Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn đời sống xã hội cho thấy, sau khi kết hôn trở thành vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm thương yêu, gắn bó giữa vợ chồng thì vợ, chồng cần thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật. Chế độ tài sản của vợ chồng luôn là một chế định quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình. Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tổng hợp các quy định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản, đảm bảo lợi ích chung của các thành viên trong gia đình đồng thời đảm bảo lợi ích của người thứ ba khi giao kết các hợp đồng liên quan đến tài sản của vợ, chồng. Ở Việt Nam, chế độ tài sản của vợ và chồng đã được nhà nước ta quy định rất sớm trong pháp luật và từng bước được hoàn thiện qua các thời kỳ lịch sử. So với các văn bản luật trước đó, chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2104 đã có nhiều sửa đổi theo hướng ngày càng phù hợp với thực tiễn, góp phần vào sự ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập và vướng mắc. Do đó, việc phân tích những vấn đề lý luận chế độ tài sản vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chỉ ra những bất cập trong việc thực hiện các quy định đó trên thực tiễn đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định đó là vấn đề mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Từ các phân tích trên, tác giả lựa chọn nội dung “ Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng trong pháp luật Việt Nam nói chung; phân tích những quy định cụ thể chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; tìm hiểu thực tiễn xét xử liên quan đến chế độ tài sản vợ chồng để thấy được những hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng, từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ, chồng theo pháp luật hiện hành, góp phần xây dựng hành lang pháp lý để phát triển gia đình hạnh phúc, ổn định, bền vững.

3.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu khóa luận này, tác giả sẽ phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2104. Khóa luận không nghiên cứu về quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ chồng.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài khoá luận tốt nghiệp, tác giả tìm hiểu một cách khái quát nhất về chế độ tài sản của vợ và chồng theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, tập trung tìm hiểu chế độ tài sản của vợ và chồng theo luật định theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

4. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận đã sử dụng một số phương pháp luận như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử để thấy được sự phù hợp của các quy định pháp luật đối với xã hội. Đồng thời, khóa luận cũng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và pháp triển gia đình. Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp và một số phương pháp khác.

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luận gồm 03 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ và chồng
  • Chương 2: Nội dung chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
  • Chương 3: Thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ và chồng – Một số kiến nghị, đề xuất

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI  SẢN CỦA VỢ  VÀ CHỒNG

1.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa chế độ tài sản của vợ và chồng

1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ và chồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Để xây dựng gia đình tốt thì nền tảng hôn nhân phải bền vững. Ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một trong những điều kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là cơ sở kinh tế để hôn nhân bền vững. Vì vậy, các nhà làm luật đã quan tâm xây dựng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng, cơ bản nhất của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Vợ, chồng trước hết với tư cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Tài sản của vợ, chồng thuộc phạm trù tài sản riêng của công dân đã được Hiến pháp năm 2013 (Điều 32) và Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận. Tài sản theo nghĩa từ điển Luật học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng”, còn theo quy định tại Điều 205 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản “là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.

Xét về lý thuyết, có thể áp dụng các quy định chi phối tài sản của vợ chồng như những người khác không phải là vợ chồng của nhau. Ví dụ, tài sản của bên nào, bên đó có quyền sử dụng, quản lý, định đoạt. Những thu nhập hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng… Tuy nhiên, lý thuyết này không thể áp dụng cho hai vợ chồng trong thực tiễn. Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập, sau khi kết hôn, hai vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc vì sự ổn định và phồn vinh của xã hội. Do tính chất đặc thù của quan hệ hôn nhân cần phải có một quy chế pháp lý đặc biệt nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng, theo đó, vợ chồng có quyền sử dụng các tài sản chung, tài sản riêng vừa đảm bảo hài hoà quyền và lợi ích của mỗi bên, lợi ích của các thành viên trong gia đình cũng như lợi ích của người thứ ba có liên quan, tạo lập sự ổn định trong xã hội.

Có thể hiểu: chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặc thoả thuận của vợ và chồng về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng bao gồm các căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng.

Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được nhà làm luật dự liệu do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện như là yếu tố khách quan; phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa để Nhà nước quy định trong pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Pháp luật ở mỗi quốc gia đều có quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, tuy nhiên mỗi quốc gia có thể có quy định khác nhau. Ngay trong một quốc gia, theo từng giai đoạn phát triển của đất nước, chế độ tài sản của vợ chồng được pháp luật quy định cũng có thể là khác nhau. Ví dụ, theo hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta, từ năm 1945 đến trước ngày 01/01/2015 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực pháp luật) đã không ghi nhận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (chế độ tài sản ước định) chỉ quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định (chế độ tài sản pháp định). Đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã lựa chọn chế độ cộng đồng toàn sản (quy định chỉ có tài sản chung giữa vợ chồng); còn Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và năm 2000 lại quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là chế độ cộng đồng tạo sản (giữa vợ chồng vừa có tài sản chung, đồng thời ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng). Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã dự liệu có hai loại chế độ tài sản của vợ chồng: Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận và chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, nhà làm luật vẫn lựa chọn chế độ cộng đồng tạo sản.

1.1.2. Đặc điểm chế độ tài sản của vợ và chồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Thứ nhất, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp là vợ chồng của nhau, có đủ năng lực chủ thể trong pháp luật dân sự và tuân thủ các điều kiện kết hôn trong pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Thứ hai, chế độ tài sản của vợ chồng gắn liền với quan hệ hôn nhân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Chế độ tài sản của vợ chồng tồn tại như một tất yếu khách quan của quan hệ hôn nhân. Trong đó,  quy định căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào điều kiện phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân. Tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nguồn bảo đảm đối với cuộc sống vật chất và tinh thần của gia đình. Xuất phát từ quan hệ hôn nhân, chế độ tài sản của vợ chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của hôn nhân và chấm dứt khi vợ hoặc chồng chết trước hoặc có một bản án, quyết định của Tòa án cho vợ chồng ly hôn.

Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng được xây dựng nhằm mục đích trước tiên và chủ yếu là bảo đảm quyền lợi của gia đình, là cơ sở để vợ chồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản. Đồng thời, các chủ thể liên quan đến tài sản của vợ chồng phải nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện các quy định pháp luật về quyền lợi, nghĩa vụ và trách  nhiệm liên quan đến tài sản của vợ chồng.

Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền sở hữu và giao dịch giữa vợ, chồng và giữa họ với các chủ thể khác (người thứ ba), qua đó góp phần bảo đảm quyền lợi của gia đình trong đó có lợi ích của cá nhân vợ, chồng và người thứ ba có liên quan đến tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Dù vợ chồng lựa chọn loại chế độ tài sản nào cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc, tài sản nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể có nhiều phát sinh các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tài sản của vợ chồng. Do đó, cần phải xác định được trong các giao dịch về tài sản của vợ chồng, trường hợp nào được coi là có sự thỏa thuận mặc nhiên của cả hai vợ chồng khi chỉ một bên vợ, chồng sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng ký kết hợp đồng với người khác. Việc thỏa thuận mặc nhiên như: vợ, chồng sử dụng tài sản, tiền bạc nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình như: ăn, ở, học hành, chữa bệnh,…Việc xác định này nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của vợ, chồng liên quan đến tài sản của mình và quyền lợi của người thứ ba tham gia các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Thứ năm, các văn bản quy phạm pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng. Tòa án sẽ giải quyết phân chia tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi có yêu cầu và bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng và người khác có liên quan đến tài sản của vợ chồng.

1.1.3 Vai trò chế độ tài sản của vợ và chồng

Xuất phát từ vị trí quan trọng của gia đình đối với xã hội, gia đình là nền tảng cơ bản, thể hiện tính chất và kết cấu xã hội. Hôn nhân lại là cơ sở để tạo lập gia đình – tế bào của xã hội. Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ vợ chồng. Trong mỗi chế độ xã hội cụ thể đều xây dựng một mô hình gia đình phù hợp với tính chất, kết cấu của chế độ xã hội đó. Lịch sử xã hội đã ghi nhận nhiều hình thái gia đình tương ướng với chế độ chủ nô, phong kiến, tư sản và gia đình Xã hội chủ nghĩa với những đặc điểm và nội dung khác nhau, do các điều kiện kinh tế – xã hội chi phối.

Trong quan hệ gia đình (dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng), quan hệ vợ chồng có vai trò đặc biệt quan trọng. Quan hệ hôn nhân thường có tính chất bền vững “trăm năm”, vợ chồng chung sống với nhau suốt đời, sinh đẻ, giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng các con vì quyền lợi của gia đình và lợi ích của xã hội. Bên cạnh đời sống tình cảm, yêu thương gắn bó giữa vợ chồng, không thể không quan tâm tới đời sống vật chất, tiền bạc, tài sản của vợ chồng. Cuộc sống chung của vợ chồng, tính chất của mối quan hệ vợ chồng được xác lập đòi hỏi phải có khối tài sản chung của vợ chồng; bởi tài sản là cơ sở kinh tế của gia đình, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, bảo đảm cho gia đình thực hiện được các chức năng xã hội của nó.

Trước hết, chế độ tài sản của vợ chồng được pháp luật của Nhà nước ghi  nhận (dù là chế độ tài sản theo thỏa thuận – chế độ tài sản ước định, hay chế độ tài sản theo luật định – chế độ tài sản pháp định) đều thực hiện vai trò nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng, tạo điều kiện để vợ chồng có những cách thức “xử sự” theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội; Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Thứ hai, trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh các quan hệ về nhân thân và tài sản phát sinh giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; trong đó, Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh trước tiên và chủ yếu nhóm các quan hệ nhân thân, nó quyết định tính chất và nội dung của nhóm quan hệ tài sản. Tuy vậy, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa các chủ thể là thành viên của gia đình có tác dụng vô cùng quan trọng, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ nhân thân được thực hiện trên thực tế. Trên cơ sở đó xây dựng gia đình Xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững. Thực hiện và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng với nhau và giữa các thành viên trong gia đình;

Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, nhằm đáp ứng lợi ích cá nhân vợ, chồng, quyền lợi của gia đình; vợ chồng phải ký kết rất nhiều hợp đồng dân sự với những người khác. Nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng, các giao dịch đó được bảo đảm thực hiện, quyền lợi của vợ chồng, của người tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ. Chế độ tài sản của vợ chồng định rõ về thành phần tài sản của vợ chồng và quyền hạn, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với những tài sản mà vợ, chồng có được trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân; quyền sở hữu của vợ chồng đối với từng loại tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Từ đó, khi vợ chồng thực hiện quyền sở hữu của mình, vì lợi ích chung của gia đình, của cá nhân vợ, chồng hay vì lợi ích của người khác được ổn định trong một trật tự pháp lý. Các kết ước liên quan đến tài sản do vợ, chồng thực hiện theo những mục đích cụ thể đối với từng loại tài sản đều phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định. Trong đó, quyền lợi của người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng được pháp luật bảo vệ.

1.1.4. Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế. Việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình có những ý nghĩa quan trọng đối với xã hội:

Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật hôn nhân và gia đình được Nhà nước quy định dựa trên sự phát triển của các điều kiện kinh tế -xã hội. Nó thể hiện tính giai cấp, bản chất của chế độ chính trị -xã hội cụ thể. Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật của Nhà nước, người ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó. Tương ứng với mỗi chế độ xã hội cụ thể là một chế độ hôn nhân và gia đình, trong đó có các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng. Trong xã hội phong kiến, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là bất bình đẳng, pháp luật hầu như không bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, ở nhà chồng, tài sản làm ra thuộc sở hữu của nhà chồng, khi chồng còn sống, người vợ không có quyền lợi kinh tế, khi chồng chết, tài sản không thuộc về họ mà thuộc về con cái và dòng họ nhà chồng, như vậy vợ và chồng không có quan hệ tài sản, càng không thể có sự thoả thuận về tài sản giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Dưới thời Pháp thuộc, chế độ tài sản của vợ chồng được quy định có tiến bộ hơn, pháp luật thừa nhận cho vợ chồng có quyền xây dựng các quan hệ tài sản theo thoả thuận, miễn là các thoả thuận ấy không có tác dụng tước đi quyền đứng đầu gia đình của người chồng và không trái với thuần phong mỹ tục. Hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đều thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi quy định về chế độ tài sản của vợ chồng. Vợ chồng bình đẳng trong việc dạy dỗ con cái, chia sẻ công việc gia đình, cùng lao động để tạo dựng khối tài sản chung của gia đình và cùng quản lý, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung, không bên nào được áp đặt, phụ thuộc bên nào.

Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa nhằm xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng được dự liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản pháp định, dù chế độ tài sản cộng đồng hay theo tiêu chuẩn phân sản thì các loại tài sản của vợ chồng luôn được pháp luật quy định rõ.

Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng của chế độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng.

Chế độ tài sản của vợ chồng được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau hoặc với những người khác trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên vợ, chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.

1.2. Nội dung chế độ tài sản của vợ và chồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Các nhà làm luật ở mỗi quốc gia đều lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tập quán, truyền thống và nguyện vọng của các cặp vợ chồng trong đó thể hiện rõ ý chí của nhà nước khi điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Pháp luật các quốc gia trên thế giới quy định có hai chế độ tài sản của vợ chồng, đó là chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định) và chế độ tài sản theo sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định).

1.2.1. Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận (chế độ tài sản ước định)

Trong nền kinh tế thị trường, ý thức độc lập và tự chủ ngày càng cao của mỗi cá nhân về lợi ích tài sản trong xu thế sở hữu cá nhân và tự do kinh doanh. Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận cho phép vợ chồng tự quyết định quyền sở hữu về tài sản trong gia đình, trong đó, vợ chồng tự giác thực hiện các nghĩa vụ và quyền về tài sản đã thỏa thuận. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận sẽ giúp cho cơ quan tư pháp thuận lợi trong công tác xét xử và thi hành án nếu có tranh chấp về tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản ước định là chế độ tài sản vợ chồng được quyền xác định quan hệ tài sản của mình trên cơ sở tự thỏa thuận. Văn bản ghi nhận sự thỏa thuận đó là hôn ước. Trước khi kết hôn, vợ chồng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để quy định chế độ tài sản của họ, pháp luật chỉ can thiệp và quy định chế độ tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước.

Hôn ước là văn bản ghi nhận những thỏa thuận, giao ước tiền hôn nhân do hai người nam và nữ thống nhất lập trước khi kết hôn về vấn đề điều chỉnh quan hệ tài sản của họ trong thời kỳ hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân.

Nội dung của hôn ước là sự thỏa thuận về vấn đề sở hữu tài sản, quy định cách thức xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng cũng như xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với nhau hay trong trường hợp có giao dịch với bên thứ ba. Thỏa thuận trong hôn ước không được trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Hôn ước chỉ dùng để thỏa thuận về vấn đề tài sản và không thể thỏa thuận hay làm khác đi trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng hay các quan hệ nhân thân khác đã được pháp luật quy định. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Hôn ước được lập bằng văn bản có chữ ký của nam và nữ chuẩn bị kết hôn và phải được xác nhận tính hợp pháp bởi cơ quan tư pháp, cơ quan nhà nước hoặc cơ quan công chứng (tùy vào quy định của pháp luật của từng quốc gia). Khi muốn thay đổi hay chấm dứt hiệu lực của hôn ước phải theo một thể thức nhất định và thường được tiến hành theo hình thức lập hôn ước.

1.2.2. Chế độ tài sản vợ chồng theo luật định (Chế độ tài sản pháp định)

Chế độ tài sản theo luật định quy định cụ thể về căn cứ xác định nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan tới các khoản nợ chung hay riêng của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ chồng với người thứ ba.

Xuất phát từ điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, truyền thống, văn hóa, tập quán của mỗi quốc gia mà thiết lập một chế độ tài sản của vợ chồng cho phù hợp, thông thường chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thiết lập theo 2 quan niệm sau:

Quan niệm thứ nhất, đời sống chung của vợ chồng đòi hỏi cần thiết phải có khối tài sản cộng đồng (tài sản chung của vợ chồng). Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng được thiết lập theo tiêu chuẩn cộng đồng.

Quan niệm thứ hai, trong đời sống chung của vợ chồng không bắt buộc và không cần thiết phải có một khối tài sản chung. Quan niệm này tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu riêng của vợ, chồng, tài sản của vợ, chồng phải được độc lập. Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng được thiết lập theo tiêu chuẩn phân sản (không có tài sản chung của vợ chồng).

  • a) Chế độ tài sản theo tiêu chuẩn cộng đồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Chế độ tài sản theo tiêu chuẩn cộng đồng bao gồm: chế độ cộng đồng toàn sản; chế độ cộng đồng động sản và tạo sản; chế độ cộng đồng tạo sản.

Về chế độ cộng đồng toàn sản: là chế độ tài sản của vợ chồng mà theo đó, tất cả tài sản của vợ chồng có được đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Chế độ tài sản này phù hợp với loại hình gia đình truyền thống, luôn đặt lợi ích của gia đình lên hàng đầu. Luật pháp không thừa nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tất cả tài sản mà một bên vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng; những tài sản mà vợ chồng được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản mà vợ, chồng tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân, không kể nguồn gốc, công sức đóng góp vợ, chồng đều được coi là tài sản chung của vợ chồng.

Tuy nhiên, chế độ tài sản này thường không được phổ thông, không được áp dụng đối với trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản hôn ước (theo thỏa thuận) bởi:

  • Bất công nếu một bên vợ, chồng không có tài sản, không có công sức đóng góp, tạo dựng tài sản chung nhưng vẫn được hưởng quyền lợi về tài sản;
  • Không đảm bảo quyền lợi chính đáng đối với trường hợp một bên có tài sản riêng từ trước khi kết hôn hoặc được tặng, cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân;
  • Không bảo đảm sự độc lập về tài sản của mỗi bên vợ, chồng khi tham gia các giao dịch dân sự nhằm đảm bảo lợi ích cá nhân hoặc nghĩa vụ thanh toán các món nợ riêng của vợ, chồng đối với người khác;
  • Không bảo đảm quyền tự đoạt tài sản của bản thân vợ chồng, mà tài sản đó thuộc tài sản riêng của mỗi bên;
  • Một khía cạnh không tốt sẽ hạn chế vợ chồng trong việc tích cực tạo dựng tài sản chung, dẫn đến sự ỷ lại, vì không làm vẫn được hưởng. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Về chế độ cộng đồng động sản và tạo sản: là chế độ tài sản mà theo đó, thành phần tài sản chung của vợ chồng đã được luật hóa với phạm vi hẹp hơn so với chế độ cộng đồng toàn sản. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: các động sản của vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân, các hoa lợi và các bất động sản mà vợ, chồng mua lại bằng tài sản chung. Vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với bất động sản có trước khi kết hôn và bất động sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Chế độ tài sản này được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lập hôn ước với tính chất là chế độ tài sản theo luật định.

Về chế độ cộng đồng tạo sản: là chế độ tài sản mà theo đó, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân sẽ thuộc quyền sở hữu riêng của vợ, chồng. Chế độ tài sản này không phá vỡ chế độ tài sản chung của vợ chồng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, ngăn chặn các trường hợp kết hôn với mục đích không lành mạnh.

  • b) Chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn không có cộng đồng tài sản (chế độ phân sản)

Chế độ phân sản là một hình thức của chế độ tài sản pháp định, theo đó, giữa vợ chồng không tồn tại khối tài sản chung, tất cả tài sản mà mỗi bên vợ, chồng đã có từ trước khi kết hôn hoặc tạo ra được hoặc có được do được tặng, cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân thì đều thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Trong đó, vợ chồng tùy theo khả năng của mỗi bên có nghĩa vụ phải đóng góp vào việc chi tiêu chung của gia đình nhằm đảm bảo lợi ích chung của gia đình. Trong hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới như: Anh, Italia từng áp dụng chế độ tài sản này.

Tuy nhiên, hiện nay hầu như các nước không thừa nhận chế độ tài sản này vì quá đề cao lợi ích cá nhân vợ chồng mà xem nhẹ lợi ích chung của gia đình, điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của gia đình.

1.3. Khái quát về chế độ tài sản của vợ và chồng trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

1.3.1. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quy định về Hôn nhân và gia đình chiếm một vị trí quan trọng trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, khảo cứu các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cổ luật Việt Nam không dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng theo như quan niệm của những nhà lập pháp tư sản. Quốc triều hình luật (QTHL) được ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và Hoàng Việt luật lệ (HVLL) ban hành dưới triều Nguyễn (1815) đều có các quy định về vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng chế độ tài sản của vợ chồng không được quy định như một chế định riêng rẽ và cụ thể. Quốc triều hình luật không có điều khoản nào đề cập đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ dự liệu một số trường hợp chia tài sản của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước (Điều 374, 375, 376). Hoàng Việt luật lệ không có điều khoản nào đề cập về vấn đề tài sản của vợ chồng. Theo Điều 94 Hoàng Việt luật lệ quy định về sự thoái hôn thì người nào đã bằng lòng gả con gái và chấp nhận “hôn thư” hoặc đã ký “tư ước” tức là đã biết rõ về tình trạng hôn nhân và gia đình của vị hôn phu (tuổi, tật bệnh, dòng giống, con chính thức, con nuôi…) mà rồi tự mình vô cớ cự tuyệt sẽ bị phạt 50 trượng. Dù là không có khế ước viết nhưng nếu đã nhận lễ vật (sính lễ), thì cũng bị trừng phạt như trên. “Hôn thư” được quy định trong điều luật này không phải là một “hôn ước” thỏa thuận về vấn đề tài sản của vợ chồng như quan niệm ngày nay ở các nước tư bản. “Hôn thư” chỉ là một văn bản ghi nhận sự đính hôn giữa hai bên gia đình gả con cho nhau mà thôi. Luật và tục lệ cổ ở Việt Nam không hề biết đến “hôn thư” như một hợp đồng thỏa thuận về vấn đề tài sản giữa vợ chồng để chi phối trong suốt thời kỳ hôn nhân. Theo quan niệm truyền thống của người phương Đông thì hôn nhân được tác thành từ lợi ích của gia đình, để xây dựng gia đình, “sinh con đẻ cái” để nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên. Tình nghĩa vợ chồng buộc người vợ phải tuyệt đối “trung thành” với chồng, phải sinh con (đặc biệt là con trai) để có người nối dõi, phụng sự lợi ích của gia đình nhà chồng. Người vợ mà “vô tử” (không có con), hoặc có hành vi “gian dâm” (ngoại tình) với người khác là một trong bảy “tội” (thất xuất) để người chồng bỏ vợ (ly hôn). Như vậy, trong gia đình truyền thống ở Việt Nam, yếu tố tình cảm với những lợi ích về tinh thần được coi trọng hơn là yếu tố tài sản, với quan niệm “trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”, sinh đẻ, giáo dục con vì lợi ích của gia đình và xã hội. Hôn nhân là sự phối hợp tuyệt đối về mọi phương diện và mục tiêu là để xây dựng gia đình, sinh con, đẻ cái để nối dõi tông đường. Vợ chồng khi có con chung, với tư cách là cha, mẹ, họ cùng chung sức, chung ý chí để tạo dựng tài sản nhằm mục đích nuôi dưỡng, giáo dục các con, vì lợi ích của các con. Vì vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng tạo dựng được hợp nhất thành một khối để gia đình sử dụng vào việc nuôi dưỡng các con, để lại cho các con khi cha, mẹ chết. Quan niệm này đã ăn sâu, bám rễ vào tâm trí của người Việt Nam. Như vậy, trong suốt thời kỳ hôn nhân, tất cả của cải của vợ chồng tạo thành khối cộng đồng. Cũng theo tư tưởng Nho giáo, người vợ khi lấy chồng là thuộc hẳn về nhà chồng, là “hiền thê” của người chồng. “Thuyền theo lái, gái theo chồng” – Thuyết tam tòng buộc người vợ phải tuân thủ người chồng. Người chồng trong hôn nhân phong kiến được coi là “cái nóc của ngôi nhà” là trụ cột, là chủ của gia đình, đại diện cho quyền lợi của gia đình. Người chồng cũng là chủ sở hữu các tài sản trong gia đình, định đoạt tài sản vì quyền lợi của gia đình. Vì thế, không cần thiết phải dự liệu về vấn đề tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Những vấn đề này có thể lý giải tại sao trong cổ luật ở nước ta không dự liệu cụ thể về chế độ tài sản của vợ chồng. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Qua nghiên cứu các quy định liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, cũng như các tục lệ được thực hiện trong xã hội phong kiến, có thể thấy rằng, chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam là chế độ cộng đồng pháp định. Chế độ tài sản này được áp dụng như là duy nhất cho các quan hệ vợ chồng.

Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam là chế độ cộng đồng toàn sản, với nội dung là toàn bộ tài sản mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng với thành phần bao gồm các tài sản là động sản (QTHL gọi là phù vật) và các bất động sản (điền sản). Trong đó điền sản được coi là tài sản chủ yếu, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong khối tài sản chung của vợ chồng. Nó có ý nghĩa thiêng liêng và thể hiện trật tự giữa các thành viên trong gia đình. Với quan điểm coi điền sản là chính yếu, Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đã quy định thành khối tài sản chung của vợ chồng gồm ba loại:

  • Một là, phu tông điền sản (tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình chồng);
  • Hai là, thê điền sản (tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình);
  • Ba là, tần tảo điền sản (những tài sản mà vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân).

Tất cả các tài sản này được đặt dưới sự quản lý của người chồng – chủ gia đình, tài sản chung của vợ chồng, chỉ được chia khi một bên vợ, chồng chết trước mà giữa họ không có con… Tuy nhiên, pháp luật thời Lê hoặc theo tục lệ cũng dành cho người vợ được tham gia vào việc quản trị tài sản chung của vợ chồng; người vợ được tự do hành động trong các nhu cầu bảo đảm đời sống chung của gia đình với tư cách là “nội tướng” sử dụng tài sản chung của vợ chồng. Sự đồng ý của người chồng trong các trường hợp này là mặc nhiên. Đặc biệt đối với các giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị của vợ chồng (điền sản) thì đều phải có sự thỏa thuận đồng ý của hai vợ chồng. Trong các văn tự cổ như mua, bán, cầm cố tài sản có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là “điền sản” thì đều phải có chữ ký của hai vợ chồng; hoặc người chồng sử dụng tài sản chung không bảo đảm quyền lợi của các con và lợi ích của gia đình thì người vợ cũng có quyền phản đối. Điều đó đã thể hiện trong chừng mực nhất định, người vợ được “bình đẳng” cùng chồng định đoạt tài sản chung, hoàn toàn không phải là “người vô năng lực”. Quy định này của pháp luật nhà Lê tiến bộ hơn hẳn so với pháp luật của Trung Quốc cùng thời, coi người vợ hoàn toàn “vô năng lực”, phụ thuộc người chồng một cách tuyệt đối. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

1.3.2. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác và cuối cùng đã đầu hàng vô điều kiện. Thời kỳ Pháp thuộc kéo dài gần tám chục năm, với chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp đã chia nước ta thành ba miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng.

Ở Bắc Kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (Dân luật Bắc Kỳ- Dân luật Bắc kỳ).

Ở Trung Kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (Dân luật Trung Kỳ- Dân luật Trung kỳ).

Ở Nam Kỳ cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (Dân luật giản yếu Nam Kỳ- Dân luật giản yếu Nam kỳ).

  • Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

DLBK va Dân luật Trung kỳ chịu sự ảnh hưởng của Bộ luật dân sự Pháp năm 1804 nên có những quy định tương tự nhau về quan hệ hôn nhân gia đình nói chung và chế độ tài sản vợ chồng nói riêng. Chế độ tài sản vợ chồng trong Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ được thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, về chế độ sở hữu trong chế độ tài sản vợ chồng.

Trên cơ sở ghi nhận tục lệ của người Việt Nam, mọi tài sản trong gia đình đều là tài sản chung của vợ chồng, Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ quy định chế độ tài sản vợ chồng được áp dụng cho các cặp vợ chồng không lập hôn khế (chế độ tài sản ước định) là chế độ cộng đồng toàn sản. Điều 106, 107 Dân luật Bắc kỳ và Điều 105 Dân luật Trung kỳ quy định: “Nếu hai vợ chồng không có tư ước với nhau thì cứ theo lệ hợp nhất tài sản, nghĩa là bao nhiêu lợi tức tài sản của chồng và của vợ hợp làm một mà chung nhau”.

Thứ hai, về quy định thành phần khối tài sản chung. Nội dung của chế độ cộng đồng toàn sản là tất cả của cải và hoa lợi của chồng và của vợ hợp thành khối tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, việc hợp nhất tài sản riêng của vợ, chồng thành khối tài sản của vợ chồng chỉ mang tính chất tạm thời, vì trong trường hợp vợ chồng ly hôn, những tài sản riêng của vợ, chồng đã hợp nhất tạm thời vào khối tài sản của vợ chồng sẽ được phân chia cho vợ, chồng theo nguyên tắc tài sản riêng của bên nào thì bên đó lấy lại (nếu không có con chung). Nếu tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được tu sửa, quản lý bằng tài sản chung thì tài sản đó được tính vào tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, chỉ những tài sản vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung chính thức.

Thứ ba, quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong quan hệ tài sản. Đối với việc sử dụng, định đoạt tài sản để thể hiện những giao dịch nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình như ăn, ở, chăm sóc, nuôi dạy con cái; vợ, chồng có thể tự mình đại diện cho gia đình (Điều 100, 111 Dân luật Bắc kỳ và điều 98, 109 Dân luật Trung kỳ). Trong một số trường hợp như lập hội, thuê mướn, vay mượn, đi kiện… người chồng được phép tự mình thực hiện; nhưng ngược lại, người vợ lại không được tự ý thực hiện, người vợ chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý, cho phép của người chồng (Điều 98 Dân luật Bắc kỳ và Điều 104 Dân luật Trung kỳ).

Bên cạnh đó, pháp luật cùng dự liệu các chế tài đối với vợ và chồng khi vợ, chồng có hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ. Nếu người vợ cố ý thực hiện những giao dịch khi chưa được sự đồng ý của người chồng, ảnh hưởng tới quyền lợi của gia đình thì người chồng có quyền thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyền của người vợ (Điều 100 Dân luật Bắc kỳ và Điều 98 Dân luật Trung kỳ); người chồng không chu cấp để nuôi dưỡng vợ, con hoặc có hành vi phá tán tài sản của gia đình thì người vợ có quyền yêu cầu tòa án cấm người chồng sử dụng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung và toàn bộ tài sản do người vợ hành nghề tạo ra (Điều 110 Dân luật Bắc kỳ và Điều 108 Dân luật Trung kỳ). Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Thứ tư, quy định về nghĩa vụ đối với các khoản nợ. Theo Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 109 Dân luật Trung kỳ quy định khối tài sản chung phải có nghĩa vụ chi trả các khoản nợ sau: Những khoản nợ của vợ chồng đã vay trước khi kết hôn; những khoản nợ của chồng vay trong thời kỳ hôn nhân; những khoản nợ do vợ ký kết khi hành nghề buôn bán hoặc làm công nghệ một cách hợp lệ; những hành vi phạm pháp của vợ gây ra.

Thứ năm, quy định về phân chia tài sản của vợ chồng. Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đã có những quy định về phân chia tài sản của vợ chồng trong hai trường hợp:

Khi một bên vợ, chồng chết trước: Trong trường hợp người chồng chết trước, nếu người vợ không tái giá thì người vợ được thay chồng quản lý tài sản chung. Trong trường hợp người vợ chết trước thì người chồng đương nhiên trở thành chủ sở hữu của toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng.

Khi vợ chồng ly hôn.: Khi vợ chồng ly hôn không có con chung, thì người vợ được lấy lại tài sản riêng hiện còn của mình, nghĩa là những tài sản đã được bán đi để chi dùng cho gia đình hoặc cho riêng người chồng thì người vợ không được phép đòi lại. Bất cứ tài sản riêng nào của vợ hoặc chồng đã được tu sửa, quản lý bằng tài sản chung của vợ chồng sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng để phân chia khi ly hôn. Nguyên tắc phân chia khi ly hôn là chia đều khối tài sản chung mỗi người một nửa sau khi hai bên vợ, chồng đã lấy lại tài sản riêng của mình. Đối với trường hợp vợ chồng ly hôn khi đã có con chung, toàn bộ tài sản của vợ chồng do người chồng quản lý và để dành cho các con, người vợ không được thu hồi bất cứ tài sản riêng nào.

  • Ở Nam Kỳ

Ở Nam Kỳ, quan hệ hôn nhân gia đình chịu sự điều chỉnh bởi tập Dân luật giản yếu Nam kỳ được ban hành ngày 03/10/1883 phỏng theo Bộ luật dân sự Pháp năm 1804, gồm 3 tiết về thất tung, hôn thú, ly dị, phụ hệ, con nuôi, phu quyền, vị thành niên, giám hộ. Về quan hệ tài sản giữa vợ chồng, tập Dân luật giản yếu Nam kỳ không có điều, khoản nào quy định về tài sản, khế ước và nghĩa vụ, đồng thời không có quy định về chế độ tài sản của vợ chồng và di sản.

Ban đầu, các án lệ tại Nam Kỳ áp dụng quan niệm người vợ cũng có của riêng và chế độ hôn sản giữa vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản. Sau đó, án lệ tại Nam Kỳ lại không công nhận quyền có tài sản riêng của người vợ vì quan điểm người vợ không được ngang hàng với chồng. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Nhìn chung, những quy định của pháp luật thời kỳ này nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình đã mang sắc thái mới so với cổ luật thời phong kiến Việt Nam. Bên cạnh những tục lệ tồn tại trong xã hội phong kiến từ lâu đời, nhà làm luật đã “phỏng theo” Bộ luật Dân sự Pháp (1804) khi quy định về chế độ Hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng (trừ Dân luật giản yếu Nam kỳ). Trong quan hệ giữa vợ chồng vẫn thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng, người vợ phụ thuộc chồng về mọi phương diện, người vợ ở đâu, làm gì phải được chồng ưng thuận, cho phép.

1.3.3. Chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 (chế độ ngụy quyền Sài Gòn)

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, theo Hiệp định Giơnevơ, đất nước ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị khác biệt. Miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Sự nghiệp cách mạng nước ta trong giai đoạn này thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Về vấn đề pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong giai đoạn này ở miền Nam, chế độ Ngụy quyền Sài Gòn (theo thời gian) đã cho ban hành và áp dụng ba văn bản pháp luật:

  • Luật Gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm gồm 135 điều chia làm bốn thiên.
  • Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 dưới chế độ Nguyễn Khánh, quy định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng. Sắc luật gồm ba chương và 158 điều.

Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Luật gia đình 1959 ngày 02/01/1959, tại miền Nam (do chính quyền Ngô Đình Diệm cai trị) công nhận sự thỏa thuận của vợ chồng về tài sản. Nguyên tắc luật chỉ can thiệp vào chế độ tài sản vợ chồng khi vợ chồng không lập hôn ước đã được thể hiện ngay tại đây. Đây cũng là một quy định tương đối tiến bộ bởi quyền gia trưởng của người chồng đã không còn là một trật tự công cần được bảo vệ mà thay vào đó là quyền của con.

Hôn ước trong Luật gia đình 1959 đã được quy định một cách cụ thể hơn. Hôn ước phải được lập bằng văn bản trước khi kết hôn, được công chứng và phải được ghi vào trong giấy giá thú, vì như thế mới đảm bảo cho hôn ước có giá trị với người thứ ba. Riêng đối với những người buôn bán thì hôn ước của họ phải được niêm yết tại tòa thương mại và chủ cước vào sổ thương mại do phòng lục sự tòa này giữ. Bên cạnh đó, Luật gia đình còn quy định cả về sự vô hiệu của hôn ước, nó sẽ vô hiệu nếu như không đảm bảo các điều kiện về nội dung và hình thức. Sự vô hiệu của hôn ước không ảnh hưởng tới việc kết hôn nhưng ngược lại nếu việc kết hôn bị vô hiệu thì đương nhiên hôn ước cũng vô hiệu. Luật cũng quy định là hôn ước chỉ có hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Sắc luật số 15/64 và Bộ luật dân sự năm 1972 quy định chế độ tài sản vợ chồng khác với Luật Gia đình, đó là quy định chế độ cộng đồng động sản và tạo sản. Theo đó, khối tài sản chung của vợ chồng gồm có: Động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn; các động sản do vợ, chồng được thừa kế, tặng cho trong thời kỳ hôn nhân; hoa lợi thu được từ tài sản mà vợ chồng có được trước và trong thời kỳ hôn nhân (Điều 54). Ngoài khối tài sản chung, vợ, chồng còn có tài sản riêng là bất động sản của vợ, chồng trước khi kết hôn và bất động sản vợ, chồng được tặng cho, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 55). Về nghĩa vụ đối với những khoản nợ, khối tài sản chung của vợ chồng phải thanh toán nợ của vợ, chồng đã vay trước khi kết hôn, trừ khoản nợ được bảo đảm bởi những quyền đối với các bất động sản; khoản nợ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; khoản nợ do vợ, chồng vi phạm pháp luật gây ra. Về quyền vợ chồng đối với tài sản, người vợ hoàn toàn không có quyền hạn gì. Người chồng có toàn quyền quản lý tài sản chung, thậm chí quản lý cả tài sản riêng của người vợ. Sắc luật 15/64 chỉ quy định phân chia tài sản khi ly hôn hoặc ly thân mà không quy định phân chia tài sản khi một bên vợ, chồng chết; Bộ luật dân sự năm 1972 quy định phân chia tài sản trong ba trường hợp: vợ chồng ly thân, ly hôn hoặc một bên vợ, chồng chết. Nguyên tắc phân chia tài sản là: tài sản riêng của bên nào thuộc quyền sở hữu của bên đó, tài sản chung chia đều mỗi bên một nửa.

Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng theo các văn bản pháp luật ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng (giai đoạn 1954 – 1975) đã được nhà làm luật dự liệu tương đối cụ thể: Vợ chồng có quyền tự do lập hôn ước, thỏa thuận về vấn đề tài sản của vợ chồng nhằm duy trì trong suốt thời kỳ hôn nhân. Nếu không lập hôn ước, chế độ tài sản cộng đồng pháp định sẽ được áp dụng cho hai vợ chồng. Những văn bản pháp luật trên đây đã dự liệu chế độ cộng đồng toàn sản (Luật Gia đình năm 1959) hoặc chế độ cộng đồng động sản và tạo sản (Sắc luật số 15/64 và Bộ luật dân sự năm 1972). Đặc biệt cả ba văn bản luật này vẫn bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình, vì vậy, quan hệ bất bình đẳng về tài sản giữa vợ và chồng vẫn tồn tại trong pháp luật và thực tế đời sống xã hội.

1.3.4. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình của nước ta từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (02/09/1945). Tính tất yếu khách quan đòi hỏi cần phải có một hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, do điều kiện lịch sử xã hội, cách mạng Việt Nam phải đối phó với thù trong giặc ngoài, vì vậy Nhà nước ta chưa thể ban hành ngay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Các quan hệ dân luật và hôn nhân gia đình từ năm 1945 – 1950 vẫn tạm thời được điều chỉnh bởi ba văn bản luật: Dân luật Bắc Kỳ, Dân luật Trung Kỳ, Dân luật giản yếu Nam Kỳ theo Sắc lệnh số 47-SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa với điều kiện không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lợi ích của nhân dân lao động.

Năm 1950, yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp cần phải xóa bỏ, hạn chế ảnh hưởng của chế độ Hôn nhân và gia đình thực dân phong kiến lạc hậu, nhà nước ta ban hành 2 sắc lệnh: Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định về vấn đề hôn nhân và gia đình. Tiếp đó là các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014.

a, Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950

Sắc lệnh số 97/SL và Sắc lệnh 159/SL đã sửa đổi một số quy định trong dân luật, nhằm xóa bỏ, hạn chế của chế độ Hôn nhân và gia đình thực dân, phong kiến. Quy định xóa bỏ, hạn chế ảnh hưởng của chế độ Hôn nhân và gia đình thực dân, phong kiến đầu tiên phải nói đến đó là quy định cụ thể hóa Điều 9 Hiến pháp năm 1946: “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Theo tinh thần này, Sắc lệnh 97/SL quy định: “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” (Điều 5), “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 6). Theo đó, vợ chồng bình đẳng về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng. Sắc lệnh 97/SL đã có quy định về việc vợ chồng ly hôn. Sắc lệnh 159/SL có các quy định cụ thể hơn về ly hôn, quyền ly hôn của vợ, chồng, nghĩa vụ nuôi dưỡng, dạy dỗ con cái sau khi vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên, hai Sắc lệnh này lại không quy định về phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, nhưng căn cứ vào quyền bình đẳng giữa vợ, chồng, có thể suy luận rằng, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia đều cho vợ, chồng, mỗi bên một nửa giá trị tài sản. Nói chung, Sắc lệnh 97/SL và Sắc lệnh 159/SL đã góp phần quan trọng nhằm hạn chế và xóa bỏ những quy định lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình thực dân, phong kiến; đặt nền tảng xây dựng một nền pháp chế mới dân chủ và tiến bộ trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta.

b, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Ngày 31/12/1959, Quốc hội khóa I tại kỳ họp thứ 11 thông qua bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trên cơ sở những nguyên tắc hiến định của bản Hiến pháp mới, ngày 29/12/1959, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 11 thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, gồm 6 chương, 35 điều. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (còn gọi là Đạo luật số 13 về hôn nhân và gia đình) là công cụ pháp lý của Nhà nước ta được xây dựng và thực hiện với hai nhiệm vụ cơ bản: xóa bỏ những tàn tích của chế độ Hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ Hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa.

Về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không dự liệu chế độ tài sản ước định. Điều 15 quy định: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Quy định này thể hiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 dự liệu là chế độ cộng đồng toàn sản: toàn bộ các tài sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hoặc được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; dù vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc cả hai vợ chồng được tặng cho chung hay được thừa kế chung, không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp, đều thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng. Luật không thừa nhận vợ, chồng có tài sản riêng. Vợ, chồng có quyền bình đẳng ngang nhau khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung hợp nhất đó. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã dự liệu hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ, chồng chết trước (Điều 16) và khi vợ chồng ly hôn (Điều 29). Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã có những đóng góp quan trọng trong việc xóa bỏ tàn dư chế độ Hôn nhân và gia đình thực dân, phong kiến lạc hậu, cũng như trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ, bảo vệ quyền lợi của người vợ trong gia đình. Tuy nhiên, chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 còn quá cô đọng, khái quát, chưa dự liệu hết các vấn đề về chế độ tài sản vợ chồng.

c, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Ngày 30/4/1975, nước ta hoàn toàn giải phóng, cả nước độc lập tiến lên chủ nghĩa xã hội, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để phù hợp với tình hình mới, ngày 18/12/1980, Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua bản Hiến pháp thứ ba của nước ta, đó là Hiến pháp năm 1980. Đây là bản Hiến pháp đầu tiên ghi nhận những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ hôn nhân gia đình: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” thành một nguyên tắc hiến định (Điều 64 Hiến pháp năm 1980). Để cụ thể hóa những nguyên tắc này, ngày 29/12/1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời, gồm 10 chương, 57 điều. Bên cạnh Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, chế độ tài sản vợ chồng còn được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

Cũng như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 không quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, Điều 14, 15,16, 17, 18, 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung. Luật cũng xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung là vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung, việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn và những giao dịch khác về tài sản có giá trị lớn thì phải được sự thỏa thuận của vợ, chồng. Bên cạnh đó, Luật quy định về tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Quy định này là một điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (không quy định về tài sản riêng của vợ chồng). Điểm mới thứ hai của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thể hiện trong  quy định về chia tài sản chung của vợ chồng, bổ sung thêm một trường hợp phân chia tài sản của vợ chồng là nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đồng thời,

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng quy định cụ thể hơn về nguyên tắc phân chia tài sản tại Điều 42.

Để quy định cụ thể hơn về thành phần khối tài sản chung của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung điểm a, mục 3 Nghị quyết số 01-NĐ/HĐTP quy định: Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

“Tài sản chung của vợ chồng bao gồm các khoản thu nhập như sau:

  • Tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền hưu trí, tiền thu nhập về sản xuất ở gia đình và các thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng, không phân biệt mức thu nhập của mỗi bên;
  • Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng những thu nhập nói trên;
  • Tài sản mà vợ chồng được cho hoặc được thừa kế chung.

Tài sản được sử dụng để đảm bảo những nhu cầu trong gia đình, do đó, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc quản lý tài sản đó. Vợ hoặc chồng sử dụng tài sản chung của gia đình được đương nhiên coi là sự thỏa thuận của hai vợ chồng. Nhưng việc mua, bán, cho hoặc vay, mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản có giá trị lớn ( như: nhà ở, gia súc chăn nuôi như trâu, bò, tư liệu sinh hoạt có giá trị lớn như máy thu hình, tủ lạnh, xe máy v.v…) thì phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng. Nếu là việc mua, bán, cầm cố tài sản mà pháp luật quy định phải có hợp đồng viết (như việc mua, bán nhà) thì vợ chồng đều phải ký vào hợp đồng và nếu chỉ có một bên ký thì phải có sự ủy nhiệm của vợ, chồng cho mình ký thay”.

Điểm b mục 3 Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP hướng dẫn chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, khi một bên chết hoặc một bên yêu cầu chia tài sản khi hôn nhân còn tồn tại (chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân).

Như vậy, từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời, chế độ cộng đồng toàn sản ở Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được thay thế bằng chế độ cộng đồng tạo sản và chế độ tài sản của vợ chồng đã được quy định rõ nét hơn, cụ thể hơn. Tuy nhiên, nhiều quy định của Luật vẫn mang tính khái quát, định khung, chưa dự liệu được hết các trường hợp để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa vợ, chồng nên khi áp dụng vào thực tế còn nảy sinh nhiều khó khăn, vướng mắc.

d, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

Dự luật sửa đổi và bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 chính thức thông qua ngày 09/6/2000 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 22/6/2000. Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10, Luật này được gọi là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001. Chế độ tài sản của vợ chồng được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định trong chương III (các điều 25, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33) và các điều 95, 96, 97, 98, 99 (Chương X).

Nhìn chung, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 kế thừa nhiều nội dung về chế độ tài sản vợ chồng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm giải quyết  những khó khăn vướng mắc còn tồn tại mà Luật Hôn nhân và gia đình chưa giải quyết được. Những nội dung được bổ sung cụ thể là: Bổ sung nguyên tắc suy đoán tài sản chung tại khoản 3 Điều 27: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”; trách nhiệm liên đới của vợ, chồng với giao dịch do một bên thực hiện tại Điều 25; quy định việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc sử dụng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận tại khoản 3 Điều 28; chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng tại Điều 33; quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận tại khoản 2 Điều 29.

e, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19/6/2014, gồm 9 chương, 133 điều. Về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật bổ sung quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Chế độ tài sản vợ chồng pháp định được quy định tại các điều từ Điều 29 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chế độ tài sản vợ chồng pháp định có những điểm mới nổi bật trong quy định thành phần khối tài sản chung của vợ chồng; quy định về đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung; quy định về việc định đoạt tài sản chung; quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng; quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; quy định về tài sản riêng và nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng, cũng như nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung…

Nói chung, so với các Luật Hôn nhân và gia đình trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã thể hiện được sự đầy đủ, rõ ràng, cụ thể về chế độ tài sản vợ chồng, giải quyết được các vấn đề còn vướng mắc, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng pháp luật trong thực tế. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực tiễn chế độ tài sản vợ và chồng Luật Hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464