Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng – Một số kiến nghị, đề xuất dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng

3.1.1. Xác định tài sản chung của vợ chồng

Tại khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra…trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng có thỏa thuận là tài sản chung”. Tài sản riêng là tài sản có trước khi kết hôn hoặc tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng do một người đứng tên mặc dù được đưa vào khai thác, sử dụng chung nhưng không có văn bản thỏa thuận đưa vào tài sản chung thì vẫn là tài sản riêng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 thì việc tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định trên lại gặp phải vướng mắc, ảnh hưởng tới quyền lợi của người phụ nữ. Nhiều trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một mảnh đất để ra ở riêng nhưng không lập thành văn bản. Khi xảy ra tranh chấp thì thông thường cha mẹ chồng chỉ công nhận là tặng cho con trai và vì vậy người phụ nữ cho dù qua bao nhiêu năm chung sống cũng chỉ được xem xét đến công sức đóng góp trong việc tôn tạo, tu sửa. Sau đây là một ví dụ: Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

Chị H và anh N kết hôn năm 1992, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện TT, thành phố HN. Vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ngày 18/4/2009, chị H khởi kiện xin ly hôn anh N. Về phía a N, anh cũng đồng ý ly hôn với chị H. Về con chung: Vợ chồng có hai con. Chị H và anh N đều có nguyện vọng nuôi cả hai cháu và không yêu cầu người còn lại đóng góp nuôi con. Về tài sản: Trong quá trình chung sống, năm 2002 vợ chồng có xây nhà hai tầng. Vợ chồng thống nhất giá trị phần xây dựng của căn nhà là tài sản chung hai vợ chồng.

Riêng về đất, các bên không thống nhất được với nhau.

Theo chị H: đất là của gia đình ông Ph (bố đẻ anh N), được Ủy ban nhân dân cấp theo diện giãn dân vào năm 1992. Sau một thời gian, gia đình ông Ph đã họp gia đình và tuyên bố cho vợ chồng diện tích đất này (cho bằng miệng chứ không làm giấy tờ gì). Năm 2001, bố chồng (là ông Ph) sang bảo vợ chồng kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận và anh N đi làm thủ tục cấp sổ đỏ. Hiện nay, diện tích đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đứng tên hộ anh N. Do đó, diện tích này là tài sản chung của vợ chồng. Chị yêu cầu được sử dụng nhà, đất nêu trên và thanh toán 1/2 giá trị đất.

Theo anh N: Thửa đất trên có nguồn gốc là bố mẹ anh được cấp giãn dân năm 1992. Bố mẹ chỉ cho vợ chồng ở nhờ chứ chưa cho, vì gia đình anh còn đông anh em. Năm 2001, anh tự kê khai làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình anh không biết. Quan điểm của anh là trả lại đất cho ông Ph.

Theo vợ chồng ông Ph: Nguồn gốc đất là của hộ gia đình, được Ủy ban nhân dân xã cấp đất giãn dân năm 1992, chủ hộ là ông Ph, ông có xây một căn nhà cấp 4 trên đó. Năm 1993, gia đình ông cho vợ chồng anh N, chị H ra đó làm ăn sinh sống chứ không cho đất. Khi gia đình được cấp đất giãn dân, thì gia đình chỉ có 4 người. Anh N đã thoát ly đi bộ đội khỏi địa phương. Khi chị H xin ly hôn anh N, gia đình ông mới biết a N đã tự động sang tên đất từ năm 2001. Nay ông, bà đề nghị anh N, chị H trả lại đất cho ông bà.

Bản án sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện TT và bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố HN đã quyết định: Chị H được ly hôn anh N. Về con chung: giao cháu Gi, sinh ngày 14/8/2000 cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Anh N có quyền đi lại thăm hỏi con chung, không ai được ngăn cản.

  1. Tài sản chung: Xác nhận ngôi nhà là tài sản chung của hai vợ chồng.
  2. Xác nhận quyền sử dụng đất thuộc hộ gia đình ông Ph. Buộc chị H và anh N phải trả lại cho hộ gia đình ông Ph quyền sử dụng thửa đất nêu trên. Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

Sau khi xét xử phúc thẩm, chị H có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm nêu trên. Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Về quan hệ hôn nhân và con chung: Tòa án các cấp đã giải quyết, các đương sự không có khiếu nại. Về quan hệ tài sản: Tài sản mà các đương sự tranh chấp là diện tích đất 80m2 tại ở VH, xã VT, huyện TT, thành phố HN mang tên hộ anh N. Hồ sơ thể hiện nguồn gốc diện tích đất nêu trên là của ông Ph được Ủy ban nhân dân xã cấp đất giãn dân vào năm 1992. Căn cứ Biên bản bàn giao đất của Ủy ban nhân dân xã cho ông Ph thì thời điểm có biên bản giao đất này chị H đã kết hôn với anh N. Tuy nhiên, theo xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm thì xã đã có chủ trương cấp đất giãn dân từ năm 1991. Dù khi làm thủ tục cấp đất, gia đình ông Ph chỉ có 4 người thời điểm này anh N nhưng việc cấp đất giãn dân là cấp đất cho hộ đông người, cấp cho vợ chồng ông Ph và các con, nên anh Nam cũng là đối tượng được cấp đất. Năm 1993, gia đình ông Ph cho vợ chồng anh N ra ở riêng trên diện tích đất này và anh chị là người quản lý, sử dụng đất liên tục từ đó cho đến nay. Năm 2001, xã tổ chức cho các hộ dân trong xã đăng ký kê khai để xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và các hộ kê khai tại trụ sở. Tất cả các hộ dân trong xã đều được biết về chủ trương kê khai đất này. Ông Ph là chủ đất nhưng không đi kê khai.

Anh N đang ở trên đất và là người đi kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận. Ngày 21-12-2001, anh N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U060645 đứng tên hộ ông N. Vợ chồng anh chị đã xây nhà 2 tầng kiên cố vào năm 2002 và đến năm 2005 thì xây thêm tum tầng 3. Ông P và các anh chị em trong gia đình anh N đều biết việc xây dựng trên của vợ chồng anh N, nhưng cũng không ai có ý kiến gì. Như vậy, từ khi được cấp giấy chứng nhận (2001) cho đến khi có việc ly hôn của anh N, chị H (2009), gia đình ông Ph cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình ông Ph là đã cho hai vợ chồng diện tích đất nêu trên. Do đó, việc ông Ph và anh N khai rằng anh N tự ý kê khai giấy tờ đất, ông Ph không biết là không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị H về việc gia đình ông Ph đã cho anh chị diện tích đất trên, là có cơ sở. Cần phải xác định diện tích đất tranh chấp trên là tài sản chung của vợ chồng anh N, chị H và khi chia phải coi anh N có công sức đóng góp nhiều hơn để chia theo công sức của mỗi bên và cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Quyết định giám đốc thẩm số 208/2013/DS-GĐT ngày 03-5-2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Ly hôn” trên là nguồn của án lệ số 03/2016/AL. Nội dung của án lệ: “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất”. Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

Vì vậy, việc công bố Án lệ số 03/2016/AL ngày 03-5-2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là sự bổ sung cần thiết, nhằm đảm bảo quyền lợi của người vợ khi ly hôn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.1.2. Định đoạt tài sản chung

Theo Bộ luật dân sự năm 2015 và theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng đối với những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu phải bằng văn bản. Tuy nhiên trên thực tế áp dụng cũng nhiều vấn đề bất cập.

  • Sau đây là một ví dụ:

Bà T trình bày :Năm 1996, vợ chồng bà có mua 02 căn nhà cấp 4 trên diện tích đất thổ cư khoảng 160m2 của gia đình ông N tại xã X, quận T, TP H. Việc mua bán hai bên có lập hợp đồng. Do vợ chồng bà chưa có hộ khẩu thường trú nên chính quyền địa phương không xác nhận việc mua bán trên. Bà đã trả đủ tiền và gia đình ông N đã giao nhà, đất cho bà quản lý, sử dụng. Sau khi mua bán nhà đất, gia đình ông N xây nhà mới có mượn vợ chồng bà ngôi nhà (phía trong) để sử dụng, còn diện tích phía ngoài bà đã cho cháu họ của bà ở nhờ để đi học. Khi gia đình ông N làm xong nhà đã trả lại nhà, đất cho bà. Bà đã phá dỡ nhà cũ, tôn nền và xây dựng nhà mới như hiện nay để các cháu ở nhờ. Năm 2006, sau khi bà nhập khẩu về địa phương, khi bà làm thủ tục xin cấp giấy tờ về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở thì vợ chồng ông N đã gây khó khăn, vì cho rằng bà còn thiếu hơn 03 cây vàng và vợ chồng ông chỉ bán nhà, đất phía trong, còn nhà, đất giáp mặt đường vẫn là nhà, đất của gia đình ông. 

Vợ ông N là bà P còn cho rằng việc ký hợp đồng, nhận tiền mua bán nhà, đất chỉ do ông N thực hiện, bà P không biết”.

Vụ án trên phản ánh một thực trạng trong thực tiễn cho thấy, nhiều gia đình khi bán nhà chỉ do một người chồng ký. Người vợ không ký nhưng biết việc mua bán, thể hiện bằng việc sử dụng số tiền bán nhà vào những công việc chung của gia đình. Tuy nhiên, khi giá cả nhà đất tăng, thì người vợ lại yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà vô hiệu vì cho rằng mình không biết việc mua bán nhà. Do vậy, việc ban hành Án lệ số 04/2016/AL ngày 6/4/2016 của Tòa án nhân dân tối cao là sự bổ sung cần thiết đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên trong giao dịch dân sự. Nội dung án lệ: “Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996: Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, bà T đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở. Trong khi đó gia đình ông N, bà P vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà bà T. Theo lời khai của các người con ông N, bà P thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà T, ông N, bà P đã phân chia vàng cho các người con. Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho vợ chồng bà T thì ngày 26-4-1996, ông N còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà P, ông N đã sử dụng phần nhà đất của bà T khi xây dựng nhà. Như vậy, có cơ sở xác định bà P biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông N với vợ chồng bà T, bà P đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà P khiếu nại cho rằng ông N chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà T bà không biết là không có căn cứ.” Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

Nhận xét: Theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của cả vợ và chồng nên khi vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung cho người khác thì cần có sự đồng ý của người còn lại. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp giao dịch chuyển nhượng tài sản phải đăng ký quyền sở hữu được xác lập mà thiếu đi chữ ký của người vợ nhưng người vợ biết mà không phản đối thì án lệ 04/2016/AL xác định trong trường hợp này phải được xác định là người vợ đã đồng ý việc giao dịch và giao dịch đó được coi là có giá trị pháp lý. Nội dung của Án lệ số 04/2016/AL ngày 6/4/2016 của Tòa án nhân dân tối cao đề cao việc tôn trọng ý chí đích thực của chủ thể hơn là đặt nặng vấn đề về hình thức thể hiện ý chí đó và một người không thể viện dẫn vi phạm về hình thức để phủ nhận ý chí của mình. Ở đây, sự không hoàn thiện về hình thức (không có văn bản thể hiện sự thỏa thuận, đồng ý của bên còn lại) không cho phép phủ nhận sự tồn tại và giá trị của sự đồng ý nếu tồn tại căn cứ khác cho thấy sự đồng ý đó. Trong trường hợp này, Án lệ số 04/2016/AL đã thể hiện đường lối xử lý thỏa đáng.

3.1.3. Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng ly thân

Ly thân là việc vợ, chồng không còn ràng buộc nhau về chuyện tình cảm, kinh tế, mỗi người sống một nơi. Trong một số trường hợp đặc biệt thì vẫn sống chung nhà nhưng không có bất cứ ràng buộc nào.

Về nguyên tắc thì ly thân không làm chấm dứt mối quan hệ hôn nhân chính vì vậy mà tài sản có trong thời kỳ ly thân vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng. Ví dụ sau đây cho thấy sự bất cập về chế độ tài sản của vợ trong trường hợp ly thân:

Vợ chồng ông Văn Hồng Quảng và bà Nguyễn Thị Phương, trú tại Khu 11, thôn Thụ Ích, xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi phân chia tài sản ly hôn, vợ chồng ông bà đã thống nhất được thành phần khối tài sản chung, còn số tiền 225.000.000 được gửi tiết kiệm tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Yên Lạc là đang tranh chấp. Bà Phương cho rằng đây là tài sản chung của ông bà và đề nghị Tòa án chia. Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

Theo bà Nguyễn Thị Nguyệt, người đã chung sống với ông Quảng như vợ chồng trong thời gian ông Quảng và bà Phương ly thân, trình bày: Số tiền 225.000.000đ ông Quảng gửi tiết kiệm này là tiền của bà làm ăn tích cóp được. Bà và ông Quảng sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 cho đến nay nên bà có nhờ ông Quảng đứng ra gửi tiết kiệm số tiền trên.

TAND huyện Yên Lạc cho rằng: Ông Quảng và bà Phương kết hôn với nhau năm 1968, đến năm 1988 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2000 cho đến nay. Giữa ông Quảng và bà Phương không còn tình cảm và cũng không chung nhau về kinh tế. Từ năm 2001 đến nay ông Quảng làm ăn riêng và chung sống với bà Nguyệt như vợ chồng, theo bà Nguyệt số tiền 225.000.000đ là của bà do làm ăn tích cóp mà có, bà nhờ ông Quảng gửi tiết kiệm, ông Quảng cũng thừa nhận. Bà Phương đề nghị chia, ông Quảng, bà Nguyệt không đồng ý. Mặt khác, bà Phương không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình. Do vậy không có căn cứ khẳng định số tiền 225.000.000đ là tài sản chung của ông Quảng, bà Phương nên yêu cầu chia số tiền này của bà Phương không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã căn cứ vào tình hình thực tế để phân chia tài sản, cho rằng vì sổ tiết kiệm được gửi trong thời gian vợ chồng ông Quảng và bà Phương ly thân nên số tiền này không phải là tài sản chung của vợ chồng ông bà.

Trong khi đó, nếu như áp dụng đúng tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình thì sổ tiết kiệm ông Quảng gửi trong thời gian ông và bà Phương chưa ly hôn phải là tài sản chung của ông bà. Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử như trên mặc dù phù hợp với thực tế, phản ánh bản chất quan hệ tài sản của vợ chồng nhưng lại không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành: tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Vì Luật Hôn nhân và gia đình không quy định về chế định ly thân cũng như chế độ tài sản của vợ chồng trong thời gian vợ chồng ly thân. Thời gian ly thân vẫn là khoảng thời gian trong thời kỳ hôn nhân và đối với những tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, cần bổ sung thêm các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong thời gian vợ chồng ly thân.

3.1.4. Nghĩa vụ về tài sản riêng của vợ, chồng

Khi liệt kê những nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng, Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình lại không quy định về nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng ví dụ như các khoản chi phí (nuôi dưỡng, giáo dục) đối với con riêng hoặc khoản chi phí phát sinh từ việc người vợ, chồng làm người giám hộ cho người khác… Theo tác giả, đây là một thiếu sót của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, sự thiếu sót này nếu như không được khắc phục sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào đời sống. Do đó, thiết nghĩ cần bổ sung nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng trong quy định về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng.

3.2. Một số kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ và chồng Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

3.2.1. Quy định về căn cứ xác định tài sản chung và việc chia tài sản chung của vợ chồng

Căn cứ xác định tài sản chung: Cần cụ thể hoá quy định của Án lệ số 03/2016/AL trong Luật Hôn nhân và gia đình theo đó vợ chồng cất nhà sinh sống, ổn định lâu dài, xây dựng các công trình trên đất cha mẹ biết nhưng không phản đối… thì Tòa án xác định quyền sử dụng đất gắn liền với nhà hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và chia theo quy định nhưng có xét đến công sức đóng góp của mỗi bên.

Nguyên tắc suy đoán tài sản chung: Khoản 3 Điểu 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”. Đây là quy định mang tính chất như một nguyên tắc suy đoán, đến nay Luật Hôn nhân và gia đình không quy định gì về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp tài sản giũa vợ và chồng, quy định này còn rất đơn giản về tài sản chung nên trong thực tiễn tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận.

3.2.2. Cần bổ sung quy định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình:

Ly thân là một thực tế xảy ra với nhiều cặp vợ chồng khi tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Họ chưa ly hôn nhưng trên thực tế nhiều cặp vợ chồng đã ở riêng nhiều năm, có thu nhập riêng. Do vậy, việc xác định thu nhập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng là không phản ánh bản chất quan hệ hôn nhân. Vì vậy, việc bổ sung các quy định về ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình là sự cần thiết nhằm phù hợp với thực tiễn.

3.2.3. Về định đoạt tài sản chung

Như tác giả đã phân tích ở trên về nguyên tắc việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng đối với những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu phải lập thành văn bản có chữ ký của cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều trường hợp giao dịch chuyển nhượng tài sản phải đăng ký quyền sở hữu được xác lập mà thiếu đi chữ ký của người vợ nhưng người vợ biết mà không phản đối. Trong trường hợp này cần phải xác định là người vợ đã biết và đồng ý và giao dịch trên được coi là hợp pháp. Vì vậy, để đảm bảo thống nhất trong cách hiểu và vận dụng pháp luật cần sớm cụ thể hoá Án lệ số 04/2016/AL ngày 6/4/2016 của Tòa án nhân dân tối cao trong Luật HN&GĐ. Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

3.2.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng

Bên cạnh việc củng cố và kiện toàn hệ thống pháp luật, nâng cao điều kiện vật chất và con người góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng, các cấp, các ngành cần quan tâm tuyên truyền, phổ biến cho người dân biết các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, để họ có thể tự chủ động bảo vệ được quyền lợi của mình. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, từ đó tạo điều kiện cho người dân hiểu và thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Tăng cường tích cực hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể trong việc tổ chức hòa giải cơ sở giúp giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng, hạn chế việc ly hôn dẫn đến yêu cầu giải quyết tranh chấp về chế độ tài sản của vợ chồng.

Các cơ quan áp dụng và bảo vệ pháp luật cần tiến hành tập huấn chuyên sâu về Luật Hôn nhân và gia đình nói chung và nhiệm vụ kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp nói riêng cho thẩm phán, kiểm sát viên, thư ký tòa án, hội thẩm nhân dân, hộ tịch viên và nhân viên tư pháp khác. Tránh hiện tượng cực đoan hoặc phủ nhận toàn bộ có giá trị truyền thống trong phong tục, tập quán về Hôn nhân và gia đình làm giảm tính hiệu lực của các quy phạm pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo… đẩy mạnh công tác phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình trong nhân dân. Qua đó, nâng cao ý thức của nhân dân trong gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp về Hôn nhân và gia đình. Đồng thời, giúp nhân dân nhận biết các phong tục tập quán lạc hậu cần được loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội và đời sống gia đình.

3.2.5. Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng

Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; bồi dưỡng thẩm phán, cán bộ Tòa án; rèn luyện phẩm chất chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng đội ngũ thẩm phán và cán bộ Tòa án vững về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng ngày càng cao của công cuộc cải cách tư pháp và yêu cầu của nhân dân.

Thứ hai, bổ sung kịp thời số cán bộ, Thẩm phán còn thiếu cho các đơn vị trong toàn ngành, tránh quá tải trong công việc. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị. Tăng cường tinh thần trách nhiệm của từng cán bộ, thẩm phán trong công tác.

Thứ ba, một trong những khó khăn mà Tòa án nhân dân các cấp thường gặp trong xét xử các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng là do các quy định của pháp luật hoặc thiếu hoặc không cụ thể. Để khắc phục tình trạng này, Tòa án cần đa dạng hóa việc áp dụng pháp luật, đặc biệt vận dụng các phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội về Hôn nhân và gia đình. Tòa án nhân dân tối cao cần định kỳ ban hành các tập hợp án lệ điển hình để Tòa án các cấp học tập và rút kinh nghiệm trong xét xử. Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

3.2.6. Giải pháp nâng cao chất lượng công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng

Trên thực tế, những tranh chấp về tài sản của vợ chồng chủ yếu là tranh chấp về nhà, đất, cũng như các hợp đồng giao dịch dân sự. Do đó, chất lượng đội ngũ công chứng viên, chất lượng hoạt động công chứng cần được nâng cao cũng như được quan tâm nhiều hơn nhằm không chỉ đảm bảo điều kiện về mặt hình thức của hợp đồng, mà còn phải chứng nhận cả tính hợp pháp về mặt nội dung của hợp đồng, tạo cho các giao dịch dân sự đi đúng quỹ đạo của pháp luật, giảm bớt các tranh chấp dân sự, phải kiện tại Tòa án.

Với những đề xuất trên, tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ hoàn thiện các quy định của pháp luật, đảm bảo việc áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng được thực hiện có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

Trong giai đoạn phát triển của xã hội hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội thì số lượng các tranh chấp về tài sản của vợ chồng xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Từ thực tế đó, đòi hỏi ngày càng cao tính chặt chẽ, minh bạch, rõ ràng của các quy định pháp luật về vấn đề xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng. Do đó, việc phân tích những vấn đề lý luận và nội dung của chế độ tài sản vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là một vấn đề mang tính khách quan và cấp thiết hiện nay nhằm hiểu rõ hơn quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng và hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng vẫn còn nhiều bất cập làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của vợ chồng. Do đó, cần phải phát hiện và đề ra biện pháp giải quyết kịp thời nhằm thích ứng với tình hình kinh tế – xã hội hiện nay. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá nêu trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Khóa luận: Kiến nghị áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464