Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Các đề xuất về chính sách quản lý nhập khẩu vàng
3.1.1. Đề xuất với chính sách quản lý nhập khẩu vàng
Hoạt động xuất nhập khẩu vàng hiện nay vẫn do NHNN cùng các cơ quan liên đới và Hiệp hội kinh doanh vàng quản lý. Tháng 7 năm 2023, nhận thấy Việt Nam đã nhập khẩu 62 tấn vàng kể từ đầu năm góp phần tăng nhập siêu, NHNN cùng với các cơ quan liên đới đã cùng quyết định không cấp phép nhập khẩu vàng nữa để giảm nhập siêu. Điều này đã góp phần làm giá vàng tại thị trường trong nước giảm so với giá vàng trên thị trường thế giới. Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
Quyết định hạn chế xuất khẩu vàng của NHNN cũng gây nhiều tranh cãi. Do thói quen tiêu dùng, có khoảng 600 tấn vàng đã được nhập vào Việt Nam trong thời gian 10 năm trở lại đây trị giá khoảng 18 tỷ USD, tương đương gần 300 tỷ VND. Khi thị trường trong nước biến động với những đặc trưng riêng khiến giá vàng trong nước thấp hơn thế giới thì các doanh nghiệp Việt Nam lại chưa được phép xuất khẩu vàng ra nước ngoài mặc dù Hiệp hội kinh doanh vàng Việt Nam đã nhiều lần kiến nghị đề xuất. Xuất khẩu vàng sẽ khiến ngoại tệ được thu về và tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện cho họ thu lợi nhuận và linh hoạt hơn đối với việc kinh doanh, thu hút lượng vàng chết rất lớn trong dân từ hàng chục năm nay đem ra trao đổi. Ngoại tệ thu về sẽ đi vào hoạt động một cách linh hoạt và như một nguồn vốn đầu tư trực tiếp cho nền kinh tế, đồng thời tránh được việc xuất khẩu vàng lậu qua biên giới.
Qua đó ta nhận thấy, Việt Nam trung bình mỗi năm nhập khẩu 60-70 tấn vàng chưa kể khối lượng nhập lậu tiêu tốn rất nhiều ngoại tệ mà việc sử dụng vẫn chưa hiệu quả, một số thì được sử dụng trong tích trữ và chủ yếu vẫn nằm trong khu vực dân cư, một số lượng vàng khác được huy động để sử dụng trong các ngành công nghiệp và mới đây là huy động đê tham gia các sàn giao dịch vàng. Tuy vàng đã không chỉ còn nằm chủ yếu dưới dạng dự trữ và không sinh lời, nhưng vẫn cần có những biện pháp để huy động số vàng này sinh lời nhiều hơn. Thiết nghĩ, NHNN và Vụ Quản lý ngoại hối cũng như các ban ngành liên quan xem xét kỹ lợi hại để việc xuất, nhập khẩu vàng dược linh hoạt, đáp ứng được những lợi ích sau:
- Giá vàng trong nước sẽ đi dần về hướng tương đương và biến động sát với giá vàng thế giới, do đó, các doanh nghiệp kinh doanh vàng và các ngân hàng sẽ linh động hơn trong việc mua bán vàng. Trong một số thời điểm từ giữa năm 2023, có khi giá vàng trong nước thấp hơn nhiều so với giá vàng thế giới, nhà đầu tư và người dân đều không muốn giữ nhưng doanh nghiệp vẫn phải vào. Nếu được phép xuất khẩu, doanh nghiệp kinh doanh sẽ có hiệu quả hơn. Ngược lại, như vào thời điểm cuối năm, giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới thì các đơn vị kinh doanh vàng sẽ phải tính toán hạ thấp giá vàng bán ra để cạnh tranh và nhập khẩu về khối lượng khác với giá thấp hơn, người dân sẽ được lợi và giá vàng trong nước sẽ tiến tới cân bằng với giá vàng thế giới. Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
- Nếu xuất khẩu vàng được khai thông, sẽ huy động được một lượng vốn bằng vàng lớn trong dân cư và mang về nguồn ngoại tệ rất lớn, trở thành nguồn vốn đầu tư trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh.
Theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành kim loại quý, hoạt động của các công ty vàng bạc tại Việt Nam vẫn còn nhiều cơ hội phát triển lớn. Ngoài sự hậu thuẫn của một thị trường đang tăng trưởng mạnh hơn 80 triệu dân với nhu cầu vàng đang tăng lên thì các công ty này còn nhiều cơ hội tham gia vào khâu chế tác vàng trang sức quốc tế.
Tuy nhiên trong cấp phép xuất khẩu vàng cũng cần rất thận trọng,cần xem xét thật cản thận doanh nghiệp nào đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vàng, và đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu bao nhiêu vàng, tránh xảy ra hiện tương xuất khẩu ồ ạt, làm suy giảm nguồn cung vàng trong nước, có thể gây những hậu quả xấu về sau.
NHNN cần luôn nhìn nhận đây là một thị trường rất nhạy cảm, việc điều hành cần thận trọng và tránh sai xót. Việc cấp phép cho các doanh nghiệp nào được xuất khẩu vàng và được phép xuất khẩu bao nhiêu cũng cần được NHNN tính toán thận trọng để phân bổ số lượng được xuất khẩu cho các đơn vị tùy theo năng lực và vốn pháp định của đơn vị để không có sự thắc mắc giữa các đơn vị về chuyện khối lượng vàng mỗi doanh nghiệp được phép xuất khẩu và đảm bảo số lượng vàng xuất đi cũng nằm trong một giới hạn cho phép. Đồng thời, NHNN cũng cần rà soát lại hành lang pháp lý để ra quy chế về quản lý việc giao dịch vàng vật chất và vàng tài khoản. Theo đó, với mảng vàng vật chất sẽ phân cấp là với đối tượng nào thì được phép xuất và số lượng xuất vàng là bao nhiêu.
Đồng thời với việc mở cửa cho việc xuất nhập khẩu vàng, thì chúng ta cũng nên mở rộng loại vàng được phép xuất khẩu thành vàng thỏi hay vàng miếng, thay vì chỉ cho phép là vàng nguyên liệu hoặc vàng nữ trang như hiện nay. Bởi khi nhập khẩu, chúng ta đã phải chịu giá cao do thị trường nước ngoài đã phải biến vàng thỏi thành vàng nguyên liệu để xuất cho Việt Nam, rồi nếu được phép xuất khẩu, phía Việt Nam lại phải nấu vàng miếmg lại thành vàng nguyên liệu mới được xuất đi. Quy tình này gây tốn kém chi phí cho ngân hàng và các doanh nghiệp muốn xuất khẩu vàng.
Cùng với các biện pháp trên, chính phủ cũng nên xem xét xây dựng một chiến lược toàn diện và dài hạn cho việc nhập khẩu vàng nói riêng và thị trường vàng nói chung. Hiện Chính phủ đã có một số nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng nhưng vẫn chưa có chiến lược phát triển thị trường này trong tầm nhìn dài hạn. Dường như chúng ta còn bỏ ngỏ, chưa có định hướng rõ ràng mà chỉ chạy theo thị trường. Điều này khiến nhiều người nhận thấy, thị trường vàng đang được thả nổi, người dân không được định hướng nên đầu tư tràn lan, gây nhiễu loạn thị trường. Mặt khác, thiếu chiến lược cũng làm bỏ phí nhiều tiềm năng lớn mà ngành kinh doanh vàng có thể đem lại cho nền kinh tế.
Hiện nay, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đang chuẩn bị trình Chính phủ Chiến lược phát triển thị trường vàng trong 5 năm tới. Căn cứ vào chiến lược này, chúng ta sẽ định hướng cho người dân và nhà đầu tư, kể cả các tổ chức kinh doanh, huy động vàng làm sao để tránh và hạn chế thấp nhất rủi ro khi biến động giá vàng. Thứ hai chiến lược cũng là căn cứ để các nhà đầu tư đưa ra những nhận định dài hạn cho họ để có định hướng về mua sắm và kinh doanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
3.1.2. Đề xuất đối với chính sách tỷ giá Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
Sự ổn định của thị trường tiền tệ vô cùng quan trọng. Như đã thấy những biến động tỷ giá vào thời điểm tháng 6 năm 2023, USD bị hút quá mạnh làm tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do và thậm chí thị trường liên ngân hàng biến động hết sức hốn loạn. Giá USD ngày 19/06 trên thị trường tự do lên đến 19.500 đồng khiến giá vàng trong nước cao hơn thế giới gần 800.000 đồng/lượng, giới đầu cơ đã nhân cơ hội này đồn thổi những tin tức tiêu cực để trục lợi. Khi tỷ giá được điều chỉnh thì giá vàng biến động theo chiều hướng ngược lại (thấp hơn giá quy đổi gần 700.000 đồng/lượng) mặc dù giá thế giới lại đi lên. Đa số những người mua vàng nhỏ lẻ sợ tâm lý vàng còn lên nữa đã mua vàng vào và lỗ nặng sau đó NHNN điều chỉnh lại tỷ giá và có những biện pháp khống chế. Điều này gây tổn thất rất nhiều, tại sao NHNN và Vụ Quản lý ngoại hối đang quản lý tỷ giá trên cơ sở thả nổi có điều chỉnh lại không khống chế được thị trường tự do đang đẩy giá lên ngày một cao ngoài thị trường vào thời điểm đó. Ngày 11/06, NHNN niêm yết tỷ giá USD/VND là 16.461 thì bên ngoài tỷ lệ này bị đẩy lên là 17.500 đồng/USD. Ngày 19/06, NHNN niêm yết tỷ giá USD/VND là 16.454 nhưng thị trường bên ngoài là 19.500 đồng/USD. Nhận thấy biến động lớn gây thiệt hại không chỉ khu vực ngoại tệ mà còn ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh khi nhiều doanh nghiệp không thể có USD để nhập hàng và cũng không dám nhận dự án rồi tái xuất, NHNN lúc này mới điều chỉnh tỷ giá. Ngày 10/06, NHNN niêm yết 1USD = 16.139 đồng, ngày 11/06, NHNN nâng lên mức 16.461 đồng/USD, tăng 322 đồng/USD – một mức tăng chưa từng có. Với biên độ 2%, giá USD được quy đổi tối đa thành 16.790 đồng/USD, dễ dàng nhận thấy rằng VND được neo giữ ở mức ổn định nhằm thu hút đầu tư nhưng không thể vượt qua được nhu cầu thị trường và sức mạnh thật sự của đồng tiền. USD càng dần về sau thì càng ổn định xoay quanh mức trung bình 16.500 đồng/USD.
Một điều cần lưu ý là nhiều sàn giao dịch vàng hiện đang sử dụng tỷ giá niêm yết của NHNN với mức biên độ cao tối đa là 2% để quy đổi giá giao dịch quốc tế ra VND. Tuy nhiên, nhiều sàn giao dịch vàng ra đời, mỗi sàn lại sử dụng những mức tỷ giá khác nhau thậm chí trong giai đoạn đầu là sai lệch rất nhiều so với giá niêm yết của NHNN khiến nhà đầu tư không thể tránh khỏi rủi ro tỷ giá khi giá vàng biến động mạnh bất ngờ đầu ngày do tỷ giá không hợp lý.
Tuy nhiên, điều thiết nghĩ ở đây là NHNN nên kịp thời điều chỉnh tỷ giá USD/VND hợp lý, tránh tình trạng như tỷ giá niêm yết ngày 11/06 trên Website của NHNN là 16.461 nhưng quy đổi theo giá chéo giữa các ngân hàng thông qua EUR và GBP thì tỷ giá thực giữa USD/VND lên đến khoảng 17.500 đồng/USD.
Kinh doanh vàng trên tài khoản đã được NHNN cho phép, hoạt động này sẽ dần kéo giá vàng Việt Nam biến động sát với thế giới, NHNN cần quan tâm đến ảnh hưởng của tỷ giá đối với giá vàng để giá vàng không bị méo mó và bất ổn, tránh tình trạng đầu cơ, làm giá.
3.2 Các đề xuất liên quan đến quản lý thị trường vàng nội địa Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
3.2.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
3.2.1.1. Phát triển vàng tiền tệ và sản xuất vàng theo tiêu chuẩn quốc tế
Hiện nay, vàng miếng Việt Nam chưa được chấp nhận lưu thông trên thị trường , ở đây có hai điểm cần lưu ý:
- Quy định 1 lượng = 1,20556 ounce khiến việc quy đổi chậm và không thích ứng với việc kinh doanh vàng tài khoản quốc tế chỉ sử dụng đơn vị đo lường là ounce.
- Uy tín và năng lực sản xuất của các nhà sản xuất tại Việt Nam. Việc sản xuất nên được đảm bảo từ một ngân hàng đặc biệt là ngân hàng thuộc quản lý nhà nước chứ không nên thuộc trách nhiệm riêng của một doanh nghiệp (nhà sản xuất) nào đó (như SJC, Bảo Tín Minh Châu…) hay một ngân hàng thương mại đảm trách như ACB, AAA của NHNN$PTNT…) để có thể đảm bảo được chất lượng và uy tín đối với thị trường nước ngoài, dần dần tạo được niềm tin khi mà Việt Nam không phải là một thị trường kinh doanh vàng truyền thống và lâu đời.
Do vậy, trong khi đợi thời gian để được chấp nhận chất lượng và lưu thông trên thị trường quốc tế thì Nhà nước nên có biện pháp khuyến khích đẩy mạnh lưu thông vàng tiêu chuẩn quốc tế tại Việt Nam để sớm có cơ hội gắn kết việc kinh doanh trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế, giúp việc xuất nhập được dễ dàng.
3.2.1.2. Quản lý hoạt động kinh doanh vàng
Hoạt động kinh doanh vàng và các quy định liên quan đến giao dịch vàng hiện nay còn chưa hoàn thiện, chỉ theo nhu cầu của thị trường với những ràng buộc chưa mang tính khách quan. Môi trường kinh doanh vàng chính vì vậy bị ảnh hưởng không ít. Hiện nay việc kinh doanh vàng trên tài khoản đã được phép phát triển nhưng quy chế quản lý chung cho việc này vẫn còn bỏ ngỏ, mỗi ngân hàng hay tổ chức kinh doanh tự đưa ra những ràng buộc áp đặt mang tính chủ quan thậm chí gây nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa nhà đầu tư và các nhà sáng lập sàn giao dịch vàng. Bởi nhu cầu kinh doanh ngày càng mạnh mẽ, việc lưu thông vàng cần được phát triển lên tầm cao mới, giúp các nhà đầu tư ngày càng tiếp cận được với những sản phẩm kinh doanh hiện đại, NHNN nên phối hợp cùng Vụ quản lý ngoại hối và Hiệp hội kinh doanh vàng ngồi lại cùng soạn thảo những quy định và quy chế riêng để áp dụng cho các trung tâm giao dịch vàng và các tố chức đang kinh doanh vàng trên tài khoản để tránh rủi ro và thiệt hại cho các nhà đầu tư.
Tập trung phát triển nguồn nhân lực cho các ngân hàng để phát triển các sản phẩm phái sinh với chi phí thấp để phục vụ nhu cầu trong nước khỏi phải thông qua các tổ chức nước ngoài (Option, Future,…) Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
NHNN cũng nên tổ chức tập trung và cho ra đời Trung tâm giao dịch dành cho vàng để các ngân hàng ký gửi và giao dịch, tránh phải vận chuyển tới lui, trung tâm giao dịch này hoạt động công khai, minh bạch và hỗ trợ ngân hàng hay chính phủ khi gặp khó khăn thanh khoản. Quy định tách riêng hoạt động quản lý và kinh doanh để tránh mâu thuẫn với quyền lợi của nhà đầu tư.
NHNN cũng nên xem xét lại việc dự trữ vàng để đa dạng hóa danh mục dự trữ nhằm can thiệp bình ổn tỷ giá, giá vàng khi cần thiết và tránh rủi ro biến động của đồng Đôla khi đồng tiền này có nguy cơ mất giá trên thị trường.
NHNN cùng các cơ quan tham mưu cũng cần nghiên cứu và sớm cho ra đời một sàn giao dịch vàng quốc gia.
Hiện Việt Nam đã trở thành quốc gia có số người tham gia đầu tư vàng đứng đầu thế giới. Do vậy, đã đến lúc cần phải có một sàn giao dịch vàng mang tầm quốc gia để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Còn nếu cứ tiếp tục để thị trường giao dịch tự do thì chắc chắn nhà đầu tư cũng như thị trường vàng trong nước sẽ gặp nhiều rủi ro.
Hoạt động của sàn giao dịch vàng quốc gia là độc lập, không phụ thuộc hoặc hoạt động vì lợi ích của riêng một doanh nghiệp mà chủ yếu là làm dịch vụ, hoàn toàn không có sự cạnh tranh kinh doanh giữa các hội viên, các doanh nghiệp.
Sàn giao dịch vàng quốc gia sẽ do Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đứng ra thành lập và chịu trách nhiệm điều hành quản lý, do đó, việc khớp giá ở sàn giao dịch vàng quốc gia, tỷ giá hình thành trên thị trường vàng Việt Nam, giá mua cũng như giá bán sẽ được minh bạch và khách quan nhất.
Sàn giao dịch sẽ có dịch vụ mua bán có kỳ hạn và thực hiện các công cụ phái sinh để phòng ngừa các rủi ro khi thị trường vàng thế giới biến động bất thường. Trường hợp cần thiết, sàn giao dịch có thể sẽ cấp tín dụng hoặc đáp ứng các nhu cầu vàng vật chất cho nhà đầu tư.
Nhà đầu tư sẽ được tính giá mua, giá bán trên cơ sở khớp giá hàng ngày của nhiều người mua, nhiều người bán, nếu lượng khách giao dịch càng lớn sẽ phản ánh giá mua và giá bán càng khách quan hơn.
Lợi ích đối với các cơ quan quản lý Nhà nướccũng sẽ là rất lớn. Nếu hình thành được sàn giao dịch vàng quốc gia sẽ hạn chế được lượng giao dịch không chính thức, tránh được những rủi ro không đáng có. Thông qua đó, cơ quan quản lý cũng nắm được lượng cung, cầu của thị trường vàng, cung cầu ngoại tệ liên quan đến vàng cũng như lượng tiền giao dịch trên thị trường vàng một cách chính xác, chủ động hơn, để có những điều tiết kịp thời khi biến động xảy ra.
Ngoài ra, qua sàn giao dịch này, Ngân hàng Nhà nước sẽ có cơ sở để ban hành các quy chế cần thiết cho việc quản lý thị trường vàng. Tôi cho rằng, để giúp cho hoạt động của sàn giao dịch vàng linh hoạt hơn, bảo đảm lợi ích cho nhà đầu tư, Ngân hàng Nhà nước nên ban hành quy chế kinh doanh vàng trên tài khoản. Đây có thể coi là điều kiện tiền đề bởi nếu không có các những quy định hướng dẫn cụ thể thì nghiệp vụ phái sinh như hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai,… để hạn chế rủi ro sẽ không thực hiện được.
Chính vì vậy, khi đi vào hoạt động, sàn giao dịch vàng quốc gia cần phải được hưởng những chính sách thỏa đáng để tạo điều kiện cho thị trường phát triển ổn định với đúng nghĩa là một thị trường dịch vụ nhưng vẫn bảo vệ được lợi ích cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý. Và nếu sàn hoạt động tốt sẽ góp phần kiểm soát thị trường tiền tệ.
3.2.2. Đối với các ngân hàng thương mại Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
Thị trường tài chính Việt Nam phát triển sau nên việc tham gia các sản phẩm phái sinh cũng như việc đầu tư của nhà đầu tư có nhiều khó khăn so với các thị trường đã phát triển. Giao dịch tại thị trường quốc tế ngoài đa dạng về hàng hóa (tiền tệ, vàng, kim loại quý, dầu, sản phẩm nông nghiệp…), còn có tất cả các sản phẩm phục vụ tối đa yêu cầu đầu tư. Ngoài ra, vì hoạt động lâu đời nên tính chất kinh tế thị trường tức cung cầu sẽ quyết định giá cả hàng hóa và các khuôn khổ pháp lý rõ ràng có thể giúp nhà đầu tư yên tâm khi đầu tư. Ngược lại, thị trường tài chính tại Việt Nam hết sức mới mẻ, có thể thấy một số những khó khăn cho việc kinh doanh như: Chưa có khuôn khổ pháp lý nhằm bảo vệ nhà đầu tư khỏi những rủi ro có thể phòng tránh, thiếu các sản phẩm phái sinh hay có nhưng chi phí quá cao khiến cho việc đầu tư hoặc sử dụng các sản phẩm này không thể hoặc phát huy tác dụng rất ít, chưa nói đến việc giá cả một số hàng hóa và tỷ giá được nhà nước giám sát chặt chẽ (giá dầu, tỷ giá…) khiến cho việc sử dụng các công cụ phái sinh này khó phát huy tác dụng.
3.2.2.1. Kinh doanh vàng trạng thái
Nếu có đủ nguồn lực và kinh nghiệm, việc kinh doanh vàng trạng thái tại các ngân hàng sẽ đem đến nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng mặc dù không tránh khỏi những rủi ro.
Thay vì duy trì số dư ngoại tệ trên tài khoản tại một số ngân hàng nước ngoài thì nên chuyển một phần số dư này qua vàng để tăng thu nhập khi có biến động giá.
Mua vàng giá thấp để cho vay hoặc đầu tư và bán vàng khi giá cao hoặc bán nguồn vàng huy động được của khách hàng với giá cao và mua vào trả lại lúc giá thấp – kinh doanh trạng thái này tuy chứa đựng rất nhiều rủi ro nhưng đem đến lợi nhuận vô cùng hấp dẫn.
3.2.2.2. Kinh doanh phối hợp không tồn tại trạng thái
Ngân hàng có thể vay vàng hoặc lấy vàng huy động được đẻ bán kết hợp với việc mua quyền chọn mua (call option) trong tương lai hoặc mua vàng kết hợp với mua quyền chọn bán (put option) trong những thời điểm phù hợp. Việc kinh doanh này không tồn tại trạng thái. Ít rủi ro hơn so với hoạt động mua bán vàng trạng thái trong thời gian dài để kiếm lời.
Phát huy các nghiệp vụ Option khi cần thiết để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng khi các nhà đầu tư có nhu cầu tham gia hoạt động tín dụng vàng, tránh trường hợp nhà đầu tư không có đủ khả năng trả nợ khi giá vàng biến động quá lớn.
3.3. Các giải pháp hỗ trợ khác của chính phủ đảm bảo an ninh tiền tệ khi có sự thay đổi trong thị trường nhập khẩu vàng Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
3.3.1. Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
Các cơ quan chủ chốt về hạch toán cần phải tăng cường hướng dẫn để đánh giá các loại chứng khoán, đồng thời tính đến việc đánh giá các sản phẩm phức tạp và có tính thanh khoản thấp, đặc biệt vào những thời điểm khó khăn.
Những cơ quan đề ra các chuẩn mực hạch toán cần phải thúc đẩy mạnh mẽ công việc của mình nhằm khắc phục những điểm yếu trong các chuẩn mực hạch toán và công bố thông tin đối với những khoản mục ngoại bảng.
Những cơ quan điều tiết và những cơ quan đề ra các chuẩn mực hạch toán cần tăng cường các yêu cầu công bố thông tin về các công cụ tài chính phức tạp của các doanh nghiệp cho các đối tượng trên thị trường.
Để thúc đẩy sự ổn định tài chính, công tác quản trị điều hành của cơ quan đề ra chuẩn mực hạch toán quốc gia cần phải được tăng cường, kể cả việc rà soát lại thành phần của cơ quan này, đặc biệt nhằm đảm bảo tính minh bạch rõ ràng, trách nhiệm giải trình và mối quan hệ hợp lý giữa cơ quan này và các cơ quan thẩm quyền hữu quan.
Các tổ chức thuộc khu vực tư nhân đã từng xây dựng được những thông lệ tốt nhất cho các công cụ vốn và/hoặc các quỹ bảo toàn tỷ giá cần phải đưa ra những đề nghị cho một nhóm thống nhất các thông lệ tốt nhất. Chính phủ cần phải đánh giá tính hoàn chỉnh đầy đủ của những đề nghị này, dựa trên những phân tích của các cơ quan quản lý điều tiết, Diễn đàn ổn định tài chính mở rộng (FSF) và các cơ quan hữu quan khác.
Các cơ quan chủ chốt đề ra chuẩn mực hạch toán quốc gia cần phải phấn đấu cho mục tiêu tạo ra một chuẩn mực hạch toán chất lượng cao duy nhất.
Các cơ quan quản lý điều tiết, các cơ quan thanh tra giám sát và các cơ quan đề ra chuẩn mực hạch toán, nếu thấy phù hợp, cần phải hợp tác với nhau và với khu vực tư nhân để thường xuyên đảm bảo cho việc ứng dụng và thực thi các chuẩn mực hạch toán chất lượng cao.
Các định chế tài chính phải cung cấp thông tin tổng hợp về rủi ro trong báo cáo của mình và công bố tất cả các khoản thua lỗ một cách thường xuyên và phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất nếu thấy phù hợp. Các cơ quan quản lý cần phải đảm bảo rằng các sao kê tài chính của một định chế tài chính phải là một bức tranh mô tả tổng thể, chính xác và kịp thời những hoạt động của doanh nghiệp (kể cả các hoạt động ngoại bảng) và phải được báo cáo thường xuyên và nhất quán.
3.3.2. Tăng cường quy chế lành mạnh và an toàn Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
Các quy định quy chế
- Chính phủ và các cơ quan quản lý điều tiết khác cần đưa ra những kiến nghị để giảm thiểu tình trạng thiên về tính chu kỳ, bao gồm cả việc rà soát xem việc đánh giá và khuyến khích, vốn ngân hàng, các khoản bù đắp và các hoạt động trích lập dự phòng có thể làm trầm trọng thêm các xu thế chu kỳ.
- Tùy mức độ của từng quốc gia và từng khu vực, mỗi quốc gia hoặc mỗi khu vực cam kết rà soát và thông báo về cơ cấu và các nguyên tắc của hệ thống quản lý điều tiết để đảm bảo cho nó tương thích với hệ thống tài chính hiện đại và ngày càng được toàn cầu hóa.
- Các cơ quan thích hợp cần phải rà soát bản chất khác biệt của quy chế trong các hệ thống ngân hàng, chứng khoán, và bảo hiểm và cung cấp một báo cáo nêu lên những vấn đề và các khuyến nghị cần phải cải tiến. Cũng cần phải tiến hành việc rà soát lại quy mô của quy chế tài chính, đặc biệt nhấn mạnh đến các định chế, các công cụ và các thị trường hiện nay chưa có quy chế rõ ràng, cùng với việc đảm bảo rằng tất cả các định chế quan trọng nằm trong hệ thống đều có quy chế đầy đủ hoàn chỉnh.
- Các cơ quan thẩm quyền quốc gia và khu vực cần phải rà soát lại các chế độ nghị quyết và các luật phá sản trên cơ sở những kinh nghiệm gần đây để đảm bảo rằng các luật lệ đó cho phép cắt giảm một cách trật tự các định chế tài chính liên quốc gia lớn và phức tạp.
- Các định nghĩa về vốn cần phải được hài hòa hóa để đạt được những biện pháp nhất quán về vốn và an toàn vốn.
Giám sát an toàn
- Các cơ quan quản lý điều tiết cần phải thực hiện các biện pháp để đảm bảo cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đáp ứng được các chuẩn mực cao nhất về mặt tổ chức quốc tế của các cơ quan quản lý điều tiết chứng khoán và tránh được tình trạng xung đột quyền lợi, tăng cường cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và các nhà phát hành và phân biệt xếp hạng cho các sản phẩm phức tạp. Công việc này sẽ giúp đảm bảo rằng các tổ chức xếp hạng tín nhiệm có được động cơ đúng đắn và có sự giám sát thích đáng để tạo điều kiện cho họ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin và đánh giá khách quan cho thị trường.
- Các cơ quan quản lý điều tiết chứng khoán cần phải rà soát việc ứng dụng các chuẩn mực và các cơ chế của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cho việc tuân thủ giám sát.
- Các cơ quan thẩm quyền cần đảm bảo rằng các định chế tài chính duy trì đầy đủ vốn ở mức cần thiết nhằm củng cố lòng tin. Những cơ quan đề ra chuẩn mực quốc tế cần phải đưa ra những yêu cầu tăng cường vốn đối với các hoạt động chứng khoán hóa và tín dụng được cơ cấu của các ngân hàng.
- Các cơ quan thanh tra và điều tiết quản lý cần phải thúc đẩy nỗ lực cắt giảm rủi ro hệ thống của các giao dịch CDS và công cụ phái sinh trên thị trường OTC; cần phải khẳng định rằng các đối tượng tham gia thị trường hỗ trợ việc kinh doanh ngoại hối hoặc các sàn giao dịch điện tử đối với các hợp đồng CDS; tăng cường tính minh bạch của thị trường phái sinh OTC; và đảm bảo rằng cơ sở hạ tầng cho các công cụ phái sinh OTC có thể đủ khả năng hỗ trợ cho khối lượng ngày càng tăng lên.
- Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thực hiện xếp hạng công khai cần phải thực hiện đăng ký.
- Các cơ quan thanh tra giám sát và các ngân hàng thương mại cần phải xây dựng các phương pháp tiếp cận mạnh mẽ và nhất quán trên trường quốc tế để giám sát vốn khả dụng của, và kinh doanh vốn khả dụng ngân hàng trung ương cho các ngân hàng xuyên quốc gia.
Quản lý rủi ro
- Các cơ quan quản lý điều tiết cần phải xây dựng quy chế hướng dẫn để tăng cường công tác quản lý rủi ro của các ngân hàng phù hợp với các thông lệ quốc tế tốt nhất, và phải khuyến khích các định chế tài chính đánh giá lại công tác kiểm soát nội bộ và thực hiện các chính sách tăng cường cho việc quản lý rủi ro lành mạnh.
- Các cơ quan quản lý điều tiết phải xây dựng và thực hiện các quy trình để đảm bảo rằng các định chế tài chính thực thi các chính sách nhằm tăng cường quản lý rủi ro thanh khoản, bao gồm cả việc tạo ra những công cụ bảo vệ thanh khoản chắc chắn.
- Các cơ quan thanh tra giám sát cần phải đảm bảo rằng các định chế tài chính đề ra các quy trình nhằm tính toán kịp thời và đầy đủ việc tích tụ rủi ro và các vị thế rủi ro đối ứng lớn qua các sản phẩm và các vùng địa lý.
- Các định chế cần phải đánh giá các mô hình quản lý rủi ro của mình để đói phó với những khó khăn thách thức và báo cáo các nỗ lực này lên các cơ quan thanh tra giám sát. Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
- Ủy ban Basel cần phải nghiên cứu nhu cầu và giúp đỡ các định chế xây dựng các mô hình thử nghiệm mới trong việc giải quyết tình trạng khó khăn, nếu thấy phù hợp.
- Các định chế tài chính cần phải đề ra các chính sách khuyến khích rõ ràng trong nội bộ để duy trì tính ổn định và các hành động cần phải thực hiện, thông qua các nỗ lực tự nguyện hoặc hành động bắt buộc theo quy định, để tránh khỏi các chương trình bồi hoàn có khả năng tạo ra lợi nhuận ngắn hạn quá mức hoặc phải chấp nhận rủi ro.
- Các ngân hàng cần phải quản lý rủi ro một cách có hiệu quả và kiên trì đối với các sản phẩm được cơ cấu và nghiệp vụ chứng khoán hóa.
- Các cơ quan đề ra chuẩn mực quốc gia trong việc hợp tác với các quốc gia và các cơ quan hữu quan khác, phải đảm bảo rằng các nhà hoạch định chính sách quy chế quản lý phải ý thức được và có khả năng ứng phó nhanh chóng với các diễn biến và đổi mới trong các sản phẩm và thị trường tài chính.
- Các cơ quan thẩm quyền cần phải giám sát những thay đổi lớn trong giá cả tài sản và ý nghĩa của những thay đổi đó đối với nền kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính.
3.3.3. Tăng cường tính thống nhất trên các thị trường tài chính
Các cơ quan thẩm quyền quốc gia và khu vực cần hợp tác với nhau trong lĩnh vực quy chế điều tiết giữa các cơ quan pháp luật ở cấp độ khu vực và quốc tế.
Các cơ quan thẩm quyền quốc gia và khu vực cần hợp tác trong việc thúc đẩy chia sẻ thông tin về những mối đe doạ trong nước và xuyên quốc gia đối với sự ổn định của thị trường và đảm bảo rằng các điều khoản pháp lý quốc gia (hoặc khu vực nếu thích hợp) đủ mạnh để đối phó với các mối đe doạ đó.
Các cơ quan thẩm quyền quốc gia và khu vực cũng cần phải rà soát lại các quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp để bảo vệ thị trường và các nhà đầu tư, đặc biệt là chống lại tình trạng thao túng thị trường và gian lận, và tăng cường hợp tác giữa các quốc gia để bảo vệ hệ thống tài chính quốc tế chống lại các đối tượng bất chính. Trong trường hợp xảy ra các vi phạm, cần phải có chế tài thích đáng.
Các hành động trung hạn
- Các cơ quan thẩm quyền quốc gia và khu vực cần phải thực hiện các biện pháp quốc tế và quốc gia để bảo vệ hệ thống tài chính toàn cầu tránh khỏi những quy định pháp lý bất hợp tác và không minh bạch có thể gây ra những hiểm họa hoạt động tài chính bất chính.
- Lực lượng Đặc nhiệm Hành động Tài chính cần phải tiếp tục vai trò quan trọng của mình chống lại các hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố, và chúng ta ủng hộ nỗ lực của Sáng kiến thu hồi tài sản bị đánh cắp do Ngân hàng thế giới và Liên hợp quốc đề xướng.
- Trên cơ sở công tác của các cơ quan hữu quan như Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), các cơ quan thuế cần tiếp tục các nỗ lực nhằm tăng cường trao đổi thông tin về thuế. Cần phải giải quyết mạnh mẽ tình trạng thiếu minh bạch và ít trao đổi thông tin.
3.3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
Các cơ quan thanh tra giám sát cần hợp tác để xây dựng các đơn vị thanh tra giám sát cho tất cả các định chế tài chính lớn xuyên quốc gia là một phần trong nỗ lực tăng cường giám sát các định chế xuyên quốc gia. Các ngân hàng lớn trên toàn cầu cần phải gặp gỡ thường xuyên với các tổ chức thanh tra giám sát để thảo luận tổng thể về hoạt động của các định chế và đánh giá các rủi ro mà các định chế có thể vấp phải.
Các cơ quan quản lý điều tiết cần phải thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để tăng cường công tác quản lý khủng hoảng xuyên quốc gia, kể cả về hợp tác và thông tin với nhau và với các cơ quan hữu quan, và lập ra danh sách giao dịch toàn diện và tiến hành các hoạt động diễn tập nếu thấy phù hợp.
Đặc biệt trên cơ sở công tác của các cơ quan quản lý điều tiết, các cơ quan thẩm quyền cần thu thập thông tin trong các lĩnh vực là nơi mà cần phải tổng hợp thống nhất các hoạt động quản lý điều tiết như chuẩn mực hạch toán, kiểm toán, bảo đảm tiền gửi cần phải được thúc đẩy nhanh chóng hoặc có tiềm năng tiến triển.
Các cơ quan thẩm quyền cần đảm bảo rằng các biện pháp tạm thời để phục hồi và ổn định lòng tin của giới đầu tư và người dân được thực hiện một cách kịp thời, đúng trình tự và hợp tác chặt chẽ.
Kết luận
Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng là một xu thế tất yếu, trong đó hội nhập vào thị trường tài chính – tiền tệ thế giới là không thể thiếu. Khi đất nước ta ngày càng mở cửa thì những ảnh hưởng từ thị trường tiền tệ bên ngoài là không nhỏ. An ninh kinh tế nói chung và an ninh tiền tệ nói riêng đang trở nên ngày càng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ của Việt Nam thông qua thực trạng nhập khẩu vàng là một vấn đề đáng quan tâm, bởi từ trước tới nay, dù có trải qua bao nhiêu thăng trầm thì vàng vẫn chưa bao giờ thoát khỏi chức năng tiền tệ của mình.
Nghiên cứu thực trạng nhập khẩu vàng, ảnh hưởng của việc nhập khẩu vàng tới vấn đề an ninh tiền tệ quốc gia không chỉ đáp ứng những kiến thức về thị trường vàng, về kinh doanh vàng mà còn để nhận thấy tầm bao quát ảnh hưởng của vàng, của việc nhập khẩu vàng đến các vấn đề thuộc về an ninh quốc gia, để từ đó có thể:
- Dự đoán được giá vàng biến động theo xu hướng nào trong thời gian sắp tới để đầu tư vào vàng hoặc chuyển thành vốn để kinh doanh.
- Có được những nhìn nhận khách quan về những tồn tại trong môi trường kinh doanh vàng tại Việt Nam, từ đó giúp nhà đầu tư giảm bới rủi ro và gợi ý các cơ quan hữu trách cải thiện thêm những quy định của mình cho ngày càng phù hợp với điều kiện thị trường hơn.
- Có được nhận thức đúng đắn về vai trò của vàng và nhập khẩu vàng với vấn đề an ninh tiền tệ quốc gia, từ đó phát huy tính tích cực, hạn chế tiêu cực để Việt Nam có thể phát triển bền vững.
Khóa luận được hoàn thành với sự cố gắng tối đa tìm hiểu thực tế nhập khẩu và kinh doanh vàng tại nước ta. Khóa luận chỉ phân tích và đưa ra nhận xét kiến nghị từ thực trạng nhập khẩu vàng của Việt Nam trong năm 2023, không thể bao quát suốt thời gian dài được bởi thị trường vàng bị ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Những gợi ý, giải pháp đưa ra còn mang tính chất cá nhân. Đồng thời, thời gian và kiến thức có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu xót, mong nhận được sự thông cảm và dóng góp ý kiến của quý Thầy Cô. Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng những ảnh hưởng nhập khẩu vàng ở VN