Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tại tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ NÔNG DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên 3.562,82 km².
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương. Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du.
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km. Thái Nguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ 3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang. Hệ thống đường sông Đa Phúc – Hải Phòng; đường sắt Thái Nguyên – Hà Nội – Lạng Sơn.
Địa hình không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác.
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai; Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai; Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Thị xã Phổ Yên và Thành phố Sông Công. Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm. Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả năng để phát triển nông lâm, công nghiệp, du lịch và các loại hình dịch vụ khác. Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, diện tích rừng trồng khoảng 44.450 ha. Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy. Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 23% diện tích tự nhiên, cây hàng năm chủ yếu là cây chè. Ngoài sản xuất lương thực, tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, chăn nuôi bò sữa.
Năm 2019, Thái Nguyên là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 27 về số dân, xếp thứ 14 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 12 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ chín về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP đạt 107.417 tỉ Đồng (tương ứng với 4,6700 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 83.5 triệu đồng (tương ứng với 3.630 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9%.[5] Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Tính đến thời điểm 0h ngày 1/4/2019, dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.286.751 người, là tỉnh đông dân thứ 27 toàn quốc và đứng thứ 3 các tỉnh trong vùng Trung du miền núi phía Bắc. Sau 10 năm dân số tỉnh Thái Nguyên tăng 163.635 người, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 1,36%/năm.
Tỉnh có 410.267 người cư trú ở khu vực thành thị, chiếm 31,9% tổng dân số; 876.484 người cư trú ở khu vực nông thôn, chiếm 68,1%, tổng dân số của tỉnh. Năm 2019, tỷ lệ dân số sống ở thành thị của tỉnh đứng thứ 18 so với cả nước và đứng đầu trong số các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đứng thứ hai trong vùng Thủ đô (chỉ sau TP Hà Nội).
Những năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến bất thường, dịch bệnh cây trồng vật nuôi phát sinh phức tạp, vốn đầu tư phát triển giảm; thị trường, giá cả không ổn định; song thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, các huyện thành phố đã chỉ đạo các xã triển khai tích cực các giải pháp phát triển sản xuất.
Trong sản xuất nông nghiệp, người dân đã biết chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với điều kiện ở mỗi vùng, thay đổi mùa vụ để tránh thiên tai và thiệt hại mùa màng. Cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, người dân đã thay đổi tư duy, biết tận dụng lợi thế của từng vùng, từng loại giống cây trồng, vật nuôi để phát triển sản xuất hàng hóa.
Sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ và ngành nghề nông thôn tiếp tục phát triển, đạt kết quả và tốc độ tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế nông thôn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt đạt 466,72 nghìn tấn, tăng 1,7% (tăng 7,92 nghìn tấn) so với sản lượng năm 2018, bằng 107,3% kế hoạch. Trong đó, sản lượng thóc là 386,89 nghìn tấn, bằng 107,5% kế hoạch, tăng 2% (tăng 7,5 nghìn tấn) so với cùng kỳ; sản lượng rau các loại là 234,5 nghìn tấn, đạt 107,6% kế hoạch, tăng 1,7% cùng kỳ.. giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản tăng 4% so với năm 2018; giá trị sản phẩm/ha đất nông nghiệp trồng trọt năm 2019 ước đạt 100 triệu đồng; 13 xã được công nhận về đích nông thôn mới.
- Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên qua các năm
Cơ cấu kinh tế theo ngành: Cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng dần tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp và giảm tương đối các ngành nông nghiệp.
- Bảng 2.2: Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Đơn vị: %)
Kết cấu hạ tầng ngày càng được cải thiện; hệ thống giao thông được xây dựng và nâng cấp, hàng loạt công trình xây dựng được hoàn thành, đã làm thay đổi bộ mặt các đô thị và vùng nông thôn trong tỉnh.
2.1.2. Nông dân tỉnh Thái Nguyên Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, nông dân luôn là lực lượng đông đảo, hùng hậu nhất, có đóng góp to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, góp phần làm nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Là một bộ phận hợp thành của giai cấp nông dân Việt Nam, nông dân tỉnh Thái Nguyên vừa mang những đặc điểm chung của người nông dân Việt Nam, vừa có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù của nông dân tỉnh Thái Nguyên.
- Một là, nông dân Thái Nguyên có truyền thống yêu nước, yêu quê hương.
Nông dân Thái Nguyên có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng trong đấu tranh chống ngoại xâm; luôn luôn đoàn kết, gắn bó trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Từ khi có Đảng, nông dân Thái Nguyên luôn một lòng, một dạ đi theo Đảng làm cách mạng; phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, dũng cảm, cần cù, sáng tạo, đã lập được nhiều thành tích to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với vị trí là Thủ đô kháng chiến, Thái Nguyên đã đón nhiều cán bộ, bộ đội, nhân dân từ mọi miền đất nước đến làm việc. Trong giai đoạn kiến thiết đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Thái Nguyên đã trở thành trung tâm công nghiệp luyện kim đầu tiên và một lần nữa làm dân số tăng nhanh và biến đổi cơ cấu dân cư.
Ngày nay nông dân Thái Nguyên với số lượng 164.046 người tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, yêu quê hương đoàn kết giúp đỡ nhau thực hiện tốt những chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Thái Nguyên đang thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, xây dựng Nông thông mới thì nông dân Thái Nguyên vẫn là lực lượng cơ bản, quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nông thôn Thái Nguyên ngày càng văn minh giàu mạnh.
- Hai là, nông dân Thái Nguyên luôn năng động, nhạy bén trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề.
Là một tỉnh thuần nông, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nông dân đã biết kết hợp kinh nghiệm truyền thống với tiếp thu những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất, sớm tiếp cận với phương thức sản xuất hàng hoá, nhạy bén với cơ chế thị trường, tạo lập và kết hợp các loại ngành nghề có sẵn trong nông thôn như: làm chè, khai thác khoáng sản, trồng rừng… Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Đến nay, Thái Nguyên đã có 118 doanh nghiệp, 40 hợp tác xã hoạt động trong các làng nghề. Theo đó, có khoảng 15 nghìn hộ dân hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề theo hộ, bao gồm cả hộ chuyên và không chuyên (tăng khoảng 20-30% so với 3 năm trước). Hiện nay, nhiều làng nghề truyền thống của tỉnh được khôi phục và phát triển như: chế biến lâm sản, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ ở Xuân Phương (Phú Bình), Tiên Phong (Phổ Yên); nghề mây, tre đan ở xã Tân Khánh (Phú Bình); sản xuất, chế biến chè ở các làng nghề chè truyền thống của Đại Từ, Đồng Hỷ, TP Thái Nguyên… Ngoài ra, Thái Nguyên còn xuất hiện thêm một vài nghề mới như thêu ren ở Tân Thái (Đại Từ); trồng hoa ở Hóa Thượng (Đồng Hỷ)…
Tính đến thời điểm này, tỉnh có 173 làng nghề có đủ điều kiện để công nhận làng nghề theo Thông tư số 116 ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Nếu phân theo ngành nghề sản xuất thì có 110 làng nghề chế biến chè; 25 làng nghề chế biến nông, lâm sản (chè,nhãn,vải, bánh chưng, sản xuất bún, bánh, chế biến đậu phụ, đường phên, dâu tằm tơ, miến dong, nấu rượu, trồng hoa, trồng rau an toàn); 29 làng nghề mây, tre đan và thủ công mỹ nghệ; 6 làng nghề vật liệu xây dựng (gạch nung, ngói xi măng, gạch hoa lát nền); 3 làng nghề thêu. Trong đó số các làng nghề nêu trên, có 61 làng nghề đã được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận, tăng gần 40 làng nghề so với năm 2015. Các làng nghề đã tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ khắp thị trường trong nước và tham gia vào thị trường xuất khẩu.
Quá trình đổi mới những năm gần đây đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa, làm thay đổi không gian sản xuất và cư trú, kéo theo sự xáo động về các luồng di chuyển và số lượng dân cư, về cơ cấu ngành nghề, về kết cấu văn hóa, nhằm sử dụng tiềm năng thiên nhiên và sức lao động của con người một cách hiệu quả nhất trên cơ sở kỹ thuật, công nghệ ngày càng cao.
- Ba là, nông dân Thái Nguyên có tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, có nghĩa tình
Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều dân tộc. Có dân tộc mang nguồn gốc bản địa như người Kinh, người Tày. Có dân tộc nhập cư trong những thế kỷ gần đây như Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu… song tất cả đều hòa nhập trong một cộng đồng cùng chung sống trên một lãnh thổ có chung một tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa, ý thức, tâm lý.
Nông dân Thái Nguyên sống trong một điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi và ở vào vị trí có địa thế chiến lược trong phòng thủ của quốc gia. Để đương đầu được, con người nơi đây phải chịu khó chắt chiu “có bữa tôm, giành bữa mai”, “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Tình cảm mỗi người luôn hướng về phía cộng đồng đông đảo nhất, là nhân dân, “quan nhất thời, dân vạn đại”; “Làng xiêu, xiêu với làng” và trong dân thì những người nghèo khó được đùm bọc, chở che, san sẻ.
Từ nhân sinh ấy hình thành nếp sống – văn hóa làng. Làng có hương ước để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm xích lại gần nhau giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội trong cộng đồng. Văn hóa làng thẩm thấu vào trong khuôn khổ gia đình; mỗi gia đình đều có ý thức làm đẹp cho làng, thể hiện cả trong quan hệ ứng xử, xưng hô đến môi trường, cảnh quan,… làng là chỗ dựa tinh thần là niềm tự hào của mỗi thành viên.
Chính trên nền tảng ấy mà hình thành một đời sống tinh thần phong phú, giàu bản sắc. Trong thôn quê Thái Nguyên xuất hiện những làng mang đậm dấu ấn hoạt động tinh thần như những làng nghề. Phải khẳng định rằng văn hóa tinh thần ở Thái Nguyên đã phát triển, vừa mang tính cộng đồng rộng lớn vừa mang sắc thái riêng, rất Thái Nguyên. Từ chất liệu ngôn ngữ, âm lượng, ngữ điệu đến hình thức biểu đạt,… đều có nét đặc thù không dễ pha lẫn, tất cả đều phản ánh hiện thực tự nhiên và con người Thái Nguyên.
Với cấu trúc làng: Làng ở Thái Nguyên không khép kín mà theo không gian mở. Cũng lũy tre, giếng nước, mái đình, cây đa… nhưng lắm lối dọc, đường ngang liên lạc giữa các làng. Trong làng thì mỗi một khuôn viên vườn tược cũng theo không gian mở và một cảnh quan riêng theo cách sống của chủ nhân.
Từ cấu trúc làng tự nhiên như vậy nên những tập tục trong làng cũng rất tự nhiên; láng giềng đến nhà nhau để uống nước chè xanh và bàn chuyện làng, chuyện nước, để giãi bày những buồn bực, chia sẻ niềm vui là một sinh hoạt đời thường.
Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền, những truyền thống tốt đẹp lại được nhân dân phát huy cao độ, đã, đang và sẽ là động lực to lớn khơi dậy những tiềm năng vốn có tạo dựng nên một Thái Nguyên với diện mạo và tầm vóc mới.
2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
2.2.1. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Xác định đúng mục đích Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân, tỉnh Thái Nguyên đã định hướng đúng đắn nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật đảm bảo phù hợp, đã bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương. Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của Đảng và Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao ý thức pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết của Đảng đã khẳng định: Điều quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân. Nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân phải mang tính khoa học và logic, mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu. Đó là nhiệm vụ của chủ thể có trách nhiệm Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Hàm lượng kiến thức pháp luật cần phổ biến, giáo dục cho nông dân mang tính hợp lý cả về nội dung, mức độ và hình thức. Nội dung của phổ biến, giáo dục đã chú trọng nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân. Trong Phổ biến, giáo dục pháp luật lấy tiêu chí đặc điểm địa bàn và đối tượng làm cơ sở để xây dựng và triển khai kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật, gắn công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật với thực tiễn chấp hành pháp luật của nông dân.
Nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật được cụ thể hóa trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn; các giáo trình, tài liệu, bài giảng. Đó là hàm lượng tri thức về pháp luật nói chung cần thiết cho nông dân, đòi hỏi chủ thể phổ biến, giáo dục phải bồi dưỡng cho họ.
2.2.2. Hình thức, phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Việc Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân, được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Để đảm bảo hiệu quả cao khi Phổ biến, giáo dục pháp luật, địa phương đã có sự lựa chọn các hình thức phù hợp với đối tượng. Trong thời gian qua, các chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật đã sử dụng linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ các hình thức giáo dục như đào tạo, bồi dưỡng cho đối tượng, chủ yếu là thành viên của Hội Nông dân qua các khóa ngắn hạn, dài hạn, chính quy, tập trung, không tập trung, đào tạo bồi dưỡng ngoại khóa, đào tạo bồi dưỡng từ xa; tổ chức những cuộc hội thảo về pháp luật, tổ chức câu lạc bộ tìm hiểu pháp luật, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, sinh hoạt câu lạc bộ,… Việc sử dụng nhiều hình thức như nói trên một cách linh hoạt, năng động, sáng tạo, phù hợp với đối tượng làm cho đối tượng dễ tiếp thu, dễ hiểu và nhớ lâu, vận dụng vào thực tế có hiệu quả và đó là điều mà cả chủ thể và đối tượng đều có nguyện vọng phấn đấu để đạt được. Các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật được sử dụng cho nông dân gồm:
- PBGDPL trong nhà trường
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục từ khi có Luật phổ biến, giáo dục pháp luật đã được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Nội dung pháp luật được đưa vào chương trình giáo dục một cách phù hợp, hiệu quả đã góp phần phổ biến, giáo dục nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh, sinh viên, học viên trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, việc phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên được đẩy mạnh, đặc biệt là việc phối hợp giữa ngành Công an, Giáo dục và Đào tạo trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông.
Đây là hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được chú trọng đổi mới nội dung và phương pháp bởi Phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường cung cấp về cơ bản kiến thức pháp luật cho người học thông qua môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học. Nội dung, chương trình, giáo trình nhà nước và pháp luật đại cương được cải tiến phù hợp với yêu cầu và mục tiêu đào tạo. Phương pháp giáo dục pháp luật đổi mới theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động người học trong tiếp thu, vận dụng. Bên cạnh đó, các trường học còn coi trọng lồng ghép Phổ biến, giáo dục pháp luật trong giảng dạy các môn học, thông qua giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như: Giao lưu văn hóa, văn nghệ và các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật khác như tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Nông dân là đối tượng với đặc thù thường không qua đào tạo từ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học nên những kiến thức pháp luật cơ bản thường chưa có và thu nạp chủ yếu trong quá trình được tuyên truyền, phổ biến qua các đợt Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Vì vậy, việc Phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường áp dụng đối với họ chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hội viên Hội Nông dân và các cán bộ, công chức làm nhiệm vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng là nông dân, để từ đó những chủ thể này thực hiện nhiệm vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Hoạt động này được thực hiện thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCC của Trường Chính trị tỉnh. Quy định số 09-QĐi/TW ngày 13 tháng 11 năm 2018 của Ban Bí thư quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trước đây là Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03/9/2008 của Ban Bí thư) xác định Trường chính trị cấp tỉnh có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương về lý luận chính trị – hành chính; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; kiến thức về một số lĩnh vực khác; tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương.
Với chức năng, nhiệm vụ đó, hằng năm Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, cụ thể là các loại hình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị – hành chính, bồi dưỡng chuyên viên chính, chuyên viên, bồi dưỡng chức danh cán bộ, công chức cơ sở. Việc chiêu sinh, tổ chức lớp được thực hiện trên cơ sở Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm được Tỉnh ủy phê duyệt trên cơ sở cân đối nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh trong đó chú trọng đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của các đảng bộ các huyện xa trung tâm, có tỷ lệ CBCC thực hiện nhiệm vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân cao.
- Bảng 2.3: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị các năm 2014-2018
- Bảng 2.4: Chất lượng cán bộ hội viên Hội Nông dân của tỉnh Thái Nguyên
Qua các bảng số liệu cho thấy tỷ lệ hội viên Hội Nông dân tham gia đào tạo, bồi dưỡng về cơ bản cân đối với tỷ lệ của tỉnh. Tuy nhiên nếu tính riêng hội viên Hội Nông dân cấp xã thì tỷ lệ được bồi dưỡng chức danh cao hơn do đặc thù số lượng hội viên ở cấp xã cao. Tại thời điểm 31/3/2020, toàn tỉnh có 180 cơ sở hội với 2.249 chi hội nông dân theo địa bàn dân cư, với tổng số hội viên nông dân là 164.046 hội viên.
- PBGDPL thông qua tuyên truyền miệng Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Hình thức này được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất, áp dụng được cho nhiều loại đối tượng. Hiện nay, hình thức này được thực hiện khá đều đặn ở tất cả các địa phương trong tỉnh, là hình thức được đánh giá mang lại hiệu quả cao bởi vì nó phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương, cũng như phù hợp với nhận thức của nông dân và được áp dụng ở hầu hết các ngành, đoàn thể. Được xem là hình thức dễ triển khai, thực hiện, có tính tập trung cao, số lượng người tham dự đông…
Hàng năm tỉnh đã tổ chức các lớp tập huấn cho 37 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 161 báo cáo viên pháp luật cấp huyện và khoảng trên 2500 tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở, 22.687 hòa giải viên là những người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân.
- Giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt câu lạc bộ
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều mô hình câu lạc bộ, chủ yếu do các đoàn thể thành lập như: Toàn tỉnh hiện nay có 768 câu lạc bộ gồm “Câu lạc bộ nông dân với pháp luật”, “Câu lạc bộ nuôi trồng thủy sản”, “Câu lạc bộ sản xuất kinh doanh giỏi”, “Câu lạc bộ chăn nuôi”, “Câu lạc bộ các hộ sản xuất chè”, “Câu lạc bộ gia đình trẻ”, “Câu lạc bộ tuổi trẻ phòng chống tội phạm”, “Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc”, “Câu lạc bộ Cựu Chiến binh”, “Câu lạc bộ Nông dân”… Thông qua hoạt động của các câu lạc bộ đã cung cấp một lượng kiến thức
khá đa dạng tới người dân nói chung và nông dân nói riêng như: Phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; kiến thức khoa học kỹ thuật; phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn… Qua đó giúp họ từ nghe đến hiểu, nhận thức xâu sắc và tự giác thực hiện, không những thế họ còn là hạt nhân tuyên truyền, giáo dục quan trọng tới các thành viên trong gia đình và cộng đồng để cùng thực hiện tốt.
- PBGDPL thông qua hình thức biên soạn tài liệu
Nhằm mục đích là phổ biến sâu rộng các văn bản pháp luật đến các tổ chức cá nhân và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, trong những năm vừa qua hình thức biên soạn, phát hành tài liệu pháp luật đã được quan tâm hơn với đa dạng các loại tài liệu như: Văn bản luật, hỏi đáp, đề cương hướng dẫn triển khai; băng, đĩa hình; tờ gấp… đã được Sở Tư pháp, các ngành, đoàn thể phát hành đến tận cơ sở theo hệ thống ngành dọc. Chỉ tính riêng năm 2010, Sở Tư pháp đã in ấn và phát hành đến các đơn vị, địa phương, cán bộ và nhân dân trên địa bàn tỉnh 4.900 cuốn bản tin Tư pháp, trên 53.000 cuốn tài liệu, đề cương, 45.000 tờ gấp pháp luật với các nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, như: Nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về giao thông đường bộ, pháp luật về khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn, khuyến nông, Luật Đất đai…
- PBGDPL thông qua hoạt động hòa giải cơ sở Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Hiện nay toàn tỉnh có 3.873 tổ hòa giải ở cơ sở và 23.874 hòa giải viên, đây là lực lượng nòng cốt tại cơ sở làm giảm thiểu khiếu kiện đông người vượt cấp. Thông qua việc tuyên truyền, giải thích trên cơ sở quy định của pháp luật và bằng hình thức thuyết phục hòa giải linh hoạt của các thành viên, đã kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng và yêu cầu của các bên tranh chấp từ đó giúp họ tự hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp. Qua đó mỗi năm đã hòa giải được hàng ngàn vụ việc góp phần làm ổn định an ninh trật tự ở địa bàn nông thôn trong tỉnh, công tác hòa giải đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn nhỏ trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong nội bộ nhân dân, đồng thời qua đó đã xây dựng được đội ngũ hòa giải viên nhiệt tình, tâm huyết với công việc, có uy tín trong cộng đồng dân cư.
- PBGDPL thông qua hình thức trợ giúp pháp lý và tư vấn pháp luật
Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu vẫn là trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh, riêng năm 2015 Trung tâm đã thực hiện được 21 đợt trợ giúp pháp lý lưu động cho 1.600 lượt người, tư vấn pháp luật cho 241 đối tượng tại các xã, phường, thị trấn; năm 2018 phối hợp với các ngành tổ chức được 42 đợt trợ giúp pháp lý lưu động cho 3.576 lượt người.
Có thể nói, trong thời gian qua các cấp, các ngành của tỉnh Thái Nguyên đã định hướng nội dung tuyên truyền Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của từng ngành, từng địa phương. Nội dung lựa chọn để tuyên truyền được thực hiện đầy đủ, kịp thời; chú trọng phổ biến các văn bản pháp luật cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công dân; ngoài ra thông qua hoạt động công vụ của từng cơ quan, đơn vị đã kịp thời hướng dẫn công dân trình tự thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến người dân, thường xuyên niêm yết công khai các quy trình thủ tục pháp luật thông qua hoạt động quản lý nhà nước và áp dụng pháp luật như tiếp dân; thi hành án dân sự, Đoàn đại biểu quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp tiếp xúc cử tri, thông qua các phiên toà lưu động, thông qua các hoạt động thanh tra… Thông qua các hoạt động phổ biến pháp luật, ý thức pháp luật của người nông dân được nâng lên, họ hiểu và chấp hành tốt hơn các quy định của pháp luật, qua đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới.
PBGDPL thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật. Hình thức này diễn ra sôi nổi và ngày càng được đổi mới về cách thức tổ chức. Ngoài thi viết truyền thống, có nơi tổ chức thi trắc nghiệm, thi vấn đáp, thi sân khấu hóa, hái hoa dân chủ, thi theo chủ đề có nội dung liên quan tới nghề nghiệp, công việc của đối tượng dự thi như “Tuyên truyền viên pháp luật giỏi”, “Công chức Tư pháp – hộ tịch giỏi”… Ngoài việc tổ chức các cuộc thi trên phạm vi toàn quốc tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến đông đảo người dân (tìm hiểu Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự…) các sở, ngành, địa phương chủ động tổ chức thi tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình, theo nhu cầu của từng nhóm đối tượng cụ thể. Điển hình là các cuộc thi “Tìm hiểu kiến thức pháp luật trong hệ thống Công đoàn Giáo dục Việt Nam”, “Tìm hiểu pháp luật Lao động và Công đoàn”; Hội Liên hiệp phụ nữ với cuộc thi “Tìm hiểu Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình”… Trong 3 năm đã tổ chức 31 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với sự tham gia của đông đảo cán bộ, công chức và nhân dân.
- Bảng 2.5: Tổng hợp số liệu các cuộc thi tìm hiểu pháp luật Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
PBGDPL trên các phương tiện thông tin đại chúng.Trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, bao gồm: Báo Thái Nguyên; Đài Phát thanh – Truyền hình. Sở Tư pháp phối hợp với Đài Phát thanh – Truyền hình (PT-TH) tỉnh triển khai đã thực hiện chuyên mục “Giải đáp – phổ biến pháp luật” phát sóng thường xuyên trên Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh (với thời lượng 01số/tuần); phối hợp với Báo Thái Nguyên duy trì thường xuyên chuyên mục “Giải đáp, phổ biến pháp luật” trên Báo Thái Nguyên, với thời lượng 02 kỳ/1 tháng. Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với Đài PT-TH tỉnh mở và duy trì thường xuyên chuyên mục “Thái Nguyên với công tác dân tộc miền núi”; phối hợp với Báo Thái Nguyên mở chuyên mục “Dân tộc và phát triển” thường xuyên đưa tin bài, phản ánh thực hiện các chính sách cho người nông dân và kết quả thực hiện công tác. Sở Y tế duy trì 01 chuyên mục với 65 tin, bài các loại, phát sóng 24 lần trong năm trên Đài phát thanh – Truyền hình tỉnh, 01 chuyên mục trên Báo Thái Nguyên với tổng số 75 tin bài các loại đăng tài trên các số phát hành thường kỳ. Sở Lao động – Thương Binh và Xã hội triển khai chuyên mục “Việc làm và đào tạo nghề” trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh với 02 số/tháng. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh duy trì chuyên mục “Quốc phòng toàn dân” trên Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh với 42 số/năm. Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy phối hợp với Đài phát thanh – Truyền hình tỉnh xây dựng và phát sóng 20 chuyên mục “An toàn phòng cháy, chữa cháy” từ đầu năm đến nay đã phát sóng 36 phóng sự truyền hình và 316 lượt tin, bài, 15 khuyến cáo về phòng cháy, chữa cháy.
- Khả năng, điều kiện của nông dân tỉnh Thái Nguyên trong tiếp cận thông tin pháp luật.
Nông dân thường lựa chọn phương thức “nghe”, “nhìn” là chủ yếu. Khi đọc báo buộc người đọc phải liên tưởng, phải tư duy logic, phải phán đoán. Truyền hình với lợi thế từ hình ảnh, mọi thứ đều bày sẵn trên màn hình cùng với cộng hưởng của màu sắc, âm thanh, âm nhạc đã tạo nên sức hấp dẫn đối với người nông dân. Sở dĩ như vậy, bởi thói quen thích tiếp nhận thông tin từ trực quan sinh động, không cần tư duy, điều này hoàn toàn phù hợp với trình độ, thói quen, văn hóa của người nông dân. Điều này dẫn đến lý giải tại sao công chúng nông dân luôn coi truyền hình là phương tiện được lựa chọn số một trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của mình. Mặt khác, thời gian người nông dân tiếp nhận thông tin báo chí không hẳn là khoảng thời gian dành cho cho việc mở mang kiến thức mà thường là những những lúc nghỉ ngơi. Sở dĩ như vậy là vì thời gian làm nông nghiệp, công việc gia đình đã chiếm tương đối nhiều trong quỹ thời gian của họ nên họ tìm đến các phương tiện truyền thông đại chúng chủ yếu là thư giãn. Nông dân chỉ tiếp nhận những thông tin mà nó chịu tác động từ những yếu tố bên ngoài (tác động ngoại cảnh) như dịch bệnh, thiên tai; trồng cây gì, nuôi con gì mang lại hiệu quả kinh tế, hay thông tin giải trí, thể thao, phim truyện… Những thông tin thuộc tác động từ yếu tố bên trong là những đòi hỏi để hoàn thiện bản thân, nâng cao nhận thức, hình thành kỹ năng sống lại ít được người nông dân quan tâm. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Các gia đình ở nông thôn hiện nay đều trang bị các thiết bị như tivi, radio. Tuy nhiên việc mua sắm này chỉ đơn giản là phục vụ cho nhu cầu giải trí đơn thuần (xem phim, ca nhạc, bóng đá…). Ngày nay, người nông dân có thể ở tại ngôi nhà của mình để xem một chương trình thời sự truyền hình, nghe một chương trình thời sự phát thanh, truy cập trên mạng hay đọc một tờ báo.
Hiện nay, có một hệ thống những sản phẩm truyền thông hướng tới người nông dân nhưng chỉ có một bộ phận rất nhỏ được tiếp cận thông qua các chính sách hỗ trợ. Qua khảo sát cho thấy, các sản phẩm truyền thông liên quan đến phổ biến kiến thức nông nghiệp, hướng dẫn cách chăm sóc cây/con, mô hình kinh tế hộ gia đình như Hỏi đáp trong ngày, Khoa học và nông nghiệp, Nhà nông làm giàu (VTC16); chuyên trang Khuyến nông, Khoa học kỹ thuật (Báo Nông nghiệp Việt Nam)… luôn thu hút người nông dân. Cách thức tổ chức thông tin được trình bày hết sức đơn giản, dễ hiểu, theo phương thức hỏi đáp, chỉ dẫn hoặc “cầm tay chỉ việc”, điều này phù hợp với tâm lý tiếp nhận của nông dân. Báo chí được ví như người thầy có vai trò dẫn dắt, hướng dẫn người nông dân tiếp thu kiến thức thông qua quan sát hành vi, suy nghĩ về những điều quan sát, sau đó họ tiến hành làm thử (bắt chước), qua đó người nông dân tiếp thu kiến thức, vận dụng sáng tạo trong điều kiện cá nhân của mỗi người.
Người nông dân tiếp nhận thông tin tuân theo một cơ chế tự phát, tức là những vấn đề xảy ra mà ảnh hưởng đến cuộc sống, lợi ích của họ (Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virut Corona gây nên, Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam…) hoặc những sự kiện gây ra những chấn động về mặt xã hội, đạo đức con người (Vụ án nữ sinh giao gà ở Điện Biên bị sát hại, Bỏ con mới sinh ở dưới hố ga, Bảo mẫu hạnh hạ trẻ…) thì họ mới chủ động tìm hiểu để tiếp nhận thông tin. Vì thế, cần phải xác định được nhu cầu thật sự của người nông dân là gì; vấn đề thông tin có đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người nông dân hay không; những lợi ích chi phối họ như thế nào… Từ đó làm căn cứ xây dựng nội dung trong các sản phẩm truyền thông tuyên truyền pháp luật. Nếu làm được điều này, người nông dân sẽ tiếp nhận thông tin một cách chủ động hơn, tự giác hơn và hiệu quả truyền thông sẽ cao hơn.
Xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật. Là hình thức phản ánh sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan tư pháp, các ban ngành liên quan trong Phổ biến, giáo dục pháp luật. Bằng hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật này, đội ngũ cán bộ, công chức vừa trở thành chủ thể khai thác vừa là chủ thể tuyên truyền pháp luật đến nhân dân. Đối với nông dân thì đây là hình thức tạo cơ hội để cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tự trang bị kiến thức pháp luật và thực hiện vai trò cầu nối trong truyền tải pháp luật đến người nông dân trong thực tiễn công tác.
Thực hiện Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật (Hiện nay là Quyết định số 14/2019/QĐ-TTg về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật), Ủy ban nhân dân tỉnh đã phân công các cơ quan, huyện, thành, thị trong tỉnh tập trung triển khai các nhiệm xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật trên địa bàn tỉnh, như: Tăng cường phổ biến, quán triệt, truyền thông về vị trí, vai trò, tình hình xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp Nhân dân trên địa bàn tỉnh bằng những hình thức phù hợp; tham mưu, xây dựng, ban hành văn bản chỉ đạo triển khai; hướng dẫn nghiệp vụ, giải đáp khó khăn, vướng mắc trong công tác xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật. Cùng với đó, tiến hành tổ chức rà soát sách, tài liệu pháp luật do các cơ quan, đơn vị trực thuộc chủ trì biên soạn; sách, tài liệu pháp luật có bản quyền và dự kiến sách, tài liệu pháp luật cần số hóa, cập nhật trên dữ liệu thành phần về sách, tài liệu pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Tủ sách pháp luật điện tử quốc gia. 100% đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện và 180/180 xã, phường, thị trấn đều duy trì việc quản lý và khai thác Tủ sách pháp luật hoặc ngăn sách pháp luật trong tủ sách chung đặt tại trụ sở cơ quan, với số lượng từ 100 cuốn sách pháp luật trở lên và nhiều loại ấn phẩm khác như Công báo của Trung ương, Công báo tỉnh, sách hỏi đáp pháp luật, Báo pháp luật, tạp chí pháp luật,… Bên cạnh Tủ sách truyền thống, các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh việc khai thác văn bản Quy phạm pháp luật thông qua các cơ sở dữ liệu pháp luật trên mạng Internet để phục vụ cho hoạt động chuyên môn của đơn vị mình. Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân 100% các xã, phường, thị trấn đều đã sử dụng Internet trong xử lý công việc và tra cứu văn bản. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tổ chức các hội nghị tập huấn cho cán bộ, công chức. Từ khi triển khai Luật Phổ biến giáo dục pháp luật đến nay, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã thực hiện 1500 hội nghị phổ biến, giáo dục pháp luật. Đặc biệt đã tổ chức được những hội nghị tập huấn đối với các đối tượng đặc thù. Trong 3 năm từ 2016 đến 2018, Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp với sở Tư pháp, các cơ quan liên quan và các huyện, thành phố, thị xã đã tổ chức 22 Hội nghị phổ biến giáo dục pháp luật về các chuyên đề về: Luật Đất đai, Luật Bảo vệ – phát triển rừng, các chính sách đối với vùng nông thôn, Luật Hộ tịch, Luật An toàn giao thông đường bộ, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân, Luật Căn cước công dân, Luật An toàn thực phẩm… và tư vấn tại chỗ cho 1443 lượt người. Tổ chức 09 Hội nghị phổ biến Luật Căn cước công dân và Luật Hộ tịch, Luật Hôn nhân và gia đình tại 09 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh cho 540 đại biểu là Bí thư chi bộ, Trưởng xóm, người có uy tín, Cán bộ các tổ chức Hội, đặc biệt là Hội Nông dân của các xã, thị trấn. Sở Tư pháp phối hợp với Đại học Thái Nguyên và các trường thành viên tổ chức 05 Hội nghị phổ biến Luật Viên chức, Luật Hôn nhân và gia đình cho 620 viên chức và người lao động.[35]
Thực hiện Đề án“Tiếp tục tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại tố cáo ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2013 – 2016”, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các hội nghị tập huấn, triển khai Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Tiếp công dân đến đối tượng là lãnh đạo các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã và cán bộ, công chức. Các huyện, thành phố, thị xã đã tổ chức 83 hội nghị tập huấn cho 18.568 cán bộ, công chức, viên chức, người có trách nhiệm thực hiện, tham gia phổ biến, tuyên truyền, giáo dục các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và các biện pháp khác trong Phổ biến, giáo dục pháp luật đã được quan tâm chỉ đạo sát sao hơn. Các sở, ngành, huyện, thành, thị đã kết nối mạng Internet, xây dựng Website, sử dụng mạng LAN trong quản lý, điều hành. Thường xuyên cập nhật, đưa văn bản pháp luật mới ban hành trên mạng thông tin điện tử. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã nối mạng tin học diện rộng của Chính phủ, mạng Internet; nhiều đơn vị cấp huyện, cấp xã đã ứng dụng Internet trong Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là hình thức mới trong Phổ biến, giáo dục pháp luật giúp nông dân, tự học, tự tìm hiểu, cập nhật kiến thức để hiểu rõ hơn về pháp luật đối với đời sống. Mặt khác, bổ sung thông tin, tài liệu cần thiết để cán bộ, công chức chuyển tải chính sách, pháp luật đến người nông dân, giúp cán bộ công chức gần dân, sát dân và hiểu dân hơn, góp phần Phổ biến, giáo dục pháp luật đến người nông dân được sát sao hơn.
Triển khai các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật mới như: Tổ chức cho cán bộ, công chức ký cam kết không vi phạm pháp luật; xây dựng và triển khai các hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đội ngũ cán bộ nòng cốt ở cơ sở (cán bộ, công chức cấp xã, cán bộ không chuyên trách cấp xã) để qua đội ngũ này tổ chức và xây dựng đội ngũ những người có uy tín trong cộng đồng nông dân, đội ngũ hòa giải viên làm nòng cốt trong thực hiện hòa giải ở cơ sở, hướng đến chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân.
2.2.3. Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Về kiện toàn Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Thực hiện Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2013 quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; Quyết định số 42/QĐ-2017/QĐ-TTg ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 16/10/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành quyết định số 3022/QĐ-UBND về kiện toàn thành viên Hội đồng Phối hợp Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, theo đó Hội đồng gồm 37 thành viên theo đúng thành phần quy định tại quyết định 42/2017/QĐ-TTg ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg về thành phần, nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
Về đội ngũ Báo cáo viên pháp luật. Trong thời gian qua, với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền tỉnh Thái Nguyên, chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đã được phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngoài công chức tư pháp công tác tại các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, nhiều sở, ban, ngành cấp tỉnh đã bố trí cán bộ pháp chế thực hiện các nhiệm vụ về xây dựng pháp luật, Phổ biến, giáo dục pháp luật. Công chức tư pháp -hộ tịch và các công chức khác của xã, phường, thị trấn cũng là lực lượng đông đảo tham gia Phổ biến, giáo dục pháp luật. Một số bộ, ban, ngành và địa phương đã huy động đội ngũ báo cáo viên của Đảng. Để củng cố số lượng và chất lượng cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định công nhận Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh. Theo đó tính đến 31/11/2018 cấp tỉnh có 59 Báo cáo viên pháp luật, có trình độ từ đại học trở lên (trong đó có 38 người có trình độ Đại học luật). Cùng với đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, đội ngũ Báo cáo viên pháp luật cấp huyện cũng được kiện toàn trong năm 2018. Đến nay, cấp huyện có tổng cộng 360 Báo cáo viên pháp luật (trong đó có 89 người có trình độ Đại học luật, 195 người đã được bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp luật). Đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật ở cấp xã trên toàn tỉnh là 1660 người. [39]
- Bảng 2.6: Tổng hợp số liệu Báo cáo viên pháp luật
Về đội ngũ giảng viên pháp luật. Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ giảng viên Trường Chính trị tỉnh và giảng viên kiêm chức là lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trong tỉnh, là Báo cáo viên pháp luật. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của nhà trường được tăng cường thêm một bước; số cán bộ, giảng viên có năng lực chuyên môn và có kỹ năng sư phạm ngày càng được bổ sung nhiều hơn, nhằm nối tiếp các thế hệ cán bộ, giảng viên lớp trước; cán bộ, giảng viên thường xuyên tự nâng cao trình độ lý luận và trình độ nghiệp vụ, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để có đủ năng lực, phẩm chất thực hiện truyền bá kiến thức pháp luật cho cán bộ, công chức. Đội ngũ giảng viên từng bước được đảm bảo số lượng và không ngừng nâng lên về chất lượng, tâm huyết với nghề và giữ vững phẩm chất đạo đức nghề giáo. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Đặc biệt, các chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức luôn chủ động xây dựng, đổi mới nội dung chương trình giáo dục; kết hợp nhiều hình thức giáo dục và cải tiến các phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức làm nhiệm vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân, được thực hiện thường xuyên từ trong nội bộ các trường, các cơ sở giáo dục – đào tạo cho đến các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và từ cấp trên xuống cấp dưới.
Công tác quản lý dạy và học được quan tâm. Chủ động xây dựng và cụ thể hóa thành hệ thống quy chế, quy định để quản lý tốt ở tất cả các khâu của quá trình đào tạo từ tuyển sinh, tổ chức lớp đến giảng dạy, tự nghiên cứu, đi thực tế, viết khóa luận.
Việc biên soạn giáo trình, tài liệu bồi dưỡng được tổ chức quản lý theo quy trình khoa học. Tài liệu giáo trình có tính ứng dụng cao trong thực tế Phổ biến, giáo dục pháp luật và phù hợp với đối tượng người học.
Nhìn tổng thể, trong thời gian qua, các chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đã bước đầu quán triệt và chủ động, tích cực đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện các mục tiêu nói trên như đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật nói chung, pháp luật về nông dân nói riêng; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân; tăng cường cán bộ, giảng viên có phẩm chất đạo đức tốt và năng lực, cũng như cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục – đào tạo.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Đối với tỉnh Thái Nguyên, cùng với việc làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên, nhân dân của ngành tư pháp thì hoạt động của các cơ quan báo chí với vai trò là công cụ, phương tiện hữu hiệu đưa pháp luật đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, giúp cho đông đảo cán bộ, nhân dân dễ dàng tìm hiểu, tiếp thu, nắm bắt, nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật. Đồng thời, góp phần phản ánh sinh động thực tiễn thi hành pháp luật và hướng dẫn dư luận xã hội ủng hộ, biểu dương người tốt việc tốt trong chấp hành pháp luật; lên án, phê phán những biểu hiện tiêu cực, những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội, tạo niềm tin vào pháp luật, vào công lý trong nhân dân. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Trên cơ sở chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan Phổ biến, giáo dục pháp luật đã đẩy mạnh Phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, các đoàn viên, hội viên bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng; gắn công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, xây dựng đơn vị an toàn làm chủ, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng đô thị văn minh, công dân thân thiện. Người dân nói chung, nông dân nói riêng ngày càng được hiểu biết về kiến thức pháp luật nhiều hơn, có nhận thức đầy đủ hơn về xây dựng Nhà nước pháp quyền, từ đó có ý thức cao hơn trong tự giác chấp hành pháp luật, phát huy dân chủ, tích cực tham gia các chương trình giám sát, hạn chế hành vi vi phạm pháp luật và khiếu kiện vượt cấp, xây dựng nếp sống văn minh, góp phần ổn định tình hình và phát triển kinh tế – xã hội ở cơ sở. Đó chính là các điều kiện thuận lợi để Đảng, Nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo và đáp ứng đầy đủ hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, trong đó có nông dân.
Đối với công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân thì hàng năm các cơ quan trên địa bàn tỉnh đều có kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật, chủ yếu tập trung việc tuyên truyền, phổ biến những văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và những văn bản pháp quy phạm pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành mà các chủ thể tuyên truyền cần truyền đạt, trang bị cho nhân dân. Từ đó, giúp nông dân có được những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật; trên cơ sở đó, hình thành và phát triển ý thức pháp luật, củng cố niềm tin đối với pháp luật và hình thành lối sống theo pháp luật. Đó là những bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, các loại văn bản Quy phạm pháp luật khác, đang có giá trị và hiệu lực thực thi, như: Hiến pháp; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Lao động; Luật Đất đai; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Chăn nuôi; Luật Thủy sản; Luật bảo vệ và kiểm định thực vật; Luật Lâm nghiệp; Luật Tài nguyên nước…
Một trong những nội dung tuyên truyền quan trọng là thực tiễn đời sống pháp luật trên cả nước, địa bàn từng tỉnh, trong từng khu vực: Kết quả triển khai tuyên truyền pháp luật; kết quả thực hiện pháp luật; những gương sáng điển hình, tấm gương “người tốt, việc tốt” trong thực hiện pháp luật; tình hình tội phạm trên địa bàn; các âm mưu, thủ đoạn, phương thức phạm tội mới xuất hiện; kết quả hoạt động xét xử, bảo vệ pháp luật của các cơ quan chức năng trong vùng… Việc phổ biến, tuyên truyền những nội dung thông tin về thực tiễn đời sống pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng: Một mặt, động viên, khuyến khích, cổ vũ nhân dân học tập, làm theo những tấm gương sáng trong thực hiện pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng; mặt khác, giáo dục nâng cao cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn phạm tội, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Những thành công và hạn chế trong Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Nguyên qua công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật có thể đánh giá trên các mặt sau đây:
2.3.1. Những kết quả đạt được Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Để đảm bảo triển khai thi hành có hiệu quả Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Quyết định số 2216/QĐ-BTP ngày 30/7/2012 của Bộ Tư pháp về việc ban hành kế hoạch triển khai Luật Phổ biến giáo dục pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Chỉ thị số 29-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Với sự vào cuộc của cấp ủy và chính quyền các cấp, thời gian qua, công tác tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có những chuyển biến tích cực. Kết quả này thể hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, cấp ủy và chính quyền trên địa bàn tỉnh đã quan tâm chỉ đạo và tăng cường tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh. Các cấp chính quyền, các cơ quan đã ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật; quan tâm hơn đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật; đổi mới hình thức tuyên truyền, đa dạng hóa mô hình Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Nhiều ban, ngành, đoàn thể như Sở Lao động –Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội Nông dân, Tỉnh đoàn Thái Nguyên đã xây dựng được các chương trình, kế hoạch riêng tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
Thứ hai, mức độ hoàn thiện của nội dung pháp luật cho nông dân ngày càng được cải thiện. Căn cứ các văn bản pháp luật được ban hành, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Từ quá trình triển khai thực hiện các văn bản pháp luật tại địa phương, tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng tổng hợp các vướng mắc, những vấn đề phát sinh trong triển khai thực hiện để chủ động xây dựng các cơ chế, chính sách thi hành luật phù hợp trong phạm vi quyền hạn của địa phương; đồng thời báo cáo kịp thời về cấp có thẩm quyền để tiếp tục nghiên cứu, xem xét điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung khi cần thiết.
Thứ ba, việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh đã nhận được sự vào cuộc, phối hợp tích cực giữa các sở, ngành, đoàn thể trong tỉnh; qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên được củng cố, kiện toàn, phát huy vai trò nòng cốt, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo công tác tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Cơ quan thường trực hội đồng tăng cường tính chủ động trong tham mưu triển khai nội dung hoạt động của hội đồng; thành viên hội đồng ngày càng có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Thứ tư, nội dung, hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật được kết hợp linh hoạt, ngày càng phù hợp với đối tượng nông dân, đặc biệt là các hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động tại khu vực nông thôn, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật bằng hình thức sân khấu hóa, các hoạt động cấp phát tài liệu tới tay người dân, v.v. Phạm vi tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng được phát huy, mở rộng với nhiều nội dung, bài viết, chuyên mục phong phú trên hệ thống thông tin chính thống của tỉnh hay các website, bản tin, tạp chí riêng của từng ngành. Qua việc mở rộng, đa dạng các kênh tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng, người dân cũng thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân trong việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật có liên quan, từ đó giảm thiểu vi phạm pháp luật, xây dựng quan hệ giữa những người nông dân, góp phần tăng năng suất lao động, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Thứ năm, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân dần được kiện toàn. Tỉnh đã chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng cho cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu đổi mới trong triển khai các hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý được mở rộng với sự tham gia ngày càng nhiều những người có chuyên môn sâu về ngành luật.
Thứ sáu, cơ sở vật chất, kinh phí tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân được quan tâm đầu tư theo chương trình, kế hoạch cụ thể qua việc thực hiện Nghị quyết số 209/2015/NQ-HĐND ngày 22/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh về tăng cường công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2016 – 2020.
Là vùng đất giàu tiềm năng và lợi thế phát triển nông nghiệp, mặc dù vậy Thái Nguyên thời gian qua phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của mình. Sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế, đời sống của người nông dân vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn. Để phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách hiệu quả, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã đưa ra nhiều chính sách quan trọng, nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng Nông thông mới, nâng cao đời sống người lao động tại địa phương.
Có thể nói, việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thời gian qua đã góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật của nông dân nói chung; qua đó, củng cố, giữ vững tình hình an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Nông dân cũng nhận thức được rõ hơn về quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân được thể hiện trong pháp luật về lao động, bảo hiểm, việc làm để có thể tự đấu tranh đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân trong quá trình lao động, sản xuất, góp phần quan trọng vào việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa trong đời sống xã hội, đóng góp tích cực cho sự phát triển ổn định, bền vững của tỉnh. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
2.3.2. Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập:
Thứ nhất, mặc dù nhận thức của các cấp, các ngành về trách nhiệm trong tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đã được nâng lên nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu. Công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân vẫn chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến nông dân, người lao động như Tỉnh đoàn Thái Nguyên, Liên đoàn Lao động tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội. Số chương trình, kế hoạch tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật dành riêng cho nông dân còn ít; nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân còn lồng ghép nhiều trong triển khai hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật cùng các đối tượng khác. Một số sở, ngành, địa phương chưa quan tâm đến công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, chậm triển khai chương trình, kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật của Trung ương, của tỉnh. Còn tình trạng nhiều cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
Thứ hai, mức độ hoàn thiện của nội dung pháp luật cho nông dân ngày càng được cải thiện nhưng nhiều văn bản luật vẫn phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan nhà nước làm cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật bị hạn chế. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng trùng lặp nội dung trong ban hành các chương trình, kế hoạch tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật, dẫn đến tình trạng khó xác định được đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc triển khai một số nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật cụ thể và gây khó khăn trong quá trình chỉ đạo triển khai thực hiện.
Thứ ba, hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp đã mang lại hiệu quả tích cực trong công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật trong các tầng lớp nhân dân nhưng chưa thực sự tạo được bước đột phá, tạo cơ chế hữu hiệu để các cấp, các ngành có chương trình hoạt động cụ thể, biến nhận thức về tầm quan trọng của công tác này thành hoạt động thiết thực nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân nói chung và Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nói riêng trên địa bàn tỉnh. Hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số huyện chưa nhạy bén, chưa theo sát được yêu cầu, đòi hỏi của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật trong từng thời kỳ. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Thứ tư, một số hình thức tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân chưa thật sự hiệu quả, chưa thực sự chủ động, chưa phù hợp với đối tượng là nông dân, trong đó, một số hoạt động hội nghị, tập huấn, tọa đàm tuyên truyền, Phổ biến, giáo dục pháp luật chưa nhận được sự tham gia tích cực của người nông dân, còn mang tính hành chính và cũng chưa được quan tâm đúng mức nên hiệu quả chưa cao. Việc triển khai thực hiện “Ngày pháp luật” chủ yếu là ở các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể và một số doanh nghiệp nhà nước; chưa có nhiều nơi tại nông thôn triển khai hoạt động “Ngày pháp luật”. Việc đa dạng hóa hình thức tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng đã được tỉnh chú trọng triển khai nhưng số nông dân tiếp cận được thông tin không nhiều, bởi thực tế, sau những giờ lao động mệt mỏi thì nông dân ít khi hay là không truy cập các trang thông tin điện tử của tỉnh, website của các sở, ngành, đoàn thể hay tìm đọc các tạp chí, bản tin tuyên truyền.
Công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật đã có những đổi mới nhưng chưa thực sự sâu theo các vùng, miền và hướng tới cơ sở. Việc Phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp đến nông dân còn rất hạn chế; việc Phổ biến, giáo dục pháp luật đến các cấp ủy Đảng, chính quyền chưa có nhiều hình thức hấp dẫn và phù hợp.
Việc Phổ biến, giáo dục pháp luật có thời điểm vẫn còn mang tính hình thức, vẫn còn tình trạng theo mùa vụ, chạy theo các văn bản mới được ban hành do đó hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật còn mang tính dàn trải, mới dừng lại ở bề nổi chưa chú trọng chiều sâu vì thế có thời điểm chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân, hay mang lại kết quả không như mong muốn.
Thứ năm, một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật và báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật chưa chủ động trang bị các kỹ năng tuyên tuyền, học tập nâng cao kiến thức về pháp luật đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác. Một bộ phận khác lại thiếu tâm huyết, trách nhiệm với công việc. Cho nên hiệu quả công tác chỉ đạo Phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế, nặng tính hình thức, chưa thực hiện thường xuyên, liên tục.
Thứ sáu, nguồn kinh phí tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân chủ yếu vẫn là từ ngân sách nhà nước. Mặc dù là tỉnh có thế mạnh về phát triển nông nghiệp, có tiềm lực kinh tế nhưng lại chưa thu hút được nhiều nguồn lực xã hội hóa tham gia tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật. Sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội vào hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân cơ bản vẫn còn bị động và mang tính bao cấp, chưa thu hút được nguồn lực ngoài ngân sách. Bên cạnh đó, sự chủ động tham gia của xã hội vào công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cũng còn hạn chế.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Những hạn chế, bất cập trong tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thời gian qua xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức được đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, coi việc Phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ riêng của ngành tư pháp nên thiếu kiểm tra, đôn đốc thường xuyên. Nhiều cơ quan, đơn vị còn mang nặng tính hình thức trong thực hiện tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, dẫn đến hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật còn mang tính phong trào, chưa xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân.
Thứ hai, về hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp, đa số các thành viên của hội đồng là kiêm nhiệm nên còn nặng về công tác chuyên môn; nhân sự cụ thể tham gia hội đồng thường có sự biến động nên thường xuyên phải tổ chức kiện toàn, làm ảnh hưởng tới hiệu quả công tác phối hợp tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật. Trách nhiệm của từng thành viên chưa được phát huy một cách đồng đều, một số thành viên còn thiếu tính tích cực, chủ động trong triển khai các hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ ba, Hệ thống các văn bản pháp luật trong những năm gần đây được ban hành với số lượng ngày càng nhiều. Chính vì vậy, việc yêu cầu các cơ quan tuyên truyền ngay và kịp thời toàn bộ các văn bản pháp luật là điều rất khó thực hiện, nên cũng đã làm hạn chế công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ tư, một số hình thức tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân có nội dung còn rời rạc, cách thức tổ chức thiếu hấp dẫn; trong quá trình tổ chức hoạt động, có chương trình do chưa lựa chọn được thời điểm, địa điểm phù hợp nên khi tổ chức chưa thu hút được đông đảo nông dân tham gia, dẫn đến hiệu quả không cao. Cơ chế tổ chức và phối hợp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nói chung và nông dân nói riêng chưa được quan tâm thường xuyên. Thực tế cho thấy chỉ khi nào vi phạm pháp luật xảy ra rồi mới được chú ý đến.
Thứ năm, số cán bộ, công chức chuyên trách làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật không nhiều, chưa đồng đều về năng lực, trình độ, trong đó, hầu như không có cán bộ, công chức riêng làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân và một số chưa phát huy khả năng sáng tạo và tính năng động, chưa thực sự đầu tư thời gian thỏa đáng để nghiên cứu nâng cao trình độ năng lực của bản thân. Do kiến thức pháp luật, nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn hạn chế nên chưa có sự sáng tạo trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đảm bảo về kỹ năng, nghiệp vụ. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Việc tập hợp, thu hút những người có tầm ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, suy nghĩ và hành động của người nông dân để tuyên truyền đến họ những gương người tốt, việc tốt trong Phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư như: trưởng thôn, những cán bộ hưu trí, trưởng dòng họ, những người có uy tín trong cộng đồng, già làng, trưởng bản… vẫn chưa nhiều.
Thứ sáu, nhiều cơ quan, tổ chức chưa thực sự chủ động huy động nguồn lực xã hội hóa để phục vụ công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Hiện nay công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật gần như do nhà nước đảm nhiệm hoàn toàn, ít nhận được sự tham gia, đóng góp của các tổ chức, cá nhân ngoài khu vực nhà nước. Kinh phí đầu tư cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật còn ít, tài liệu, sách báo và các trang thiết bị phục vụ cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật thiếu hoặc không đồng bộ. Do thiếu kinh phí nên việc biên soạn, xây dựng chương trình về tuyên truyền pháp luật còn quá ít.
- Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, hệ thống pháp luật nước ta chưa đồng bộ, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, chất lượng các văn bản luật chưa cao, số lượng các văn bản pháp luật của nhà nước ban hành ngày càng nhiều nhưng lại thường xuyên sửa đổi, bổ sung đã làm ảnh hưởng đến việc triển khai công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Bên cạnh đó, tại địa phương đôi khi xảy ra tình trạng ban hành nhiều chương trình, kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật trong cùng một thời điểm (có thể xuất phát từ sự chỉ đạo đồng thời của nhiều bộ, ngành Trung ương), dẫn đến sự dàn trải trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật trong khi điều kiện nhân lực, vật lực có hạn.
Thứ hai, có một bộ phận không nhỏ nông dân chưa thực sự quan tâm tìm hiểu các nội dung pháp luật liên quan quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động. Nông dân chủ yếu là lao động phổ thông nên đa số chưa ý thức được sự cần thiết phải tìm hiểu các nội dung về pháp luật. Thời gian làm việc của nông dân rất đặc thù khi làm việc theo mùa vụ, mùa này làm việc này mùa khác làm việc khác; thêm vào đó, nhiều thanh niên tại nông thôn đã rời vùng quê đi xuất khẩu lao động hay đi làm việc tại các KCN để kiếm thêm thu nhập. Do vậy, nông dân bây giờ chủ yếu là người già, ít cập nhật chủ động tìm hiểu về nội dung pháp luật nói chung và pháp luật liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động nói riêng trên Web, mà chủ yếu là xem trên các kênh truyền hình.
Thứ ba, chế độ, chính sách cho báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật còn hạn chế, chưa thực sự khuyến khích và phát huy được tiềm năng của đội ngũ làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ tư, các quy định về xã hội hóa công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật còn thiếu đồng bộ, lại quy định trong các văn bản dưới luật nên chưa khuyến khích, phát huy hiệu quả sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
Như vậy, từ cái nhìn từ tổng quan đến một số điển hình về thực trạng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Nguyên thời gian qua và hiện nay cho thấy:
Đặc điểm, điều kiện chính trị – kinh tế – xã hội và ảnh hưởng của nó đến phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và người nông dân nói riêng là một thực tế khách quan, thực tế điều kiện tự nhiên xã hội đó cần phải được nghiên cứu đánh giá đúng đắn những khó khăn và thuận lợi để từ đó tìm biện pháp khắc phục trong khi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật.
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, tình hình nông dân và thực trạng hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tại tỉnh Thái Nguyên là những đặc điểm riêng của địa phương. Những đặc điểm đó có những thuận lợi và khó khăn nhất định, vì thế cần có sự nỗ lực khắc phục khó khăn vươn lên mọi mặt, đồng thời cần sự hỗ trợ giúp đỡ, chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở để thực hiện tốt công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Nguyên.
Việc đánh giá thực trạng Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Nguyên thời gian qua và trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải hết sức khách quan và chính xác từ đó để tìm ra những nguyên nhân tồn tại làm cơ sở cho việc tìm ra phương hướng và giải pháp cơ bản để tăng cường hơn nữa Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
