Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Nội dung chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Những quy định chung về chế độ tài sản của vợ, chồng

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, khác với các Luật HN&GĐ trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã ghi nhận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, bảo đảm tính phù hợp và sự tương thích với pháp luật các nước trong bối cảnh hội nhập và phát triển. Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nội dung của những quy định chung bao gồm: quy định về các loại chế độ tài sản của vợ chồng; việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng; nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, giao dịch liên quan đến tài khoản ngân hàng , tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.

Điều 28 Luật quy định như sau:

  1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.
  2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.
  3. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.
  4. Các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn”

Điều 7 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định: “Chế độ tài sản của vợ chồng pháp định được áp dụng khi vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu”.

Điều 28 đã chỉ rõ hiệu lực áp dụng của các quy định chung là áp dụng bắt buộc cho tất cả các cặp vợ chồng. Các quy định này được thực hiện sẽ đảm bảo chế độ tài sản của vợ chồng, bao gồm cả chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản theo thỏa thuận được thực hiện theo một trật tự phù hợp, hài hòa giữa lợi ích của gia đình và lợi ích của cá nhân, mở rộng quyền tự do định đoạt tài sản của vợ chồng phải luôn đi cùng lợi ích của gia đình, quyền lợi của các con và các thành viên khác trong gia đình.

Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định ba nguyên tắc chung như sau:

  1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
  2. Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
  3. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường”.

Trong đó, mục đích của nguyên tắc thứ nhất (quy định lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập) chính là để bảo vệ quyền lợi cho người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình, chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình. Nguyên tắc này sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đặc biệt là khi vợ, chồng thực hiện chế độ tách riêng tài sản (tài sản do bên nào làm ra thuộc quyền sở hữu riêng của bên đó) thì họ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán cho mình một phần giá trị tài sản tương đương với công sức đóng góp của mình dành cho việc nội trợ và chăm sóc gia đình. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Nguyên tắc thứ hai thể hiện sâu sắc nhất tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khi thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là phải bảo đảm lợi ích chung của gia đình. Cùng với nguyên tắc này, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như sau:

  1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
  2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên”.

Điều này đã khẳng định vợ, chồng có quyền tự mình thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, đồng thời cũng xác định trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ phát sinh từ những giao dịch này đối với người vợ, chồng không thực hiện giao dịch.

Nguyên tắc thứ ba xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ, chồng. Trong trường hợp một bên vợ, chồng không tuân thủ những quy định chế độ tài sản của vợ chồng, gây thiệt hại cho người kia như tự ý dùng tài sản chung nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân của riêng bản thân mình, đánh cờ bạc, tẩu tán tài sản hoặc tự ý tặng cho người khác…, thì người kia có quyền yêu cầu bồi thường cho khối tài sản chung. Nếu như gây thiệt hại đến tài sản riêng của bên kia thì người vợ, chồng gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường.

Ngoài ra, quy định chung về chế độ tài sản của vợ chồng còn đề cập đến những vấn đề như: giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng và giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Cụ thể là, trong trường hợp nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng thì khi thực hiện việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà đó phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Đối với nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, thì vợ, chồng vẫn được đảm bảo quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến nhà đó, tuy nhiên phải đảm bảo chỗ ở cho vợ, chồng. Điều này cũng thể hiện rất rõ tinh thần đảm bảo lợi ích chung của gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, đối với gia đình nhà ở là một vấn đề vô cùng quan trọng, cần thiết sự ổn định, nhà ở không chỉ là nơi ở của vợ, chồng mà còn có các thành viên khác trong gia đình, con cái cần phải có nơi để sinh sống và đảm bảo những điều kiện tốt nhất để phát triển.

Đối với các giao dịch liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà pháp luật không quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, khi giao dịch với người thứ ba ngay tình, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình và tạo thuận lợi cho vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch, Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đặt ra những nguyên tắc suy đoán, như sau: Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

  1. Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó.
  2. Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình”.

Theo đó, người thứ ba (gồm có ngân hàng, công ty chứng khoán hoặc người có giao dịch với vợ, chồng) được phép suy đoán rằng chủ tài khoản chính là người có quyền định đoạt những tài sản có trong tài khoản. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về tài chính, ngân hàng trong việc xác định chủ tài khoản là người duy nhất có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản của họ. Nguyên tắc suy đoán trên vừa tạo điều kiện cho vợ, chồng trong việc tự do thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản, mà không phải đưa ra các tài liệu chứng minh về quyền định đoạt tài sản. Đồng thời, vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thứ ba, khi đó, người thứ ba không cần thiết phải biết về tình trạng hôn nhân hay chế độ tài sản của người ký kết giao dịch với mình.

Tương tự như vậy, đối với tài sản là động sản mà không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu thì người thứ ba được phép suy đoán người vợ, chồng đang chiếm hữu tài sản là người có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đó.

Nguyên tắc này chỉ có hiệu lực trong quan hệ giữa một bên là vợ chồng với bên kia là người thứ ba. Còn trong quan hệ giữa hai vợ, chồng thì vợ chồng phải tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hoặc theo chế độ tài sản thỏa thuận của vợ, chồng.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với các Luật Hôn nhân và gia đình trước đó. Theo đó, vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận thì thoả thuận này phải được lập bằng văn bản có chứng thực hoặc công chứng trước khi kết hôn. Nội dung cơ bản của thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm: tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, điều kiện, thủ tục, nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản. Thoả thuận về  chế độ tài sản của vợ, chồng cũng có thể bị vô hiệu theo quy định của pháp luật (Điều 50). Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của khoá luận không tập trung nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận mà tập trung làm rõ những nội dung về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định). Cụ thể như sau:

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.2. Tài sản chung của vợ chồng Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

2.2.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng va thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

  1. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
  2. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Như vậy, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng được xác định dựa trên các căn cứ: thời kỳ hôn nhân, nguồn gốc tài sản, thoả thuận của vợ chồng và nguyên tắc suy đoán.

Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân (khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Theo nguyên tắc chung về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng, cứ trong thời kỳ hôn nhân mà vợ hoặc chồng tạo ra được hoặc có được tài sản, các khoản thu nhập hợp pháp thì đều được tính là tài sản chung của vợ chồng (trừ nguồn gốc là tài sản riêng của vợ, chồng).

Về nguồn gốc các loại tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, bao gồm:

  • Tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân. Đây là những loại tài sản chủ yếu và phổ biến đối với các cặp vợ chồng (là công chức, viên chức, người lao động mà thu nhập chủ yếu bằng tiền lương, tiền công lao động…);
  • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đây là quy định mới và cụ thể của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại (khoản 1 Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2015). Ví dụ: trâu, bò đẻ ra nghé con, bê con…;

Lợi tức là khoản lợi thu được từ khai thác tài sản (khoản 2 Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2015). Ví dụ: Lãi suất thu được từ tiền gửi tiết kiệm…;

Những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân (như tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số của vợ, chồng…);

Những tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 như: Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu (Điều 228); xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy (Điều 229); xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên (Điều 230); xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc (Điều 231); xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc (Điều 232); xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước (Điều 233). Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Những tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng các khoản thu nhập nói trên;

Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung. Cần hiểu rằng, những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung chỉ là tài sản chung của vợ chồng khi chủ sở hữu chuyển dịch tài sản của mình cho hai vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung đã không xác định tỷ lệ quyền sở hữu từ trước cho mỗi bên vợ, chồng;

Quyền sử dụng đất vợ chồng có được sau khi kết hôn. Quyền sử dụng đất vợ chồng có được sau khi kết hôn bao gồm:

Quyền sử dụng đất vợ và chồng hoặc một bên vợ, chồng được Nhà nước giao ví dụ như trường hợp Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm,, trồng cây hàng năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, giao đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối…

Quyền sử dụng đất vợ và chồng hoặc một bên vợ hoặc chồng được Nhà nước cho thuê cũng là tài sản chung của vợ chồng.

Quyền sử dụng đất do vợ, chồng được tặng cho chung, thừa  kế chung.

Quyền sử dụng đất vợ chồng có được thông qua giao dịch bằng tài sản chung của vợ chồng.

Quyền sử dụng đất vợ chồng có được sau khi kết hôn không bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Ví dụ: quyền sử dụng đất mà bố mẹ một bên vợ hoặc chồng cho riêng vợ, chồng thì quyền sử dụng đất đó là tài sản riêng của vợ, chồng; hoặc trường hợp một bên vợ, chồng dùng tiền, tài sản riêng để thực hiện giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất thì quyền sử dụng đất có được thông qua giao dịch đó là tài sản riêng của vợ, chồng.

Tài sản mà vợ hoặc chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc những tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng hay được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân (tài sản riêng của vợ, chồng) nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo pháp luật quy định là tài sản chung. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Tài sản được suy đoán là tài sản chung: Nguyên tắc suy đoán tài sản chung được quy định lần đầu tiên tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đến nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục kế thừa. Các nhà làm luật sử dụng nguyên tắc này để xác định tất cả các tài sản không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng của vợ, chồng được coi là tài sản chung của vợ chồng. Đây là nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bởi trong rất nhiều trường hợp khi thời kỳ hôn nhân đã tồn tại trong một thời gian dài, vợ chồng thực hiện nhiều giao dịch liên quan đến tài sản, làm cho tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng có thể lẫn lộn nhau, căn cứ xác định tài sản chung tài sản riêng, không thể áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Nội dung của nguyên tắc suy đoán tài sản chung của vợ chồng là khi cho rằng tài sản là tài sản riêng của mình, vợ, chồng phải có căn cứ chứng minh, trong trường hợp không có căn cứ chứng minh thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng. Chính vì là một nguyên tắc suy đoán nên nó không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng, mà tạo ra nghĩa vụ chứng minh tài sản riêng cho vợ chồng hoặc người thứ ba trong việc yêu cầu kê biên tài sản riêng của vợ chồng.

Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh trong thực tiễn, khi mà việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do tính chất phức tạp của quan hệ tài sản giữa vợ chồng.

2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung

  • a, Quyền của vợ, chồng đối với tài sản chung

Vợ, chồng bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung mà không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Theo đó, với tư cách là đồng chủ sở hữu đối với tài sản chung, vợ chồng có quyền bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập, nhằm mục đích đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình, nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Quy định không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập, tức là đối với những người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình cũng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân, về tài sản ngang bằng với người lao động có thu nhập.

Khi quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định: “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”. Việc bổ sung quy định “không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập” là một điểm mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định này đã thể hiện rõ ràng, cụ thể quan điểm của Nhà nước ta là bảo vệ những người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình, chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình, có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng giữa vợ và chồng. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

 Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình như sau:

  1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
  2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
  3. Bất động sản;
  4. Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
  5. Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”.

Đối với trường hợp vợ, chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được mặc nhiên là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.

Như vậy, một bên vợ, chồng không thể tự ý định đoạt tài sản chung là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản chung đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Nếu một bên vợ, chồng định đoạt các tài sản chung nêu trên mà không có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.

  • Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định đối với tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác (Điều 34). Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là một thủ tục đăng ký nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng có tài sản chung trong việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt và dùng tài sản để tham gia các quan hệ dân sự, thương mại…

Việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với bất động sản được thực hiện theo Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu”.

Ngoài các bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, pháp luật còn quy định các động sản phải đăng ký như: tàu biển, tàu bay, tàu, thuyền theo quy định tại Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Thông tư số 75/2014/TTBGTVT ngày 19/12/2014 của Bộ Giao thông vận tải về đăng ký phương tiện thủy nội địa.

Để đảm bảo quyền lợi của các cặp vợ chồng đã đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định: “Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất ghi tên của cả vợ và chồng”.

Trong trường hợp vợ, chồng không yêu cầu cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng, mà vẫn để giấy chứng nhận ghi tên một người thì giao dịch liên quan đến tài sản chung đó được thực hiện theo quy định sau:

Vợ, chồng ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

Khi có tranh chấp đối với tài sản mà trên giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng, thì người có tên trên giấy chứng nhận đó phải có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình như được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản có được từ nguồn tài sản riêng, trường hợp không chứng minh được thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa quy định bắt buộc vợ, chồng phải ghi tên của cả vợ chồng và thay vào đó là quy định mở hơn, tôn trọng việc tự do thỏa thuận của vợ chồng: “Giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”

b, Nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản chung

Theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

  • Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
  • Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
  • Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
  • Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
  • Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
  • Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Cũng theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25, 26 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Các quy định này đã cụ thể, chi tiết hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trước đây khi xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.

2.2.3. Chia tài sản chung của vợ chồng Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, có ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng, đó là: chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết. Bên cạnh đó, Luật đã quy định cụ thể về chia tài sản chung của vợ chồng theo từng trường hợp, bảo đảm tính khả thi cao hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Cần lưu ý, do Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định có hai loại chế độ tài sản của vợ chồng, vì thế, trong các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng, trước hết, cần xem xét vợ chồng đã lựa chọn loại chế độ tài sản nào để áp dụng tương ứng các quy định của luật.

Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc chia tài sản chung của vợ chồng của vợ chồng tuân theo văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản thì tuân theo chế độ tài sản do luật định.

2.2.3.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong thực tế cuộc sống, có rất nhiều lý do mà vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc nhưng lại không muốn ly hôn mà chỉ muốn ly thân, hoặc họ muốn độc lập về tài chính hoặc một lý do khác họ muốn chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Để giải quyết những vấn đề trên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có các quy định nhằm giải quyết việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân như sau: Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Về điều kiện chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân: Khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”. Do đó, vợ chồng có quyền chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp quy định tại Điều 42:

  1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
  2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
  3. Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
  4. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
  5. Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;
  6. Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;
  7. Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;
  8. Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Về hình thức và nội dung chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân: Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải do vợ chồng thỏa thuận và được lập thành văn bản. Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận mà yêu cầu Tòa án giải quyết thì việc phân chia tài sản sẽ được thực hiện theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (Khoản 2, 3 Điều 38).

Về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Theo quy định tại Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

  • Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
  • Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
  • Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Như vậy, tùy theo từng trường hợp mà Luật quy định thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung; mặt khác, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba liên quan.

Về hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014):

Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều 40 không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba. Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP đã quy định cụ thể hơn về vấn đề này. Theo đó:

Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng.

Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực; nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

  • Về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

Điều 41 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

  1. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận này được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật  này.
  2. Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật này. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
  3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  4. Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận”.

Đây là quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì cũng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án cho chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Quy định này thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung bằng pháp luật.

 2.2.3.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là hiện tượng không bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng cũng không thể thiếu khi hôn nhân đã thực sự tan vỡ, không thể hàn gắn. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi ly hôn, không chỉ các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn chấm dứt mà tài sản chung của vợ chồng cũng sẽ chia theo yêu cầu của vợ, chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được xác lập kể từ khi vợ chồng kết hôn và tồn tại suốt trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp vợ, chồng yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thực chất là việc phân chia khối tài sản chung của vợ chồng đã tạo lập, duy trì và phát triển trong thời kỳ hôn nhân cho mỗi bên vợ, chồng trên cơ sở thỏa thuận của vợ chồng hoặc theo những nguyên tắc được quy định trong pháp luật.

  • Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng để giải quyết. Nếu không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản vô hiệu thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để giải quyết.

  • Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật định Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Vợ chồng tự thỏa thuận chia: Trước hết, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản về tài sản của mỗi bên vợ, chồng cũng như các thành viên khác trong gia đình có liên quan thì việc chia tài sản khi ly hôn “do các bên thỏa thuận” (khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Sự thỏa thuận này phải phù hợp với nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình. Trước đây, theo quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì sự thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn “phải được Tòa án nhân dân công nhận”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không yêu cầu phải có sự công nhận của Tòa án nhằm đề cao quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng. Tuy vậy, cần phải có hướng dẫn cụ thể nhằm tránh trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản nhằm tẩu tán hay trốn tránh nghĩa vụ tài sản, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh, tránh tranh chấp kéo dài cũng như thuận lợi cho công tác thi hành án sau này.

Trường hợp Tòa án giải quyết: Khi ly hôn, tình cảm rạn nứt dẫn đến hôn nhân tan vỡ thì vợ chồng khó có thể ngồi lại cùng bàn bạc, thỏa thuận vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng theo đúng tâm tư, nguyện vọng của mình. Do vậy, pháp luật quy định vấn đề giải quyết tài sản trong trường hợp nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo nguyên tắc chia đôi có tính đến các yếu tố sau:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
  • Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.
  • Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường
  • hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
  • Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
  • Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Xuất phát từ nguyên tắc sở hữu chung của vợ chồng là hợp nhất, khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng chia đôi nhưng Tòa án vẫn phải tính đến các yếu tố: hoàn cảnh gia đình của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng;…Điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đó là khi chia tài sản chung có căn cứ yếu tố “lỗi” của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh khi ly hôn, Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”. Đây là một quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập cho bản thân và xã hội, sớm ổn định cuộc sống riêng. Với sự phát triển của kinh tế theo hướng “mở cửa” như hiện nay thì tài sản chung (nhất là tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất,…) liên quan đến hoạt động kinh doanh là điều rất quan trọng, việc chia tài sản chung cho mỗi bên sẽ gây khó khăn cho bên hoạt động kinh doanh.

2.2.3.3. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết

Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết hoặc kể từ ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Việc giải quyết tài sản trong trường hợp một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được thực hiện theo quy định tại Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể như sau:

Về việc xác định người quản lý tài sản, trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên vợ, chồng đã chết để lại di chúc trong đó chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Về quyền yêu cầu, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo yêu cầu của một bên vợ, chồng còn sống hoặc theo yêu cầu của những người thừa kế tài sản của người vợ, chồng đã chết. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về quy định hạn chế phân chia di sản, trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ, chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự. Điều 661 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Nếu việc chia di sản của người vợ, chồng đã chết làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ, chồng còn sống thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm, khi hết thời hạn này hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế.

Luật cũng dự liệu trường hợp người vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về, theo đó, quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết theo Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nếu hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực. Đối với những tài sản do vợ, chồng có được trong khoảng thời gian từ khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó. Nếu hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như trường hợp phân chia tài sản khi ly hôn”.

Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng, việc phân chia tài sản chung khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được thực hiện theo nguyên tắc chia đôi mỗi người một nửa mà không tính đến hoàn cảnh gia đình và của vợ, chồng, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập, cũng như không tính đến lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Nguyên tắc này trái ngược hoàn toàn với nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

2.3. Tài sản riêng của vợ, chồng Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 của Nhà nước ta đã ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Việc ghi nhận này phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và nguyện vọng của người dân; bảo đảm được quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về tài sản riêng của vợ, chồng để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các Luật Hôn nhân và gia đình trước đó.

2.3.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

2.3.1.1. Tài sản của vợ, chồng có trước khi kết hôn

Khi cá nhân trước khi tham gia quan hệ hôn nhân đã có thể có được một số tài sản nhất định, đã sở hữu phương tiện di chuyển là xe máy hoặc ô tô…, hoặc đã sở hữu quyền sử dụng đất được Nhà nước thừa nhận… Những tài sản nêu trên sẽ vẫn là tài sản của chính cá nhân đó, trừ khi họ quyết định thay đổi tài sản này thành tài sản chung sau khi kết hôn.

Quy định tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trước khi tham gia quan hệ hôn nhân hợp pháp vẫn là tài sản riêng của công dân được khoản 1, khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo vệ:

“1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”; cũng như được bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2015: “1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản”.

Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về việc thiết lập quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa vợ và chồng, đồng thời xác nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp không thể được coi là căn cứ để làm thay đổi hoặc hủy bỏ quyền sở hữu cá nhân của người vợ hoặc người chồng đối với tài sản riêng có được từ trước khi kết hôn. Quy định các điều khoản về tài sản riêng của vợ hoặc của chồng có được từ trước khi kết hôn vẫn là tài sản riêng của họ để có căn cứ pháp lý điều chỉnh khi có tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng hoặc giữa một cá nhân vợ hoặc chồng với người thứ ba liên quan đến tài sản riêng trên thực tế.

2.3.1.2. Tài sản vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân

Khi tài sản đã được xác định là phần di sản thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng, cho dù thời kỳ hôn nhân của vợ và chồng vẫn còn hiệu lực theo pháp luật, họ vẫn là chủ sở hữu riêng đối với những tài sản này và vẫn có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản đã được thừa kế hoặc tặng cho.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhằm bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu tài sản – người vợ hoặc người chồng – không bị phụ thuộc vào tình trạng quan hệ hôn nhân diễn ra khi đó. Nguồn phát sinh các tài sản được tặng cho hoặc được thừa kế riêng rất đa dạng, bao gồm tài sản cha, mẹ cho riêng con trong ngày cưới, cha, mẹ một bên vợ hoặc chồng khi chết đã để lại di chúc cho con mình là người vợ hoặc người chồng được hưởng, tài sản do bạn bè, người quen của vợ hoặc chồng tặng cho riêng họ trong thời kỳ hôn nhân… Tuy nhiên, có một vấn đề thường nảy sinh khi xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng, đó là tính chất tặng cho, thừa kế đối với riêng một người. Trong nhiều trường hợp, có thể xảy ra trường hợp tài sản được bạn bè tặng cho người chồng hoặc người vợ trong thời kỳ hôn nhân, nhưng khi tặng cho lại không lập hợp đồng tặng cho tại văn phòng công chứng và ghi rõ là tặng cho riêng người vợ hoặc người chồng. Đối với trường hợp này, rất nhiều vụ tranh chấp đã xảy ra khó xác định tài sản được thừa kế là tài sản riêng của vợ, chồng hay là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, cần hết sức lưu ý thực thi đúng pháp luật và đúng với tính chất tặng cho riêng hoặc thừa kế riêng đối với vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

2.3.1.3. Tài sản đáp ứng nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng

Đây là một điểm có thể nói là khác biệt so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Nếu như tại khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “đồ dùng, tư trang cá nhân” cũng là một phần trong các tài sản riêng của vợ, chồng, thì tại Luật Hôn nhân và gia đình năn 2014, khái niệm này đã bị đổi thành “tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng”. Theo từ điển Tiếng Việt của NXB Đà Nẵng năm 1997, “đồ dùng là vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, hoạt động hàng ngày”, còn “tư trang là các thứ quý giá đi theo người của một cá nhân”. Còn về nhu cầu thiết yếu, khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình”. Căn cứ quy định trên đây, có thể nhận thấy rằng, phạm vi tài sản là tài sản riêng của vợ hoặc của chồng đã được mở rộng hơn, không còn là đồ dùng, tư trang cá nhân nữa, mà là bất cứ thứ tài sản nào cần phải có để phục vụ nhu cầu sinh hoạt thông thường.

Tuy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có định nghĩa cụ thể về nhu cầu thiết yếu, song thực tế, việc khẳng định một tài sản nào đó là tài sản riêng, chỉ có thể sử dụng để phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ hoặc chồng mà căn cứ vào đó để xác định tài sản đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng rất khó xác minh. Bởi trong nhiều trường hợp, một tài sản có thể là tài sản riêng của vợ, nhưng trong trường hợp khác lại là tài sản riêng của chồng, khi tài sản đó phục vụ nhu cầu thiết yếu của cả vợ và chồng. Hoặc trên thực tế, một tài sản có thể phục vụ nhu cầu thiết yếu của người này, nhưng đối với những người khác, thì nhu cầu đó không thể gọi là nhu cầu thiết yếu. Và với phạm vi đã mở rộng hơn theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khả năng người vợ hoặc chồng xác định một tài sản sẽ là tài sản riêng của người kia để trốn tránh nghĩa vụ thực tế họ phải đảm nhận sẽ rất cao. Việc có thêm các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn cũng như cách thức phù hợp của cơ quan chức năng sẽ góp phần giải quyết thống nhất căn cứ xác lập tài sản riêng đối với tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng, đáp ứng quyền lợi hợp pháp đối với các đối tượng tham gia.

2.3.1.4. Tài sản mà vợ, chồng được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Căn cứ vào Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, sau khi thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu vợ chồng không có thỏa thuận nào khác, tài sản đã được chia là tài sản riêng của vợ, chồng, đồng thời hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó sau khi việc phân chia có hiệu lực cũng là tài sản riêng của vợ, chồng (Xem lại mục 2.2.3.1).

2.3.1.5. Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng

Theo khoản 2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ chồng còn bao gồm “tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định về tài sản khác mà theo quy định của pháp luật là tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

  1. Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.
  2. Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
  3. Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng”.

Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ gồm: tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính… Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác như tiền được bồi thường trong tranh chấp lao động khi Tòa án giải quyết; tiền được bồi thường khi bị người khác hủy hoại tài sản riêng, sau đó kiện đòi bồi thường và được Tòa án giải quyết… Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng như trợ cấp tiền tuất hàng tháng; trợ cấp thờ cúng liệt sỹ… Quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng như tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự khi vợ, chồng bị xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm…

Sở dĩ pháp luật Hôn nhân và gia đình quy định những tài sản trên thuộc sở hữu riêng của vợ chồng vì căn cứ vào nguồn gốc và tính chất đặc biệt của những tài sản này là tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng. Đây là một điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với những văn bản Luật Hôn nhân và gia đình trước đây. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng trong trường hợp chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; đồ dùng, tư trang cá nhân, ngoài ra Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 bổ sung thêm thành phần khối tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản mà người có công cách mạng được nhận trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của người đó. Như vậy, pháp luật HN&GĐ trước Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 hoàn toàn không nhắc đến các loại tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng như quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, các khoản trợ cấp… Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Có thể thấy rằng, quy định tài sản khác mà theo quy định của pháp luật chưa dự liệu hết mà quy định này bổ sung đầy đủ các tài sản mà theo quy định là tài sản riêng của vợ, chồng. Quy định này có ý nghĩa to lớn khẳng định nhận thức toàn diện trong quá trình lập pháp nói chung và xây dựng, hoàn thiện pháp luật HN&GĐ nói riêng, góp phần tạo ra hệ thống pháp lý vững chắc cho việc áp dụng pháp luật.

2.3.1.6. Các tài sản được hình thành từ tài sản riêng, trừ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân

Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản được tạo ra, thu được, chuyển nhượng khi vợ, chồng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản riêng của mình. Ví dụ: khi vợ hoặc chồng chuyển nhượng ngôi nhà là tài sản riêng thu được một khoản tiền thì khoản tiền này cũng là tài sản riêng của người đó; khi vợ hoặc chồng dùng tiền riêng của mình để mua đồ vật, mua nhà, ô tô thì những tài sản được mua từ khoản tiền riêng đó là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Có thể thấy rằng, khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đưa ra những căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng tại Điều 27, Điều 32, về cơ bản là tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, khi áp dụng những điều luật này trong thực tế thì không thể xác định được tài sản hình thành từ tài sản riêng là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ chồng là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân sẽ đảm bảo quyền tài sản riêng của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, giải quyết được những vướng mắc trước đây trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp tài sản giữa vợ, chồng.

2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

2.3.2.1. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng

  • Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

Theo Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

  1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
  2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
  3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
  4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật dân sự năm 2015, “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”. Theo quy định tại Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có quyền chiếm hữu đối với tài sản riêng. Nghĩa là, người vợ hoặc người chồng được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình nắm giữ, chi phối tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Nhưng các hành vi đó không được trái với quy định của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội. Người vợ hoặc người chồng có toàn quyền tự quản lý tài sản riêng của họ. Tuy nhiên, trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng, cũng không ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của mình, thì bên còn lại (người chồng hoặc người vợ) có quyền quản lý tài sản đó. Cần lưu ý rằng, người được ủy quyền theo cách thức, phạm vi, thời hạn do người ủy quyền (vợ hoặc chồng) quyết định, còn trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng, người còn lại có quyền quản lý tài sản đó mà không bị giới hạn về cách thức, thời hạn hay phạm vi. Tuy nhiên, có một điểm giống nhau trong trường hợp này cả người ủy quyền chiếm hữu/quản lý tài sản và người còn lại (vợ hoặc chồng) đều không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được ủy quyền hoặc được chiếm hữu.

Về quyền sử dụng tài sản riêng của vợ, chồng thì theo Điều 189 Bộ luật dân sự 2015, quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Khi đã có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản (chẳng hạn như quyền sử dụng đất), chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Vì ích chung của gia đình, pháp luật quy định trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng không đủ để đảm bảo đời sống chung của gia đình thì người có tài sản riêng phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình để phục vụ nhu cầu chung của gia đình. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Về quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng thì theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, về nguyên tắc, vợ, chồng có quyền tự mình định đoạt tài sản riêng mà không phụ thuộc vào ý chí của người kia. Nghĩa là, người vợ hoặc người chồng trong mọi trường hợp, đều có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu hủy, tiêu dùng, đồng nghĩa với thực hiện bất cứ hình thức nào của quyền định đoạt đối với tài sản riêng của họ mà ý chí của người vợ hoặc của người chồng có thể suy nghĩ ra, miễn là phù hợp với pháp luật. Tuy nhiên, khi vợ chồng chung sống với nhau, họ có thể thỏa thuận về việc sử dụng tài sản riêng của mỗi bên sao cho có thể khai thác tốt nhất giá trị sử dụng của tài sản. Thông thường, khi vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc thì không có sự phân biệt trong việc sử dụng tài sản riêng của vợ, chồng. Nhưng xuất phát từ việc đảm bảo cuộc sống chung của gia đình, quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng có thể bị hạn chế. Trường hợp hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ. Quy định này dựa trên truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, luôn có sự yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình.

  • Quyền nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

Theo Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng có quyền nhập tài sản riêng vào tài sản chung, cụ thể:

  1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
  2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
  3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Vợ hoặc chồng có quyền quyết định nhập hay không nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng (khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Đồng thời, việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng phải thực hiện theo thỏa thuận giữa vợ và chồng, và phải tuân theo các phương thức mà pháp luật đã quy định đối với tài sản cần nhập vào tài sản chung. Đơn cử như việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất hoặc những tài sản có giá trị lớn thuộc sở hữu của một bên vào tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, có đầy đủ chữ ký của vợ và chồng và văn bản đó phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Nếu người có tài sản riêng nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì việc nhập tài sản đó vào khối tài sản chung là vô hiệu.

Trong thực tế có rất nhiều gia đình, việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung không được lập thành văn bản kể cả những tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn.Khi gia đình hòa thuận, êm ấm, vợ chồng mặc nhiên coi tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung vì nhu cầu sống chung của gia đình mà không có bất cứ thỏa thuận về việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung hoặc có trường hợp người có tài sản riêng chỉ tuyên bố bằng miệng là nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung. Nhưng khi vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn tranh chấp tài sản phát sinh, người có tài sản riêng lại khẳng định rằng mình chưa nhập tài sản riêng đó vào tài sản chung. Hoặc trường hợp tài sản riêng được đưa vào sử dụng chung, trong quá trình sử dụng bị hủy hoại, tiêu tán, được bán đi để phục vụ nhu cầu của gia đình…khi xảy ra tranh chấp người có tài sản riêng đó đòi bồi thường. Vậy, đối với những tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung trong một thời gian dài có được coi là tài sản chung hay không? Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc thỏa thuận nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung không bắt buộc phải theo một hình thức nhất định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tuân theo hình thức nào đó ví dụ như quy định thỏa thuận phải bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép. Điều này có nghĩa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận thỏa thuận bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của vợ chồng. Tác giả cho rằng quy định này là hoàn toàn hợp lý, mở rộng quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng, bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng trong quan hệ tài sản, tạo sự linh hoạt trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp trong thực tế.

2.3.2.2. Nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản

Bên cạnh việc đem lại các quyền hợp pháp về tài sản riêng đối với chủ sở hữu là vợ hoặc chồng, việc người đó sở hữu tài sản riêng cũng bắt buộc họ phải gánh chịu những nghĩa vụ riêng về tài sản. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng được quy định tại Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đây cũng là điều luật nhằm phân biệt giữa nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng được quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tạo điều kiện để có thể xác định trong một số trường hợp nhất định liên quan đến tài sản, nghĩa vụ phát sinh trong trường hợp đó sẽ thuộc về vợ hay chồng hoặc là nghĩa vụ của cả hai vợ chồng. Có thể nhận thấy rằng, điểm cơ bản nhất để phân biệt giữa nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản và nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng chính là mục đích xác lập giao dịch của mỗi bên vợ chồng. Nghĩa là, nếu một bên thực hiện nghĩa vụ giao dịch vì lợi ích chung của gia đình, đảm bảo nhu cầu cuộc sống thì đó là nghĩa vụ chung, còn nếu thực hiện nghĩa vụ giao dịch vì lợi ích riêng của cá nhân thì đó sẽ là nghĩa vụ riêng. Ngoài điểm cơ bản nhất để phân biệt nêu trên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tính đến các trường hợp nghĩa vụ đã tồn tại từ trước khi phát sinh quan hệ hôn nhân theo pháp luật hoặc từ hành vi vi phạm pháp luật của một bên vợ hoặc chồng. Một căn cứ quan trọng nữa để xác định nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của vợ chồng là việc vợ chồng đã sử dụng loại tài sản nào để thực hiện giao dịch. Nếu vợ chồng sử dụng tài sản riêng vào mục đích riêng nghĩa vụ phát sinh sẽ là nghĩa vụ riêng về tài sản của họ, còn sử dụng tài sản riêng vào mục đích trang trải cho cuộc sống gia đình, nghĩa vụ phát sinh sẽ là nghĩa vụ chung. Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

Theo quy định tại Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

  1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
  2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
  3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
  4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng”.

Như vậy, so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định đầy đủ, cụ thể hơn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định nghĩa vụ về tài sản riêng của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó nhưng không xác định cụ thể nghĩa vụ nào là nghĩa vụ riêng của vợ, chồng. Điều này gây ra khó khăn và vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật, không đảm bảo việc hiểu và áp dụng pháp luật một cách thống nhất. Để khắc phục thiếu sót của Luật H&GĐ năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã liệt kê cụ thể các nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng tại một điều luật riêng (Điều 45).

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bỏ quy định “Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” tại khoản 4 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì việc sử dụng cụm từ “cũng được” dẫn đến những cách hiểu khác nhau: Tài sản riêng của vợ, chồng được đưa vào sử dụng vì các nhu cầu thiết yếu của gia đình là quyền hay nghĩa vụ của vợ chồng? Chúng tôi cho rằng, điều này là hợp lý, vì nếu là nghĩa vụ thì trường hợp họ không đưa vào sử dụng chung thì họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý gì từ việc không tuân thủ quy định của pháp luật. Khi đó, có chế tài gì để một bên vợ hoặc chồng có thể sử dụng để yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ hay không? Nếu đây được xem là quyền của bên có tài sản riêng thì thật sự quy định này không có tính khả thi. Ngoài ra, một vấn đề khác là cả vợ và chồng đều có tài sản riêng thì việc đưa tài sản riêng vào dùng chung theo tỷ lệ đóng góp bao nhiêu? Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464