiện sự quan tâm, chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Các quyền được chăm sóc sức khỏe, học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em được đảm bảo và cụ thể hóa trong luật. Hành vi giao cấu của người đã thành niên đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là sự xâm hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em vì theo quan điểm khoa học nếu tâm sinh lý của trẻ em còn chưa phát triển đầy đủ thì việc quan hệ tình dục sớm sẽ gây ra những hậu quả xấu đối với trẻ em về cả thể xác lẫn chấn thương về tâm lý. Ngoài ra do thiếu kiến thức nên việc quan hệ tình dục sớm sẽ là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ nạo phá thai và lây nhiễm các bệnh xã hội, trẻ em còn non nớt về mọi mặt nên dễ bị lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo mà chưa biết tự bảo vệ mình.

2.1.2. Mặt khách quan của tội giao cấu với trẻ em Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Không phải tất cả các biểu hiện của mặt khách quan đều được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản mà chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội là bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm cơ bản.

Người phạm tội có hành vi giao cấu (thuận tình) với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Hành vi giao cấu trong tội phạm này đạt được hoàn toàn không do dùng vũ lực, thủ đoạn nào mà do sự đồng thuận hoặc thậm chí chủ động từ phía nạn nhân (do yêu đương, chơi bời, khám phá…).

Ví dụ [24]: Khoảng tháng 03/2012, qua bạn gần nhà là Nguyễn Xuân Tùng (Sinh 1995, Trú tại: H4, tập thể Thành Công, P.Thành Công, Đống Đa, Hà Nội, Lê Ngọc Phú quen với Trần Ngọc Quỳnh Anh (Sinh: 17/02/1998, Trú tại: Phòng B 1002, Tòa nhà Sông Hồng, 165 Thái Hà, P.Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội), sau đó khoảng 4 tháng đến tháng 7/2012 giữa Phú và Quỳnh Anh có quan hệ tình cảm yêu đương nhau. Khi được khoảng 15 ngày thì Phú biết Quỳnh Anh sinh năm 1998 và đang học lớp 9 trường Trung học cơ sở Thành Công. Quá trình quen biết đến khoảng giữa tháng 4/2013, Phú và Quỳnh Anh có quan hệ tình dục với nhau, tiếp sau đó 1 ngày cả hai quan hệ tình dục với nhau thêm một lần nữa. Hai lần quan hệ tình dục này, cả hai quan hệ tình dục với nhau tại nhà của Quỳnh Anh tại địa chỉ B2, tập thể Thành Công, P.Thành Công, Đống Đa, Hà Nội. Sau đó Phú không liên lạc với Quỳnh Anh nữa. Đến đầu tháng 9/2013, Quỳnh Anh chủ động liên lạc với Phú và rủ Phú đến nhà mới của mình chơi tại địa chỉ Phòng B 1002, Tòa nhà Sông Hồng, 165 Thái Hà, P.Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội. Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 06/09/2013, Phú đến nhà Quỳnh Anh chơi, khi đến Phú đi một mình, mặc áo phông đỏ, quần bò đen. Lúc đó tại Phòng B 1002, Tòa nhà Sông Hồng, 165 Thái Hà, P.Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội có Quỳnh Anh và chị gái ở nhà. Sau khi vào nhà Quỳnh Anh dẫn Phú vào phòng của mình nói chuyện và khóa cửa phòng lại. Đến 21 giờ 30 thì Phú và Quỳnh Anh ôm hôn nhau và nằm trên giường của Quỳnh Anh. Khi đó Quỳnh Anh mặc váy kẻ đen trắng, Phú kéo váy của Quỳnh Anh lên và dùng day cởi quần lót màu trắng của Quỳnh Anh ra và sờ vào ngực của Quỳnh Anh. Quỳnh Anh cũng dùng tay cởi quần áo của Phú ra. Sau đó Phú dùng tay phải sờ vào âm đạo của Quỳnh Anh còn Quỳnh Anh dùng tay sờ vào dương vật của Phú. Khi dương vật cương cứng Phú nằm đè nên người Quỳnh Anh và cho dương vật của mình vào âm đạo của Quỳnh Anh để quan hệ tình dục. Sau đó cả hai mặc quần áo, Quỳnh Anh đưa Phú xuống dưới tầng hầm để Phú về. Đến ngày 08/09/2013, gia đình Quỳnh Anh phát hiện ra việc Phú và Quỳnh Anh có tình cảm với nhau đã yêu cầu Quỳnh Anh gọi Phú đến để hỏi rõ sự việc. Khi đó Phú không có phương tiện đi lại đã nhờ bạn mình là Nguyễn Trọng Hoàng Nam (Sinh 1994, Trú tại B1 tập thể Thành Công, P.Thành Công, Ba Đình, Hà Nội) đưa đến. Khi đến nhà có mặt cô chú và chị của Quỳnh Anh cùng bạn mình là Nam, Phú đã thừa nhận hành vi quan hệ tình dục với Quỳnh Anh như đã nêu trên và xin chịu trách nhiệm nếu Quỳnh Anh có thai.

Tại Cơ quan Công an, Lê Ngọc Phú đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đống Đa đã dẫn giải Phú đi xác định nơi đã quan hệ tình dục với Quỳnh Anh, Phú đã xác định chính xác căn phòng nơi quan hệ tình dục với Quỳnh Anh tại địa chỉ Phòng B 1002, Tòa nhà Sông Hồng, 165 Thái Hà, P.Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Vớ dụ: Khoảng giữa tháng 02/2013, trên đường đi học về Đỗ Ngọc Anh (Sinh 11/11/1999, trú tại: 80, tổ 20 Đầm Bầu, P.Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội) có quen với Nguyễn Hải Quân là nhân viên quán bia Hằng ở ngã tư Đê La Thành, Kim Mã. Quá trình quen biết cả hai trao đổi số điện thoại và đã nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Vào ngày 22/02/2013, Quân rủ và Ngọc Anh đồng ý đi chơi, như đã hẹn khoảng 14 giờ cùng ngày, Quân đi xe máy BKS: 29U1 – 084.08 đến đón Ngọc Anh ở chân cầu vượt trước cổng trường ĐH Giao thông vận tải và đưa về phòng trọ của mình tại địa chỉ số 6 ngách 1132 đường Láng, P.Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội chơi. Khi vào trong nhà Ngọc Anh đi lên tầng hai của căn nhà trước còn Quân cất xe và khóa cửa lên sau. Sau đó Quân lên đi về phía Ngọc Anh đang ngồi ở chiếu giáp ban công bên phía trái cửa ra vào, lúc đó trên chiếu có con gấu trúc mặc áo kẻ trắng đen. Quân ôm hôn và bảo cho quan hệ tình dục thì Ngọc Anh không nói gì, Quân liền dùng tay cởi chiếc áo khoác xanh Ngọc Anh đang mặc và tiếp tục ôm hôn. Sau đó cả hai tự cởi quần áo và tiếp tục nằm ôm hôn nhau, Ngọc Anh nằm bên phải Quân. Ôm hôn nhau được khoảng 05 phút thì Quân tiếp tục dùng tay trỏ phải sờ vào âm đạo của Ngọc Anh, được khoảng 05 phút Quân liền trườn xuống hôn và dùng răng cắn nhẹ vào vú không thấy Ngọc Anh phản ứng gì Quân liền bò xuống và hôn vào âm đạo của Ngọc Anh khoảng 03 phút. Khi đó dương vật của Quân đã cương cứng và thấy dịch trong âm đạo của Ngọc Anh tiết ra Quân trườn lên nằm đè nên người và cho dương vật của mình vào trong âm đạo của Ngọc Anh, do dương vật bị trượt ra ngoài nên Quân bảo Ngọc Anh cầm dương vật của mình cho vào âm đạo để quan hệ tình dục. Sau đó Quân xuất tinh ra chiếu chỗ ngay chỗ mình nằm. Do biết người ở cùng chỗ trọ có thuốc tránh thai để trong ba lô nên Quân đã lấy và cho Ngọc Anh uống. Sau đó do phải đi làm nên cả hai đã mặc quần áo và Quân chở Ngọc Anh ra cổng trường ĐH Giao thông vận tải để đi về còn mình đi ra quán bia làm. Sáng hôm sau ngày 23/02/2013, thấy Ngọc Anh mặc đồng phục học sinh đi qua chỗ làm, Quân nhắn tin hỏi và biết Ngọc Anh sinh năm 1999. Đến khoảng 23 giờ ngày 23/02/2013, khi Ngọc Anh đang trông nhà cho bác tại địa chỉ số 12 ngách 199/2 Hồ Tùng Mậu, Thị trấn Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội gọi và ra đón Quân vào ngủ cùng tại phòng ngủ nhà bác mình. Tại đây, cả hai đã quan hệ tình dục với nhau thêm 03 lần nữa cho đến sáng ngày 24/02/2013 thì Quân đưa Ngọc Anh về nhà và mình tiếp tục đi làm. Sau đó cả hai vẫn thường xuyên nói chuyện với nhau. Tiếp tục đến 14 giờ ngày 04/03/2013, Quân đón Ngọc Anh và đưa về phòng trọ của mình để quan hệ tình dục thêm một lần nữa. Đến ngày 05/03/2013, gia đình Ngọc Anh đã phát hiện ra sự việc trên và ra Công an phường Láng Thượng trình báo.

Gia đình người bị hại Đỗ Ngọc Anh có đơn đề nghị xử lý đối tượng Nguyễn Hải Quân theo quy định pháp luật và yêu cầu Quân bồi thường phần dân sự về danh dự, nhân phẩm cho Ngọc Anh và gia đình theo quy định của pháp luật.

Hành vi quan hệ tình dục với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu sử dụng vũ lực cũng không cấu thành tội phạm này mà cấu thành tội Hiếp dâm trẻ em theo điều 112 Bộ luật hình sự. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Ví dụ [26]: 13h ngày 12/6/2011 Trần Văn Xính (sinh năm 1967) đi ăn đám cưới về qua đoạn đường vắng gặp cháu Vũ Thị Phương N (sinh năm 2000) đang đi một mình. Trần Văn Xính đã dùng tay bịt miệng cháu N, kéo vào bụi chuối gần đó rồi nhanh chóng thực hiện hành vi giao cấu với cháu. Theo kết luận giám định của Viện khoa học kỹ thuật hình sự – Bộ Công an: tinh trùng trên chiếc quần thu được của cháu Vũ Thị Phương N là của Trần Văn Xính. Theo giấy chứng nhận của bệnh viện phụ sản Trung ương nơi khám cho cháu Vũ Thị Phương N kết luận: rách màng trinh,vết rách mới. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Quốc Oai đã bắt giữ Trần Văn Xính về hành vi hiếp dâm trẻ em theo khoản 1 điều 112 Bộ luật hình sự.

Hành vi giao cấu với trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu không nhận được sự đồng thuận của trẻ tuy không có dấu hiệu vũ lực nhưng nếu chứng minh được việc giao cấu là do các thủ đoạn của người đã thành niên mà trẻ miễn cưỡng giao cấu thì cũng không cấu thành tội Giao cấu với trẻ em theo điều 115 hay tội Hiếp dâm trẻ em theo điều 112 mà là cấu thành của tội Cưỡng dâm trẻ em theo điều 114 Bộ luật hình sự.

Ví dụ [26]: Lê Quốc Thắng là giáo viên sinh học của một trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ba Vì, Hà Nội. Lợi dụng vị trí của mình Thắng đã nhiều lần gọi em Lê Thị H là học sinh lớp 8A mà Thắng là giáo viên dạy môn sinh học lên nói chuyện riêng. Trong các buổi nói chuyện này Thắng đã dọa dẫm em H nếu không quan hệ tình dục với Thắng thì cuối năm học em H sẽ không đủ điểm môn sinh học để lên lớp 9. Do quá lo sợ về kết quả học tập nên Lê Thị H đã miễn cưỡng quan hệ tình dục với thầy giáo Lê Quốc Thắng. Hành vi trên của Lê Quốc Thắng đã phạm vào tội Cưỡng dâm trẻ em theo điều 114 Bộ luật hình sự.

Như phần khái niệm đã được đề cập, hành vi giao cấu với trẻ em theo Điều 155 – Bộ luật hình sự năm 1999 là hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào trong bộ phận sinh dục nữ. Điều luật rõ ràng không miêu tả hành vi giao cấu được diễn ra như thế nào, đã thực hiện xong về mặt sinh lý hay chưa, có thể xem rằng tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện được hành vi giao cấu, không cần việc giao cấu kết thúc về mặt sinh lý cũng như phát sinh hậu quả. Các hành vi tình dục đối với trẻ em mà không phải là hành vi giao cấu thì cũng không cấu thành tội Giao cấu với trẻ em theo điều 115 Bộ luật hình sự.

Ví dụ [26]: Khoảng 9h30 ngày 30/7/2013 Dương Văn Tiến (sinh năm 1974) sang nhà bạn chơi nhưng nhà chỉ có cháu Đặng Trần Mỹ L ở nhà. Dương Văn Tiến đã bảo cháu L nằm xuống giường rồi tụt quần cháu xuống đầu gối đồng thời tự cởi quần của mình ra, đưa dương vật cọ sát phía ngoài cơ quan sinh dục của cháu L, sau đó Tiến bảo cháu L đứng dậy mặc quần vào và ra về. Dương Văn Tiến sau đó đã bị Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố về tội Dâm ô trẻ em theo điều 116 Bộ luật hình sự.

2.1.3. Chủ thể của tội giao cấu với trẻ em Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Lý luận Luật hình sự khẳng định chủ thể của tội phạm, trong đó có chủ thể của Tội giao cấu với trẻ em chỉ có thể là con người cụ thể. Quan niệm như vậy phù hợp với nguyên tắc có lỗi, nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân của Luật hình sự cũng như mới phù hợp với mục đích giáo dục, cải tạo của việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự.

Chủ thể của tội phạm phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự và phải thỏa mãn hai điều kiện, đó là năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi. Đây là những dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thể của tội phạm. Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội năm 2001 đã định nghĩa “Chủ thể của tội phạm là người có năng lực Trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể” [21].

Khi thực hiện hành vi giao cấu với trẻ em, người phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi này mặc dù có sự đồng thuận nhưng người phạm tội vẫn thực hiện hành vi giao cấu, người phạm tội có đủ khả năng để lựa chọn một xử sự khác vì người phạm tội là người trưởng thành đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do điều luật không quy định người phạm tội là nam hoặc nữ nên vẫn có thể hiểu là chủ thể của tội danh này có thể là nam hoặc nữ. Tuy nhiên, trên thực tế chủ thể là nữ rất hiếm khi xảy ra. Bởi vì theo câu chữ ghi trong điều khoản cơ bản (khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự) thì bất cứ đàn ông hay đàn bà đã là người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) mà giao cấu với trẻ em ở tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đều phạm tội. Nhưng theo cách hiểu về hành vi giao cấu từ trước đến thì chỉ có nam giới mới thực hiện được hành vi giao cấu và nạn nhân cũng chỉ có có thể là nữ. Nữ giới chỉ có thể tham gia trong vụ đồng phạm với vai trò xúi giục, giúp sức hay tổ chức.

Như vậy, chủ thể của tội Giao cấu với trẻ em quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999 không phân biệt là nam hay nữ và nếu đủ điều kiện quy định của điều luật thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về độ tuổi, chủ thể của tội Giao cấu với trẻ em phải là người “đã thành niên” tức là phải từ đủ 18 tuổi trở lên. Theo hướng dẫn tại phần IX Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì đối với việc xác định tuổi của bị cáo thực hiện như sau: “Cách tính tuổi do luật quy định là “đủ mười bốn tuổi”, hoặc “đủ mười sáu tuổi”, tức là tính theo tuổi tròn” [10]. Tương tự như vậy, người đã thành niên là người đủ 18 tuổi trở lên cũng được tính theo tuổi tròn. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Ví dụ: Trần Văn A sinh ngày 01/01/2000 thì đến ngày 01/01/2018 Trần Văn A mới đủ 18 tuổi,tức là từ ngày 01/01/2018 A mới “thành niên”. Trong trường hợp không thể xác định được chính xác ngày sinh của Trần Văn A thì tính ngày sinh của theo ngày cuối cùng của tháng sinh tức ngày 31/01/2000 và nếu không xác định được chính xác tháng sinh thì xác định ngày sinh là ngày 31/12/2000 (tức ngày cuối cùng của tháng cuối cùng năm sinh). Việc quy định dấu hiệu bắt buộc “đã thành niên” nhằm mục đích giới hạn phạm vi chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này của nhà làm luật thể hiện tính nhân văn và khoa học của luật hình sự Việt Nam. Vì theo những nghiên cứu khoa học về con người thì người dưới 18 tuổi trong một số trường hợp chưa phát triển đầy đủ về khả năng nhận thức đối với hành vi mà mình thực hiện, đặc biệt là trong lĩnh vực tình dục, sinh lý.

Ví dụ: Nguyễn Mạnh C (sinh năm 1999) và Trần Thị Thủy T (sinh năm 2000) có quan hệ tình cảm yêu đương. Ngày 2/6/2014 mẹ của Trần Thị Thủy T đi làm về sớm bắt gặp C và T đang quan hệ tình dục tại phòng của T. Do con gái mới học cấp II nên mẹ Thủy T đã dẫn Nguyễn Mạnh C ra công an phường trình báo. Tuy nhiên qua việc xác minh lý lịch Nguyễn Mạnh C mới 15 tuổi nên không cấu thành tội Giao cấu với trẻ em hay nói cách khác C không phải là chủ thể của tội phạm này và không bị xử lý hình sự về hành vi này.

Như vậy, chủ thể của tội Giao cấu với trẻ em theo điều 115 Bộ luật hình sự 1999 là có thể là nam hoặc nữ, đã thành niên (tròn hoặc trên 18 tuổi) và có năng lực trách nhiệm hình đầy đủ (không thuộc các trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại điều 13 Bộ luật hình sự 1999).

2.1.4. Mặt chủ quan của tội giao cấu với trẻ em

Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội. Tuy nhiên lỗi luôn là yếu tố cơ bản và bắt buộc trong mọi loại tội phạm nói chung và trong tội Giao cấu với trẻ em nói riêng, trong khi động cơ và mục đích phạm tội đóng vai trò thứ yếu trong mặt chủ quan của tội phạm này. Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội quyết tâm thực hiện việc phạm tội. Còn mục đích phạm tội là kết quả sẽ có trong tương lai mà người phạm tội dự tính và mong muốn đạt được bằng việc thực hiện hành vi phạm tội. Theo Tiến sỹ khoa học Lê Cảm thì:

Động cơ và mục đích không phải là những dấu hiệu được xếp ngang hàng với lỗi trong mặt chủ quan của tội phạm, vì tự bản thân mình lỗi là toàn bộ mặt chủ quan của tội phạm, còn động cơ và mục đích suy cho cùng chẳng qua cũng chỉ là các yếu tố của lỗi mà thôi [3]. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm này của ông trong nghiên cứu và áp dụng luật hình sự nói chung và trong trường hợp nghiên cứu tội Giao cấu với trẻ em nói riêng. Đối với tội danh này động cơ mục đích phạm tội thường là vì ham muốn tình dục, để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của người phạm tội và các yếu tố này thường không được đề cập đến trong các tài liệu điều tra, truy tố, xét xử.

Vấn đề quan trọng là lỗi được đặt ra trong cấu thành tội phạm tội Giao cấu với trẻ em như thế nào vì cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm không đồng nhất thậm chí là trái chiều khi phân tích mặt “lỗi” trong tội phạm này.

Theo giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội “Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội” [22].

Bàn về vấn đề lỗi của người phạm tội giao cấu với trẻ em thì có rất nhiều luồng ý kiến được đưa ra.

  • Trường hợp 1. Nếu người phạm tội biết được đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Trường hợp 2. Nếu người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội mà không quan tâm đến đối tượng bị xâm hại là trẻ em hay không nhưng thực tế nạn nhân lại là trẻ em thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Trường hợp 3. Nếu người phạm tội có ý thức chủ quan rằng đối tượng bị xâm hại là trẻ em, nhưng trên thực tế nạn nhân lại không phải là trẻ em thì người phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Trường hợp 4. Nếu người phạm tội có ý thức chủ quan cho rằng đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em, mặc dù trên thực tế đối tượng đó là trẻ em thì người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ở trường hợp 1 và 2: Dễ dàng xác định được lỗi cố ý của người phạm tội. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Trường hợp 3: Nếu người phạm tội có ý thức chủ quan rằng đối tượng bị xâm hại là trẻ em, nhưng trên thực tế thì nạn nhân lại không phải là trẻ em thì người phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ở trường hợp này chúng tôi muốn minh họa bằng một ví dụ: Trần Minh Long (sinh năm 1983) là một thương gia. Liên tiếp trong hai năm 2010 và 2011 công việc của L không suôn sẻ. Để “giải đen” Trần Minh Long muốn tìm bé gái khoảng 14,15 tuổi để quan hệ tình dục. Ngày 2/2/2012 Trần Minh Long bị công an bắt quả tang đang thực hiện hành vi giao cấu đối với cháu Nguyễn Thị T. là cô gái mà Long tán tỉnh dụ dỗ vì Long thấy T đang là học sinh lớp 9 tại một trường Trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên bị hại của vụ án là Nguyễn Thị T lại một mực khẳng định rằng mình đã 16 tuổi 6 tháng. Qua xác minh của cơ quan công an, có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Thị T hơn 16 tuổi. Vậy Trần Minh Long có phạm tội giao cấu với trẻ em hay không? Nếu căn cứ vào ý thức của người phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ thì Trần Minh Long phạm tội bởi lẽ Long mong muốn và đã có hành vi giao cấu với người mà Long cho là trẻ em, việc Nguyễn Thị T hơn 16 tuổi là nằm ngoài mong muốn của Long và Long hoàn toàn không biết điều đó. Vậy nếu không xử lý Trần Minh Long về tội Giao cấu với trẻ em phải chăng sẽ bỏ lọt tội phạm? Tuy nhiên có kiến lại cho rằng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Minh Long là đi ngược lại lý luận về cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự bởi hành vi của Long không hề gây ra nguy hiểm cho xã hội, không xâm phạm khách thể cần được bảo vệ trong Luật hình sự quy định. Đây là trường hợp sai lầm về khách thể. Sai lầm về khách thể là sai lầm của chủ thể về tính chất của quan hệ xã hội là đối tượng hành vi của mình. Cụ thể: Người phạm tội có hành vi nhằm xâm hại khách thể nhất định được luật hình sự bảo vệ nhưng đã không xâm hại được vì đã tác động nhầm vào đối tượng không thuộc khách thể đó. Theo chúng tôi, ở trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm cố ý mà họ định phạm. Điều đó cũng đồng nghĩa là ở ví dụ trên Long phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định phạm là tội giao cấu với trẻ em. Vậy, trong trường hợp này cần phải có sự thống nhất về quan điểm lý luận và hướng dẫn cụ thể để tránh sự bối rối của các cơ quan tư pháp khi xử lý vụ việc trên thực tế.

Đối với trường hợp 4: Nếu người phạm tội có ý thức chủ quan cho rằng đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em, mặc dù trên thực tế đối tượng đó là trẻ em thì người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ sau đây sẽ minh họa cụ thể hơn về trường hợp này: Lê Quang Nhựt là con trai út trong gia đình có 4 anh, chị em. Trong khi các anh chị đều đã “yên bề gia thất” thì Nhựt vẫn “lông bông”, lúc thì đi làm bảo vệ ở Bình Dương, khi lại về Sài Gòn làm công nhân… Tuổi thanh niên mới lớn, chưa từng biết thế nào là “tiếng sét của ái tình”, tối tối Nhật đi tìm “một nửa”. Thay vì đến nhà các cô gái chơi, Nhựt lấy điện thoại bấm số linh tinh. Nếu “trúng” con gái thì giở chiêu kết bạn bốn phương làm quen, “trật” là con trai thì Nhựt cúp máy. Khoảng tháng 8/2011, Nhựt bấm số 01676xxx thì trúng số của Thị Cẩm Thiền (SN 1997, ngụ xã Thạnh Yên, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang). Hai người làm quen rồi nhanh chóng có tình cảm với nhau. Vì xa xôi nên gần một năm, hai bên chỉ chuyện trò qua điện thoại. Đến tháng 8/2012, Nhựt đã xuống nhà bạn gái để hai người chính thức được “mặt kề mặt, tay nắm tay”. Một tháng sau, dịp Tết Trung thu 2012, Thiền đã nhảy xe đò lên Vĩnh Long cho biết nhà bạn trai. Khi đi, Thiền còn có ý định lên thành phố đi tìm việc làm nên đã có “sáng kiến” mang theo chứng minh thư của chị gái Thị Cẩm Tiền (SN 1993) để đủ tuổi xin việc. Cô gái còn “sáng tạo” thêm một bậc là gỡ hình chị ra rồi thế hình mình vào cho “danh chính ngôn thuận”.

Đến nhà Nhựt, Thiền đưa chứng minh thư cho người yêu và gia đình bạn trai xem. Mặc dù trên đó viết tên khác nhưng ở miền Tây chuyện tên ngoài đời và tên trên giấy khác nhau là hết sức bình thường nên không ai để ý. Điều Nhựt cũng như cha mẹ cậu đọc kỹ nhất là trên thẻ căn cước ghi bạn gái sinh năm 1993, tính đến thời điểm đó đã đủ tuổi kết hôn. Cách đó chưa lâu, cũng ở ấp Đông Bình nhà Nhựt có một thanh niên “yêu”… cô bé lớp 9 nên phải đi tù. Cái án đó vẫn còn nóng khắp làng trên xóm dưới nên Nhựt và cả gia đình hết sức đề cao cảnh giác. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

“Hơn nữa, dòm con nhỏ cũng thấy bự con, cứng người lắm. Thấy vậy, không ai nghĩ là nó còn trẻ con”, ông Nguyễn Thanh Tú (Trưởng ban nhân dân ấp Đông Bình, xã Đông Hậu) cho hay. Trong gần hai tháng, Thiền lưu lại ở nhà Nhựt, đôi trẻ đã không kiềm chế được “sóng tình”, nhiều lần vượt quá giới hạn. Phải đến khi cha mẹ ráo riết đi tìm thì Thiền mới chịu trở về Kiên Giang. Nhưng cũng chỉ được vài ngày, cô đã lại bỏ nhà theo tiếng gọi của tình yêu lên TP.Hồ Chí Minh làm thuê và tiếp tục sống như vợ chồng với Nhựt.

Khoảng tháng 8/2013, Nhựt dẫn Thiền về Vĩnh Long. “Hai đứa nói rằng làm thuê ở vất vả quá mà thu nhập không đủ sống nên muốn về quê kiếm việc gì làm và được gần gũi cha mẹ. Nghe chúng nói vậy vợ chồng tui cũng mừng. Tuy nhiên, chỉ được vài ngày thì con Thiền có biểu hiện đau bụng nên cả nhà đưa nó sang Cần Thơ điều trị. Tại đây bác sĩ nói nó mang thai 20 tuần nhưng thai bị chết lưu, tình trạng sức khỏe kém cần đưa lên Bệnh viện Từ Dũ (TP.Hồ Chí Minh) tiếp tục điều trị”, cha của Nhựt nhớ lại.Theo yêu cầu của bệnh viện khi tiến hành phẫu thuật phải có cha mẹ ruột xác nhận nên Thiền mới gọi điện cho người nhà. Nhận tin dữ, cha mẹ cô gái vừa giận con gái bỏ nhà đi lang thang, vừa giận kẻ đã “hại đời” cô út. Bà Thị Thu (mẹ Thiền) làm đơn trình báo cơ quan công an. Lúc này, Nhựt và gia đình mới té ngửa vì biết Thiền vẫn chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ vào đơn trình báo của bà Thu, cơ quan công an đã vào cuộc xác minh làm rõ. Tuy nhiên, thời điểm này, Nhựt đang đi làm ăn xa không có nhà nên chưa thể triệu tập lấy lời khai. Tháng 3/2014, khi Nhựt về nhà gia đình đã vận động anh ta ra đầu thú. Từ lời khai nhận của Nhựt cũng như những căn cứ chứng lý khác, cơ quan điều tra đã có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 22/8/2014, Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và tuyên phạt bị cáo Lê Quang Nhựt 2 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em”; đồng thời buộc đền bù 19,6 triệu đồng cho người bị hại.

Vị thẩm phán chủ tọa phiên tòa “hy hữu” này cũng cho rằng, nguyên nhân khiến bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại. Nếu như bị hại không dùng giấy tờ giả, làm cho Nhựt hiểu nhầm về độ tuổi thì có thể đã không xảy ra sự việc đáng tiếc trên.

Như vậy, thực tiễn xét xử cho thấy ở trường hợp này, dù Lê Quang Nhựt không có đủ điều kiện để nhận biết tuổi của người yêu nhưng anh ta đã bị xử lý hình sự bởi anh ta đã xâm phạm khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Tuy nhiên cũng có những ý kiến phản đối việc xử lý hình sự Lê Quang Nhựt bởi ở sự việc này anh ta hoàn toàn không có lỗi. Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai bởi vì đối với tội Giao cấu với trẻ em, lỗi của người phạm tội phải là lỗi cố ý, người phạm tội biết người mà mình giao cấu dưới 16 tuổi nhưng vẫn thực hiện hành vi giao cấu. Nếu người phạm tội không biết và không thể biết hay nói cách khác là thực sự có sự nhầm tưởng về tuổi thì không cấu thành tội này. Bởi vì, lỗi xét về bản chất nội dung là sự phủ định chủ quan của người phạm tội đối với đòi hỏi của xã hội. Sự phủ định chủ quan của người phạm tội thể hiện thông qua năng lực nhận thức và năng lực lựa chọn hành vi của họ. Người phạm tội phải nhận thức được và có điều kiện để nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội mà vẫn lựa chọn cách xử sự đó. Tức là người phạm tội biết sai mà vẫn làm, như vậy là có lỗi. Trường hợp chủ thể lựa chọn hành vi mà không thể biết được rằng hành vi đó là trái với đòi hỏi của xã hội thì họ không có lỗi. Trong trường hợp tội giao cấu với trẻ em, người phạm tội phải có năng lực nhận thức được hành vi giao cấu với nạn nhân là trái pháp luật. Năng lực nhận thức của người phạm tội phụ thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất, người phạm tội phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Thứ hai, người phạm tội phải có điều kiện để nhận thức được hành vi giao cấu với nạn nhân là trái pháp luật. Trường hợp người phạm tội không có đủ điều kiện để nhận thức được hành vi giao cấu với nạn nhân là trái pháp luật thì cũng không bị coi là có lỗi. Trong trường hợp này phải căn cứ vào các tình tiết thực tế của vụ án để xác định có khả năng người phạm tội không thể biết được đối tượng là trẻ em hay không vì nạn nhân có thể phát triển phổng phao hơn so với độ tuổi hoặc đi học sớm hơn tuổi. Do đó, cần căn cứ vào tình hình thực tế của vụ án để đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Với trường hợp Lê Quang Nhựt việc yêu và tin người yêu đã đến tuổi trường thành là không tránh khỏi vì chính Thị Cẩm Thiền đã “xuất trình” giấy chứng minh nhân dân trước sự chứng kiến của cả gia đình Nhựt. Việc xét xử Lê Quang Nhựt về tội Giao cấu với trẻ em trong trường hợp này là không có sự tương xứng giữa lỗi của anh ta và hậu quả mà anh ta phải gánh chịu trước pháp luật và xã hội. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Với ý nghĩa là một mặt của thể thống nhất tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại độc lập mà còn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm. Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm các nội dung chủ yếu là động cơ (điều thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội), mục đích (điều người phạm tội nhằm đạt đến khi thực hiện hành vi phạm tội) và lỗi (lý trí và ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện bên ngoài của tội phạm).

Trong cấu thành tội phạm của tội Giao cấu với trẻ em được quy định ở Điều 115 Bộ luật hình sự thì chỉ có lỗi là nội dung bắt buộc. Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Lỗi của người phạm tội giao cấu với trẻ em là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi giao cấu của mình, đủ điều kiện để lựa chọn thực hiện hành vi phù hợp với đòi hỏi của xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Khi xác định lỗi của người phạm tội cần chú ý rằng trên thực tế, chủ thể của các tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức có thể mong muốn (cố ý trực tiếp) hoặc chấp nhận (cố ý gián tiếp) hành vi phạm tội trên cơ sở mong muốn hoặc chấp nhận đặc điểm nhất định mà không phải là đặc điểm hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà tội giao cấu với trẻ em lại là một tội phạm có cấu thành hình thức nên lỗi của người phạm tội có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Cũng do Tội giao cấu với trẻ em có cấu thành hình thức nên việc xác định lỗi ở đây không phụ thuộc vào đặc điểm hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý (trực hoặc gián tiếp). Người phạm tội biết hoặc có thể biết (nhưng để mặc) nạn nhân là người chưa đủ 16 tuổi mà vẫn giao cấu với nạn nhân. Theo nguyên tắc, trẻ em nói tại Điều này là một dấu hiệu khách quan. Việc người phạm tội có nhận thức được không về việc người bị hại là trẻ em chưa đủ 16 tuổi không có ý nghĩa định tội. Tuy nhiên trên thực tế chỉ xem xét người phạm tội này khi về chủ quan, người phạm tội phải biết (hoặc để mặc) nạn nhân là trẻ em chưa đủ 16 tuổi. Nếu người phạm tội không biết hoặc không có cơ sở để buộc người phạm tội phải biết nạn nhân là trẻ em chưa đủ 16 tuổi thì không có tội phạm xảy ra.

2.2. Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do tòa án quyết định” [18, Điều 26]. Đối với tội giao cấu với trẻ em việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hình phạt chính, đây cũng là loại hình phạt rất nghiêm khắc được quy định trong Luật hình sự. Tù có thời hạn buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để học tập, lao động, cải tạo. Đây là loại hình phạt mà người bị kết án bị tước tự do trong một thời gian nhất định tại trại giam và phải tuân theo các nội quy, quy chế của trại giam. Hình phạt này không chỉ nhằm mục đích trừng trị mà còn cách ly người bị kết án ra khỏi xã hội, ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội mới. So với Bộ luật Hình sự năm 1985 tội giao cấu với trẻ em được quy định tại Điều 114 có tên là “tội giao cấu với người dưới 16 tuổi” với một khung hình phạt cơ bản là phạt tù từ ba tháng đến ba năm thì tội “Giao cấu với trẻ em” ở Bộ luật hình sự 1999 được quy định tại Điều 115 sửa đổi theo hướng: tăng nặng hình phạt ở khung cơ bản; bổ sung thêm hai khung tăng nặng đồng thời hình phạt tù cao nhất lên tới mười lăm năm. Điều này cho thấy chủ trương của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội là cần trừng trị nghiêm khắc loại tội phạm này. Đồng thời đây cũng là thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng chỉ đạo là đề cao việc bảo vệ trẻ em.

2.2.1. Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em theo quy định tại Khoản 1 Điều 115

Khoản 1 Điều 115 quy định: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

Đây là trường hợp được áp dụng với các trường hợp phạm tội không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt là một năm tù, cao nhất là năm năm tù.

Ví dụ [26]: “Nguyễn Cao Cường (sinh năm 1992) và Bùi Thị Thu Hà (sinh năm 1998) tìm hiểu và yêu nhau qua sự giới thiệu của một người bạn. Ngày 7/3/2013 để kỷ niệm sinh nhật người yêu cả hai đi chơi khuya và Hà đã trao gửi “cái ngàn vàng” cho người yêu vào đêm Hà tròn mười lăm tuổi. Nguyễn Cao Cường đã bị bắt ngay sau đó và bị Tòa án nhân dân quận Long Biên tuyên phạt mười hai tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Đây là trường hợp khá đặc trưng để minh họa cho cấu thành cơ bản của tội “Giao cấu với trẻ em”: Người phạm tội và nạn nhân có quan hệ tình cảm yêu đương, quan hệ tình dục lần đầu và nạn nhân hoàn toàn tự nguyện, không có tình tiết tăng nặng và hình phạt thường được tuyên ở mức đầu khung. Việc tuyên mức án một năm tù đối với Nguyễn Cao Cường là hợp lý bởi mức hình phạt này là tương xứng với hành vi mà Cường gây ra. Nó vừa đảm bảo được tính răn đe, giáo dục vừa thể hiện sự khoan hồng đối với tội phạm này. Tính răn đe của hình phạt ở chỗ với mức án một năm tù nó vừa là sự trừng trị cho thái độ coi thường pháp luật và dư luận xã hội của Cường khi biết rõ bạn gái mới tròn mười lăm tuổi, lứa tuổi bị cấm quan hệ tình dục nhưng anh ta vẫn cố tình vi phạm. Tính giáo dục bởi nó là hồi chuông cảnh báo không chỉ cho người phạm tội mà cho cả lớp trẻ, những người mà suy nghĩ và hành động của họ còn bồng bột, nông nổi, dễ sa vào con đường lầm lạc bởi họ chưa nhận thức được cái giá phải trả cho những phút bốc đồng đó. Hình phạt trên cũng là một sự khoan hồng bởi nó là khoảng thời gian học tập, cải tạo không quá dài, là mức thấp nhất của khung hình phạt, nó đủ cho người phạm tội có thời gian để suy ngẫm và ăn năn nhưng không làm mất đi các cơ hội trong cuộc đời của họ.

Một ví dụ khác [26]: Phí Quang Liêm (sinh năm 1958) là hàng xóm của gia đình cháu Nguyễn Thị Lan Anh (sinh năm 1996) gọi Liêm là ông. Hàng ngày cháu Lan Anh vẫn thường qua nhà Liêm chơi. Thấy Lan Anh cao lớn phổng phao, Phí Quang Liêm nảy lòng tà dâm nên đã thầm lên kế hoạch để thực hiện ý định của mình. Liêm thường xuyên cho Lan Anh quà bánh thậm chí cả tiền để mua chuộc tình cảm của Lan Anh. 10h ngày 26/7/2010 cháu Lan Anh qua nhà Liêm chơi, Phí Quang Liêm kéo Lan Anh vào phòng của mình, gạ gẫm cô bé nếu cho Liêm làm việc “người lớn” thì ông ta sẽ cho Lan Anh tiền để mua quần áo đẹp. Thấy Lan Anh không phản đối Liêm đã bế cháu Lan Anh lên giường, kéo quần cháu xuống dưới đầu gối rồi tự cởi quần của mình và thực hiện hành vi giao cấu. Sự việc bị phát hiện, Phí Quang Liêm bị bắt về hành vi “Giao cấu với trẻ em”, tháng 10/2010 Phí Quang Liêm bị tòa án nhân dân huyện Thường Tín xử tuyên mức án hai mươi tư tháng tù. Ở trường hợp này, Phí Quang Liêm và cháu Nguyễn Thị Lan Anh hoàn toàn không có quan hệ tình cảm yêu đương. Việc phạm tội được tính toán khá kỹ càng thể hiện ở chuỗi hành vi mà y thực hiện để mua chuộc nạn nhân như cho quà, cho tiền. Điều này thể hiện y nắm bắt được tâm lý của trẻ nhỏ và coi đó là một điểm yếu để y đạt được ý đồ đồi bại của mình. Hành vi phạm tội của Phí Quang Liêm cũng thỏa mãn những yếu tố cấu thành tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự tuy nhiên bản chất của hành vi phạm tội lúc này không đơn thuần là sự bồng bột nông nổi của tình yêu tuổi trẻ như trường hợp của Nguyễn Cao Cường nữa mà thể hiện sự băng hoại đạo đức cần phải lên án mạnh mẽ và trừng trị đích đáng.

Qua hai ví dụ trên chúng ta có thể nhận thấy cấu thành tội phạm tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự khá đơn giản nhưng trong thực tế tội phạm diễn ra lại rất phong phú, thể hiện nhiều mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Khi quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội này cần xem xét một cách toàn diện đầy đủ các tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, đặc biệt là mối quan hệ giữa người bị hại với người phạm tội. Thông qua việc giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng cần giáo dục không chỉ người phạm tội mà cần giáo dục ngay cả đối với người bị hại để họ nhận thức được trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hội. Cũng chính vì sự đa dạng của hành vi phạm tội này mà khung hình phạt ở khoản này khá rộng từ một đến năm năm có lẽ chính là chủ đích của nhà làm luật tiên liệu trước cho các mức độ nguy hiểm khác nhau đó.

2.2.2. Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em theo quy định tại Khoản 2 Điều 115 Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Khoản 2 Điều 115 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

  1. Phạm tội nhiều lần;
  2. Đối với nhiều người;
  3. Có tính chất loạn luân;
  4. Làm nạn nhân có thai;

Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

  • Điểm a khoản 2 Điều 115 quy định “Phạm tội nhiều lần”:

Phạm tội nhiều lần trong trường hợp này là giao cấu với một trẻ em từ hai lần trở lên. Khi xác định tình tiết phạm tội này cần chú ý: trong tất cả các lần giao cấu, người phạm tội đã đủ mười tám tuổi và người bị hại ở độ tuổi từ đủ mười ba đến dưới mười sáu tuổi, nếu có hai lần giao cấu nhưng trong đó có một lần người phạm tội chưa đủ mười tám tuổi hoặc người bị hại đã đủ mười sáu tuổi thì không coi là phạm tội nhiều lần và người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự.

Ví dụ: A (15 tuổi) là bạn gái của B (sinh ngày 1/2/1994). Ngày 30/1/2012 hai người có quan hệ tình dục lần đầu tiên với nhau, đến ngày 2/2/2012 hai người quan hệ lần thứ hai thì bị bắt quả tang. Ở trường hợp này không thể kết tội B phạm tội theo điểm a khoản 2 điều 115 Bộ luật hình sự được bởi ở lần quan hệ thứ nhất ngày 30/1/2012 B chưa tròn mười tám tuổi nên chỉ có lần giao cấu thứ hai ngày 2/2/2012 mới đủ cấu thành tội phạm tội Giao cấu với trẻ em vì lúc này B đã thành niên và A vẫn dưới mười sáu tuổi. Vì vậy B sẽ bị xử theo khung hình phạt tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự.

Nếu trong các lần giao cấu mà có một lần người bị hại dưới mười ba tuổi thì người phạm tội phải bị truy cứu về hai tội: tội hiếp dâm trẻ em và tội giao cấu với trẻ em. Ví dụ: A (19 tuổi) có bạn gái là B sinh ngày 10/10/2001. Ngày 9/10/2014 A và B quan hệ tình dục lần đầu với nhau, đến ngày 11/10/2014 cả hai lại có hành vi giao cấu tại nhà của B thì bị bắt quả tang. Ở trường hợp này A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hai tội danh: Hiếp dâm trẻ em (lần quan hệ đầu tiên ngày 9/10/2014 khi B chưa tròn 13 tuổi) và Giao cấu với trẻ em (lần thứ hai ngày 11/10/2014 khi B đã tròn 13 tuổi).

  • Điểm b khoản 2 Điều 115 quy định “Đối với nhiều người”: Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Phạm tội đối với nhiều người trong trường hợp này là giao cấu với từ hai trẻ em trở lên và tất cả người bị hại đều ở độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Ví dụ [24]: Lê Nguyễn Hải Anh (sinh năm 1988, HKTT: phường Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội) thường xuyên lên mạng Internet để tán tỉnh các cô gái trẻ rồi dụ dỗ họ đi chơi và quan hệ tình dục. Nhận được tin báo của gia đình cháu Hồ Hương L một nạn nhân của Hải Anh, ngày 23/6/2013 cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đống Đa đã bắt quả tang Hải Anh đang quan hệ tình dục với cháu Nguyễn Khánh T. (sinh năm 1998) là học sinh lớp chín tại một trường Trung học cơ sở thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Tại cơ quan điều tra Hải Anh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lê Nguyễn Hải Anh sau đó bị tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử về tội danh “Giao cấu với trẻ em” với tình tiết tăng nặng là “đối với nhiều người” theo điểm b khoản 2 Điều 115 và nhận mức án bốn mươi tháng tù cho hành vi của mình.

Ở điểm này cần chú ý: nếu có hai người bị hại, trong đó có một người từ đủ mười sáu tuổi thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự. Trường hợp nếu có một người dưới mười ba tuổi thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội danh: tội giao cấu với trẻ em và tội hiếp dâm trẻ em. Trường hợp có nhiều người bị giao cấu, trong đó có người bị giao cấu từ hai lần trở lên thì người phạm tội thuộc hai trường hợp: phạm tội nhiều lần và đối với nhiều người.

  • Điểm c khoản 2 Điều 115 quy định “Có tính chất loạn luân”:

Tính chất loạn luân thể hiện ở chỗ giữa người phạm tội với nạn nhân có cùng dòng máu trực hệ, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Ví dụ: Ông Nguyễn Văn Tho trú tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang bị tố cáo về hành vi giao cấu với con gái (14 tuổi). Cơ quan điều tra công an tỉnh Tiền Giang đã khởi tố ông Tho về tội “Giao cấu với trẻ em” với tình tiết định khung tăng nặng là “có tính chất loạn luân”.

Việc quy định giao cấu với trẻ em có tính chất loạn luân như một tình tiết tăng nặng là cần thiết. Về mặt y học, những người có cùng dòng máu khi quan hệ sinh lý với nhau thì những đứa con sinh ra có rất nhiều khả năng là sẽ bị quái thai, chết yểu hoặc bệnh tật… Đó là điều không tốt đối với thế hệ tương lai của đất nước. Bên cạnh đó về mặt xã hội thì hành vi quan hệ sinh lý giữa những người này đi ngược với đạo đức, luân lý, truyền thống lễ giáo, là biểu hiện của sự suy đồi về đạo đức nên bị xã hội kịch liệt lên án. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như các trường hợp hiếp dâm có tính chất loạn luân, cưỡng dâm có tính chất loạn luân, chỉ khác ở chỗ trường hợp phạm tội này giữa nạn nhân với người phạm tội có sự đồng thuận khi giao cấu. Việc xử lý nghiêm trường hợp giao cấu với trẻ em có tính chất loạn luân là nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường của các em, bảo vệ thuần phong mỹ tục của gia đình và xã hội.

  • Điểm d khoản 2 Điều 115 quy định “Làm nạn nhân có thai”:

Việc quy định tình tiết tăng nặng làm nạn nhân có thai hoàn toàn hợp lý bởi hậu quả “có thai” trong trường hợp này là rất nghiêm trọng. Trước hết xét về khía cạnh cá nhân: bản thân nạn nhân cũng chỉ là trẻ em, là đối tượng cần được gia đình và xã hội bảo vệ chăm sóc, như chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”. Việc ‘ăn ngủ, học hành” đối với các em đã là ngoan là giỏi rồi thì việc mang thai, sinh con, nuôi con các em không thể nào đảm đương; tâm lý các em sẽ bị chấn động, về sinh lý do cơ thể chưa phát triển đầy đủ nên việc gặp nhiều biến cố trong mang thai, sinh nở là không thể tránh khỏi thậm chí có trường hợp dẫn đến tử vong. Về khía cạnh gia đình và xã hội: nạn nhân trong trường hợp này sẽ trở thành gánh nặng của cả gia đình và xã hội. Những đứa trẻ của nạn nhân nếu được sinh ra cũng sẽ thiệt thòi rất nhiều về mọi mặt (tinh thần và vật chất). Ngược lại, với trường hợp buộc phải nạo phá thai hậu quả để lại cũng rất lâu dài. Do vậy khung hình phạt từ ba năm đến mười năm dành cho trường hợp này đã thể hiện được tính răn đe, trừng trị của pháp luật.

Ví dụ [26]: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vừa xét xử vụ án “Giao cấu với trẻ em” đối với bị cáo Nguyễn Việt Dũng, sinh năm 1986, đã lập gia đình và có con, hộ khẩu thường trú tại Hoàng Mai, Hà Nội. Cuối năm 2013, Dũng làm quen với Nguyễn Ngọc L sinh năm 1999, hộ khẩu: Hà Nội. Do tin tưởng vào những lời hứa hẹn của Dũng, L đã nhiều lần vào nhà nghỉ quan hệ tình dục với Dũng dẫn đến hậu quả có thai. Với hành vi phạm tội như trên, Dũng đã bị tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên bốn năm hai tháng tù về tội Giao cấu với trẻ em với tình tiết tăng nặng tại điểm a (phạm tội nhiều lần) và điểm d (làm nạn nhân có thai) khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Khi xác định tình tiết phạm tội này cần chú ý: Chỉ khi nào xác định người bị hại có thai do chính hành vi giao cấu của người phạm tội và khi có thai, người bị hại ở độ tuổi từ mười ba đến dưới mười sáu tuổi. Nếu người bị hại có thai do kết quả của một lần giao cấu với người khác hoặc tuy có thai với người phạm tội nhưng do giao cấu nhiều lần trong đó có lần người bị hại đã đủ mười sáu tuổi và cái thai đó là kết quả của lần giao cấu khi người bị hại đã tròn mười sáu tuổi, thì không thuộc trường hợp phạm tội này.

  • Điểm đ khoản 2 Điều 115 quy định “Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%”

Đây không phải là tình tiết định khung mới vì khoản 2 Điều 114 Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định tình tiết “gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân” và theo các thông tư, nghị quyết hướng dẫn thì tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60 % là thương tích nặng hoặc tổn hại nặng đến sức khỏe. Cơ sở để xác định thương tật là căn cứ của Ban giám định pháp y và bản quy định tiêu chuẩn thương tật kèm theo thông tư số 12/TTLT ngày 26/7/1995 liên bộ Bộ Y tế, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội quy định về tiêu chuẩn thương tật và tiêu chuẩn bệnh tật.

Người phạm tội giao cấu với trẻ em thuộc một trong các trường hợp: Phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người; có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ ba năm đến mười năm tù.

2.2.3. Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em theo quy định tại Khoản 3 Điều 115

  • Khoản 3 Điều 115 Bộ luật hình sự quy định:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

  1. Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
  2. Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Cơ sở để xác định thương tật tương tự như điểm đ khoản 2, trường hợp tổn hại sức khỏe từ 61% trở lên theo Thông tư 12/TTLB có thể là rò bàng quang-âm đạo mà phẫu thuật không có kết quả hoặc phải đặt ống thông bàng quang vĩnh viễn.

Với trường hợp quy định tại điểm b “Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội”: Đây là trường hợp người phạm tội biết mình bị nhiễm bệnh HIV trên cơ sở họ đã xét nghiệm tại bệnh viện hoặc cơ sở chuyên ngành có chức năng và có kết luận, kết quả xét nghiệm theo đó họ bị nhiễm HIV nhưng họ vẫn cố tình giao cấu với nạn nhân. Quy định này nhằm trừng trị những hành vi nguy hiểm cao độ, vì nó không chỉ xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ em mà nó còn xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng của nạn nhân. HIV là căn bệnh hiện có tỷ lệ tử vong cao và hành vi giao cấu của người phạm tội tạo ra một khả năng lây nhiễm cao cho nạn nhân bởi vì quan hệ tình dục là một trong những nguy cơ lây truyền HIV phổ biến nhất.

2.3. Phân biệt tội giao cấu với trẻ em với các tội xâm phạm tình dục trẻ em khác Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 có các Điều luật quy định về tội phạm tình dục trẻ em gồm: Điều 112 “Tội hiếp dâm trẻ em”, Điều 114 “Tội cưỡng dâm trẻ em”, Điều 115 “Tội giao cấu với trẻ em” và Điều 116 “Tội dâm ô đối với trẻ em”. Đây là những điều luật có nhiều điểm chung: thứ nhất, bởi những điều luật này đều hướng đến việc bảo vệ đối tượng là trẻ em (người dưới mười sáu tuổi); thứ hai, đều quy định về tội phạm liên quan đến tình dục; thứ ba, đều sử dụng hình phạt chính là hình phạt tù thể hiện tính răn đe đặc biệt của pháp luật nói riêng và toàn xã hội nói chung đối với các loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em.

Bên cạnh những điểm tương đồng đó chúng ta cần nghiên cứu, tìm hiểu để làm rõ hơn sự giống và khác biệt của các loại tội phạm trên so với tội Giao cấu với trẻ em nhằm áp dụng pháp luật một cách chính xác trên thực tế.

2.3.1. Tội hiếp dâm trẻ em

Tại Bộ luật Hình sự 1999 quy định “Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm” [18, Điều 112].

Khách thể: Cũng như tội Giao cấu với trẻ em, khách thể của tội phạm này là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tình dục, danh dự, nhân phẩm của trẻ em.

Mặt khách quan: Ở mặt khách quan của tội phạm này, hành vi hiếp dâm được thể hiện ở việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác khiến trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi tê liệt ý chí, phải miễn cưỡng giao cấu. Như vậy, khác với hành vi giao cấu đồng thuận ở tội Giao cấu với trẻ em, hành vi giao cấu ở tội Hiếp dâm trẻ em không được sự đồng thuận từ nạn nhân mà là giao cấu trái ý muốn.

Mặt chủ quan: Lỗi của tội phạm này là lỗi cố ý, là lỗi cố ý trực tiếp nếu khi người tội phạm biết rõ là trẻ em mà vẫn thực hiện hành vi giao cấu; là lỗi cố ý gián tiếp khi người thực hiện hành vi nghĩ rằng đối tượng giao cấu không phải là trẻ em nhưng thực thế lại là trẻ em. Đây cũng là điểm tương đồng về mặt lỗi khi so sánh giữa tội Hiếp dâm trẻ em với tội Giao cấu với trẻ em.

Chủ thể: Chủ thể của tội danh này khác với tội Giao cấu với trẻ em ở chỗ: nếu tại Điều 115 quy định “người nào đã thành niên” thì ở đây chỉ dùng cụm từ “người nào”. Như vậy chủ thể của nó được hiểu là chủ thể của luật hình sự nói chung, có đủ năng lực hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự là đã đáp ứng yêu cầu về chủ thể của tội danh “Hiếp dâm trẻ em”. Ngoài ra, cũng như tội Giao cấu với trẻ em, chủ thể của tội phạm này là nam giới. Nữ giới chỉ có thể tham gia trong vụ đồng phạm Hiếp dâm với trẻ em với vai trò là người giúp sức, xúi giục hoặc tổ chức.

  • Tội hiếp dâm trẻ em là tội phạm có cấu thành hình thức, tội phạm có kết cấu bởi một trong các dạng hành vi sau đây:

Dùng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, bóp cổ, giữ, vật lộn, bịt miệng, đánh…nạn nhân. Những hành vi đó nhằm làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu. Trong thực tế, nếu người phạm tội đã dùng vũ lực làm cho nạn nhân bất tỉnh và giao cấu, đồng thời sau đó để nạn nhân chết (dù không có hành vi dùng vũ lực tiếp theo), người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội giết người. Tương tự như vậy, nếu bằng mọi cách để giao cấu mà người phạm tội đã giết chết nạn nhân rồi sau đó giao cấu với nạn nhân thì người phạm tội sẽ bị truy cứu thêm tội giết người. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Đe doạ dùng vũ lực: người phạm tội chưa thực hiện những hành vi dùng vũ lực, chưa có bất kỳ một sự tác động vật chất nào lên người nạn nhân, mà thực hiện các hành vi đe doạ dùng vũ lực nhằm uy hiếp về mặt tinh thần. Sự uy hiếp này mang tính chất mạnh mẽ khiến cho nạn nhân không dám chống cự, bị tê liệt ý chí và để người phạm tội giao cấu với mình.

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: tình trạng này có thể có sẵn ở nạn nhân (nạn nhân bị bệnh động kinh, bệnh tâm thần) hoặc người thứ ba gây ra, hoặc do người phạm tội tạo ra (người phạm tội cho nạn nhân uống thuốc mê), hoặc do các nguyên nhân khách quan khác (nạn nhân bị say xỉn, bị bất tỉnh, bị ốm đau bệnh tật mà sức khoẻ yếu…).

Thủ đoạn khác: là những thủ đoạn ngoài những trường hợp đã phân tích trên đây, như: cho nạn nhân uống thuốc kích thích. Đây là một quy định mở nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống có hiệu quả hành vi phạm tội hiếp dâm.

Dấu hiệu giao cấu trái ý muốn của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Để xác định việc giao cấu có trái ý muốn của nạn nhân hay không, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố: mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, thủ đoạn thực hiện tội phạm, hoàn cảnh thực hiện hành vi giao cấu, nhân thân của hai bên, ý kiến của những người xung quanh, hậu quả sau giao cấu để lại… Vì trên thực tế biểu hiện của tội Hiếp dâm trẻ em là muôn hình vạn trạng nên việc áp dụng tội danh này là hết sức thận trọng nhưng cũng tránh để lọt tội phạm hay áp dụng nhầm sang một tội danh khác bởi đây là tội phạm nguy hiểm nhất trong số các loại tội phạm xâm phạm tình dục nói chung và xâm phạm tình dục trẻ em nói riêng.

Tuy nhiên tại khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự cũng quy định “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Như vậy, với đối tượng là trẻ em dưới 13 tuổi pháp luật Hình sự Việt Nam có sự bảo hộ đặc biệt. Sự bảo hộ đặc biệt này thể hiện ở chỗ, mọi trường hợp người đã thành niên mà giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi, cho dù sự giao cấu này nhận được đồng tình của trẻ thì người phạm tội vẫn bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội Hiếp dâm trẻ em.

Ví dụ [27]: Khoảng 14h30 ngày 22/6/2010 bà Vũ Thị Bé cũng cháu Dương Khánh Huyền (sinh năm 2004 ở Phố Nghè, phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) đến chơi nhà ông Vũ Văn Sôi ở cùng phố. Tại nhà ông Sôi lúc đó có Nguyễn Anh Sơn (sinh năm 1984 ở thôn Thượng, Vân Từ, Phú Xuyên, Hà Nội) là thợ khảm trai đang làm việc ở hiên trước nhà ông Sôi. Trong lúc bà Bé và ông Sôi nói chuyện trong nhà, cháu Huyền ngồi xem và nói chuyện với Sơn. Một lúc sau Sơn đứng dậy đi sang phòng trọ và bế cháu Huyền theo. Khi đến phòng trọ thấy không có ai ở trong phòng Sơn đặt cháu Huyền lên chiếc võng ở góc phòng, thấy cháu Huyền không có phản ứng gì Sơn liền tụt quần cháu Huyền xuống đến đầu gối rồi bước một chân qua bên kia võng, đồng thời dùng tay tụt cạp quần của mình xuống, tay trái cầm dương vật của Sơn lúc này đã cương cứng ấn vào âm hộ của cháu Huyền, được khoảng một phút thì Sơn xuất tinh trùng ra ngoài. Sau đó Sơn kéo quần của mình lên còn cháu Huyền tự kéo quần của cháu lên, Sơn bế cháu Huyền xuống võng rồi ra làm tiếp. Còn cháu Huyền do sự cọ sát của hai bộ phận sinh dục với nhau nên cháu bị đau đã chạy vào chỗ bà Bé khóc đòi bà đưa về nhà. Sau khi sự việc xảy ra cháu Huyền đã kể lại cho bố mẹ. Mẹ cháu Huyền đã tắm rửa, giặt quần áo cho con và bôi thuốc mỡ nhưng cháu vẫn liên tục kêu đau âm hộ. Bố mẹ cháu đã đưa cháu đến công an thị xã Từ Sơn để trình báo sự việc. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Ngày 29/7/2010 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh ra quyết định số 30 trưng cầu giám định thương tích đối với cháu Dương Khánh Huyền và quyết định số 29 giám định trưng cầu thể chất, tinh thần đối với bị can Nguyễn Anh Sơn. Tại bản kết luận giám định pháp y số 20/2010/GĐPY ngày 26/8/2010 của tổ chức giám định pháp y tỉnh Bắc Ninh trả lời kết quả giám định thương tích đối với cháu Dương Khánh Huyền như sau:

  • Tổn thương bộ phận sinh dục ngoài, màng trinh còn nguyên vẹn.

Tại bản giám định pháp y số 21/2010/GĐPY đối với Nguyễn Anh Sơn kết luận:

  • Bị can là nam giới phát triển về thể lực, trí tuệ, tâm thần bình thường.

Có đủ năng lực nhận thức hành vi.

Ngày 27/7/2010 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh ra quyết định khởi tố vụ án số 09 và quyết định khởi tố bị can số 45 đối với Nguyễn Anh Sơn về tội Hiếp dâm trẻ em theo Điều 112 Bộ luật hình sự.

Ở ví dụ này, đối tượng Nguyễn Anh Sơn mặc dù không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác làm cho nạn nhân tê liệt ý chí (là những dấu hiệu cơ bản của tội danh Hiếp dâm) nhưng nạn nhân của Sơn là cháu Dương Khánh Huyền chỉ mới sáu tuổi nên hành vi của Sơn đã cấu thành tội Hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự.

Việc quy định mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới mười ba tuổi là phạm tội Hiếp dâm trẻ em là hợp lý. Bởi lẽ ở độ tuổi từ không đến dưới mười ba các em mới chỉ phát triển những bước đầu tiên, thể trạng cũng như tinh thần còn hết sức non nớt, chưa đủ khả năng nhận thức cơ bản về thế giới bên ngoài. Vì thế gần như các em chưa biết tự bảo vệ bản thân, chưa phân biệt được được bản chất sự vật hiện tượng diễn ra xung quanh. Bởi vậy cần có một cơ chế đặc biệt để bảo vệ các em và khoản 4 Điều 112 đã làm được điều đó. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Qua những phân tích trên đây có thể thấy điểm khác biệt cơ bản của tội Giao cấu với trẻ em và tội Hiếp dâm trẻ em là ở dấu hiệu hành vi khách quan và chủ thể tội phạm. Tội Hiếp dâm trẻ em hành vi khách quan là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác khiến cho nạn nhân lâm vào tình trạng tê liệt ý chí, không thể chống lại được để giao cấu trái ý muốn của họ trong khi hành vi giao cấu trong tội Giao cấu với trẻ em nhận được sự đồng thuận từ phía nạn nhân mà không có bất kỳ dấu hiệu bạo lực, cưỡng ép nào. Về mặt chủ thể: Nếu như chủ thể của tội Hiếp dâm trẻ em là người từ đủ 14 tuổi trở lên thì chủ thể của tội Giao cấu với trẻ em phải là người đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên). Ngoài ra, cả hai tội phạm điều thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và xâm phạm cùng một khách thể đó là quyền tự do thân thể của trẻ em.

2.3.2. Tội Cưỡng dâm trẻ em

Tội Cưỡng dâm trẻ em được quy định tại Điều 114 Bộ luật hình sự: “Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm”.

Khách thể: Cũng như tội Giao cấu với trẻ em, khách thể của tội phạm này là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tình dục, danh dự, nhân phẩm của trẻ em.

Mặt khách quan: Ở mặt khách quan của tội phạm này, hành vi cưỡng dâm được thể hiện ở việc dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi lệ thuộc vào người phạm tội hoặc đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu. Như vậy, khác với hành vi giao cấu đồng thuận ở tội Giao cấu với trẻ em, hành vi giao cấu ở tội phạm này là sự miễn cưỡng đồng ý (do áp lực về tâm lý nên buộc phải giao cấu). Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Mặt chủ quan: Lỗi của tội phạm này là lỗi cố ý, là lỗi cố ý trực tiếp nếu khi người tội phạm biết rõ là trẻ em mà vẫn thực hiện hành vi giao cấu; là lỗi cố ý gián tiếp khi người thực hiện hành vi nghĩ rằng đối tượng giao cấu không phải là trẻ em nhưng thực thế lại là trẻ em. Đây cũng là điểm tương đồng về mặt lỗi khi so sánh giữa tội Cưỡng dâm trẻ em với tội Giao cấu với trẻ em.

Chủ thể: Chủ thể của tội danh này khác với tội Giao cấu với trẻ em ở chỗ: nếu tại Điều 115 quy định “người nào đã thành niên” thì ở đây chỉ dùng cụm từ “người nào”. Như vậy chủ thể của nó được hiểu là chủ thể của luật hình sự nói chung, có đủ năng lực hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự là đã đáp ứng yêu cầu về chủ thể của tội danh “Cưỡng dâm trẻ em”. Ngoài ra, cũng như tội Giao cấu với trẻ em và Hiếp dâm trẻ em, chủ thể của tội phạm này là nam giới. Nữ giới chỉ có thể tham gia trong vụ đồng phạm Cưỡng dâm với trẻ em với vai trò là người giúp sức, xúi giục hoặc tổ chức.

Về hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu: Người phạm tội có hành vi ép buộc hoặc bằng những thủ đoạn khác nhau buộc người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng chịu giao cấu với mình. Quan hệ lệ thuộc ở đây có thể là quan hệ lệ thuộc về mặt công tác (như quan hệ lệ thuộc giữa thủ trưởng và nhân viên); về mặt kinh tế (như quan hệ giữa người nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng); về mặt tín ngưỡng (cha xứ và con chiên) hay gia đình (cha mẹ và con)…

Người đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn, tự mình không thể hoặc khó có thể khắc phục được, mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của người khác (như trường hợp người thân trong gia đình bị mắc bệnh hiểm nghèo khi hoàn cảnh lại đang túng thiếu nghiêm trọng…).

Người phạm tội lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh khó khăn đặc biệt nói trên của người bị hại để khống chế tư tưởng họ, buộc họ phải miễn cưỡng chịu sự giao cấu. Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để khống chế người bị hại có thể là đe doạ hoặc hứa hẹn. Người phạm tội có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng ưu thế của mình doạ sẽ gây thiệt hại cho người bị lệ thuộc nếu như không chịu sự giao cấu. Ví dụ, doạ chuyển công tác, doạ không nuôi dưỡng nữa, doạ sẽ nói bí mật…

Cần lưu ý, hành vi đe doạ ở tội cưỡng dâm chưa đến mức làm người bị đe doạ tê liệt ý chí, không dám kháng cự như ở tội hiếp dâm. Người bị đe doạ chỉ bị khống chế tư tưởng; họ vẫn có khả năng phản kháng nhưng đã (miễn cưỡng) chịu sự giao cấu. Người phạm tội cưỡng dâm cũng có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thế của mình hoặc lợi dụng người khác đang trong tình trạng quẫn bách, hứa hẹn sẽ mang lại một quyền lợi hay một giải pháp nào đó cho người đó thoát khỏi tình trạng đó, nếu họ chịu sự giao cấu.

Sự khác biệt giữa hai tội này là ở đối tượng (nạn nhân). Đối với tội hiếp dâm thì nạn nhân là bất cứ ai, còn đối với tội cưỡng dâm thì nạn nhân phải là người lệ thuộc với người phạm tội hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách.

Hành vi khách quan trong tội hiếp dâm và cưỡng dâm có thể gần giống nhau vì trong tội cưỡng dâm, người phạm tội có thể dùng mọi thủ đoạn như đe dọa, khống chế, thậm chí có thể dùng bạo lực. Chẳng hạn đánh đập người bị lệ thuộc để họ sợ và miễn cưỡng phải giao cấu. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Trong tội hiếp dâm, người phạm tội có thể lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu. Cụ thể nạn nhân có thể đã bị ngất xỉu, bị bỏ thuốc mê, bị bắt trói chân tay… Còn tình trạng quẫn bách của người bị hại (nạn nhân) trong vụ án cưỡng dâm là người bị hại vẫn còn nhận thức được, còn khả năng tự vệ nhưng vì sự lệ thuộc hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách không còn con đường nào khác mà buộc phải giao cấu.

Sự hứa hẹn phải mang tính chất là một sự khống chế tư tưởng người khác, buộc họ phải miễn cưỡng chấp nhận việc giao cấu. Những trường hợp ép buộc khác không thuộc phạm vi của tội này.

Đối với nạn nhân là nam hoặc nữ từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, việc giao cấu có được từ mua bán bằng tiền hoặc lợi ích vật chất khác sẽ được cấu thành tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 Bộ luật hình sự)

Cần lưu ý, hành vi đe doạ ở tội cưỡng dâm chưa đến mức làm người bị đe doạ tê liệt ý chí, không dám kháng cự như ở tội hiếp dâm. Người bị đe doạ chỉ bị khống chế tư tưởng; họ vẫn có khả năng phản kháng nhưng đã (miễn cưỡng) chịu sự giao cấu. Người phạm tội cưỡng dâm cũng có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thế của mình hoặc lợi dụng người khác đang trong tình trạng quẫn bách, hứa hẹn sẽ mang lại một quyền lợi hay một giải pháp nào đó cho người đó thoát khỏi tình trạng đó, nếu họ chịu sự giao cấu.

Ví dụ: Khoảng 13h30 ngày 12/02/2011, Nguyễn Văn Lý đến nhà bà Trần Thị Xê để làm lễ giải hạn đầu năm. Xong việc, Lý được bà mời ở lại ăn trưa. Sẵn hơi men trong người lại thấy nhà bà Xê neo người (chỉ có bà và cô cháu gái ở nhà) Lý nảy sinh ý định đồi bại nên bảo với bà Xê là cháu gái bà là Lê Thị Minh N (sinh năm 1997) đang bị người âm theo nên sau này đường tình duyên sẽ vô cùng lận đận mà có thể không lấy được chồng. Nếu muốn đuổi con ma này đi Lý sẽ giúp. Bà Xê rất lo sợ nên đã nhờ Lý đuổi “vong” giúp cô cháu gái. Nguyễn Văn Lý bảo bà Xê đi sang nhà hang xóm để y làm lễ trừ tà cho cháu N. Ngay khi bà Xê vừa đi khỏi, Lý đã dọa dẫm cháu Ng, bảo cháu lên giường nằm, nghe theo lời y thì mới đuổi được “con ma” đang ở trong người cháu. Vì muốn đuổi “ma” nên cháu Lê Thị Minh N đã để mặc cho Nguyễn Văn Lý thực hiện hành vi giao cấu với mình. Sự việc sau đó bị phát hiện. Ngày 25/02/2011 Nguyễn Văn Lý bị cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đống Đa khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội danh “Cưỡng dâm trẻ em” theo Điều 114 Bộ luật hình sự. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Qua phân tích trên có thể thấy rằng điểm khác biệt cơ bản giữa tội danh Giao cấu với trẻ em và tội danh Cưỡng dâm trẻ em nằm ở mặt hành vi khách quan và chủ thể của tội phạm. Nếu chủ thể của tội Giao cấu với trẻ em là người đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) thì chủ thể của tội Cưỡng dâm trẻ em là người từ đủ 14 tuổi trở lên. Bởi vì theo Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý thì tội Cưỡng dâm trẻ em với khung hình phạt cao nhất ở khoản 1 lên đến 10 năm tù được xếp vào tội rất nghiêm trọng và về mặt cấu thành tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Về mặt hành vi khách quan, khác với hành vi giao cấu đồng thuận trong tội Giao cấu với trẻ em, hành vi giao cấu ở tội Cưỡng dâm trẻ em đạt được là do chủ thể tội phạm đã thực hiện các thủ đoạn khiến cho nạn nhân phải miễn cưỡng giao cấu. Đây cũng là điểm khác biệt để phân biệt với tội Hiếp dâm trẻ em. Nếu như hành vi khách quan ở tội Hiếp dâm trẻ em là sự dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc các thủ đoạn khác khiến nạn nhân bị tê liệt ý chí, không còn sự lựa chọn nào khác mà phải quan hệ tình dục thì ở tội Cưỡng dâm trẻ em, nạn nhân mặc dù miễn cưỡng giao cấu nhưng vẫn có thể có sự lựa chọn khác. Ngoài ra, nạn nhân ở tội Cưỡng dâm trẻ em cũng mang một dấu hiệu đặc trưng so với các tội danh xâm hại tình dục trẻ em khác đó là tính chất lệ thuộc. Sự lệ thuộc về công việc, về tôn giáo, về tư tưởng, về vật chất… chính là điểm yếu khiến nạn nhân phải miễn cưỡng giao cấu và cũng là điểm mạnh mà chủ thể tội phạm dựa vào để buộc nạn nhân phải giao cấu với mình. Bên cạnh mặt chủ thể tội phạm và hành vi khách quan của tội phạm thì đây chính là một đặc điểm quan trọng để phân biệt tội Cưỡng dâm trẻ em với các tội xâm phạm tình dục trẻ em mà trên thực tế những người tiến hành tố tụng cần hết sức chú ý để tránh tình trạng định tội danh sai, bỏ sót tội phạm hoặc làm oan người vô tội.

2.3.3. Tội dâm ô đối với trẻ em

Điều 116 Bộ luật hình sự quy định “Người nào đã thành niên mà dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Khách thể: Cũng như tội Giao cấu với trẻ em, khách thể của tội Dâm ô với trẻ em đều là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Đối tượng tác động là trẻ em.

Mặt khách quan: là hành vi dâm ô với trẻ em, đây là hành vi kích thích tình dục nhưng không có mục đích giao cấu với trẻ em. Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất của tội Dâm ô với trẻ em khi so sánh với tội Giao cấu với trẻ em. Mặt khách quan của tội Dâm ô với trẻ em thể hiện ở hành vi hôn hít, sờ mó bộ phận sinh dục nạn nhân, bắt nạn nhân hôn hít sờ mó bộ phận sinh dục của mình, cọ xát phía ngoài bộ phận sinh dục… để thỏa mãn nhu cầu sinh lý nhưng không có ý định giao cấu. Trong khi đó, mặt khách quan của tội Giao cấu với trẻ em là hành vi giao cấu đã hoàn thành hoặc chưa hoàn thành.

  • Mặt chủ quan: Tội Dâm ô với trẻ em và Giao cấu với trẻ em đều thực hiện với lỗi cố ý.
  • Chủ thể: Tội Dâm ô với trẻ em và tội Giao cấu với trẻ em giống nhau về mặt chủ thể: là người đã thành niên. Tuy nhiên điểm khác biệt về chủ thể giữa hai tội danh này là ở chỗ: nếu tội Giao cấu với trẻ em người thực hành chỉ có thể là nam, chủ thể nữ chỉ tham gia với vai trò xúi giục, giúp sức, chủ mưu thì tội Dâm ô với trẻ em người thực hành có thể là chủ thể nữ. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Có thể hiểu dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người đã thành niên dùng mọi thủ đoạn có tính chất dâm dục đối với người dưới 16 tuổi nhằm thỏa mãn dục vọng của mình nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân. Tội danh này đã từng được quy định trong các văn bản Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự ngày 10-5-1997 và được quy định tại Điều 202b Bộ luật hình sự năm 1985 thuộc mục B Chương VIII (các tội xâm phạm trật tự công cộng). Tuy nhiên, việc xác định tội phạm này xâm phạm đến trật tự công cộng là không chính xác vì nếu chỉ có hành vi dâm ô giữa những người đã thành niên với nhau ở những nơi công cộng thì mới xâm phạm đến trật tự công cộng, còn dâm ô đối với trẻ em thì đã xâm phạm đến một khách thể quan trọng hơn, đó là sự phát triển bình thường về tình dục của trẻ em. Vì vậy việc coi dâm ô trẻ em là hành vi xâm phạm nhân phẩm của con người và quy định trong Chương các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người là hoàn toàn hợp lý.

Chủ thể của tội phạm này có thể là nam hoặc nữ nhưng chủ yếu là nam và nhất thiết phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên. So với tội dâm ô trẻ em quy định tại Điều 202b Bộ luật hình sự năm 1985 thì chủ thể của tội phạm này có sửa đổi, bổ sung. Tại điều 202b Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định người nào có hành vi dâm ô, còn Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định cụ thể “người nào đã thành niên”, tức là phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội này bị thu hẹp hơn so với Điều 202b Bộ luật hình sự năm 1985.

Hành vi dâm ô được thể hiện đa dạng như sờ mó, hôn hít bộ phận sinh dục của nạn nhân; dùng bộ phận sinh dục của mình chà xát với bộ phận sinh dục của nạn nhân hoặc bắt nạn nhân sờ mó, hôn hít bộ phận sinh dục của mình nhằm thỏa mãn dục vọng… nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân. Nếu có ý định giao cấu với nạn nhân nhưng không giao cấu được thì không phải là hành vi dâm ô mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm trẻ em hoặc tội giao cấu với trẻ em.

Về vấn đề hình phạt: Điều luật quy định 3 khung hình phạt.

  • Khung 1: quy định hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
  • Khung 2: quy định hình phạt tù từ ba năm đến bảy năm áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
  1. Phạm tội nhiều lần là từ hai lần trở lên.
  2. Đối với nhiều trẻ em là từ hai em trở lên.
  3. Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh là trường hợp mà người phạm tội có mối quan hệ nhất định, có trách nhiệm đối với nạn nhân như chú, bác, cô, dì đối với cháu; thầy giáo đối với học sinh, người phụ trách đối với các cháu thiếu niên; thầy thuốc đối với bệnh nhân….
  4. Gây hậu quả nghiêm trọng: như làm cho trẻ em giảm sút sức khoẻ, suy nhược thần kinh, hoảng sợ, bỏ học,… ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tâm sinh lý của đứa trẻ…
  5. Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội dâm ô đối với trẻ em hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội dâm ô đối với trẻ em. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Khung 3: quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

  1. Gây hậu quả rất nghiêm trọng như làm cho nạn nhân bị tâm thần, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sự phát triển tâm sinh lý của đứa trẻ, đến hạnh phúc gia đình và tương lai của đứa trẻ.
  2. Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như nạn nhân xấu hổ, mặc cảm mà đã đến tự sát…

Hình phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Ví dụ sau đây minh họa cho cấu thành cơ bản của tội dâm ô với trẻ em: Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, ngày 5/4/2014, Võ Văn Lợi, 22 tuổi, trú tại thôn Quyết Tiến, xã Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh sang nhà chú ruột để ngủ thì có nhiều cháu nhỏ, trong đó có cháu Võ Thị T, 5 tuổi, trú cùng thôn đang chơi đùa. Sau khi Lợi lên nằm trên giường thì cháu T cùng các bạn cũng leo lên giường để đùa nghịch, được một lúc thì các cháu nhỏ đi ra ngoài hết chỉ còn một mình cháu T ở lại.

Lúc này, Lợi tiến đến gần cháu T và đùa nghịch, sau đó dùng tay đưa vào bộ phận sinh dục của cháu T để thực hiện hành vi dâm ô. Bị đau, cháu T đã khóc thét lên. Chị Võ Thị Huyền – mẹ cháu T ở gần đó chạy vào và phát hiện sự việc rồi trình báo lên cơ quan Công an huyện Quảng Ninh. Trung tâm Giám định y khoa- pháp y tỉnh Quảng Bình sau khi giám định pháp y đã kết luận cháu T bị rách màng trinh.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án Nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã tuyên phạt đối tượng Võ Văn Lợi 6 tháng tù giam và buộc bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại.

Sau khi xem xét các chứng cứ và áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mặc dù bản thân bị cáo đã thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo đã bồi thường 20 triệu đồng cho người bị hại, tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã tuyên phạt 6 tháng tù giam đối với bị cáo Võ Văn Lợi về hành vi “dâm ô với trẻ em”.

Vậy, điểm khác biệt cơ bản nhất để phân biệt tội Dâm ô với trẻ em và tội Giao cấu với trẻ em cũng như tội Hiếp dâm trẻ em và Cưỡng dâm trẻ em là ở chỗ chủ thể tội phạm chỉ dừng lại ở các hành vi có tính chất dâm ô mà không có ý định giao cấu với bị hại. Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng đã lúng túng khi quyết định áp dụng tội danh, nhiều khi là áp dụng sai giữa các tội danh trên. Nguyên nhân có thể xuất phát từ quan điểm chủ quan của người áp dụng pháp luật khi xem xét hành vi tội phạm nhưng cũng có trường hợp nguyên nhân xuất phát từ những bất cập trong chính các quy định pháp luật hiện hành. Ví dụ về vụ việc gần đây nhất là quyết định gây tranh cãi khi Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận đã ban hành bản Cáo trạng truy tố bị can Nguyễn Thế Phú về tội dâm ô đối với trẻ em.

Theo cáo trạng, Phú và gia đình cháu TTM (sinh ngày 20-4-2001) là người cùng một làng. Ngày 7-7-2014, Phú đến chòi rẫy của cha dượng cháu uống rượu. Tàn cuộc nhậu, cha dượng của cháu M. đi ra ngoài, trong chòi lúc này chỉ còn Phú, cháu M. và một người nữa đang bị bệnh tâm thần. Thấy cháu M. đang nằm trên võng chơi, Phú nảy sinh ý định đen tối bèn tiến đến nằm đè lên người cháu M. Cháu M. hoảng sợ la hét, vùng vẫy đẩy Phú ra. Cùng lúc đó, bà ngoại của cháu M. từ ngoài đi vào phát hiện nên dùng cây đánh Phú. Phú chống cự rồi bỏ chạy ra ngoài. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Lát sau, Phú đi đến bờ suối trong vườn keo (cách chòi rẫy 100 m) thì lại nhìn thấy cháu M. Phú tiếp tục nảy sinh ý định đen tối bèn chặn cháu lại. Khi cháu M. chống cự, Phú vật cháu xuống đất để thỏa mãn dục vọng nhưng đã bị cha dượng của cháu M. phát hiện, ngăn chặn kịp thời.

Với các hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố Phú về tội dâm ô đối với trẻ em.

Tại cơ quan điều tra và tại tòa, Phú đều thừa nhận rằng mình muốn giao cấu với cháu M. để thỏa mãn dục vọng nhưng do nạn nhân chống cự và cả hai lần đều bị người khác phát hiện nên không thực hiện được. Vì vậy, theo Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, việc Phú có ý định giao cấu với cháu M. là có thật, thể hiện qua việc bị cáo hai lần liên tiếp định thực hiện hành vi nhưng bị nạn nhân chống cự và bị phát hiện nên không thực hiện được. Không những thế, dù nạn nhân chống cự nhưng bị cáo vẫn cố tình để đạt mục đích. Đây là tình tiết quan trọng của vụ án nhưng khi truy tố Viện kiểm sát lại không đưa vào cáo trạng là không đúng. Còn việc bị người nhà nạn nhân phát hiện là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Vì vậy, hành vi của bị cáo có dấu hiệu phạm tội hiếp dâm trẻ em ở mức phạm tội chưa đạt chứ không phải là dâm ô đối với trẻ em như Viện kiểm sát đã truy tố. Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân (Bình Thuận) đã ra quyết định trả hồ sơ, yêu cầu điều tra, truy tố lại theo hướng đổi tội danh vụ Nguyễn Thế Phú dâm ô đối với trẻ em.

Ở ví dụ này chúng tôi nhận thấy sự khác biệt về quan điểm giữa Viện kiểm sát và Tòa án xuất phát từ việc đánh giá hành vi và ý thức chủ quan của người phạm tội.

Trên thực tế, việc xuất hiện các quan điểm khác biệt giữa các cơ quan tiến hành tố tụng như trên không phải là hiếm gặp. Sự xung đột quan điểm có thể là việc đánh giá về mức độ nặng nhẹ của hành vi khách quan: Hành vi thế nào là dâm ô và ở mức độ nào là thể hiện sự đòi hỏi giao cấu (là dấu hiệu của các tội danh với khung hình phạt nặng hơn: Giao cấu với trẻ em, Cưỡng dâm trẻ em, Hiếp dâm trẻ em)? Cũng có khi là việc quyết định hành vi khách quan có cấu thành tội phạm Dâm ô với trẻ em hay không phải là tội phạm?

Có những trường hợp mà các nhà làm luật và người tiến hành tố tụng cùng lúc phải trả lời hai câu hỏi trên: Có hay không có hành vi phạm tội? Nếu có thì hành vi phạm vào tội danh nào?: Công an quận Ninh Kiều (Cần Thơ) vừa có quyết định không khởi tố hình sự vụ dâm ô trẻ em có một không hai trong lịch sử tố tụng. Nghi can là nữ vừa chuyển giới thành nam và mang dương vật giả. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

Theo hồ sơ vụ việc, khoảng 1h15′ ngày 2/8/2014, cảnh sát quản lý hành chính Công an TP Cần Thơ kiểm tra một khách sạn ở quận Ninh Kiều phát hiện một thanh niên và cô gái đang ở chung phòng. Thanh niên được xác định tên là Ngọc T. (28 tuổi, Việt kiều Australia), cô gái tên là T. (tính đến thời điểm kiểm tra đang là trẻ em chưa đủ 16 tuổi).

Ngọc T. cho biết quen với cô T. vào khoảng tháng 3 khi về Việt Nam dự đám tang bên nội. Giữa hai bên trao đổi số điện thoại, nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Ngày 15/7, Ngọc T lại về Việt Nam và thuê phòng khách sạn nói trên để ở và rủ T. đến ở chung từ ngày 16/7. Ngọc T. khai nhận trong khi ở chung phòng cả hai đã ba lần “quan hệ”. Ngay sau đó Ngọc T bị tạm giữ hình sự để điều tra hành vi giao cấu với trẻ em.

Trong khi công an đang củng cố hồ sơ để xử lý hình sự với Ngọc T. thì một tình huống ngoài dự đoán xuất hiện khiến cơ quan tố tụng lúng túng. Ngọc T., người suýt trở thành bị can, thật ra không phải là đàn ông. Cơ quan tố tụng đã không phải dùng biện pháp nghiệp vụ tinh vi nào bởi đương sự thừa nhận dương vật của mình chỉ là đồ giả làm bằng silicon. Chỉ bằng vài động tác, đương sự đã tháo bộ phận ấy ra khỏi cơ thể mình để chứng minh.

Xác minh nhân thân, cơ quan tố tụng biết thêm Ngọc T. vừa chuyển giới tính từ nữ sang nam vào tháng sáu. Việc chuyển giới tính này được chính quyền nơi Ngọc T. sinh sống cho phép và công nhận đương sự là đàn ông trên giấy tờ nhân thân. Hơn nữa, dáng vẻ bên ngoài của Ngọc T không khác gì một người đàn ông thực thụ, khiến người lạ khó nhận ra nếu chỉ nhìn bề ngoài.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ninh Kiều đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự vụ việc trên. Quyết định này được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.

Cơ quan điều tra phạt vi phạm hành chính Ngọc T 1,5 triệu đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác theo Nghị định 73/2010. Trong thông báo không khởi tố vụ án hình sự gửi cô T., cơ quan cảnh sát điều tra, cho rằng: “Hành vi của Ngọc T. chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bị hại không yêu cầu xử lý Ngọc T theo pháp luật…”.

Trước đó, cơ quan điều tra cũng trưng cầu giám định pháp y về tình dục đối với Ngọc T. Kết luận của Trung tâm pháp y TP Cần Thơ cho rằng: “Ngọc là nữ giới đã phẫu thuật chuyển giới tính nhưng bộ phận sinh dục vẫn là nữ nên không thể quan hệ tình dục với nữ được”.

Trường hợp này theo ý kiến của bản thân người viết việc không khởi tố Ngọc T là bỏ lọt tội phạm. Mặc dù hiện nay khái niệm giao cấu trong pháp luật Việt Nam vẫn được hiểu theo định nghĩa của Bản tổng kết 329/HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao là “sự cọ sát dương vật vào bộ phận sinh dục người phụ nữ…”. Tức là, chủ thể phạm tội giao cấu chỉ có thể thuộc giới tính nam và nạn nhân thuộc giới tính nữ. Tuy nhiên để bắt kịp với xu thế của thời đại trước mắt với tình huống này thiết nghĩ các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp cao nhất cần có sự hướng dẫn: trường hợp này đối tượng Ngọc T có được pháp luật thừa nhận là “nam” hay không? Nếu Ngọc T được pháp luật thừa nhận là nam thì hoàn toàn có thể khởi tố anh ta về hành vi giao cấu với trẻ em với tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội nhiều lần”. Ngược lại, nếu pháp luật không thừa nhận Ngọc T là nam giới và hành vi của Ngọc T vì thế không phải là “giao cấu” theo cách hiểu hiện tại thì cần khởi tố Ngọc T về hành vi Dâm ô đối với trẻ em bởi vì hành vi của Ngọc T đã cấu thành tội phạm này và tội Dâm ô đối với trẻ em căn cứ theo Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại. Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự

One thought on “Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em”

  1. Pingback: Luận văn: Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464