Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ứng dụng mô hình Logit nhằm nâng cao chất lượng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng quốc tế chi nhánh Hoàn Kiếm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB)

2.2.1. Khái quát về Ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB)

2.2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, tên viết tắt là Ngân hàng Quốc Tế (VIB) được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1996, trụ sở đặt tại 198B Tây Sơn Q. Đống Đa – Hà Nội. Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Đến 20/10/2011, sau 15 năm hoạt động, VIB đã trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 100 nghìn tỷ đồng, vốn điều lệ 4.250 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt trên 8.200 tỷ đồng. VIB hiện có 4.300 cán bộ nhân viên phục vụ KH tại 150 chi nhánh và phòng giao dịch tại trên 27 tỉnh/thành trọng điểm trong cả nước. Trong quá trình hoạt động, VIB đã được các tổ chức uy tín trong nước, nước ngoài và cộng đồng xã hội ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và giải thưởng, như: danh hiệu Thương hiệu mạnh Việt Nam, danh hiệu Ngân hàng có dịch vụ bán lẻ được hài lòng nhất, Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc, ngân hàng có chất lượng dịch vụ KH tốt nhất, đứng thứ 3 trong tổng số 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam về doanh thu do báo VietnamNet bình chọn…

Năm 2010 ghi dấu một sự kiện quan trọng của VIB với việc Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia (CBA) –Ngân hàng bán lẻ số 1 tại Úc và là Ngân hàng hàng đầu thế giới với trên 100 năm kinh nghiệm đã chính thức trở thành cổ đông chiến lược của VIB với tỉ lệ sở hữu cổ phần ban đầu là 15%. Sau một năm chính thức trở thành cổ đông chiến lược của VIB, ngày 20/10/2011, CBA đã hoàn thành việc đầu tư thêm 1.150 tỷ đồng vào VIB, tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần của CBA tại VIB từ 15% lên 20% nhằm tăng cường cơ sở vốn, hệ số an toàn vốn, mở rộng cơ hội kinh doanh và quy mô hoạt động cho VIB. Mối quan hệ hợp tác chiến lược này tạo điều kiện cho VIB tăng cường năng lực về vốn, công nghệ, quản trị rủi ro … để triển khai thành công các kế hoạch dài hạn trong chiến lược kinh doanh của VIB và đặc biệt là nâng cao chất lượng Dịch vụ KH hướng theo chuẩn mực quốc tế.

2.2.1.2. Tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi, chiến lược kinh doanh của VIB

Mục tiêu của ngân hàng VIB đó là: “VIB trở thành một trong ba ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam vào năm 2013”. Đây là một mục tiêu hết sức rõ ràng, cụ thể và táo bạo. Nó thể hiện quyết tâm của Ban lãnh đạo cũng như toàn thể nhân viên của ngân hàng trong thời kỳ mà các ngân hàng khác đang đổi mới mạnh mẽ.

Là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc cải tổ hoạt động kinh doanh, VIB luôn định hướng lấy KH làm trọng tâm, lấy chất lượng dịch vụ và giải pháp sáng tạo làm phương châm kinh doanh với quyết tâm “trở thành ngân hàng luôn sáng tạo và hướng đến KH nhất tại Việt Nam”. Một trong những sứ mệnh được ban lãnh đạo VIB xác định ngay từ ngày đầu thành lập là “Vượt trội trong việc cung cấp các giải pháp sáng tạo nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu KH”. Do vậy, hiện VIB đã và đang tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, cùng năng lực quản trị điều hành, tiếp tục chú trọng phát triển mạng lưới ngân hàng bán lẻ và các sản phẩm mới thông qua các kênh phân phối đa dạng để cung cấp các giải pháp tài chính trọn gói cho các nhóm KH trọng tâm, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ KH ngày càng tốt hơn.

Ngân hàng quốc tế VIB – chi nhánh Hoàn Kiếm, hay gọi tắt là VIB Hoàn Kiếm, được thành lập vào 27/12/2004, là một trong 35 chi nhánh tại Hà Nội. VIB – chi nhánh Hoàn Kiếm được thành lập do nhu cầu phát triển thị trường của VIB, đáp ứng yêu cầu phát triển của 1 doanh nghiệp, và trên cơ sở nhu cầu thực tế của thị trường đối với những sản phầm tài chính mà VIB phục vụ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng Quốc tế VIB trong những năm qua Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

2.2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng

Sau 15 năm hoạt động, ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB) đã đạt được nhiều thành công và tạo được dựng được hình ảnh một ngân hàng hiện đại và chuyên nghiệp. Thông qua các con số, và biểu đồ tăng trưởng ta có thế thấy được điều đó. Ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng của Tổng tài sản, Vốn chủ sở hữu và Vốn điều lệ đều có tốc độ tăng trưởng vượt bậc vào giai đoạn năm 2005 và năm 2007 ( trung bình trên 330%) . Có thể thấy Ban lãnh đạo ngân hàng cùng toàn bộ nhân viên đã nắm bắt và tận dụng thành công giai đoạn phát triển chung của toàn thị trường khi mà thị trường ngân hàng và chứng khoán bùng nổ. Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Biểu đồ 2.1 Kết quả hoạt động của Ngân hàng Quốc tế qua các năm

Theo phân tích của công ty chứng khoán Vietcombank – Báo cáo đánh giá một số tổ chức tín dụng thì Ngân hàng VIB được xếp vào nhóm 2 (Nhóm các ngân hàng trung bình gồm VIB, SHB và Seabank, Oceanbank, Liên Việt Bank) thì VIB là ngân hàng có tổng tài sản (96.950 tỷ đồng) và vốn chủ sở hữu (8.160 tỷ đồng) lớn nhất nhóm này. Không chỉ vậy mà VIB còn dẫn đầu nhóm này cả trong huy động và cho vay, song tốc độ tăng trưởng huy động đạt thấp 4.8%.

Biểu đồ 2.2 Biểu đồ so sánh hoạt động tín dụng và huy động của các ngân hàng

Theo đánh giá của em thì kết quả trên xuất phát từ một số nguyên nhân khách quan và chủ quan như ảnh hưởng từ tình hình kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ chắt chặt, cộng với việc các chỉ tiêu kinh doanh chưa được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

Theo phân tích bà Dương Thị Mai Hoa, tổng giám đốc ngân hàng VIB, thì nếu phân tích các con số thì chúng ta sẽ thấy được nhiều dấu hiện tích cực. Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng tín dụng chỉ đạt hơn 4% nhưng đây lại là một con số phù hợp với khả năng quản trị rủi ro và là tỷ lệ đảm bảo an toàn cho VIB khi rất nhiều hệ quả của việc tăng trưởng tín dụng quá nhanh mà ta thấy sau từu 1 – 2 năm. Đồng thời, việc tăng vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu cùng với việc đầu tư thêm 1.150 tỷ đồng của Common-wealth Bank of Australia (CBA) – cổ đông chiến lược nước ngoài chúng tỏ sức hút và tiềm năng lớn của VIB trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài.

2.2.2.2. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Trong xu hướng chuyển dịch chung của hệ thống ngân hàng trong nước – đó là đưa nhóm KH cá nhân trở thành thành KH mục tiêu của ngân hàng – ngân hàng VIB cũng đưa KH cá nhân trở thành mục tiêu mũi nhọn của mình. Điều này có thể thấy rõ khi mà ngân hàng VIB bổ nhiệm ông Richard Harris – chuyên gia CBA sang Việt Nam theo chương trình chuyển giao năng lực (CTP), khi mà CBA trở thành cổ đông chiến lược của VIB – đảm nhận chức vụ Giám đốc Khối Ngân hàng Bán lẻ. Điều này cho thấy rõ chiến lược của VIB đưa dịch vụ ngân hàng bán lẻ trở thành một trọng tâm trong quá trình phát triển và hướng dịch vụ này theo tiêu chuẩn quốc tế.

Cùng với đó, VIB đã áp dụng nhiều thay đổi quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Khối Ngân hàng bán lẻ để đảm bảo hiệu quả hoạt động các Phòng ban và đơn vị kinh doanh. VIB tiếp tục chuyển đổi thành công mô hình bán hàng và dịch vụ mới và đầu tư mạnh mẽ mở rộng hệ thống mạng lưới dịch vụ để đến gần KH hơn, nâng cao khả năng phục vụ nhu cầu KH một cách tối đa. Hệ thống đánh giá và quản trị hiệu quả làm việc đã được triển khai giúp cán bộ nhân viên đánh giá chính xác được hiệu quả công việc mà họ đạt được nhằm xây dựng văn hóa lấy hiệu quả công việc làm trọng tâm và lấy sự hài lòng của KH làm thước đo thành công.

Sơ đồ 2.1 Các sản phẩm dành cho khách hàng cá nhân của ngân hàng Quốc tế

Nguồn: Tài liệu đào tạo nội bộ và website của ngân hàng về sản phẩm dịch vụ Là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên áp dụng mô hình kênh phân phối phi vật lý cùng với định hướng trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu thị trường và cung cấp dịch vụ không hạn chế về không gian và thời gian cho KH, VIB đã không ngừng nỗ lực mở rộng phạm vi phục vụ KH thông qua kênh giao dịch trực tuyến và mạng lưới ATM.

Biểu đồ 2.5 Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch và ATM của 12 NH lớn trong 2010

2.2.2.3. Dịch vụ ngân hàng bán buôn – Khối KH doanh nghiệp: Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Mảng dịch vụ KH doanh nghiệp (KHDN) luôn là thế mạnh và đóng góp một phần rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của VIB. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, đồng thời để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang hoạt động ở Việt Nam.

Sơ đồ 2.2 Các sản phẩm dành cho khách hàng DN của ngân hàng Quốc tế

Nhóm KH FDI và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME): Hai nhóm KH mà VIB đang đặc biệt hướng tới trong những năm qua đó là nhóm KH doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Với những nỗ lực, chỉ qua 3 năm 2009, 2010 và 2011 VIB đã bắt đầu bứt phá và khẳng định vị thế trên thị trường với việc phục vụ hơn 5000 KH doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) mới, năng tổng số KH doanh nghiệp của VIB lên hơn 20.000 doanh nghiệp. Bên cạnh đó VIB không ngừng nâng cao năng lực trong việc phục vụ các KH doanh nghiệp lớn có chọn lục. Các chính sách sản phẩm và dịch vụ được phát triển, thiết kế phù hợp nhằm phục vụ theo đặc thù nhu cầu của các doanh nghiệp, trong đó chất lượng dịch vụ tập trung ưu tiên đặt lên hàng đầu.

Dịch vụ thanh toán quốc tế hiện đại: Với mô hình thanh toán tập trung hiện đại, VIB liên tục cải tiến chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đặc biệt trong năm 2011 vừa qua, VIB tiếp tục đầu tư công nghệ, trag thiết bị và đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm với mạng lưới ngân hàng đại lý uy tín rộng khắp toàn cầu. Với nguồn vốn ngoại tệ dồi dào, VIB đã cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế chất lượng cao cho các doanh nghiệp như: chuyển tiền quốc tế nhanh, phát hành, thanh toán thư tín dụng xuất khẩu, nhờ thu xuất khẩu và phát hành bảo lãnh đối ứng nước ngoài…

Quản lý dòng tiền ngày càng hiệu quả cho doanh nghiệp:

Những gói giải pháp quản lý dòng tiền gồm quản lý các khoản phải thu, quản lý các khoản phải chi và quản lý tài khoản tập trung được VIB thiết kế để phục vụ theo đặc thù của từng doanh nghiệp phương châm: KH chỉ cần giao dịch với duy nhất một ngân hàng cho tất cả yêu cầu quản lý thanh khoản.

Ngoài những nỗ lực phục vụ doanh nghiệp ngày một tốt hơn, VIB còn xây dựng những chính sách, ưu đãi để cung cấp một dịch vụ toàn diện cho cán bộ nhân viên doanh nghiệp với Dịch vụ Gói trả lương đa tiện ích Payroll. Tính đến cuối năm 2011, đã có hơn 600 doanh nghiệp mới sử dụng dịch vụ này, nâng tổng số doanh nghiệp sử dụng Payroll lên 2.000 doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Ngân hàng trực tuyến VIB4U: Số lượng doanh nghiệp sử dụng dịch vụ

Ngân hàng trực tuyến VIB4u ngày càng tăng lên. Năm 2011 có gần 1.000 doanh nghiệp mới sử dụng, nâng tổng số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ này tại VIB lên 5.000 doanh nghiệp. Bên cạnh việc không ngừng nỗ lực cải tiến chất lượng, công nghệ để phục vụ KH SME, năm 2011 đánh dấu một bước tiến lớn của dịch vụ Ngân hàng trực tuyến VIB4U với việc triển khai thành công dịch vụ đối với các KH doanh nghiệp lớn, điển như: Tổng Công ty bảo hiểm AAA, Tổng Công ty Tin học HPT, Parkson Việt nam. Đồng thời, VIB cũng đưa ra các giải pháp đồng bộ, tích hợp quản lý dòng tiền và thanh khoản của doanh nghiệp dưới dạng gói sản phẩm, đáp ứng các mô hình công ty Mẹ – Con, Tổng Công ty – Công ty thành viên

2.2.2.4. Quản trị rủi ro:

Trong bối cảnh nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam gia tăng nhanh chóng ảnh hưởng đến hoạt động an toàn của hệ thống, vấn đề Quản trị rủi ro đã được Ban lãnh đạo VIB đặt lên hàng đầu. Giữ được chất lượng tín dụng tốt, kiểm soát được nợ xấu và ngăn chặn được rủi ro hoạt động do các hành vi gian lận, lừa đảo, vi phạm đạo đức nghề nghiệp v.v… VIB sẽ trở nên an toàn hơn để đảm bảo phát triển bền vững trong những năm qua. Cùng với sự hỗ trợ thông qua chuyển giao năng lực từ cổ đông chiến lược CBA – một trong những Ngân hàng an toàn hàng đầu thế giới – VIB đang ngày càng hoàn thiện về cấu trúc, khung và chính sách quản trị rủi ro.

Quản lý rủi ro tín dụng: Nhận diện được những rủi ro và nguy cơ từ thị trường có thể ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động cấp tín dụng và gây ra nguy cơ tổn thất cho VIB, Hội đồng quản trị và Ban điều hành VIB đã chú trọng đẩy mạnh công tác quản trị rủi ro tín dụng trên toàn hệ thống. Dự án Rà soát Danh mục tín dụng của VIB đã được thực hiện bởi Công ty Kiểm toán Ernst & Young và dưới sự giám sát của các chuyên gia tư vấn đến từ CBA. Phạm vi công việc của dự án là rà soát toàn bộ danh mục tín dụng và kiểm tra các quy trình cấp tín dụng của VIB nhằm cung cấp những đánh giá độc lập về danh mục tín dụng của ngân hàng, xác định những điểm yếu làm suy giảm chất lượng tín dụng và tăng nợ xấu cần phải khắc phục trong thời gian tới.

Quản lý rủi ro hoạt động (QTRRHĐ): Mô hình quản trị rủi ro hoạt động được triển khai theo mô hình 3 tầng bảo vệ.

Tầng bảo vệ thứ nhất: Được thực hiện tại các đơn vị trực tiếp kinh doanh và các bộ phận hỗ trợ vận hành.

Tầng bảo vệ thứ hai: Được Được thực hiện tại các đơn vịquản lý trong đó phòng QLRRHĐ được tăng cường vai trò quản lý và là đơn vị chịu trách nhiệm chính, làm đầu mối phối hợp quản lý, kiểm tra hoạt động của các đơn vị trực tiếp kinh doanh.

Tầng bảo vệ thứ ba: Được thực hiện bởi bộ phận kiểm toán nội bộ, thực hiện chức năng kiểm soát rủi ro độc lập, không tham gia hoạt động tác nghiệp và quản lý điều hành VIB đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong công tác QLRRHĐ như: Tổ chức rà soát, chỉnh sửa các quy trình quy định nội bộ nhằm phòng ngừa lỗ hổng gây rủi ro hoạt động; Chỉnh sửa bộ quy trình quy định hoạt động phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và trừng phạt kinh tế thương mại (AML/CTF/ETS) nhằm tuân thủ theo các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước …

2.2.3. Thực trạng hoạt động XHTD doanh nghiệp tại ngân hàng Quốc tế (VIB) Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

2.2.3.1. Văn bản quy định về xếp hạng tín dụng của ngân hàng Quốc tế

Hoạt động xếp hạng tín dụng của ngân hàng Quốc tế – VIB được thực hiện theo quy định số 203/2009/QĐ-VIB ngày 02/02/2009, ngoài ra còn căn cứ theo Quy chế Cho vay số 1356/2006/QC-VIB ngày 23/05/2006 của Hội đồng quản trị và được sửa đổi theo quyết định số 4862/2007/QĐ-VIB ngày 29/11/2007. Quy định này quy định gồm cả XHTD cá nhân và XHTD doanh nghiệp.

Tại quy định này, các khía cạnh cơ bản nhất của hoạt động xếp hạng tín dụng đều được nêu rõ như: Khái niệm XHTD, đối tượng và phạm XHTD, mục đích XHTD, các nguyên tắc XHTD, đồng thời quy định còn nêu rõ việc cho điểm tín dụng căn cứ vào các tiêu chí nào, các tiêu chí đó được xác định ra sao, thang điểm được xác định và cho ra sao. Và phần quan trọng nhất đó là xác định việc xếp loại KH căn cứ vào điểm tín dụng.

Bảng 2.7 Bảng phân loại XHTD DN của ngân hàng Quốc tế

Việc XHTD doanh nghiệp của ngân hàng VIB được thực hiện thông qua hệ thống phần mềm trong hệ thống nội bộ của ngân hàng. Các Quan hệ KHDN sau khi tiến hành thu thập thông tin tài chính và phi tài chính của KH sau đó sẽ nhập thông tin vào hệ thống nội bộ sau đó hệ thống sẽ trả về kết quả. Ngoài lần chấm lần đầu, số lần tối đa được sửa đối với mỗi KH là 2 lần sau đó việc chấm điểm và xếp hạng buộc phải thực hiện duyệt điểm. Việc xác nhận thông tin tài chính của KH chỉ được thực hiện duy nhất 1 lần. Điều này tăng tính khách quan của mô hình xếp hạng và kết quả xếp hạng.

Sơ đồ 2.3 Quy trình chấm điểm khi sử dụng phần mềm chấm điểm tại VIB

2.2.3.3. Quy trình chấm điếm tín dụng tại ngân hàng Quốc tế (VIB) Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Hệ thống mới này chia theo 3 đối tượng: KH doanh nghiệp; KH cá nhân và KH định chế tài chính, với 70 bộ chỉ tiêu xếp hạng tín dụng. Việc chấm điểm tín dụng KHDN được phân chia thành 2 nhóm KH: Nhóm 1 gồm các doanh nghiệp quy mô lớn, trung bình và nhỏ, nhóm 2 là các doanh nghiệp siêu nhỏ.

Các bước thực hiện:

  • Bước 1: Xác định ngành kinh tế: Việc xác định ngành nghề kinh doanh dựa vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà đem lại tổng doanh thu trong 3 năm liên tục của KH hoặc ngành mà DN có tiềm năng phát triển nhất trong các ngành mà DN có tiềm năng phát triển.
  • Bước 2: Xác định quy mô: Quy mô dựa trên các chỉ tiêu: Vốn chủ sở hữu, Số lao động, Doanh thu thuần, Tổng tài sản. Mỗi chỉ tiêu được tính trên thang điểm 1 -8 điểm. Quy mô của KH sẽ được xác định trên cơ sở điểm tổng hợp của 4 tiêu chí trên. Quy mô lớn từ 22 -32 điểm, Quy mô trung bình 12 – 21 điểm, Quy mô nhỏ từ 11 – 6 điểm.
  • Bước 3 – Xác định loại hình sở hữu của Doanh nghiệp
  • Bước 4 – Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính: Chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, Chỉ tiêu thu nhập.
  • Bớc 5 – Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính gồm: Chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ của KH, Chỉ tiêu trình độ quản lý và mô trường nội bộ doanh nghiệp, Chỉ tiêu quan hệ với ngân hàng, Chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng đến ngành kinh doanh, Chỉ tiêu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
  • Bước 6 – Tổng hợp điểm và xếp hạng tín dụng: Điểm KH = Điểm các tiêu chí tài chính * Trọng số phần tài chính + Điểm các tiêu chí phi tài chính * Trọng số phần phi tài chính

Quy trình giám sát:

Tại Chi nhánh, đơn vị xếp hạng:

Quản lý Quan hệ KH thực hiện nhập thông tin chấm điểm. Trưởng Chi nhánh, đơn vị kinh doanh duyệt thông tin chấm điểm và chịu trách nhiệm cuối cùng trước các thông tin đầu vào chấm điểm xếp hạng tín dụng KH. Trưởng Chi nhánh chịu trách nhiệm rà soát lại kết quả chấm điểm tín dụng, xếp loại KH, kiểm soát và phê duyệt kết quả xếp hạng.

Tại phòng Giám sát tín dụng:

Tập hợp kết quả chấm điểm tín dụng, lập báo cáo phân loại phục vụ công tác trích lập dự phòng rủi ro và các mục đích khác theo yêu cầu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Tại phòng chính sách tín dụng: Lập báo cáo kết quả triển khai xếp hạng của toàn hệ thống, đánh giá và đề xuất điều trỉnh bổ sung, sửa đổi nội dung và tỷ trọng các bộ tiêu chí của Hệ thống xếp hạng tín dụng trình Hội đồng quản trị.

Bộ tiêu chí đánh giá: Chỉ tiêu dùng để xếp hạnh tín dụng KH của VIB được chia thành 2 nhóm lớn: Chỉ tiêu tài chính và Chỉ tiêu phi tài chính. Bộ chỉ tiêu của VIB gồm 70 chỉ tiêu.

Các chỉ tiêu tài chính gồm các hệ số phản ảnh về khả năng thanh toán, chỉ tiêu hoat động, chỉ tiêu cân nợ và chỉ tiêu thu nhập. Các hệ số của các nhóm chỉ tiêu này là các hệ số quen thuộc theo lý thuyết thông thường.

Nhóm chỉ tiêu phi tài chính: bao gồm chỉ tiêu phản ảnh khả năng trả nợ; chỉ tiêu về trình độ quản lý và mô trường nội bộ doanh nghiệp, chỉ tiêu quan hệ KH; Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành; Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp. Các nhóm chỉ tiêu này được chia làm 3 nhóm nhỏ dựa trên nguồn thông tin nhập vào hệ thống: Nhóm chỉ tiêu nhập thông tin từ bên ngoài bằng tay sau đó hệ thống sẽ tín toán dựa trên công thức có sẵn (34 chỉ tiêu), Nhóm chỉ tiêu lấy từ hệ thống cơ sở dữ liệu của VIB (11 chỉ tiêu), Nhóm các chỉ tiêu lựa chọn (57 chỉ tiêu).

Chỉ tiêu phản ảnh khả năng trả nợ như: tỷ trọng doanh thu chuyển qua VIB, Thu nhập thuần dự kiến, Chi phí khấu hao dự kiến, Vốn vay trung dài hạn đầu tư TSDH, tiền các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu có thể chuyển đổi thành tiền trong 06 tháng, ROA, ROE bình quân cả năm, 3 năm gần nhất, mức độ bảo hiểm tài sản, nguồn trả nợ…

Chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý: Đánh giá định tính về năng lực của chủ sở hữu (vốn, quản trị điều hành, kinh nghiệm), lý lịch tư pháp, số năm kinh nghiệp người quản lý trong lĩnh vực kinh doanh, trình độ học vấn, quan hệ của Ban lãnh đạo với cơ quan chủ quản, tổ chức phòng ban,, môi trường nhân sự, mục tiêu kinh doanh, thiện chí trả nợ, chiến lược Marketing …

Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành: triển vọng của ngành, chính sách của chính phủ, nhà nước, đánh giá rủi ro gián đoạn hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành, …

Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp: vị thế cạnh tranh, quyền sở hữu đối với địa điểm kinh doanh, sự ổn định của đầu ra, sự phụ thuộc của đầu vào, đánh giá về công tác xử lý chất thải và giảm thiểu ô nhiễm, ….

Sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng:

  • Là căn cứ để áp dụng các chính sách tín dụng khác nhau: mỗi nhóm KH sau khi được phân loại sẽ được ngân hàng VIB áp dụng các chính sách tín dụng về: chính sách tiếp thị KH, chính sách cấp tín dụng ( sản phẩm dịch vụ, hạn mức, thời gian phê duyệt), chính sách lãi suất ( KH có XHTD càng cao càng được hưởng ưu đãi về lãi suất với việc được áp dụng mức sinh lời tối thiểu nhỏ nhất), chính sách bảo đảm tiền vay, chinh sách về dịch vụ, phí dịch vụ, chính sách tiền gửi.
  • Là căn cứ đế xác định giới hạn của tỷ lệ tài sản bảo đảm từ đó xác định giới hạn của hạn mức tín dụng được cấp.
  • Là căn cứ để ra quyết định từ chối hay đồng ý cấp tín dụng cho KH.
  • Đánh giá hiện trạng KH trong quá trình theo dõi vốn vay, và trích lập dự phòng rủi ro…

2.2.4. Những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của hoạt động XHTD tại ngân hàng Quốc tế (VIB) Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

2.2.4.1. Những kết quả đạt được:

Trong giai đoạn từ năm 2006 – 2008, ngân hàng Quốc tế thực hiện chấm điểm, XHTD cho KH theo 2 bộ chỉ tiêu đơn giản dành cho đối tượng KH cá nhân và KH doanh nghiệp. Từ tháng 01/2009, ngân hàng Quốc tế (VIB) đã áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng mới với 70 bộ chỉ tiêu xếp hạng tín dụng. Hệ thống xếp hạng mới ra đời với sự giúp đỡ xây dựng của công ty kiểm toán Ernst & Young đã góp phần đáng kể trong việc sàng lọc và phân loại KH. Kết quả XHTD được nhà quản trị sử dụng để xác định mức giới hạn tín dụng tối đa cho từng KH, quy định về tài sản đảm bảo. Các mặt đã làm được của hệ thống xếp hạng hiện tại đó là:

Hệ thống xếp hạng là hiện đại và đã cố gắng khắc phục được chủ quan trong chấm điểm các chỉ tiêu định lượng bằng cách đưa vào các chỉ tiêu phi tài chính. Hệ thống chấm điểm và xếp hạng được thực hiện tự động thông qua phần mền trên hệ thống sau khi được Quan lý Quan hệ KH nhập thông tin. Điều này làm giảm sự sai sót trong quá trình tính toán và tiết kiệm thời gian của việc xếp hạng. Đồng thời việc nhập thông tin tài chính chỉ được thực hiện một lần, và tối đa việc sửa đổi thông tin khác không quá hai lần, điều này làm cho việc chấm điểm tránh được tình trạng cán bộ cố tình làm sai, sửa đổi thông tin để có được kết quả chấm điểm và xếp hạng cao. Điều này làm tăng tính khách quan của mô hình và độ tin cậy trong việc chấm điểm.

Ngân hàng VIB đã xây dựng được một hệ thống XHTD đồng bộ với khung pháp lý quy định, phân chia quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, phòng ban trong việc xếp hạng tín dụng, và giám sát tính chính xác trong việc xếp hạng đó. Đặc biệt là xây dựng được quy trình phê duyệt điểm xếp hạng thông qua phần mền mạng nội bộ của ngân hàng một chi tiết và đưa ra một cuốn sổ tay hướng dẫn chấm điểm. Ngoài việc có một quy trình chuẩn trong việc chấm điểm cho từng khách, ngân hàng còn có hệ thống báo cáo tổng hợp xếp hạng của toàn bộ KH của hệ thống để đánh giá, xem xét mức độ rủi ro và đưa ra giải pháp.

Các chỉ số tài chính là các chỉ số phản ảnh tổng quát hiện trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ số phi tài chính đa dạng phong phú, số lượng các chỉ tiêu lớn, đã đưa được một số biến phi tài chính mới có ý nghĩa vào trong mô hình xếp hạng. Đặc biệt có một số biến mà hiện nay các mô hình hiện đại đưa vào như: Mức độ bảo hiểm tài sản, Quyền sở hữu đối với địa điểm kinh doanh, đánh giá về công tác xử lý chất thải và giảm mức độ ô nhiễm…Điều này cho phép mô hình xếp hạng có nhiều thông tin về KH hơn để đánh giá và đưa ra một kết quả xếp hạng có độ tin cậy cao hơn và hợp lý nhất đối với KH.

Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ tối đa cho công tác chấm điểm. Kết quả chấm điểm của KH được lưu trong hệ thống mạng nội bộ của ngân hàng và kết quả đó được sử dụng chung trong toàn hệ thống, làm cho việc giao dịch của KH mở mọi nơi trong hệ thống đều được thông suốt và nhanh chóng.

Ngoài việc xây dựng hệ thống hoàn thiện, thì ngân hàng Quốc tế – VIB còn tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về hoạt động xếp hạng tín dụng, phân tích đánh giá doanh nghiệp như: phân tích báo cáo tài chính ngắn hạn, phân tích và quản lý nhóm nợ và NPL… cho các nhân viên tín dụng, nhằm năng cao vốn kiến thức lý thuyết cũng như thực tế giúp các cán bộ tín dụng này đánh giá doanh nghiệp một cách chính xác và trung thực hơn.

2.2.4.2. Những khó khăn và tồn tại Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Độ tin cậy của nguồn thông tin đầu vào: Kết quả của việc xếp hạng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào các thông tin về KH khi nhập vào hệ thống. Kết quả xếp hạng có khách quan và phản ảnh có xác thực tình trạng trả nợ của KH phụ thuộc vào chất lượng thông tin. Thông tin dùng để xếp hạng KH theo nguồn nhập vào hệ thống xếp hạng của VIB ta có thể chia thành 3 nhóm: nhóm thứ nhất thông tin cứng do KH cung cấp (như thông tin tài chính) được Quan hệ KH nhập vào, thông tin trong hệ thống của VIB và thông tin dựa trên đánh giá của chính người xếp hạng… Qua phân tích ta thấy, từ người cung cấp thông tin (KH) đến người nhập thông tin vào hệ thống đều có động cơ làm sai lệnh các chỉ tiêu chấm điểm, dẫn đến kết quả xếp hạng tín dụng sai lệch.

Nguồn thông tin do KH cung cấp: Ta thấy rằng KH luôn mong muốn vay được vốn của ngân hàng với lãi suất thấp nhất, bởi vậy khi muốn vay vốn họ luôn cung cấp các thông tin có lợi nhất cho mình nhằm có được xếp hạng cao để hưởng những ưu đãi tín dụng, đồng thời trong quá trình vay vốn, họ cũng che dấu các thông tin về tình trạng kinh doanh yếu kém nhằm trốn nợ. Đối với thực tế tại ngân hàng Quốc tế (VIB) – Chi nhánh Hoàn Kiếm, sau thời gian thực tập em thấy, hầu hết các doanh nghiệp có quan hệ doanh nghiệp tại chi nhánh đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số năm hoạt động từ 2 – 5 năm, có hệ thống kế toán kiểm toán manh mún, việc ghi chép số liệu mang tính tường thuật. Đồng thời, các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp trong hồ sơ vay vốn hầu như không được kiểm toán, đều là các báo cáo tài chính nội bộ, hoàn toàn có thể được thay đổi bởi Doanh nghiệp mà không gặp khó khăn nào. Khi Chi nhánh Hoàn Kiếm yêu cầu họ cung cấp thông tin tài chính, để tăng tính trách nhiệm, ngân hàng chỉ yêu cầu doanh nghiệp đóng dấu giáp lai lên báo cáo của mình. Vậy ta thấy thông tin tài chính KH cung cấp không thực sự đáng tin cậy. Ngoài báo cáo tài chính thì Ngân hàng Quốc tế – VIB còn yêu cầu KH cung cấp Báo cáo thuế hàng tháng, Các hợp đồng kinh tế có giá trị lớn và hóa đơn giá trị gia tăng, tờ khai hải quan…song hầu hết các báo cáo này nhằm mục đích đánh giá xem doanh nghiệp có thực sự hoạt động không, mức độ hoạt động ra sao và có uy tín với bạn hàng hay không? Báo cáo thuế hàng tháng nhằm đánh giá doanh thu, chi phí của doanh nghiệp. Song nó không cho ta biết độ chính xác của các chỉ số tài chính.

Nguồn thông tin do CBTD nhập vào hệ thống: Còn đối với cán bộ tín dụng, người trực tiếp nhập thông tin của KH vào hệ thống, thì ngoài áp lực doanh số, đồng thời có thể do những lợi ích mà việc cho KH vay vốn ở thời điểm chấm điểm, hoặc do trình độ còn hạn chế thì họ có thể nhập vào hệ thống những thông tin sai lệch do cố tình hoặc vô tình dẫn đến kết quả xếp hạng không đúng thực tế…Ngoài các thông tin được nhập vào hệ thống còn nhiều bất cập thì việc chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính còn mang nhiều tính chủ quan của cán bộ chấm điểm, các tiêu chí chấm còn chung chung và người chấm có thể biết ngay chỉ tiêu như thế nào là một kết quả tốt khi cho điểm phi tài chính. Bởi rất nhiều chỉ tiêu phân cấp thành tốt, không tốt; hay rất phát triển, phát triển, kém phát triển, khó, rất khó, hay ổn định, không ổn định… Ngoài ra, có nhiều chỉ tiêu cán bộ tín dụng cũng không chắc chắn về thang chấm do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế như các chỉ tiêu về đánh giá ảnh hưởng của ngành, chính sách chỉnh phủ…

Sự ổn định của hệ thống phần mềm: Hệ thống phần mềm là trợ thủ đắc lực cho công tác chấm điểm xếp hạng, song việc thiết kế hệ thống phần mềm của ngân hàng chưa thực sự hiệu quả. Trong quá trình XHTD, phần mềm hay xảy ra lỗi trong quá trình nhập thông tin, làm thông tin phải nhập lại nhiều lần, hoặc đường truyền của hệ thống yếu làm, dẫn đến khi nhập xong không gửi thông tin lên hệ thống được, hệ thống yêu cầu nhập lại. Phần mềm được xây dựng để chấm điểm cho tất cả các doanh nghiệp, các chi tiêu được liệt kê đây đủ không được chọn lọc theo đặc thù riêng của từng ngành, dân đến tình trạng nhiều chỉ tiêu không có đối với doanh nghiệp đó nhưng phần mềm vẫn yêu cầu phải nhập thông tin, làm tổn nhiều thời gian.

Quy trình kiểm soát còn rờm rà: Quy trình kiểm soát thông tin nhập vào hệ thống còn rờm rà, chưa giải quyết nhanh chóng các lỗi phát sinh khi nhập thông tin, mang nhiều tính thủ tục, từ đó làm giảm hiệu quả và tính nhahn nhạy của việc CHT.

Vấn đề xếp hạng định kỳ: Việc tuân thủ xếp hạng định kỳ của chấm điểm tín dụng tại chi nhánh Hoàn Kiếm chưa được chấp hành nghiêm chỉnh. Theo quy định của Ngân hàng Quốc tế thì việc chấm điểm KH được thực hiện định kỳ theo Quý (nếu KH còn đang giao dịch tín dụng với ngân hàng). Song hầu như các doanh nghiệp cũng chưa cung cấp các báo cáo tài chính kịp thời theo từng quý, đồng thời mức độ đốc thúc từ cán bộ tín dụng cũng không quyết liệt. Hơn nữa, ngân hàng cũng không có chế tài và quy định cụ thể nếu KH không cung cấp đầy đủ thông tin hàng quý. Điều này làm cho việc đánh giá KH không được liên tục, kịp thời khó có thể phản ứng kịp thời nếu tình trạnh trả nợ của doanh nghiệp bị giảm sút. Ngân hàng chỉ có biện pháp yêu cầu KH cung cấp thông tin khi có nghi ngờ về nợ KH. Tức biện pháp mang tính đơn lẻ, không được quy định cụ thể trong các quy định. Điều này làm giảm khả năng dự báo rủi ro không trả nợ từ KH từ đó làm tăng nguy cơ mất vốn đối với ngân hàng Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Việc chấm điểm tín dụng của KH mang tính thời điểm: Các kết quả xếp hạng tín được thực hiện tại thời điểm KH có nhu cầu vay vốn hoặc định kỳ (theo quy định), song chưa có một bảng phân tích xu hướng điểm tín dụng của KH. Việc chấm điểm và xếp hạng như vậy chỉ cho biết tình trạng hiện tại của KH mà không biết được chiều hướng phát triển hay giảm sút trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đề ra biện pháp phòng ngừa và bảo toàn vốn cho ngân hàng.

Giám sát kiểm tra kết quả xếp hạng tín dụng: Kết quả XHTD được trả về khi có sự phê duyệt của Trưởng đơn vị kinh doanh (Giám đốc KHDN của Chi nhánh). Song việc giám sát thông tin nhập hệ thống, kiểm tra tính xác thực của thông tin cũng là Trưởng đơn vị kinh doanh. Điều này có thể làm này sinh tình trạnh Giám đốc KHDN chấp nhận những thông tin không chính xác của KH. Từ đó ta thấy việc kết luận xếp hạng tín dụng của KH hầu như phụ thuộc vào quyết định của Trưởng đơn vị, đây là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro khi Trưởng đơn vị kinh doanh cố tình làm sai.

Ngân hàng hiện nay chưa thực hiện được việc tính toán các hệ số tài chính trung bình ngành, nhóm ngành, do đó việc so sánh đánh giá các doanh nghiệp ở các ngành còn khó khăn, chưa thể hiện đúng đặc điểm của từng doanh nghiệp. Bởi vì, mỗi doanh nghiệp thuộc những ngành khác nhau đều có đặc trưng riêng so với doanh nghiệp khác. Tuy đây là một công tác rất khó khăn đối với Ngân hàng Quốc tế cũng như đối với cả các cơ quan quản lý Việt Nam, song để thực hiện mục tiêu trở thành một ngân hàng hiện đại, theo chuẩn quốc tế thì việc xây dựng các hệ số này là một điều cần phải được tính tới. Chỉ có như vậy việc đánh giá phân loại KH mới phản ánh đúng thực tế của KH.

Kết quả của việc xếp hạng tín dụng không là cơ sở mạnh để quyết định việc chấp nhận cho vay hay không cho vay. Đặc biệt hiện nay tại Chi nhánh Hoàn Kiếm, kết quả của xếp hạng tín dụng không thực sự có ý nghĩa trong việc quyết định xem KH có được vay vốn hay không? Nó chỉ có giá trị tham khảo và chủ yếu được dùng để xác định hạn mức tín dụng, lãi suất áp dụng đối với KH. Các KH đều được xem xét xem việc cho vay hay không đầu tiên phục thuộc vào đánh giá của cán bộ tín dụng giao dịch với KH, sau đó khi cán bộ tín dụng đánh giá có khả năng cho KH vay, họ sẽ thực hiện chấm điểm tín dụng, lập tờ trình và trình lên cấp quản lý để xem xét chính thức việc KH có được vay hay không theo các đề xuất và điều kiện trong Tờ trình tín dụng.

Hơn nữa, trong hệ thống ngân hàng có một bản Excel nhằm đánh giá thử KH. Kết quả của việc đánh giá thử này có độ chính xác khoảng 90% – 95%, do đó Quan hệ KH thường dùng bản Excel này để xem kết quả đánh giá thử KH sau đó nếu hạng tín dụng chưa đủ hạn mức của KH thì yêu cầu KH điều chỉnh các chỉ số tài chính của mình để có được kết quả hợp lý đối với nhu cầu vay. Điều này, xét ở mặt tích cực thì nó tạo tính linh hoạt cho việc xếp hạng, tránh hiện tượng Quan hệ KH nhập thông tin nhầm lẫn, song kết quả xếp hạng lúc đó sẽ chịu ảnh hưởng của sự đánh giá chủ quan của người xếp hạng, đặc biệt nếu việc đánh giá khả năng được vay vốn của doanh nghiệp là sai nhưng Quan hệ KH vẫn cho rằng KH có khả năng trả nợvà điều chỉnh thông tin nhập vào hệ thống thì nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đốiv ới ngân hàng

2.2.4.3. Những nguyên nhân chủ yếu: Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Nguyên nhân khách quan:

Độ tin cậy của nguồn thông tin: Như phân tích ở trên thì nguyên nhân của việc thông tin không chính xác suất phát từ lợi ích trái ngược giữa ngân hàng và KH, đồng thời vì những lợi ích cá nhân hoặc trình độ hạn chế của cán bộ tín dụng dẫn đến độ tin cậy của thông tin có thể bị giảm sút trong quá trình thu thập thông tin và nhập thông tin vào hệ thống chấm điểm. Nguồn thông tin về doanh nghiệp ngoài thị trường còn hạn chế, không có thông tin đảm bảo. Nguồn thông tin về xếp hạng còn rất ít, chủ yếu là nguồn thông tin về lịch sử vay nợ của KH được tra thông qua cổng thông tin của CIC Việt Nam. Công ty xếp hạng tín dụng Việt Nam CRV thì hầu như xếp hạng các doanh nghiệp quy mô lớn, thông tin về các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có hệ thống kế toán còn thiếu chuyên nghiệp và đúng quy chuẩn, dẫn đến viêc hạch toán còn sai sót thiếu chính xác.

Kết quả tín dụng không phải là cơ sở mạnh để quyết định: Điều này là do độ tin cậy thông tin còn hạn chế dẫn đến kết quả đánh giả chưa phản ánh chính xác được thông tin KH, dẫn đến nó chưa trở thành một công cụ khoa học để quyết định việc có cho KH vay vốn hay không.

Nguyên nhân chủ quan:

  • Xếp hạng định kỳ: Có hai nguyên nhân đó là do ngân hàng chưa có quy định về việc xử lý KH chậm nộp báo cáo tài chính và sự đốc thúc của cán bộ tín dụng đối với KH. Thứ hai đó là do hầu hết các doanh nghiệp quan hệ tín dụng với ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công tác kế toán còn yếu kém, sơ sài, đồng thời số năm hoạt động còn ít do đó việc thực hiện đúng công tác kế toán còn kém.
  • Hệ thống giám sát của ngân hàng trong quá trình chấm điểm chưa chặt chẽ, còn nhiều lỗ hổng, dẫn đến ý nghĩa của việc xếp hạng bị giảm sút.
  • Trình độ và năng lực nghề nghiệp của các CBTD thực hiện XHTD còn nhiều hạn chế. Đây là một yếu tố quan trọng nhằm tạo ra được nguồn thông tin đầu vào đáng tin cậy. Bởi họ là những người thu thập, xử lý thông tin đầu vào, nhằm đưa ra những thông tin chính xác và đầy đủ nhất cho việc xếp hạng. Các cán bộ tín dụng chưa thực sự chuyên tâm tìm tòi nghiên cứu về hoạt động của KH, còn nhiền đánh giá DN bằng cái nhìn chung chung, đại khái đặc biệt trong việc chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính.

2.3. Kiểm định việc XHTD doanh nghiệp của ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB) – Chi nhánh Hoàn Kiếm bằng mô hình Logit

Dựa trên cơ sở lý thuyết được đưa ra ở chương I; cũng những phân tích về thực tiễn nghiên cứu, ứng dụng mô hình XHTD trên thế giới và thực trạng XHTD doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như của chính ngân hàng Quốc tế – VIB. Từ đó, nảy sinh sự cần thiết phải bổ sung phương pháp XHTD doanh nghiệp, bởi những lý do sau:

  • Hệ thống XHTD doanh nghiệp hiện tại của ngân hàng Quốc tế – VIB có một số mặt hạn chế và những nguyên nhân tồn tại của nó. Việc nghiên cứu nhằm xây dựng một mô hình chấm điểm tín dụng nhằm hoàn thiện hơn, khắc phục những hạn chế, giải quyết những nguyên nhân, để nâng cao chất lượng của hệ thống XHTD doanh nghiệp của ngân hàng Quốc tế.
  • Hiện nay, đa số các hệ thống XHTD doanh nghiệp của các NHTM tại Việt Nam đều áp dụng phương pháp định tính, sử dụng mô hình chuẩn đoán và kỹ thuật áp dụng là kỹ thuật chấm điểm tín dụng. Việc xây dựng một mô hình thống kê là mang tính chiến lược của NH Quốc tế (VIB). Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB
  • Việt Nam đang hướng tới hội nhập thì trường tài chính với các thị trường trong khu vực. Thực tế hiện nay, việc XHTD doanh nghiệp trên thế giới đã thay thế mô hình chuẩn đoán đang được sử dụng hiện nay bằng mô hình thống kê hay lý thuyết. Việc phát triển mô hình mới là phù hợp với xu hướng hội nhập.

Từ những lý do trên thì việc ứng dụng một mô hình nhằm kiểm định lại việc XHTD là điều cần thiết và phù hợp với điều kiện kinh doanh của NH Quốc tế -VIB. Vì vậy, em đi xây dựng một mô hình nhằm xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến xác suất trả nợ của doanh nghiệp đồng thời xác định được mức ảnh hưởng đó là bao nhiêu.

2.3.1. Lựa chọn mô hình

Lựa chọn mô hình cần phải dựa trên những yêu cầu đặt ra của mô hình đó:

  • Xác định xác suất trả được nợ: yêu cầu đặt ra đối với toàn hệ thống XHTD cá nhân của NH Quốc tế VIB trước hết là nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả hơn khi kết quả xếp hạng phản ảnh được mức độ rủi ro của sản phẩm tín dụng, trên cơ sở đó giúp ra quyết định tín dụng chính xác. Kết quả xếp hạng KH phải tính đến những dự báo về nguy cơ vỡ nợ dẫn đến mất khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng.
  • Tính thống nhất bên trong: hệ thống XHTD doanh nghiệp sau điều chỉnh phải đảm bảo khả năng quản trị tín dụng thống nhất toàn hệ thống, đây là căn cứ để NH Quốc Tế – VIB có thể dự báo được tổn thất tín dụng theo từng nhóm KH, từ đó xây dựng chiến lược và chính sách tín dụng phù hợp; các chỉ tiêu chấm điểm XHTD trong mô hình phải đảm bảo không quá phức tạp và sát với thực tế để cán bộ nghiệp vụ tin tưởng sử dụng. Kết quả xếp hạng phải giống nhau tại mọi nơi trong hệ thống.
  • Tính thống nhất bên ngoài: xếp hạng không được mâu thuẫn với các lý thuyết và phương pháp được thừa nhận. Ngoài ra, hoàn thiện hệ thống XHTD cũng đặt ra mục tiêu phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro theo Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN đáp ứng yêu cầu của NHNN.
  • Tính khách quan: kết quả XHTD được đưa ra bởi những chủ thể khác nhau.
  • Sự công nhận: trong mắt của những người sử dụng, mô hình xếp hạng phải đánh giá được chính xác khả năng trả nợ của đối tượng được xếp hạng.
  • Tính phù hợp: Hoàn thiện hệ thống XHTD cũng đặt ra yêu cầu vừa phải phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng không xa rời với điều kiện kinh doanh riêng biệt của NH Quốc Tế – VIB, vừa phải đảm bảo tính linh hoạt có thể điều chỉnh phù hợp với những biến động của điều kiện kinh doanh trong tương lai.

Với những yêu cầu nên trên, cùng với những nhận định về các mô hình toán học trong XHTD đã nêu ở chương I, em nhận định các biến đưa vào mô hình có cả biến định lượng và định tính, dẫn đến không áp dụng được mô hình phân tích phân biệt (DA). Bên cạnh đó, dữ liệu nghiên cứu cũng không đủ lớn để có thể áp dụng một cách tốt nhất các phương pháp lân cận gần nhất K và mạng nơron thần kinh (ANN). Vì vậy, trong nghiên cứu của mình, em đề xuất việc xây dựng mô hình XHTD KH doanh nghiệp dành cho NH Quốc Tế – VIB tiếp cận bằng phương pháp hồi quy Binary Logistic (mô hình Logit).

2.3.2. Lựa chọn biến số Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Để áp dụng hồi quy Logit, trong quá trình xây dựng mô hình cần phải xác định biến nào là biến độc lập và biến phụ thuộc.

2.3.2.1. Biến phụ thuộc

Biến phục thuộc có nhiều phạm trù, mỗi phạm trù đại diện cho một nhóm và biến này có khả năng phân biệt tốt nhất và duy nhất trên cơ sở tập hợp biến độc lập được lựa chọn, nói cách khác là mỗi quan sát phải được sắp xếp vào một nhóm duy nhất.

Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc (Y) được lựa chọn như sau:

{ Yi=1 nếu KH có nợ đủ tiêu chuẩn Yi=0 nếu KH có nợ không đủ tiêu chuẩn

Theo mục a, khoản 1, Điều 6 quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 quy định về Nợ đủ tiêu chuẩn là nợ:

  • Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đẩy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
  • Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2, điều 6 quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005.

2.3.2.2. Biến độc lập

Sau khi lựa chọn được biến phụ thuộc, bước tiếp theo phải xác định biến độc lập trong phân tích.Việc lựa chọn biến độc lập thường được tiến hành theo hai cách. Cách tiếp cận đầu tiên là dựa trên cơ sở và những nghiên cứu từ trước. Cách tiếp cận thứ hai là trực giác dựa trên cơ sở kiến thức của các chuyên gia và trực giác lựa chọn những biến chưa có những nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết hợp lý. Trong cả hai cách, những biến độc lập được lựa chọn là những biến số có ảnh hưởng đến khả năng phân biệt giữa các nhóm của biến phụ thuộc. Trong nghiên cứu này, biến độc lập được lựa chọn là: Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Bảng 2.8: Bảng giả thiết về các biến sử dụng trong mô hình Logit

Giải thích về một số biến trong mô hình:

  • Biến X2 (Quy mô): X2 = 1 Doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ. Đây là những doanh nghiệp có tổ chức kinh doanh nhỏ, theo hình thức gia đình, được tổ chức một cách không chính thức, hoạt động không trọng yếu. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ quy định thì doanh nghiệp siêu nhỏ, cả ba khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng, thương mại và dịch vụ, là doanh nghiệp có từ 10 lao động trở xuống.
  • Biến X3: BCTC được kiểm toán chấp nhận toàn phần là Báo cáo kiểm toán đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần được trình bày trong trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành (hoặc được chấp nhận). Ý kiến chấp nhận toàn phần cũng có hàm ý rằng tất cả các thay đổi về nguyên tắc kế toán và các tác động của chúng đã được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và đã được đơn vị nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Ngoài các biến chỉ tiêu dựa trên cơ sở lý thuyết để đưa vào mô hình, em đưa vào bốn chỉ tiêu (4 biến độc lập) dựa trên mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp kinh nghiệm:

Chỉ tiêu Quy mô (X2): thông thường các nghiên cứu xem xét quy mô là DN vừa và nhỏ so với doanh nghiệp lớn, song trong mẫu nghiên cứu của em thì hầu hết các doanh nghiệp đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ do đó em xem xét quy mô theo tiêu chí DN quy mô siêu nhỏ và DN khác.

Chỉ tiêu BCTC được kiểm toán (X3): được đưa vào mô hình nhằm đánh giá khả năng trả nợ của một doanh nghiệp được kiểm toán và không được kiểm toán. Đánh giá tác động của yếu tố BCTC được kiểm toán ảnh hưởng như thế nào đển xác suất trả nợ của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp (X14), năm hoạt động của doanh nghiệp (X15) và số năm quan hệ tín dụng với VIB (X16) có thực sự ảnh hưởng tới xác suất trả nợ của doanh nghiệp hay không. Từ đó đề xuất các dự báo và tập trung chính sách tín dụng cho những đối tượng KH có mức độ rủi ro thấp hơn.

2.3.3. Chọn mẫu Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến XHTD là một quá trình quan trọng trong bất kỳ một nghiên cứu thống kê nào, bởi việc lựa chọn số liệu chính xác sẽ mô tả tốt nhất cho việc nhận biết mô hình. Bộ số liệu sử dụng trong đề tài là thông tin về việc vay và trả nợ và các thông tin về KH được cung cấp bởi phòng tín dụng Doanh nghiệp tại NH Quốc tế VIB, trong thời gian từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 04 năm 2012.

Trong mẫu của nghiên cứu gồm 41 KH, trong đó có 05 KH không có đủ dữ kiện, còn lại 36 KH khác đều có đủ dữ liệu về lịch sử trả nợ, các thông tin về tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp. 36 KH này gồm 26 KH (chiếm 72.22%) còn quan hệ tín dụng và 10 KH (chiếm 27.78%) không còn quan hệ tín dụng với ngân hàng. Nhóm KH đầy đủ thông tin được chia thành 2 nhóm, Nhóm 1 là nhóm các KH có nợ đủ tiêu chuẩn (với = 1) và nhóm 0 là nhóm KH nợ không đủ tiêu chuẩn (với = 0). Dưới đây là bảng mô tả phân nhóm KH:

Bảng 2.9 Cơ cấu nhóm dữ liệu khách hàng sử dụng trong mô hình Logit

Số lượng KH sử dụng trong nghiên cứu

Phân tích hồi quy Logit cũng như các kỹ thuật khác, kết quả của phân tích đều bị ảnh hưởng bởi kích thước mẫu. Kích thước mẫu quá nhỏ có thể dẫn đến những kết luận khó có thể chính xác. Đã có nhiều kết quả nghiên cứu đưa ra một tỷ lệ 20 quan sát cho mỗi biến dự báo, cũng có kết quả cho rằng có tối thiểu 05 quan sát cho mỗi biến dự báo, theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, (2008). Mẫu quan sát của nghiên cứu này có 36 quan sát, với số biến dự định đưa vào mô hình là 15 biến, thì theo các kết quả nghiên cứu trên mô hình của chúng ta, tuy chưa thể dựa đoán chính xác để suy ra tổng thể, song kết luận của bài nghiên cứu sẽ có những kết luận có giá trị ở một mức ý nghĩa hợp lý.

Sau đây là một số chỉ số thống kê mô tả mẫu nghiên cứu:

Bảng 2.10: Bảng chỉ số thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

2.3.4. Tiến hành xây dựng mô hình Logit nhằm kiểm định XHTD doanh nghiệp tại ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB) – Chi nhánh Hoàn Kiếm Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

2.3.4.1. Khái quát về mô hình Logit được áp dụng

Mô hình Logistic là mô hình hồi quy trong đó biến phụ thuộc là biến giả. Có rất nhiều hiện tượng, nhiều quá trình mà khi mô tả bằng mô hình kinh tế lượng, biến phụ thuộc lại là biến chất, do đó cần phải dùng đến biến giả (biến giả là biến rời rạc, nó có thể nhận một trong hai giá trị: 0 và 1)

Từ biến phụ thuộc nhị phân Y, hàm hồi Logit sẽ tính xác suất xảy ra Y theo quy tắc: xác suất ≥ 0.75 thì KH có nợ đủ tiêu, nếu xác suất < 0.75 thì KH không có nợ đủ tiêu chuẩn (Sử dụng xác suất 0.75 bởi vì điểm tín dụng quy ra thang phần trăm trong XHTD tại ngân hàng Quốc tế khi xếp KH vào mức có nợ đủ tiêu chuẩn là từ 75% trở lên) . Và hàm hồi quy Logit được viết như sau:

Trong đó là xác suất KH thứ i trả nợ tốt với n biến độc lập 2, … . . , được tính toán từ cơ sở dữ liệu của KH thứ i; 1, … . . , là các hệ số hồi quy của hàm Logit.

Có hai phương pháp để xây dựng mô hình Logit, đó là phương pháp Berkson và phương pháp Goldberger. Với mẫu có được, các quan sát là các biến rời rạc nên em lựa chọn phương pháp Goldberger để giải quyết mô hình.

Phương pháp Berkson nhằm xác định xác suất Pi xảy ra của một biến nào đó với một điều kiện cho trước bằng cách đặt = 1 + 2 2 + ⋯ + , khi đó có thể viết:

Tỷ số Pi/(1-Pi) đơn giản là tỷ số odds ratio – tỷ lệ chênh lệch về việc xác suất để Yi = 1. Lấy Loga tự nhiên hai vế ta được:

Từ đây ta thấy, L, loga của tỷ lệ chênh lệch, không chỉ tuyến tính đối với X, mà còn (từ quan điểm của việc ước lượng) tuyến tính đối với tham số. L gọi là logit, và vì thế có tên mô hình Logit cho các mô hình có dạng (**).

Song phương pháp này áp dụng khi ta tính được xác suất Pi của việc Yi = 1 với biến độc lập Xi nào đó. Nếu biến Xi là rời rạc thì xác suất Pi = 0 hoặc 1, do đó tỷ số odds ratio là vô nghĩa. Khi đó ta phải dùng phương pháp Goldberger. Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Phương pháp Goldberger cũng xuất phát từ phương trình (*) như phương pháp Berkson. Trong hàm này khi nhận các giá trị từ −∞ đến +∞ thì Pi nhận giá trị từ 0 → 1. Pi phi tuyến đối với cả X và các tham số . Điều này có nghĩa là ta không thể áp dụng trực tiếp OLS để ước lượng. Người ta dùng ước lượng hợp lý tối đa để ước lượng . Vì Y chỉ nhận một trong hai giá trị 0 – 1, Y có phân bố nhị thức, nên hàm hợp lý với mẫu kích thước n có dạng sau đây:

Đặt = ∑  =1 , t* là véc tơ hai chiều (số hệ số hồi quy). Ta cần tìm ước lượng hợp lý tối đa của , ta có:

Phương trình trên phi tuyến đối với, người ta dùng phương pháp Newton- Raphson để giải hệ phương trình này :

Nếu như bˆ  là nghiệm của S( bˆ ), khai triển Taylor tại , ta có:

Ta có quá trình lặp lại như sau: Bắt đầu với giá trị ban đầu nào đó của , chẳng hạn, ta tính được S( ) và I( ), sau đó tìm mới bằng công thức sau đây:

Quá trình lặp trên sẽ được thực hiện cho đến khi hội tụ. Do I(  ) là dạng toàn phương xác định dương, nên quá trình trên sẽ cho ước lượng hợp lý cực đại. Tương ứng với ̂, ta có [  (  ̂)]−1 là ma trận hiệp phương sai của ̂. Chúng ta sử dụng ma trận này để kiểm định giả thiết và thực hiện các suy đoán thống kê khác.

Sau khi ước lượng được  ̂, ta có thể tính được ước lượng xác suất Pi=P(Y=1/Xi)

Kết hợp với (***) ta có ∑ ̂ = ∑ , phương trình này để kiểm định lại các ̂ . Như vậy trong mô hình Logit chúng ta không nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của biến độc lập Xk đối với Y mà xem xét ảnh hưởng của Xk đến xác suất Y để nhận giá trị bằng 1 hay kỳ vọng của Y.

Ảnh hưởng của Xk đến Pi được tính toán như sau:

2.3.4.2. Các tiêu chuẩn được áp dụng trong mô hình Logit Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Các tiêu chuẩn đánh giá độ phù hợp của mô hình nghiên cứu gồm:

  • Mức ý nghĩa lựa chọn cho mô hình là 10%, nguyên nhân là do số liệu không đủ lớn nên mức ý nghĩa của nghiên cứu được lấy ở mức thấp, nhưng vẫn đám bảo mức độ chính xác của kết quả
  • Sử dụng thống kê t – student để kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy. Dựa vào giá trị p – value ( [ ]) và ý nghĩa kinh tế của các hệ số để xem xét việc tiến hành kiểm định loại bỏ biến ra khỏi mô hình.
  • Kiểm định Wald Test: Đây là kiểm định rất quan trọng trong phân tích hồi quy bội bằng cách tính một thống kê kiểm định dựa trên hồi quy không bị ràng buộc. Thống kê Wald cho biết mức độ các ước lượng không bị ràng buộc thỏa mãn các ràng buộc như thế nào dưới giả thiết không (Ho).

Nếu các ràng buộc thực sự đúng, thì các ước lượng không bị ràng buộc sẽ

thỏa mãn các ràng buộc. Ta dùng kiểm định này để kiểm định loại bỏ biến ra khỏi mô hình. Quyết định bác bỏ Ho khi kiểm định F và Chi – bình phương có giá trị p – value ( [Prob] < ) với là mức ý nghĩa của mô hình lựa chọn. (ví dụ = 5%, 10%, 15% …). Chấp nhận Ho khi [ ] > ).

Đánh giá độ thích hợp của mô hình dùng giá trị Psedo R2 = Mc Fadden R2 = 1 – (LLFUR – LLFR), Giá trị Likehood ratio (LR statics) càng nhỏ càng tốt.

2.3.5. Kết quả thực nghiệm

Trong phần tiếp theo của nghiên cứu sẽ trình bày kết quả thực nghiệm của ước lượng hàm hồi quy Logit theo mẫu được trình bày như trên. Đầu tiên, ta cần xem xét bảng thể hiện mức độ tương quan của các biến được đưa vào mô hình. Nếu hệ số tương quan cặp > 0.8 thì sẽ dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến nếu đưa biến này vào mô hình. Bảng 4.1 là bảng ma trận thể hiện các chỉ số tương quan cặp của các biến định lượng theo mô hình. Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Ta thấy hệ số tương quan của một số cặp biến có hệ số tương quan rất lớn, như:

r(X4,X5) = 0.926 > 0.8

r(X12,X13) = 0.847 > 0.8

Tức là các biến có tương quan chặt với nhau, nếu giữ nguyên các biến đó và hồi quy thì kết quả sẽ không chính xác vì có thể xảy ra các hiện tượng là không tách được ảnh hưởng của các biến tới biến phụ thuộc, ý nghĩa của các biến sai về mặt kinh tế. Hướng giải quyết đa cộng tuyến đó là hoặc loại bỏ các biến hoặc tăng kích thướng mẫu hoặc tái thiết lập mô hình. Hướng đơn giản nhất là loại bỏ biến khỏi mô hình.

Bảng 2.12:  Kết quả ước lượng mô hình với đẩy đủ các biến

Từ các kết quả ước lượng ta thấy:

  • Mô hình xác suất KH có nợ đủ tiêu chuẩn là: exp(-1.708-4.4X2+3.703X3+7.275X6-1.170X7+14.76X12+0.637X16) P=
  • Các biến có ý nghĩa nhất (có p-value ( Prob) < 0.10) lần lượt là X2 ( Quy mô), X3 (BCTC có được được kiểm toán chấp nhận), X12 ( LNST/VCSH), X6 ( Hệ số thanh toán tức thời), X16 (Số năm quan hệ tín dụng với ngân hàng VIB).
  • Các biến không có ý nghĩa thống kê, hay không ảnh hưởng đến khả năng trả nợ là X4, X5, X8, X9, X10, X11, X13, X14, X15.
  • Ta thấy các biến điển hình đại diện cho khả năng trả nợ theo lý thuyết cũng được thể hiện trong mô hình: X2 (Quy mô), biến X6 (Hệ số thanh toán tức thời), biến X12 (LNST/VCSHbq). Các biến này đều thể hiện ý nghĩa kinh tế của nó khi tác động đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Trong đó biến X12 có ý nghĩa cao nhất. Điều này thể hiện khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu tác động rất lớn đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nó có ý nghĩa cao hơn cả hệ số thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
  • Biến X3 ( BCTC được kiểm toán chấp nhận) cũng thể hiện đúng ý nghĩa của nó. Bởi các doanh nghiệp thực hiện công tác tài chính kế toán càng minh bạch thì khả năng và uy tín trả nợ của họ càng tăng. Đồng thời biến X3 là một trong những biến có nghĩa thống kê nhất của mô hình.
  • Từ bảng ta thấy, biến X16 đưa vào mô hình rất có ý nghĩa. Có thể kết luận các doanh nghiệp có số năm quan hệ tín dụng với ngân hàng càng lâu thì khả năng có nợ đủ tiêu chuẩn tăng. Nhưng cũng cần thận trọng khi đánh giá chỉ tiêu này. Bởi, số năm trung bình mà các doanh nghiệp giao dịch tín dụng với VIB là khoảng 3 năm, doanh nghiệp quan hệ tín dụng lâu nhất là 8 năm. Đây chưa phải là thời gian quá dài cho mối quan hệ tín dụng, đặc biệt hầu như các doanh nghiệp vay vốn có thời hạn thường ít nhất là 12 tháng. Rất có thể việc biến X16 tác động làm tăng khả năng doanh nghiệp có nợ đủ tiêu chuẩn là do ngân hàng tạo điều kiện để doanh nghiệp “đảo nợ” bằng cách chỉ cần doanh nghiệp trả nợ trong ngày đến hạn, thì ngay trong hôm đó KH được giải ngân một khoản vay mới. Điều này thực sự sẽ rất nguy hiểm khi ngân hàng lại tin tưởng rằng KH quan hệ tín dụng lâu thì khả năng có nợ đủ tiêu chuẩn tăng lên.
  • Bởi vậy để có kết luận thật chính xác ta cần nghiên cứu trên quy mô mẫu lớn hơn và có nhiều KH quan hệ lâu hơn để đánh giá và đưa ra kết luận có độ tin cậy cao hơn.

Các biến có dấu trái với giả thiết:

  • X5 (Khả năng thanh toán nhanh) điều này là trái với giả thiết. Có thể là do số liệu mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng chưa đáng tín cậy, hoặc do hiện tượng đa công tuyến gây ra ( vì hệ số tương quan R(X4,X5)=0.926 là rất lớn).
  • X7 (Vòng quay VLĐ) điều này là trái với giả thiết. Điều này có thể lý giải đối với mẫu nghiên cứu có thể do tốc độ giảm VLĐ bình quân lớn hơn tốc độ giảm của DDT, làm cho vòng quay VLĐ tăng nhưng không cải thiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp, bởi hầu hết các doanh nghiệp này đều có quy mô siêu nhỏ hoặc vừa và nhỏ.

2.3.6. So sánh độ chính xác với mô hình mà ngân hàng đang áp dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

Ta có kết quả chấm điểm tín dụng của 36 KH trên của mô hình hiện tại tại các thời điểm chấm điểm định kỳ và kết quả này được lựa chọn trước khi mà KH có nợ không đủ tiêu chuẩn. Mức điểm này được quy ra tỷ lệ phần trăm (%) trên mức tổng điểm cao nhất của mô hình chấm điểm hiện tại. Từ đây ta tiến hành so ánh độ chính xác của kết quả dự báo từ hai mô hình trên với lịch sử vay và trả nợ thực tế của 36 KH này. Như theo quy định nội bộ của ngân hàng VIB thì KH có điểm tín dụng dưới 75 điểm thì KH là KH có nợ không đủ tiêu chuẩn, nên ta lựa chọn mức xác suất đối với KH có nợ không đủ tiêu chuẩn là 75% để so sánh mô hình của NH với mô hình xây dựng.

Biểu đồ 2.6: Biểu đồ so sánh các mô hình với thực tế

Ta nhận thấy hầu hết kết quả dự báo của mô hình hiện tại với 36 KH đều dao động xung quanh xác suất 80%, trong đó những KH có xác suất dưới 75% đều là những KH đã có nợ quá hạn và kết quả chấm điểm đều được xác định sau khi KH đã có nợ quá hạn và mức điểm tín dụng rất thấp (khoảng 60 -65 điểm). Còn những kết quả sai từ mô hình hiện tại đều cho rằng KH có nợ đủ tiêu chuẩn. Đó chính là lý do như phần trên em đã đề cập trong những hạn chế của mô hình: “ không là cơ sở mạnh để từ chối cấp tín dụng, mô hình chỉ có tác dụng hỗ trợ ra quyết định cấp hạn mức tín dụng cho KH”. Và để chúng ta thấy được sự chính xác hơn về kết quả dự báo của mô hình đề xuất, bảng dưới đây sẽ trình bày cụ thể:

Bảng 2.13: Bảng so sánh kết quả của hai mô hình so với thực tế

Nhìn vào bảng trên ta thấy mức độ chính xác tổng quát của hai mô hình là như nhau (80.56%). Mô hình xây dựng tuy có đô chính xác trong dự đoán KH có nợ đủ tiêu chuẩn thấp hơn mô hình hiện tại (Mô hình hiện tại dự đoán chính xác 100%, mô hình xây dựng chính xác 71%) nhưng mô hình xây dựng lại dự đoán KH có nợ không đủ tiêu chuẩn chính xác hơn rất nhiều so với mô hình hiện tại. (93% so với 53%). Việc dự đoán chính xác việc KH có nợ không đủ tiêu chuẩn trong bối cảnh hiện nay thực sự có ý nghĩa hơn nhiều so với dự đoán chính xác KH có nợ đủ tiêu chuẩn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng XHTD tại VIB

One thought on “Khóa luận: Thực trạng hoạt động XHTD tại Ngân hàng VIB

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về mô hình Logit tại Ngân hàng VIB

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464