Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Hải Phòng – PGD Hải Đăng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của PGD Hải Đăng – Hải Phòng
2.2.1. Hoạt động huy động vốn
Kết thúc 2017 PGD Hải Đăng – Hải Phòng đã thu hút được 418,260 triệu đồng, tăng 74 % so với 2015. Xu hướng vốn huy động ngày càng gia tăng, trong đó năm 2016 có mức tăng đột phá (tăng 72%) so với năm 2015.
Trong điều kiện thị trường vốn hết sức khó khăn và chịu áp lực cạnh tranh khá lớn trong năm 2017, Ban lãnh đạo đã kiên định chỉ đạo tăng cường công tác huy động vốn, đặt công tác huy động vốn lên nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Tính đến 31/12/2017, các chỉ tiêu huy động vốn từ nền kinh tế của PGD Hải Đăng – Hải Phòng đều đã hoàn thành vượt mức không chỉ so với kế hoạch đã điều chỉnh, mà còn so với kế hoạch đã được thông qua hồi đầu năm. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Mức vốn huy động bình quân hàng năm cũng có sự tăng trưởng đáng kể tạo điều kiện ổn định về nguồn vốn đầu vào cho ngân hàng trong quá trình sử dụng và cấp tín dụng. Vốn được xem là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và PGD Hải Đăng đã thực hiện khá tốt các hoạt động nhằm mở rộng cả về quy mô và chất lượng các nguồn huy động với các sản phẩm huy động phong phú.
Cùng với xu hướng tăng trưởng của vốn huy động là xu hướng mở rộng hoạt động cho vay cấp tín dụng của PGD Hải Đăng trong thời gian qua. Dư nợ cho vay bình quân tăng đều đặn qua các năm. Điều này giúp khơi thông vốn đầu ra và tạo điều kiện tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động tín dụng của PGD Hải Đăng cũng chịu chung những tác động từ nền kinh tế tăng trưởng chậm và thị trường bị thu hẹp. Tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng, đặc biệt năm 2017 tăng khá cao ở mức 5.65%. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các khoản vay và chính sách tín dụng nhằm cải thiện mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của PGD Hải Đăng.
2.2.2. Hoạt động tín dụng
Bảng 2.2: Hoạt động tín dụng của PGD Hải Đăng – Hải Phòng
Hoạt động cấp tín dụng của PGD Hải Đăng hướng đều cả vào cả hai hoạt động cấp vốn ngắn hạn và trung dài hạn. Tuy nhiêu, xét theo xu hướng trong dài hạn thì PGD Hải Đăng đang dần điều chỉnh cơ cấu cho vay theo hướng mở rộng hoạt động cho vay ngắn hạn hơn (tăng tỷ trọng từ 51% từ năm 2015 lên 55% vào năm 2017) và hướng dần vào đối tượng khách hàng doanh nghiệp nhằm bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Lợi thế của cho vay ngắn hạn là thời gian quay vòng vốn khá nhanh và các tài sản đảm bảo thường là các yếu tố trong quá trình sản xuất nên có thời gian kuaanj chuyển nhanh hơn. Đồng thời PGD Hải Đăng cũng hướng tín dụng và các đối tượng khách hàng đa dạng hơn nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh vốn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.3. Quy định về lập kế hoạch cân đối nguồn vốn – sử sụng vốn của PGD Hải Đăng – Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Kế hoạch cân đối nguồn vốn – sử dụng vốn được lập theo phương pháp cân đối tài sản Có và tài sản Nợ theo mẫu biểu. Các chỉ tiêu kế hoạch về tài sản Có và tài sản Nợ được xác định theo số dư cuối năm kế hoạch, số dư bình quân năm, và tính riêng cho VND, ngoại tệ, quy VND theo tỷ giá do Hội sở chính công bố vào thời điểm lập kế hoạch.
Giám đốc chi nhánh chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của số liệu lập kế hoạch, số liệu báo cáo và thực hiện các chỉ tiêu được giao.
Kèm theo kế hoạch cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn là bản thuyết minh với nội dung thuyết minh ngắn gọn, xúc tích trên cơ sở tự đánh giá việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của năm hiện hành và đánh giá những chỉ tiêu của kỳ kế hoạch gắn với các dự báo phát triển kinh tế xã hội tại địa bàn.
Kế hoạch được lập hàng năm vào trung tuần tháng 11 và gửi Hội sở chính (phòng Vốn) chậm nhất vào ngày 30/11 bằng fax hoặc qua mạng và bằng công văn. Tùy mức độ cần thiết, Hội sở chính sẽ thông báo việc bảo vệ kế hoạch của một số chi nhánh được tổ chức vào tháng 12.
Trên cơ sở tập hợp kế hoạch cân đối vốn của chi nhánh, kết hợp với việc phân tích các thông tin, chủ trương, chính sách tiền tệ – tín dụng của NHNN, các bộ ngành liên quan… Hội sở chính tiến hành đánh giá việc thực hiện kế hoạch năm hiện hành và lập kế hoạch cân đối vốn cho toàn hệ thống trong năm tiếp theo. Trước 1/1 hàng năm, kế hoạch cân đối vốn toàn hệ thống được gửi trình trước HĐQT để phê duyệt, trong đó có mộ số chỉ tiêu chính như: Tăng trưởng nguồn vốn, tăng trưởng vốn huy động, tăng trưởng tín dụng…
Sau khi được HĐQT phê duyệt và căn cứ vào tình hình, khả năng phát triển của từng chi nhánh, yêu cầu phát triển của toàn hệ thống, Tổng giám đốc giao kế hoạch cho chi nhánh để định hướng và chỉ đạo hoạt động kinh doanh với các chỉ tiêu chính sau đây: Tốc độ tăng trưởng vốn huy động, thị phần huy động vốn tại địa bàn, tăng trưởng tín dụng… Căn cứ vào tình hình kinh doanh cụ thể, một số chỉ tiêu có thể được chuyển từ chỉ tiêu định hướng sang chỉ tiêu khống chế.
Trong quá trình kinh doanh nếu có phát sinh đột xuất, việc điều chỉnh các chỉ tiêu kế hoạch sẽ được ban điều hành xem xét trong phạm vi các chỉ tiêu mà HĐQT đã phê duyệt. Trong trường hợp cần thiết, khi có những biến động lớn trên thị trường, việc điều chỉnh kế hoạch năm của toàn hệ thống sẽ được ban điều hành trình HĐQT xem xét và điều chỉnh phù hợp. (Phòng vốn là đầu mối xây dựng kế hoạch cân đối nguồn vốn-sử dụng vốn).
2.2.4. Quan hệ vốn giữa Chi nhánh và PGD Hải Đăng Quan hệ tiền gửi Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Đối với vốn bằng VND: Phòng giao dịch tập trung vốn gửi tại Hội sở chính sau khi tính toán nhu cầu vốn hợp lý gửi tại chi nhánh NHNN trên địa bàn đủ đảm bảo khả năng thanh toán và rút tiền mặt cho nhu cầu của khách hàng.
Đối với vốn bằng ngoại tệ: Phòng giao dịch tập trung toàn bộ vốn bằng ngoại tệ gửi về chi nhánh, sau đó chi nhánh gửi về hội sở chính. Một số chi nhánh được phép mở tài khoản ngoại tệ và gửi một phần vốn ngoại tệ ở ngân hàng nước ngoài đáp ưng nhu cầu thanh toán đối ngoại theo hạn mức do giảm đốc quy định. (Giám đốc ủy quyền cho phòng Vốn giao dịch nhận gửi vốn bằng VND, phòng kinh doanh ngoại tệ giao dịch gửi vốn bằng ngoại tệ).
Chi nhánh giao dịch với phòng vốn, phòng kinh doanh ngoại tệ bằng fax, điện thoại, điện SWIFT theo các nội dung:
- Số tiền gửi.
- Loại tiền.
- Kỳ hạn.
- Ngày giá trị.
- Ngày đến hạn.
- Lãi suất do Hội sở chính công bố.
Quan hệ vay vốn
Giám đốc ủy quyền cho phòng Vốn quyết định cho vay bằng VND và phòng Kinh doanh ngoại tệ quyết định cho vay bằng ngoại tệ.
Đối với cho vay trung và dài hạn, phòng vốn và phòng Kinh doanh ngoại tệ chịu trách nhiệm tiếp cận yêu cầu của chi nhánh, phân tích đánh giá và trình GĐ phân tích, quyết định. Tùy theo điều kiện của từng phòng giao dịch, từng chi nhánh và tình hình vốn trung và dài hạn từng thời kỳ để xác định hạn mức cho từng phòng giao dịch, từng chi nhánh và trên cơ sở đó phân cấp cho phòng Vốn và phòng Kinh doanh ngoại tệ quyết định cho từng lần vay. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Lãi suất cho vay được áp dụng theo thông báo lãi suất hiện hành của Chi nhánh và được duy trì trong suốt thời hạn hiệu lực của khoản vay. Đối với các khoản cho vay trung và dài hạn có thể áp dụng lãi suất cố định hay thả nổi tùy theo yêu cầu của Phòng giao dịch theo thông báo lãi suất của Chi nhánh áp dụng cho từng thời kỳ. Trường hợp áp dụng mức lãi suất và phương thức trả lãi khác với quy định trên phải được sự chấp thuận của GĐ.
2.2.5. Kết quả hoạt động kinh doanh của PGD Hải Đăng – Hải Phòng
Doanh thu
Có thể thấy doanh thu của PGD Hải Đăng – Hải Phòng đang có xu hưởng cải thiện dần dần qua các năm (năm 2016 tăng 12,752 triệu đồng tương ứng với 68.31% so với năm 2015; Năm 2017 tăng 4,462 triệu đồng, tăng 14.2% so với 2016). Đây là một kết quả khả quan cho Ngân hàng trong bối cảnh tình hình kinh tế tài chính trong và ngoài nước có nhiều biến động.
Chi phí
Thông qua số liệu, ta cũng thấy rằng chi phí của Ngân hàng trong giai đoạn 2015 – 2017 có xu hướng gia tăng. Năm 2016, chi phí tăng 10,018 triệu đồng tương ứng 46.25% so với năm 2015. Đến năm 2017, chi phí tăng 2,743 triệu đồng tương ứng 8.66% so với 2016.
Lợi nhuận
Doanh thu của PGD Hải Đăng – Hải Phòng có xu hướng tăng nhưng lợi nhuận vẫn ở mức âm là do tốc độ tăng doanh thu chậm hơn tốc độ tăng trưởng của chi phí. Năm 2015, 2016 doanh thu không bù đắp được tổng chi phí dẫn tới PGD Hải Đăng – Hải Phòng kinh doanh không có lãi. Tuy nhiên đến năm 2017 đã có bước cải thiện rõ rệt khi tốc độ tăng trưởng chi phí bắt đầu giảm và mức lợi nhuận của ngân hàng đã dương. Điều này cho thấy những nỗ lực, cố gắng hết mình của toàn thể đội ngũ cán bộ nhân viên của PGD Hải Đăng – Hải Phòng trong suốt 1 năm vừa qua. PGD Hải Đăng – Hải Phòng cần có những biện pháp tích cực hơn để có thể gia tăng thu thập và giảm thiểu chi phí tới mức thấp nhất để có thể thu được lợi nhuận như mong muốn.
2.3. Phân tích hiệu quả huy động vốn tại PGD Hải Đăng – Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Xác định công tác huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và xuyên suốt hoạt động kinh doanh của PGD Hải Đăng – Hải Phòng. Vì vậy PGD Hải Đăng – Hải Phòng đã tập trung thực hiện các biện pháp để đẩy mạnh công tác huy động vốn.
Hiện nay công tác huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn đang là một bài toán khó đối với các ngân hàng thương mại. Điều này đòi hỏi các NHTM phải có biện pháp hiệu quả, có chiến lược huy động vốn đúng đắn, hợp lý để thu hút nguồn vốn, đảm bảo cho đầu ra của ngân hàng. Trên cơ sở nguồn vốn ổn định, cơ cấu vốn hợp lý, giá cả tương đối rẻ, các ngân hàng mới thực hiện được mục tiêu lợi nhuận của mình.
Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế là nguồn vốn rẻ nhất, nhưng không có tính ổn định. Đó là nguồn từ kết quả hoạt động kinh doanh, liên doanh, liên kết. Các nguồn này phần lớn vẫn được chu chuyển vào các tổ chức kinh tế thông qua các tài khoản thanh toán tại các ngân hàng, một số nguồn không qua ngân hàng để tạo khả năng thanh toán của những tổ chức đó. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải có chính sách hợp lý để thu hút tối đa nguồn vốn này. Trong thời gian khó khăn này, PGD Hải Đăng – Hải Phòng đã bám sát mục tiêu kinh doanh, chiến lược khách hàng,từng bước mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ,phát triển thêm nhiều dịch vụ mới, mở rộng mạng lưới phục vụ khách hàng… Kết quả huy động vốn của PGD Hải Đăng – Hải Phòng thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể sau
2.3.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng của vốn huy động
Qua bảng số liệu 2.4 ta nhận thấy những năm gần đây, công tác huy động của PGD Hải Đăng – Hải Phòng đã bước đầu đạt được những thành tích đáng khích lệ. Nguồn vốn phát triển qua từng năm với tốc độ tăng trưởng khá cao. Năm 2015 và 2016 do dư âm biến động của thị trường từ năm 2014, lạm phát tặng, các thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, vàng, ngoại tệ biến đổi khó lường, sức cạnh tranh giữa các ngân hàng về lãi suất huy động vốn tăng cao, sang năm 2017 tình trạng này lắng dần tuy nhiên vẫn còn gây không ít khó khăn trong công tác huy động vốn. Đến cuối năm 2017 tổng vốn huy động của PGD vẫn đạt mức 418,260 triệu đồng tăng 45,791 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng trưởng 12% so với năm 2016 là một kết quả gặt hái đáng khả quan của ngân hàng.
Với mức huy động vốn này PGD đã đủ đảm bảo vốn cho hoạt động của mình dựa trên kế hoạch huy động và nhu cầu cho vay, tài trợ cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch HĐV của PGD Hải Đăng từ năm 2015 đến năm 2017 rất khả quan (Bảng 2.5). Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn luôn hoàn thành vượt kế hoạch được giao, đạt mức bình quân 105% qua các năm.
Kết quả này cho thấy công tác phấn đấu hoàn thành kế hoạch được giao của PGD Hải Đăng qua các năm là khá tốt. Mặc dù trong quá trình hoạt động của PGD Hải Đăng những năm qua cũng gặp không ít những khó khăn thách thức nhưng PGD Hải Đăng luôn đặc biệt coi trọng công tác huy động vốn, xem công tác huy động vốn là một trong hai yếu tố quan trong quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của PGD Hải Đăng.
2.3.2. Cơ cấu vốn huy động Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
2.3.2.1. Cơ cấu vốn theo đối tượng khách hàng
Việc phân tích quy mô và cơ cấu của các nguồn vốn trong tổng nguồn vốn huy động giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về tình hình huy động vốn của PGD Hải Đăng. Tuy nhiên, mỗi nguồn vốn có những đặc điểm riêng và chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau, sự biến động của chúng cũng tác động khác nhau đến tổng nguồn vốn cũng như chi phí của nó. Do vậy cần phải đi sâu vào phân tích từng nguồn vốn huy động khác nhau.
Bảng 2.6. Bảng cơ cấu huy động theo đối tượng khách hàng
Theo bảng số liệu 2.6 cho thấy: Trong tổng nguồn vốn tiền gửi thì tiền gửi dân cư luôn chiếm tỷ cao nhất khoảng từ 49% – 56%; tỷ trọng vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có xu hướng tăng với tỷ trọng từ 36% năm 2015 lên 46% vào năm 2017 với mức tăng trưởng khá nhanh. Tiếp theo là tiền gửi của các định chế tài chính nhằm mục đích thanh toán ổn định qua các năm với giá trị khỏang 20 tỷ đồng ứng với tỷ trọng khoảng 5% trong vốn huy động. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Trong nguồn vốn tiền gửi dân cư thì nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chiếm tỷ trong chủ yếu chiếm từ 70-80% tổng nguồn vốn tiền gửi dân cư và khoảng 30% – 38% tổng nguồn vốn huy động. Đây cũng là nguồn vốn được trả với lãi suất cao, Chênh lệch lãi suất (NIM) huy động thường thấp hơn nguồn vốn không kỳ hạn nhưng lại là nguồn vốn rất ổn định và quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, chính vì vậy PGD Hải Đăng rất chú trọng vào việc tăng trưởng và phát triển nguồn tiền gửi này. Năm 2015 huy động vốn dân cư đạt 121,877 triệu đồng chiếm 56% tổng nguồn vốn trong đó tiền gửi có kỳ hạn chiếm 83,141ứng với 82%. Năm 2015 huy động vốn dân cư chiếm tỷ trong 48%/ tổng nguồn huy động trong đó tiền gửi có kỳ hạn chiếm 61% giảm so với năm 2014. Năm 2017 và 2016 tỷ trọng huy động vốn dân cư đều đạt gần 50%/ tổng nguồn vốn huy động và tiền gửi tiết kiệm CKH cũng đạt 30%, sau đó là tiền gửi không kỳ hạn chiếm 15%.
Bên cạnh việc chú trọng vào tăng trưởng nguồn tiền gửi dân cư, PGD Hải Đăng cũng tập trung huy động từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đang ngày càng phát triển trên địa bàn. Đây là nguồn tiền gửi với lãi suất thấp, giá trị tiền gửi thường lớn nên doanh số huy động thường tăng giảm mạnh và PGD Hải Đăng được hưởng NIM huy động từ nguồn này cao. Mặc dù đây là nguồn tiền gửi mang tính chất không cố định nhưng với PGD Hải Đăng những năm qua do tạo lập được nhiều mối quan hệ tốt với nhiều TCKT trên địa bàn, khoảng 50% các TCKT có mặt trên địa bàn là khách hàng của PGD Hải Đăng, trong đó có rất nhiều khách hàng lớn quy mô hoạt động. Vì vậy trong năm nguồn vốn này có thể biến động tăng giảm mạnh nhưng cuối mỗi năm nguồn vốn này vấn tương đối ổn định chiếm từ 36% – 46% trên tổng nguồn vốn huy động và tăng trưởng khá nhanh từ năm 2015 đến 2017. Đây là một thị phần không chỉ giúp cho Ngân hàng phát triển hoạt động huy động vốn mà còn tạo điều kiện thuận lợi để triển khai bán chéo nhiều loại hình dịch vụ khác của chi nhánh.
Biểu đồ 2.2: Xu hướng biến động vốn huy động theo đối tượng khách hàng
Trong tổng nguồn vốn của các TCKT thì nguồn vốn tiền gửi thanh toán chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2017 tiền gửi thanh toán của các TCKT đạt 94,364 triệu đồng tăng 19,192 triệu đồng so với năm 2016 ứng với mức tăng 26%; tăng hơn 200% so với năm 2015. Các năm từ 2015-1017 có tỷ trọng tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn đều có xu hướng tăng trưởng khá nhanh. Nguồn huy động từ các Định chế tài chính thấp, chiếm tỷ trọng khoảng 5% trên tổng vốn huy động.
Nhìn chung cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng khách hàng của PGD Hải Đăng những năm qua có chiều hướng tăng và cải thiện đáng kể những nguồn vốn chủ chốt mang tính ổn định cao như tiền gửi có kỳ hạn của dân cư và các tổ chức kinh tế và có ảnh hưởng tích cực đến kết quả kinh doanh của PGD Hải Đăng.
2.3.2.2. Cơ cấu vốn huy động phân theo kì hạn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Kỳ hạn của nguồn vốn luôn là một yếu tố quan trọng đánh giá chất lượng nguồn vốn của một ngân hàng. Cơ cấu vốn theo kỳ hạn cho biết mức độ ổn định của nguồn vốn và khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản. Hon thế nữa, một cơ cấu vốn hợp lí theo kỳ hạn sẽ quyết định đến lãi suất đầu ra của một ngân hàng và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của một ngân hàng. Do đó với mục tiêu phát triển bền vững, PGD Hải Đăng luôn chú trọng đến mục tiêu an toàn trong kinh doanh.
Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn
Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn của HDBank Hải Đăng 2015-2017
Dựa vào bảng 2.8 cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn ta có thể nhận thấy tiền gửi ngắn hạn qua các năm luôn chiếm chủ yếu trong tổng nguồn vốn tiền gửi huy động. Tính từ năm 2015 đến năm 2017 tiền gửi ngắn hạn chiếm bình quân từ 54% đến 64% trên tổng nguồn vốn huy động. Năm 2015 huy động vốn ngắn hạn chiếm 58% đến năm 2016 giảm xuống còn 54%, nhưng năm 2017 huy động vốn ngắn hạn tăng trưởng cao chiếm 64% trên tổng vốn huy động. Điều đó cho thấy huy động vốn ngắn hạn là nguồn vốn huy động chính chiếm tỷ trọng.
Tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn qua các năm chiếm tỷ trọng bình quân khoảng 36% đến 42%. Năm 2017 tương ứng với nguồn vốn ngắn hạn tăng cao thì nguồn vốn trung và dài hạn giảm thấp còn 36% do một phần là sự dịch chuyển từ nguồn vốn dài hạn sang ngắn hạn khi các món này đến hạn, còn các khách hàng gửi mới thì hầu hết là chọn gửi ngắn hạn.
Nguồn vốn huy động ngắn hạn là nguồn vốn có chi phí thấp và thường đem lại lợi nhuận cao. Vì vậy nó cũng là mối quan tâm hàng đầu của PGD Hải Đăng. Tuy nhiên nguồn vốn này thường không ổn định, dễ xảy ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng điều này cũng gây khó khăn trong việc quản lý vốn. Vì vậy ngân hàng cần tập trung quản lý vốn cần phải có kế hoạch cân đối vốn và sử dụng nguồn vốn cho hợp lý sẽ mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
2.3.2.3. Cơ cấu vốn theo loại tiền Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Bảng 2.8: Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền
Nhìn vào tỷ trọng huy động vốn theo loại tiền, có thể nhận thấy:
Tổng nguồn vốn nói chung và nội tệ nói riêng liên tục tăng trưởng qua các năm, lượng tiền VND huy động được rất lớn. Năm 2015 đạt 198,026 triệu đồng, năm 2016 đạt 349,528 triệu đồng, so với năm 2015 đã tăng 151,502 triệu đồng, tương ứng với 2.4%, năm 2017 đạt 395,906 triệu đồng, so với năm 2015 đã tăng 46,378 triệu, tương ứng với 0.81%.
Nguồn vốn ngoại tệ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Năm 2015 là 18,542 triệu đồng, tương ứng với 8.56%. Năm 2016 là 22,941 triệu đồng (giảm 2.4% so với năm 2015. Năm 2017 là 22,354 triệu đồng, tương ứng 5.35% (giảm 0.81% so với năm 2016).
Điều này cho thấy, Chi nhánh đã có những chính sách huy động nguồn nội tệ hiệu quả, có nhiều dịch vụ đa dạng phong phú, thu hút được sự quan tâm và tạo được niềm tin cho khách hàng đến giao dịch và gửi tiền. Đạt được mục tiêu này là sự cố gắng nỗ lực đẩy mạnh và thu hút huy động vốn của ngân hàng trong tình hình kinh tế Việt Nam và thế giới có nhiều biến động.
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng tiền gửi theo loại tiền
Từ biểu đồ ta thấy trong tổng nguồn vốn huy động thì tỷ trọng nguồn vốn nội tệ và ngoại tệ đều có xu hướng tăng nhưng tiền gửi nội tệ có xu hướng tăng nhanh hơn. Điều này rất hợp lý vì phần lớn các tổ chức kinh tế và dân cư chủ yếu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng thông qua sử dụng tiền nội tệ, còn vốn ngoại tệ chủ yếu là thông qua mảng thanh toán quốc tế.
2.3.3. Thu nhập và chi phí của vốn huy động
Thu nhập ròng từ huy động vốn được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất thực hiện với khách hàng và giá chuyển vốn nội bộ và quy mô huy động vốn. Cụ thể:
Thu nhập ròng từ hoạt động huy động vốn = ( NIM
Chi phí huy động vốn khác
Trong đó: NIMHĐV = LS FTP mua vốn – LSHĐV
Chi phí huy động vốn khác gồm: Chi phí hoa hồng, môi giới
(Những chi phí như tiếp thị, khuyến mãi, truyền thông, quảng cáo tại HD Bank được tính vào chi phí quản lý kinh doanh chung toàn chi nhánh không tính vào chi phí cho từng sản phẩm).
Bảng 2.9: Bảng thu nhập ròng từ huy động vốn
NIM huy động vốn của các năm từ 2015 đến 2017 nhìn chung đều có chung một đặc điểm là NIM huy động vốn của các kỳ hạn gửi ngắn hạn cao hơn NIM huy động các kỳ dài hạn. Đặc biệt là NIM kỳ hạn gửi và vay q ua đêm và không kỳ hạn (KKH và dưới 1 tháng) cao hơn rất nhiều so với NIM huy động có kỳ hạn. Cao nhất là năm 2015 NIM huy động loại KKH và dưới 1 tháng là 4.7%, tiếp theo là năm 2016, 2017 là 4.5%. NIM huy động cao là một trong hai nguyên nhân chính đem lại lợi nhuận cao, tuy nhiên nguồn vốn này chỉ chiếm khoảng 30% – 35% tổng nguồn vốn huy động của các năm. Nguồn vốn này phần lớn là nguồn được huy động từ tiền gửi thanh toán của cá nhân, các TCKT và các định chế tài chính. Chi nhánh cũng đã chủ động triển khai một số biện pháp thu hút nguồn vốn này tại thị trường mục tiêu là các TCKT đóng trên địa bàn. Tuy nhiên các giải pháp áp dụng chưa đồng bộ mới chỉ dừng lại ở các hình thức khuyến mãi như: miễn phí phát hành thẻ, miễn phí đổ lương, miễn hoặc giảm phí các dịch vụ ngân hàng điện tử và giảm phí chuyển tiền… Có được một TCKT mở tài khoản thanh toán và đổ lương qua tài khoản, ngân hàng vừa có được nguồn vốn từ tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp vừa có lượng tiền gửi từ các tài khoản của công nhân viên, vừa có thể bán chéo được rất nhiều các dịch vụ ngân hàng khác. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Qua số liệu bảng 2.10 cho thấy: Thu nhập ròng huy động vốn tăng dần qua các năm nhưng tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu thu nhập ròng huy động vốn bình quân chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng huy động vốn bình quân, nguyên nhân chính là do NIM huy động vốn biến động và đang có xu hướng giảm dần.
Từ năm 2015 đến năm 2017 NIM HĐV bình quân tăng giảm không ổn định, một phần do tỷ trọng huy động vốn của các kỳ hạn qua các năm có thay đổi, một phần do tình hình cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn ngày càng gay gắt để giữ được lượng khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới chi nhánh đã thực hiện tăng lãi suất huy động trong giới hạn cho phép, chấp nhận hưởng NIM huy động vốn thấp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân giúp HĐVBQ những năm qua tăng trưởng tương đối ổn định.
Dựa vào số liệu Bảng 2.10 ta có thể phân tích cụ thể như sau: Tốc độ tăng trưởng thu nhập ròng HĐV năm 2016 so với năm 2015 là 52% do tốc độ tăng trưởng huy động vốn bình quân là 39% và NIM tăng từ 1.4% lên 1.43%. Năm 2017 tốc độ tăng trưởng thu nhập ròng HĐV so với năm 2016 là 38% do tốc độ tăng trưởng huy động vốn BQ là 34% và NIM từ 1.43% còn 1.39%.
2.3.4. Cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Quy mô của nguồn vốn chưa đủ để đánh giá hiệu quả của công tác huy động vốn. Nếu nguồn vốn huy động tăng nhanh trong khi lượng vốn cho vay và đầu tư thấp sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ, vì phải chịu chi phí vốn đối với khoản tiền đã huy động. Nếu huy động vốn ít mà nhu cầu cho vay nhiều thì ngân hàng sẽ không đáp ứng đủ vốn cho khách hàng, khách hàng sẽ tìm đến nguồn vốn khác hoặc ngân hàng khác. Như vậy ngân hàng sẽ bị mất đi các khách hàng quan trọng và sẽ thiếu các đối tác lâu dài, sẽ bị mất uy tín. Do đó, song song với công tác huy động vốn PGD Hải Đăng luôn coi trọng công tác sử dụng vốn, luôn cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn để thu được nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng.
2.3.4.1. Tương quan vốn huy động và cho vay Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Bảng 2.10: Tương quan giữa vốn huy động và cho vay
Tương quan giữa huy động vốn và cho vay nhưng kết quả hoạt động về cả hai mảng hoạt động chính là huy động vốn và cho vay của PGD Hải Đăng giai đoạn 2015-2017 nhìn chung đều tăng trưởng, tỷ lệ đáp ứng giữa tiền gửi và tiền vay luôn đảm bảo từ đáp ứng từ 103% – 113% qua các năm. Qua kết quả trên cho thấy lợi thế hoạt động huy động vốn của PGD Hải Đăng cao hơn lợi thế cho vay. Năm 2015 tỷ lệ đáp ứng là 103% nhưng năm 2016 tỷ lệ đáp ứng giảm còn 113% tới năm 2017 tỷ lệ đáp ứng lại có xu hướng giảm chút ít những vẫn đảm bảo trên 100%. Điều này cho thấy nguồn vốn huy động tại PGD Hải Đăng vẫn luôn đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn.
2.3.4.2. Tương quan vốn huy động ngắn hạn và cho vay ngắn hạn
Bảng 2.11: Tương quan giữa vốn huy động ngắn hạn và cho vay ngắn hạn
Qua bảng 2.12 trên cho thấy: Nguồn vốn huy động ngắn hạn của chi nhánh 5 năm qua luôn đáp ứng tốt nhu cầu cho vay ngắn hạn. Tỷ lệ đáp ứng năm 2015 và năm 2016 là huy động vốn ngắn hạn vượt trên 16% cho vay ngắn hạn, năm 2017 tỷ lệ đáp ứng là 22% cho vay ngắn hạn. Đứng ở góc độ một PGD Hải Đăng thì tỷ lệ này luôn đảm bảo tính thanh khoản và an toàn tín dụng, chứng tỏ PGD đã sử dụng hợp lý nguồn vốn huy động ngắn hạn.
2.3.4.3. Tương quan vốn huy động trung, dài hạn và cho vay trung, dài hạn
Bảng 2.12: Tương quan giữa vốn huy động TDH và cho vay TDH
Qua số liệu bảng 2.13 cho thấy: năm 2015 và 2017 nguồn vốn huy động trung và dài hạn thấp hơn so với nhu cầu vay trung và dài hạn, tỷ lệ đáp ứng đạt 98% và 83%. Năm 2016 huy động vốn đáp ứng đủ và vượt so với nhu cầu vay trung và dài hạn, tỷ lệ đáp ứng là 109%. Đứng trên góc độ tại một PGD Hải Đăng (nếu không có sự quản lý điều chuyển vốn và chịu trách nhiệm về rủi ro thanh khoản) thì tình hình sử dụng vốn dài hạn trên là chưa hợp lý. Về nguyên tắc thì để bù đắp số vốn thiếu hụt này chi nhánh buộc phải chuyển vốn huy động ngắn hạn sang bù đắp cho vay trung và dài hạn. Theo thông tư số 15/2009/TT-NHNN ngày 10/08/2009, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn là 30%. Như vậy thì năm 2014 chi nhánh đã sử dụng 25% vốn ngắn hạn để bù đắp cho vay trung và dài hạn là phù hợp với quy định này.
2.4. Thành tích và hạn chế trong công tác huy động vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
2.4.1. Thành tích đạt được
Hoạt động huy động vốn từ năm 2015 đến năm 2017 luôn đạt được kết quả tích cực về quy mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu, chất lượng.
- PGD Hải Đăng nhiều năm liền hoàn thành vượt mức kế hoạch giao về chỉ tiêu huy động vốn cuối kỳ và huy động vốn bình quân và năm 2017 có mức hoàn thành vượt mức kế hoạch là khoảng gần 5% vốn huy động vốn cuối kỳ và huy động vốn bình quân.
- Do quy mô huy động vốn ngày càng tăng và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động năm qua là 12% và luôn có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nằm trên cùng địa bàn kinh doanh.
- Huy động vốn từ các đối tượng khách hàng dân cư, các TCKT đều có mức tăng trưởng tương đối ổn định. Huy động vốn dân cư chiếm tỷ trọng qua các năm từ 65% đến 68%, huy động vốn từ các TCKT chiếm tỷ trọng từ 32% đến 35%, còn huy động vốn từ các định chế tài chính rất thấp gần như không đáng kể. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
- Thu nhập ròng từ huy động vốn tăng dần qua các năm góp phần chính vào kết quả cải thiện lợi nhuận kinh doanh của PGD, năm 2016 thu nhập ròng huy động vốn đạt 3,002 triệu đồng đến năm 2017 thu nhập ròng huy động vốn đạt 4,142 triệu đồng. Điều này đã góp phần cải thiện lợi nhuận trước thuế của PGD từ trạng thái thua lỗ năm 2016 thành có lãi, có lợi nhuận vào năm 2017 mặc dù tỷ lệ nợ xấu có sự gia tăng. Đây cũng là một kết quả đáng khích lệ cho những cố gắng nỗ lực những năm qua trong công tác huy động vốn của PGD Hải Đăng.
Để có được kết quả trên của PGD Hải Đăng có nhiều nguyên nhân, sau đây là một số nguyên nhân chính sau:
- Ban lãnh đạo đã rất chú trọng đến công tác huy động vốn, đưa ra những định hướng mục tiêu và những giải pháp huy động vốn phù hợp. Thực hiện tốt công tác dự báo biến động nguồn vốn, biến động lãi suất nên đưa ra những chính sách lãi suất chủ động, linh hoạt nên nguồn vốn huy động của PGD đều tăng một cách tương đối vững chắc với hiệu quả cao góp phần quan trọng làm tăng lợi nhuận ngân hàng.
- PGD Hải Đăng luôn chú trọng công tác tuyển dụng và đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Cán bộ nhân viên PGD luôn có ý thức nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng tác nghiệp, phong cách giao dịch nâng cao chất lượng phục vụ đem lại sự hài lòng cao nhất tới khách hàng. Các phòng ban luôn có sự phối hợp nhịp nhàng, nhờ đó mà khách hàng đến với Ngân hàng được phục vụ kịp thời, nhanh chóng và chính xác.
- Bên cạnh đó, PGD cũng không ngừng đổi mới công nghệ, xây dựng các biện pháp cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ, xây dựng các sản phẩm dịch vụ có tính tự động hóa cao, giảm thiểu thủ tục, rút gọn thời gian giao dịch với khách hàng, thực hiện bảo mật thông tin khách hàng.
PGD Hải Đăng đã thực hiện tốt chính sách khách hàng, thực hiện phân khúc khách hàng từ đó có những cơ chế chính sách lãi suất ưu đãi, chính sách chăm sóc đối với từng đối tượng khách hàng khác nhau. Tại ngân hàng hiện nay đang phân thành 4 nhóm khách hàng sau:
- Khách hàng VIP: 5 tỷ trở lên.
- Khách hàng quan trọng: 1 tỷ trở lên
- Khách hàng thân thiết: 300 triệu trở lên
- Khách hàng phổ thông: Từ 300 triệu trở xuống
Thực hiện tốt chính sách sản phẩm như: Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ như: tiết kiệm trả lãi trước, trả lãi cuối kỳ, trả lại định kỳ hàng tháng, quý, năm, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, phát hành chứng chỉ tiền gửi, tiết kiệm dự thưởng, tiển gửi tích lũy, tiền gửi kết hợp với quyền lợi bảo hiểm nhằm khai thác tốt nguồn vốn trên thị trường với chi phí hợp lý nhất.
Ngoài ra có được những thành tựu huy động vốn trên còn phụ thuộc vào những điều kiện khách quan đưa đến một số thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của PGD. Kinh tế cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng đều có sự tăng trưởng nhiều năm liền, một vài khu công nghiệp được mở mới và những khu công nghiệp ngày càng thu hút được nhiều các TCKT trong và ngoài nước vào đầu tư. Mặt bằng thu nhập của người dân tăng, đời sống được nâng cao, khả năng tích lũy của dân cư cũng cao hơn và do nằm ở vị trí kinh doanh thuận lợi với số lượng phòng giao dịch nhiều nhất nằm dải rác trên địa bàn huyện. Với vị thế và uy tín ngày càng được nâng cao nên ngân hàng thu hút được một lượng khách hàng tiền gửi lớn trên địa bàn.
2.4.2. Tồn tại và hạn chế Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Qua quá trình nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hiệu quả công tác huy động vốn tại PGD Hải Đăng – Hải Phòng từ năm 2015 đến năm 2017 em đã đúc rút ra được một số kết quả nghiên cứu sau: Bên cạnh những thành tích mà Ngân hàng đã được trong công tác huy động vốn thì vẫn còn tồn tại một số những hạn chế như sau:
Quy mô huy động vốn ngày càng tăng nhưng thị phần vốn huy động chưa cao, chứng tỏ PGD mặc dù đã tập trung nhân lực, nguồn lực và kết hợp nhiều giải pháp nhưng năm năm vừa qua vẫn chưa có những bước tăng tốc đột phá trong công tác huy động vốn. Khoảng cách về tỷ lệ thị phần huy động vốn so với các PGD và chi nhánh của các ngân hàng khác trên cùng địa bàn vẫn còn nhỏ hơn, thị phần huy động vốn chưa tương xứng với tiềm năng của địa bàn.
Tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định qua các năm nhưng chưa cao và chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa bàn. Nguyên nhân chủ yếu là do PGD là kết quả của sự tách, nhập thay đổi từ các ngân hàng nên tròn quá trình chuyển đổi có những ảnh những nhất định. Tuy nhiên sau khoảng thời gian đó ngân hàng cũng đã có thể khẳng định vị thế của mình trên địa bàn có nhiều đối thủ cạnh tranh, và mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay. Mặt khác tính chủ động trong công tác huy động vốn chưa cao, việc huy động vốn của chi nhánh đa phần được thực hiện tại quầy hoặc qua điện thoại chứ cán bộ quan hệ khách hàng vẫn chưa thực sự chủ động đi ra ngoài tìm kiếm khách hàng.Vì vậy những năm đầu hoạt động của PGD rất khó khăn trong công tác tìm kiếm thu hút khách hàng và kết quả kinh doanh những năm đầu còn rất thấp.
Ban lãnh đạo ngân hàng là những cán bộ lãnh đạo trẻ đã rất chú trọng đến công tác huy động vốn, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh cho chi nhánh, những định hướng huy động vốn đôi khi còn chưa phù hợp. Những năm qua NIM huy động vốn của ngân hàng không cao hơn NIM huy động vốn bình quân của các ngân hàng khác và hiện đang có xu hướng giảm dần. Nguyên nhân một phần là do cơ cấu huy động vốn chưa thực sự hợp lý; ngân hàng chưa có giải pháp đồng bộ, hiệu quả để thu hút các TCKT, các cơ quan hành chính sự nghiệp, trường học… đặc biệt là các TCKT lớn có năng lực tài chính tốt, tiềm năng trên địa bàn có nhiều khu công nghiệp lớn mở tài khoản và sử dụng dịch vụ của ngân hàng để khai thác triệt nguồn vốn ngắn hạn, nguồn vốn có chi phí thấp. Mặt khác do Ban lãnh đạo chưa tạo được mối quan hệ tốt, cũng như chính sách chăm sóc khách hàng chưa đủ hấp dẫn đối với một số TCKT đã mở tài khoản tại PGD nhưng cũng mở cả tại các Ngân hàng khác nên các dòng tiền lớn lại chuyển về tài khoản tại NHTM khác. Cán bộ chi nhánh vẫn chưa chủ động, linh hoạt tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp mà vẫn còn tình trạng chờ khách tới và thực hiện theo yêu cầu của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Công tác nâng cao chất lượng sản phẩm và các tiện ích đi kèm vẫn luôn được ngân hàng quan tâm nhưng vẫn chưa đem lại hiệu quả cao là vì: Mặc dù danh mục sản phẩm dịch vụ huy động vốn của ngân hàng khá đa dạng, phong phú và phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng, tuy nhiên PGD vẫn chưa có cách thức thích hợp các sản phẩm dịch vụ riêng lẻ thành các gói sản phẩm đặc thù dành riêng cho từng phân khúc khách hàng. Nguyên nhân là do Ban lãnh đạo và nhân viên ngân hàng chưa thực sự quan tâm đến nhu cầu và nắm bắt tâm lý của từng đối tượng khách hàng, hàng năm chưa thực hiện công tác khảo sát lấy ý kiến khách hàng khi xây dựng và triển khai các sản phẩm tiền gửi.
PGD Hải Đăng chưa chủ động thực hiện linh hoạt chính sách khách hàng, còn phụ thuộc nhiều vào những chính sách quy định chung của hội sở chính mặc dù chính sách ấy chưa thực sự phù hợp khi áp dụng tại PGD Hải Đăng – Hải Phòng. Công tác chăm sóc khách hàng sau bán hàng chi nhánh gần như mới chỉ thực hiện công tác chăm sóc định kỳ, theo chương trình của hội sở chính như sinh nhật, ngày lễ, tết…Cán bộ quản lý khách hàng chưa chủ động tiếp cận, xây dựng mối quan hệ thân thiết để năm bắt toàn bộ nhu cầu của khách hàng từ đó tư vấn và bán chéo các sản phẩm, dich vụ của chi nhánh.
PGD Hải Đăng triển khai thực hiện chưa thực sự hiệu quả các kênh truyền thông để xây dựng và quảng bá hình ảnh, thương hiệu của HDbank trên địa bàn. Vì vậy khi nói đến HDbank còn rất nhiều người dân chưa biết đến. Nguyên nhân là do Ban lãnh đạo ngân hàng chưa thực sự quan tâm và đánh giá đúng tầm quan trọng của việc xây dựng và quảng bá hình ảnh, thương hiệu của chi nhánh qua việc sử dụng các kênh truyền thông hiện đại. Ngân hàng chưa có phòng marketing hoạt động độc lập nên việc nghiên cứu, phân tích thị trường, phân đoạn khách hàng chưa được thực hiện chuyên nghiệp, thiếu tính sáng tạo mới chỉ dừng ở những hình thức như khuyến mại, chưa chú trọng tới việc khuếch trương, quảng bá hình ảnh HDbank.
Nguồn nhân lực của PGD Hải Đăng đa phần là cán bộ trẻ, có trình độ năng lực, có tinh thần nhiệt huyết trong công việc nhưng lại thiếu kinh nghiệm trong xử lý nghiệp vụ và kỹ năng mềm còn hạn chế, chưa chuẩn hóa trong phong cách phục vụ, thiếu sự thân thiện đối với khách hàng. Nguyên nhân là do Ngân hàng đã chú trọng đến vấn đề tuyển dụng và đào tạo về trình độ nghiệp vụ, năng lực chuyên môn nhưng lại chưa chú trọng đào tạo các kỹ năng mềm cho toàn thể cán bộ nhân viên. Tuy nhiên trên thực tế thì cán bộ ngân hàng, đặc biệt là đội ngũ bán hàng lại rất cần phải nâng cao những kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng chuyên nghiệp, kỹ năng thuyết phục khách hàng, kỹ năng đàm phán, kỹ năng giải quyết xử lý khiếu nại…
Ngoài những hạn chế do những nguyên nhân chủ quan tại ngân hàng thì công tác huy động vốn nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng vẫn còn một số hạn chế do nguyên nhân khách quan từ bên ngoài gây ra như:
- Tâm lý thói quen dùng tiền mặt của người dân Việt Nam vẫn còn phổ biến, việc thanh toán qua ngân hàng còn hạn chế. Mặt khác các mối quan hệ mua bán trao đổi, mua bán trên thi trường trong và ngoài nước còn nhỏ lẻ và phân tán khiền cho việc áp dụng các kỹ thuật thanh toán hiện đại còn nhiều khó khăn.
- Điều kiện thị trường và áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngân hàng ở nước ta hiện nay áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt và diễn ra dưới nhiều hình thức. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các hệ thống ngân hàng thông qua việc mở rộng, thành lập các chi nhánh mới và tung ra nhiều hình thức gửi tiền với lãi suất và quà tặng hấp d ẫn mà còn có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng với các định chế tài chính khác như công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, tiết kiệm bưu điện… Việc thâm nhập vào thị trường Việt Nam của các Ngân hàng nước ngoài, cùng với việc ngày càng giảm dần sự ưu đãi của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng trong nước trước yêu cầu của hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung ngày càng gặp khó khăn hơn trước.
- Chính sách của Nhà nước còn chưa linh hoạt đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhất là trong hoạt động huy động vốn của PGD Hải Đăng, chẳng hạn như chính sách quản lý ngoại hối, chính sách quản lý lãi suất. Mặt khác khi Chính phủ thực hiện phát hành trái phiếu để huy động vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước, làm ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của các ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng HDBank
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao huy động vốn tại HDBank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan sự phát triển tại Ngân hàng HDBank