Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam – Trung Đông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thế giới từ nửa sau năm 2008 đã trải qua thời kỳ rất khó khăn với sự suy thoái của hầu hết các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản,Trung Quốc. Kéo theo đó là sự sụt giảm trong nhu cầu nhập khẩu ở các thị trường này. Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam sau hơn 20 năm tiến hành Đổi mới đã trở thành một nền kinh tế mang tính “mở” rất cao, ngày càng hội nhập sâu rộng vào sân chơi toàn cầu, biểu hiện ở tỷ lệ giá trị xuất nhập khẩu trên tổng thu nhập quốc dân luôn lên tới hơn 100%. Cũng chính vì việc phụ thuộc chặt chẽ vào sự biến động của thị trường thế giới nên trong thời gian qua, khi các nền kinh tế lớn gặp khó khăn, xuất khẩu nói riêng và tình hình kinh tế của cả nước nói chung sau nhiều năm tăng trưởng liên tục ở tốc độ cao đang có dấu hiệu chững lại, đặt ra nhiều thách thức cho Nhà nước và toàn xã hội. Trước tình hình đó, bên cạnh điều chỉnh các chính sách vĩ mô, việc tìm kiếm những thị trường mới vẫn có nhu cầu tiêu thụ cao là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết. Khu vực Trung Đông trong những năm vừa qua đã trở thành điểm đến của rất nhiều doanh nghiệp trên thế giới, trong đó có các doanh nghiệp của Việt Nam nhờ sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, bên cạnh đó, trong khi cả thế giới phải đối mặt với nguy cơ suy thoái trầm trọng thì dường như khu vực này lại chịu rất ít những tác động xấu và vẫn duy trì được một nền kinh tế ổn định, nhập khẩu hàng hoá không ngừng gia tăng. Những năm vừa qua, Việt Nam đã bắt đầu chú ý đến thị trường này, biểu hiện ở kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng gia tăng, mới đây, năm 2008 đã được chính phủ Việt Nam coi là năm trọng điểm trong hợp tác thương mại với Trung Đông nhưng do những thông tin còn hạn chế cũng như việc chưa đánh giá đúng mức về thị trường giàu tiềm năng này nên những kết quả đạt được còn rất khiêm tốn.
Chính vì vậy Đề tài “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông” được ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan cần có những công trình nghiên cứu, đánh giá quan hệ thương mại Việt Nam Trung Đông trong thời gian qua, cũng như các giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ đó trong giai đoạn 2009-2015, giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Tình hình nghiên cứu. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Từ trước đến nay, ở Việt Nam có rất ít các nghiên cứu riêng biệt về khu vực Trung Đông, đặc biệt là những nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế thương mại thì hầu như không có . Các tác giả chủ yếu đề cập đến vấn đề lịch sử, văn hoá và các cuộc xung đột ở khu vực này và hầu hết đều biên dịch lại từ các cuốn sách và các nguồn tài liệu nước ngoài. Các tác phẩm tiêu biểu như cuốn “Lịch sử Trung Đông 2000 năm trở lại đây” của tác giả Bernard, “ Trung Đông trong thế kỷ XX lịch sử của Nguyễn Thọ Nhân hay gần đây nhất là cuốn “ Trung Đông, những vấn đề và xu hướng kinh tế – chính trị trong bối cảnh quốc tế mới” của PGS.TS Đỗ Đức Định trong đó có đề cập đến quan hệ thương mại Việt Nam và một số nước Trung Đông nhưng nội dung chính vẫn xoay quanh chủ đề chính trị, văn hoá, các số liệu kinh tế, thương mại đều rất hạn chế và chưa cập nhật với tình hình trao đổi thương mại Việt Nam – Trung Đông thời gian qua. Từ năm 2005, Viện nghiên cứu Châu Phi – Trung Đông trực thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam ra đời nhằm thực hiện chức năng nghiên cứu Nhà nước về khu vực này và xuất bản “Tạp chí nghiên cứu Trung Đông Châu Phi” nhưng vẫn như ở trên đã nêu, khía cạnh kinh tế, thương mại được đề cập rất hạn chế và chủ yếu tồn tại dưới dạng các bài báo với nội dung thiếu chi tiết.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Trình bày tổng quan về sự phát triển kinh tế, thương mại của khu vực Trung Đông, nghiên cứu thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông và trình bày những giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy mối quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông trong thời gian tới.
Nhiệm vụ:
- Cung cấp những thông tin khái quát về địa lý, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị của khu vực Trung Đông.
- Đưa ra những luận điểm xác đáng chứng tỏ tầm quan trọng của việc thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông.
- Trình bày thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông, đánh giá những kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại.
- Trình bày quan hệ thương mại giữa Việt Nam và một số nước Trung Đông
- Đưa ra quan điểm, định hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2009 – 2015.
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Đối tượng: Các vấn đề liên quan đến hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam với Trung Đông.
Phạm vi:
- Thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2008, có so sánh với thời gian trước đó. Các giải pháp, kiến nghị được đưa ra cho giai đoạn 2009-2015.
- Không gian: 15 nước khu vực Trung Đông theo quan điểm của Ngân hàng thế giới và của Vụ thị trường Châu Phi, Tây Nam Á – Bộ Công thương
5. Phương pháp nghiên cứu.
Những phương pháp chính được sử dụng trong quá trình thực hiện khóa luận được dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm về phát triển kinh tế của Đảng làm nền tảng, kết hợp với ứng dụng thực tiễn để có cơ sở đề xuất giải pháp thích hợp cho giai đoạn được nghiên cứu.
Khi nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Đông, khóa luận này chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích nhằm tiếp cận các vấn đề một cách có hệ thống. Thêm vào đó, còn kết hợp với các phương pháp truyền thống như so sánh, thống kê, luận giải.
6. Kết cấu
Khoá luận tốt nghiệp này bao gồm ba chương:
Chương I: Tổng quan về thị trường Trung Đông
Chương II: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông
Chương III: Quan điểm, định hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2009-2015
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG
I. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
1. Những quan niệm khác nhau về Trung Đông
Hiện nay, trên thế giới có các quan niệm không thuần nhất về khu vực Trung Đông , chủ yếu xuất phát từ những cách nhìn khác nhau dựa trên tính chất phức tạp và đa dạng về địa lý, chính trị, văn hoá, tôn giáo. Do đó, tuỳ theo mục đích, yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, có thể có những cách phân loại khác nhau về khu vực này.
Xét theo tính chất và đặc điểm địa lý, vùng Trung Cận Đông hay Trung Đông ( Tên tiếng Anh – The Middle East ) là hai cách gọi khác nhau cùng để chỉ một khu vực của thế giới. Tên gọi Trung Cận Đông mang tính ước lệ nhiều hơn, chủ yếu được người Châu Âu sử dụng nhằm chỉ những vùng đất thuộc đế chế Otoman cũ của những cư dân Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, tức gần như đã hướng hoàn toàn về biển Địa Trung Hải. “Trung Đông” là một cách gọi được người Anh tạo ra bắt đầu từ khoảng những năm đầu thế kỷ XX. Và được dùng chủ yếu từ sau năm 1945 với lãnh thổ trải dài từ Li Bi đến Apganixtan.
Xét theo cách phân loại dựa vào đặc điểm văn hoá, Trung Đông là vùng đất bao gồm phía Đông của thế giới Arập, từ phía Đông của Libi và “Thung lũng bất tử” của Ai cập trải rộng tới tận phần phía Đông của Apganixtan. Theo sự phân chia này, Trung Đông gồm các nước Arập như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Irắc, UAE,…và ba nước Bắc Phi là Ai Cập, Li Bi, và Xu Đăng.
Theo cách phân loại dựa trên cơ sở địa – chính trị – kinh tế của ngân hàng thế giới WB, khu vực Trung Đông bao gồm 15 nước, trong đó có 6 nước thuộc Hội đồng hợp tác cùng Vịnh ( GCC ) là Baranh, Cô Oét, Ôman, Cata, Arập Xêút , Liên bang Các tiểu vương quốc Arập thống nhất ( UAE ); và 9 nước khác gồm Irắc, Iran, Ixraen, Gioócđani, Li Băng, Thổ Nhĩ Kỳ, Yêmen, Xiri, Vùng lãnh thổ Palextin ( Khu Bờ Tây và dải Gada). Nếu tính cả 6 nước Bắc Phi là Angiêri, Djbuti, Ai Cập, Libi, Ma Rốc, Tuynidi ), sẽ trở thành khu vực Trung Đông và Bắc Phi ( MENA) với 21 nước.
Trong Khoá luận tốt nghiệp này, với trọng tâm nghiên cứu về vấn đề quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông nên sẽ dựa theo cách phân loại của Vụ thị trường Châu Phi – Tây Á, Nam Á, Bộ Công Thương, cũng đồng nhất với cách phân chia của Ngân hàng thế giới. Khu vực Trung Đông sẽ bao gồm 15 nước như đã kể trên.
Bản đồ khu vực Trung Đông hiện nay
2. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
2.1 Địa lý
Trung Đông là nơi gặp nhau của ba châu lục: Châu Á, Châu Phi và Châu Âu, nằm giữa biển Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương. Nơi đây, với vùng đất Thánh Jerusalem, được coi là cái nôi phát tích của những tôn giáo lớn trên thế giới: Đạo Hồi, Đạo Do Thái và Đạo Cơ đốc chính thống. Do vị trị đặc biệt đó mà trong suốt tiến trình lịch sử, Trung Đông là trung tâm mang tính nhạy cảm của các mối quan hệ, giao lưu, xung đột về kinh tế, chính trị, văn hoá và tôn giáo.
Khu vực này về cơ bản là một vùng đất khô cằn với đồng cỏ và hoang mạc đan xen, diện tích đất có thể phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít, tập trung chủ yếu quanh lưu vực một số con sông lớn như Sông Nil, Euphrates, Tigris,…Do việc khan hiếm nước, cùng với việc dân số đang gia tăng chóng mặt, việc đảm bảo nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất cho cư dân trong vùng đã trở thành một vấn đề khó khăn đối với hầu hết các quốc gia. Trong khi đó, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, diện tích những vùng nhiễm mặn và hoang mạc hoá lại ngày càng mở rộng. Nhiều nước trong khu vực đã trở thành những quốc gia “nhập khẩu” nước ngọt.
Hầu hết các nước đều có diện tích có thể trồng trọt chiếm tỷ lệ rất nhỏ, có những nước thậm chí không thể trồng trọt được như UAE, Cô Oét, Cata, Arập Xêút, Baranh,…Những nước có tỷ lệ đất có thể trồng trọt cao gồm Li Băng, Palextin, Xiri, Thổ Nhĩ Kỳ.
Bảng 1: Diện tích và dân số khu vực Trung Đông năm 2007
2.2 Dân cư, văn hoá và tôn giáo Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
2.2.1 Dân cư
Tính đến hết năm 2007, dân số Trung Đông là khoảng 260 triệu người trong đó Thổ Nhĩ Kỳ là nước có dân số cao nhất, khoảng hơn 70 triệu người; Baranh và Cata là hai nước có dân số ít nhất, lần lượt là 698.585 và 885.359 người. Tỷ lệ tăng dân số của khu vực bình quân là 1,9%/năm, trong đó có những nước có tỷ lệ tăng dân số rất cao như Cô Oét ( 3,52% ), Palextin ( 3,3% ), Irắc ( 2,66% ). Những nước có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất là Iran ( 1,1% ), Ixraen ( 1,185 ), và Thổ Nhĩ Kỳ ( 1,06% ). Tuổi thọ bình quân của người dân là 68,8 tuổi và tỷ lệ sinh bình quân của mỗi phụ nữ là 3,1 con.
Trung Đông thường được coi là một vùng cộng đồng đa số người Hồi giáo Arập Có thể nói, khu vực này chính là thế giới Hồi giáo. Tuy nhiên, vùng này gồm nhiều nền văn hoá và các nhóm dân tộc riêng biệt, như Arập, Assyri, Azerbaijan, Berber, Chaldean, Druze, Hy Lạp, Do Thái, Kurd, Maronites, Ba Tư và Thổ. Các nhóm ngôn ngữ chính gồm: tiếng Ả rập, tiếng Assyri(cũng được gọi là Aramaic và Siriac), tiếng Hebrew, tiếng Ba Tư, tiếng Kurd và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Đặc trưng quan trọng nhất của thị trường Trung Đông là khu vực này có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất so với các khu vực đang phát triển khác, tuy nhiên đây cũng là nơi tỷ lệ tham gia của phụ nữ trên thị trường lao động thấp nhất. Những nước có lực lượng lao động dồi dào gồm Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Irắc, Arập Xêút ,…Do chủ yếu là những nước theo đạo Hồi, vốn có giới luật rất khắt khe nên tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động ở các nước là rất ít tuy rằng trong những năm gần đây đã tăng lên. Cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng, chất lượng giáo dục được nâng cao, trình độ của lực lượng lao động trong khu vực cũng được cải thiện.. Tại những nước như Cata và Cô Oét, nhờ tỷ lệ nhập học cao nên lực lượng lao động tại các nước này có trình độ giáo dục bình quân cao hơn, nhưng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của thanh niên lại thấp hơn các nước Trung Đông khác do những người trong độ tuổi này đều đang còn đến trường và tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động cũng cao hơn.
2.2.2 Văn hoá và tôn giáo
Có thể nói, không ở đâu văn hoá và tôn giáo lại có những dấu ấn rõ nét như tại khu vực Trung Đông. Trong đó ảnh hưởng lớn nhất có thể kể đến phương diện chính trị. Nhìn bề ngoài, hệ thống chính trị tại các quốc gia này giống như các nước phương Tây bởi là hệ thống đa đảng, một viện hoặc lưỡng viện. Tuy nhiên, nền dân chủ tại Trung Đông đã bị bóp nghẹt, hoặc ít nhất phải hiểu là “đặc dị” do một thể chế chính trị – tôn giáo vô cùng hà khắc, cứng nhắc. Với giới luật khắt khe, Hồi giáo đã nhanh chóng thu phục các lực lượng chống đối, không ngừng bành trướng thế lực. Cùng những thành tựu khoa học thương mại, kinh tế và vị trí địa chính trị quan trọng, các quốc gia Hồi giáo đã trở thành trung tâm chú ý của nhân loại thời Trung Cổ. Cho đến tận ngày nay, Hồi giáo vẫn là một tôn giáo lớn trên thế giới và đang chi phối quá trình phát triển tư tưởng, chính trị, văn hoá của nhiều quốc gia theo tôn giáo này. Đồng thời cũng tạo ra những biến động to lớn ở các những quốc gia khác.
Thiết chế Hồi giáo có nhiều quy định bảo thủ và rất khắt khe, chẳng hạn đàn ông phải để râu, đàn bà ra đường phải che kín mặt, vai trò của phụ nữ trong xã hội bị coi nhẹ, không sử dụng một số loại thực phẩm như thịt lợn và có tới một tháng ăn chay Ramadan trong năm, đây là những điều cản trở rất lớn cho các nước tới đầu tư tại khu vực này nói riêng và sự phát triển của các quốc gia đạo Hồi nói chung. Vì vậy tại nhiều nước đặc biệt là phương Tây và các tổ chức nhân quyền, bảo vệ phụ nữ, đạo Hồi bị lên án, chỉ trích công khai. Tư tưởng tẩy chay Mỹ, nước đồng minh của Ixraen từ phía những phần tử Hồi giáo cực đoan ngày càng tăng lên. Làn sóng tẩy chay này không chỉ giới hạn trong các cuộc biểu tình trên đường phố mà đã lan rộng tới các tầng lớp nhân dân với đủ các thành phần…
2.3. Tài nguyên thiên nhiên Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
2.3.1 Dầu mỏ
Trung Đông là khu vực rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ, loại tài nguyên quan trọng, luôn chiếm vị trí chi phối trong nền kinh tế của khu vực và thế giới. Cũng chính dầu mỏ đã mang lại cho các nước này những lợi ích hiếm có. Hơn 65% trữ lượng dầu trên thế giới nằm ở Trung Đông. Quy mô kinh tế với một tài sản như thế là rất lớn trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, chỉ từ những năm 1960 khi thành lập Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC và nhất là sau hai cú sốc năng lượng năm 1973 và 1979, Trung Đông mới trở thành nhân tố quan trọng trên sân khấu kinh tế – chính trị thế giới. Đến giữa thập niên 70 của thế kỷ trước, thu nhập từ mỗi thùng dầu của Cô Oét đã tăng lên 35,5 Đô la Mĩ, so với mức 2 Đô la/thùng năm 1970. Những khoản tiền thu nhập khổng lồ từ bán dầu lửa đã được đưa vào guồng máy tài chính quốc tế. Trong khu vực bắt đầu xuất hiện những tỷ phú dầu lửa, chủ yếu là các nhóm đặc quyền đặc lợi được ưu tiên từ chính quyền Trung ương trong việc hợp tác với các hãng dầu nước ngoài.
Hầu hết các quốc gia lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc đều phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ ở Trung Đông. Nhiều cuộc chiến nổ ra tại khu vực này là xuất phát từ sự tranh chấp nguồn dầu mỏ và có sự can dự của các nước lớn. Chắc chắn trong nhiều năm nữa, dầu mỏ Trung Đông vẫn là một vấn đề kinh tế – chính trị quan trọng và phức tạp mang tính khu vực và toàn cầu.
Bảng 2: Trữ lượng dầu mỏ của khu vực Trung Đông (2007)
Theo dự báo của Ngân hàng thế giới, mức cầu về dầu mỏ trên thế giới năm 2025 sẽ vào khoảng 107 triệu thùng mỗi ngày. Tiêu dùng dầu mỏ toàn cầu trong 20 năm tới sẽ cao hơn 30% so với hiện nay trong đó, mức tăng mạnh mẽ nhất sẽ là khu vực châu Á với khoảng 12 triệu thùng/ngày chiếm 50% cầu dầu mỏ thế giới năm 2025, đặc biệt là mức cầu sẽ tăng nhanh nhất tại Trung Quốc và Ấn Độ. Việc sản xuất dầu ở các nước không thuộc OPEC sẽ bắt đầu giảm vào năm 2015, khi đó các nước OPEC sẽ là nhà cung cấp dầu mỏ chủ yếu cho thế giới mà phần lớn trong số đó là các quốc gia dầu lửa ở Trung Đông.
2.3.2 Khí đốt
Cùng với dầu mỏ, khí đốt của Trung Đông cũng chiếm vị trí quan trọng trên bản đồ địa – kinh tế – chính trị thế giới. Có thể thấy ngày nay đã trở thành một thứ vũ khí lợi hại nếu nước sở hữu sử dụng hiệu quả. Điều đó đã được minh chứng qua cuộc tranh chấp giá khí đốt của Nga với một số nước châu Âu trong một vài năm vừa qua. Tại Trung Đông, tính đến cuối năm 2007, tổng sản lượng khai thác khí đốt của khu vực đạt khoảng 600 tỷ m3, chiếm 18,7% sản lượng khai thác khí đốt toàn cầu. Tổng dự trữ khí đốt của Trung Đông ước tính lên tới 100 nghìn tỷ m3 , chiếm 54% tổng dự trữ khí toàn cầu. Những nước có sản lượng khai thác khí đốt lớn nhất Trung Đông là Iran, Cata, UAE, Ôman và những nước có trữ lượng khí đốt lớn nhất là Iran, Cata Irắc. Gần đây với việc Nga đưa ra ý tưởng thành lập tổ chức các nước xuất khẩu khí đốt theo kiểu OPEC đã được các nước Trung Đông như Cata, Iran ủng hộ, chắc chắn vai trò của các nước này sẽ còn quan trọng hơn nữa trên bản đồ kinh tế, chính trị thế giới.
Bảng 3: Trữ lượng khí đốt của Trung Đông (2007)
2.3.3 Các tài nguyên khác
Ngoài dầu lửa và khí đốt, Trung Đông còn có các tài nguyên khác như Bô xít, Niken, quặng sắt,.. Sản xuất thép trong khu vực bình quân đạt 20 triệu tấn/năm. Iran là nước có năng lực sản xuất thép lớn nhất với khoảng 7,6 triệu tấn/năm, tiếp theo là Arập Xêút , Cata.
Tuy nhiên các loại tài nguyên này phân bổ không đều và rõ ràng không chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế – thương mại của các nước Trung Đông như dầu mỏ và khí đốt.
II. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI CỦA KHU VỰC TRUNG ĐÔNG Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
1. Khái quát về phát triển kinh tế của khu vực Trung Đông
1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế được cải thiện
Các nước trong khu vực tiến hành cải cách kinh tế từ cuối thập kỷ 1980, sau cuộc khủng hoảng giá dầu mỏ làm GDP của khu vực này sụt giảm nghiêm trọng. Trọng tâm của cải cách kinh tế ở các nước này nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển và cải cách thương mại. Do phụ thuộc quá mức vào dầu mỏ xuất khẩu nên kinh tế Trung Đông nhìn chung chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự lên xuống của giá cả dầu lửa trên thị trường thế giới. Sau những giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng vào các thời kỳ 1971-1975 và 1979-1981, nền kinh tế các nước Trung Đông đã lâm vào sụt giảm tốc độ tăng trưởng khi giá dầu thế giới giảm mạnh, bắt đầu từ năm 1985. Bên cạnh đó, trong những năm này, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt thấp do thường xuyên xảy ra các cuộc xung đột vũ trang làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế thương mại, điển hình là các cuộc chiến Iran – Irắc, chiến tranh Ixraen – Li băng.
Bảng 4: GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GDP tại Trung Đông (2008)
Sau những cải cách bước đầu có hiệu quả, kinh tế Trung Đông đã đạt tốc độ tăng trưởng nhanh vào những năm 1990. Trong giai đoạn 1990 -2000, tăng trưởng kinh tế của toàn khu vực đạt 3,1% trong đó có một số nước tăng trưởng cao như Li Băng 7,2%; Gioóc đa ni 5,1%; Yêmen 5,5%… Trong giai đoạn 2001-2007, mức tăng trưởng của khu vực đạt hơn 5%, xếp vào hàng các nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới, trong đó có những nước tăng trưởng khá cao như Cata 8,2%; Iran 6,05%. Sự tăng trưởng nhanh của khu vực này trong những năm gần đây trước hết và chủ yếu nhờ sự tăng giá mạnh mẽ của giá dầu thô trên thị trường thế giới, khiến các nước này thu được nguồn lợi lớn từ xuất khẩu. Đến nửa cuối năm 2008 khi cuộc khủng hoảng kinh tế lan rộng, giá dầu đã giảm nhanh nhưng tại thời điểm tháng 2 năm 2009 vẫn đạt xấp xỉ 50 Đô la Mĩ một thùng. Một nguyên nhân quan trọng khác là trong thời gian gần đây, các nước trong khu vực đã tiến hành điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô, chuyển nhanh sang phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, đa dạng hoá các ngành nghề sản xuất, tăng cường thương mại quốc tế.
1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Như phần trên đã chỉ rõ, một đặc điểm rất dễ nhận biết là nền kinh tế Trung Đông dựa chủ yếu vào khai thác và xuất khẩu dầu mỏ, khí đốt. Tuy nhiên, đứng trước nguy cơ thất nghiệp ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng xấu tới an ninh quốc gia và cân bằng xã hội, các nước Trung Đông đã nhận thức được những tác động tiêu cực của mô hình chỉ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, viện trợ và bao cấp, từ đó sử dụng ngân quỹ quốc gia hiệu quả hơn, chuyển dần sang mô hình giảm bớt phụ thuộc vào dầu mỏ, phát triển các ngành khác đặc biệt là các ngành dịch vụ, giảm bớt sự độc quyền ở các doanh nghiệp Nhà nước, tăng cường hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy cải cách nền kinh tế theo hướng vận động theo cơ chế thị trường. Sự gia tăng cạnh tranh trên thị trường thế giới cũng đang đòi hỏi khu vực này phải đưa ra các chiến lược trong các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, công nghiệp nhẹ,.. Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng cho đến nay, đặc biệt khi thế giới lâm vào khủng hoảng trên quy mô lớn, các nước Trung Đông vẫn chưa thoát khỏi tình trạng phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu dầu mỏ. Và chắc chắn thực tế này sẽ khó có thể giải quyết trong một thời gian ngắn.
Tuy được xếp vào nhóm các nền kinh tế đang phát triển nhưng hiện nay trong cơ cấu kinh tế của các nước Trung Đông, nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ, khoảng 10% năm 2007. Xi ri là nước có tỷ trọng nông nghiệp cao nhất trong vùng nhưng cũng chỉ ở mức 20%. Các nước có tỷ lệ này ở mức thấp nhất là Gioóc đa ni: 2% và một số nước GCC: 1%. Điều kiện tự nhiên của khu vực này không ưu đãi cho sự phát triển của các loại cây trồng nông nghiệp. Sự khan hiếm nguồn nước, tình trạng sa mạc hoá ngày càng mạnh mẽ cùng sự thiếu quan tâm đầu tư của các chính phủ là những nguyên nhân chính khiến ngành nông nghiệp ở các nước này kém phát triển (trừ Ixraen). Theo báo cáo mới đây của Ngân hàng thế giới, mỗi năm nguồn nước dành cho sản xuất nông nghiệp cần đạt 1000m3/lao động. Mức này gấp 8 lần so với nguồn nước có thể cung cấp của khu vực. Tỷ lệ tưới tiêu nước trong các vụ mùa ở Giooc đa ni chỉ đạt 30%, Li Băng 39%, Iran 61%. Do không có điều kiện thuận lợi, lại được thiên nhiên ưu đãi cho nguồn dầu lửa dồi dào, các nước Trung Đông hầu hết phải nhập khẩu lương thực. Năm 2007, cả vùng chỉ xuất khẩu được 6 tỷ USD sản phẩm nông nghiệp (một số loại rau quả, bông). Trong khi mức tiêu dùng lương thực hàng năm ở đây lên tới 100 triệu tấn thì sản xuất chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu. Như vậy tới hơn một nửa mức tiêu dùng lương thực phải nhập khẩu. Điều đáng chú ý là trong giai đoạn 1975-2005, lượng lương thực sản xuất của khu vực Trung Đông tăng không đáng kể, trong khi nhu cầu cần thiết tăng gấp hơn 2 lần do có sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Công nghiệp và dịch vụ là những ngành phát triển nhất trong khu vực Trung Đông. Trong cơ cấu GDP năm 2007, công nghiệp chiếm 42,8%; dịch vụ chiếm 46,7%. Tuy nhiên hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ của khu vực này đều liên quan đến sản xuất, khai thác và chế biến dầu mỏ, một số loại khoáng sản khác, du lịch và dịch vụ tài chính…Trong cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu xuất khẩu nói riêng, từ những năm 1980 đến nay, khu vực này luôn phụ thuộc vào xuất khẩu dầu lửa. Năm 1978, xuất khẩu nhiên liệu và các sản phẩm liên quan chiếm tới 94% xuất khẩu của các nước Trung Đông. Năm 2007, tỷ lệ đó giảm xuống nhưng vẫn chiếm tới 82%. Trong giai đoạn 1980-1988, xuất khẩu hàng hoá phi dầu lửa của Trung Đông đạt mức tăng trưởng 9,8%, đến giai đoạn 1988-1995 còn 9,4% và trong giai đoạn 1995-2005, giảm xuống còn 2,6%. Sự phụ thuộc quá mức vào sản xuất- xuất khẩu dầu lửa, khí đốt cùng thói quen ỷ nại vào các tài nguyên này khiến mức độ đa dạng hoá sản phẩm của khu vực này rất hạn chế.
Bảng 5: Cơ cấu GDP của khu vực Trung Đông (%)
Như đã nêu trên,mặc dù từ những năm 1980, hầu hết các nước Trung Đông đã tiến hành cải cách kinh tế nhưng những cải cách cơ cấu này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực tư nhân hoá và cải cách chính sách thương mại. Cơ cấu các ngành trong nền kinh tế hầu như không có gì thay đổi, tuy nhiên hiệu quả mang lại là khá rõ nét, dù ở mỗi nước, mỗi nhóm nước, thành tựu cải cách có sự khác nhau. Đối với nhóm nước nghèo tài nguyên, cải cách kinh tế ở Gioóc đa ni được đánh giá đã diễn ra sớm ,đồng bộ và tương đối bền vững. Đối phó với những cú sốc bên ngoài liên quan đến sự sụt giảm của giá dầu mỏ, Gioóc đa ni bắt đầu chương trình ổn định kinh tế vĩ mô và chương trình cải cách cơ cấu trong giai đoạn 1984-1989, bao gồm cải cách thương mại, cải cách tài chính. Vào giữa thập niên 1990, Gioóc đa ni tiếp tục chương trình cải cách thương mại, đẩy mạnh tư nhân hoá các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, tạo thuận lợi cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, dành ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ…Những chính sách được đưa ra nhằm phát triển mạnh hơn nữa ngành thương mại, ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả hoạt động của cả nền kinh tế. Trong nhóm nước này, Li Băng tỏ ra là nước đã thất bại trong việc hoàn thành các cải cách kinh tế được đưa ra. 15 năm chiến tranh và xung đột dân sự ( 1975-1990) đã hầu như phá huỷ toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, nền kinh tế và các thể chế của đất nước này. Li Băng chỉ thực sự bắt tay vào tiến hành cải cách kinh tế từ năm 2000 nhằm giảm thâm hụt ngân sách, giảm nợ, giảm những trở ngại trong hoạt động thương mại, cải thiện môi trường đầu tư tư nhân… Tuy nhiên, với những bất ổn chỉnh trị, đặc biệt là cuộc xung đột Hezbolla – Ixraen, những cải cách đó đang gặp phải thách thức vô cùng to lớn.
Đối với nhóm nước giàu tài nguyên và dư thừa lao động, cải cách kinh tế được tiến hành muộn hơn nhóm nước nghèo tài nguyên. Các cuộc cải cách ở những nước này cũng diễn ra rất chậm chạp và rời rạc. Iran tiến hành cải cách kinh tế ngay sau khi kết thúc cuộc chiến Iran – Irắc trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và lần thứ hai, trong các lĩnh vực tài chính, thương mại, đầu tư…Sau đó cải cách kinh tế và điều chỉnh cơ cấu đã bị gián đoạn một thời gian và chỉ được tái khởi động sau khi Tổng thống theo đường lối ôn hoà Khatami lên nắm quyền. Gần đây, Iran đã tiến hành điều chỉnh giá năng lượng thông qua việc duy trì cơ cấu trợ cấp cao hơn. Cải cách trong hệ thống tài chính – ngân hàng cũng đã được thực hiện nhưng hiệu quả rất thấp. Xiri bắt đầu chương trình tự do hoá thương mại và đầu tư từ đầu những năm 1990. Tuy nhiên những biện pháp này không ổn định do liên tục có những thay đổi bất thường nhất là những thay đổi bất lợi trong chính sách thương mại đầu tư theo hướng tăng mạnh tỷ giá hối đoái, nâng cao các biện pháp bảo hộ phi thuế và hạn chế chương trình cải cách cơ cấu, gây trở ngại cho hoạt động thương mại. Năm 2000, chính phủ một lần nữa tiến hành cải cách trong các lĩnh vực thương mại đầu tư, thúc đẩy kinh tế tư nhân nhưng những kết quả đạt được cũng rất thấp, một phần do nguyên nhân từ lệnh cấm vận của Hoa Kỳ.
Đối với nhóm 6 nước giàu tài nguyên thiên nhiên và khan hiếm lao động thuộc Cộng đồng hợp tác Vùng Vịnh, sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, hầu hết các nước này đã bắt đầu thực hiện chính sách cắt giảm chi tiêu và phục hồi doanh thu do thu nhập từ xuất khẩu dầu mỏ giảm mạnh. Tuy vậy mức thâm hụt ngân sách vẫn ở mức rất cao, đặc biệt trong cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh 1990-1991. Vào năm 1995, các nước GCC đã ban hành một loạt các kế hoạch trung hạn nhằm cân đối ngân sách đến năm 2000, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hệ thống tài chính quốc gia, đầu tư cho các ngành dịch vụ du lịch…Quốc gia lớn nhất trong GCC là Arập Xêút tiến hành cải cách muộn hơn, đến tận năm 1999 và cũng chỉ đạt hiệu quả ở mức hạn chế. Mặc dù nước này đã áp dụng chính sách thương mại mở cửa hơn, tăng mạnh trợ cấp cho khu vực sản xuất, nhưng những ngành sản xuất phi dầu mỏ- vốn thuộc sở hữu Nhà nước vẫn hoạt động rất kém hiệu quả, trở thành gánh nặng cho cả nền kinh tế. Hiện nay, Arập Xêút đang xem xét lại một loạt các chương trình cải cách cơ cấu trong các lĩnh vực như tư nhân hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư, đa dạng hoá cơ cấu ngành kinh tế. Tại các nước GCC khác, các chương trình cải cách cơ cấu chủ yếu thực hiện trong lĩnh vực cải cách thủ tục hải quan nhằm hạ thấp tỷ lệ thuế quan, tạo điều kiện cho các hoạt động ngoại thương. Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm lao động cũng là một vấn đề hạn chế khả năng phát triển, khiến khu vực này ngày càng phải gia tăng tiếp nhận lao động nhập cư. Công nhân từ Giooc đa ni, Li Băng, Yêmen, Xi Ri, Palextin nhập cư ồ ạt vào các nước GCC giàu có tài nguyên, đặc biệt là Arập Xêút . Dòng lao động nhập cư vào GCC bắt đầu từ sự bùng nổ dầu lửa vào thập kỷ 1970 và tăng nhanh trong những thập kỷ sau đó. Năm 1975, tỷ lệ lao động nhập cư vào GCC chiếm 35%, đến năm 1995 tăng lên 40% lực lượng lao động. Năm 2007, con số này ở một số nước như UAE, Cata lên tới hơn 60%.
2. Chính sách thương mại của các nước Trung Đông
Cho đến trước những năm 90 của thế kỷ trước, việc làm thủ tục NK đối với các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Trung Đông gặp rất nhiều khó khăn. Để được xuất khẩu vào các nước này, các doanh nghiệp phải mất thời gian từ 2-3 tháng để hoàn thành các chứng từ cung cấp cho các cơ quan hải quan của nước sở tại. Bên cạnh đó là việc duy trì hàng rào thuế quan ở mức cao (trên 40%) và nạn tham nhũng trong các cơ quan Hải quan đã khiến các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi thâm nhập vào thị trường này. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho thấy, những chi phí cho giao dịch thương mại quá cao của khu vực đã khiến cho độ “mở” của nền kinh tế Trung Đông đạt thấp. Chi phí thương mại ( trừ thuế quan và thuế trong nước đánh vào hàng nhập khẩu) trung bình đã chiếm tới 10,6% giá trị thương mại của khu vực. Các thủ tục hải quan rườm rà, tình trạng tham nhũng của các ngành dịch vụ công cộng làm tăng thêm chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp. Từ năm 2000 trở lại đây, với việc tham gia các khu vực mậu dịch tự do, đồng thời đáp ứng yêu cầu chung của việc phát triển ngoại thương và phù hợp với các cam kết quốc tế, các nước Trung Đông đã có nhiều chính sách cởi mở hơn với các doanh nghiệp nước ngoài, cải cách thủ tục hải quan, hạ mức thuế quan áp dụng cho hàng nhập khẩu… Năm 2006, Trung Đông được WB đánh giá xếp thứ hai trong nhóm các nước đang phát triển có những tiến bộ trong cải cách thuế quan tính từ năm 2000. Xuất phát từ mục đích tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi theo định hướng xuất khẩu và khuyến khích đầu tư cho khu vực tư nhân, trừ GCC có hàng rào phi thuế quan tương đối cao, các nước nghèo tài nguyên trong khu vực đã cố gắng giảm bớt những trở ngại này và do đó đã đạt được những tiến bộ trong tạo lập môi trường kinh doanh mở. Tuy nhiên, với một số mặt hàng nhạy cảm, nhiều hàng rào phi thuế quan cũng đã được đặt ra nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước. Bảng dưới đây đã thống kê một số chỉ tiêu trong tiến hành thủ tục XNK ở các nước Trung Đông và các khu vực đang phát triển khác trên thế giới. Qua đó có thể thấy, thời gian hoàn thành các loại chứng từ cần thiết cho nhập khẩu vào thị trường này vẫn lên tới 30 ngày, thấp hơn khu vực Đông Âu và Cận Xahara nhưng cao hơn so với khu vực Châu Á Thái Bình Dương và Mỹ La tinh và Caribê. Tương tự số chứng từ cần thiết để tiến hành nhập khẩu vào Trung Đông cũng nhiều hơn hai khu vực trên và ít hơn hai khu vực vốn luôn bị các nhà xuất khẩu nước ngoài than phiền về sự quan liêu trong công tác hải quan là Đông Âu và Cận Xahara.
Bảng 6: So sánh một số chỉ tiêu trong thủ tục XNK của Trung Đông với các khu vực đang phát triển khác (năm 2008).
Một số quốc gia Trung Đông đang tập trung phát triển ngành sản xuất khác ngoài dầu mỏ vì vậy họ đã đặt ra khá nhiều rào cản đối với hàng hoá nhập khẩu, nhất là các rào cản kỹ thuật. Chẳng hạn, hàng hoá muốn vào Thổ Nhĩ Kỳ phải có giấy kiểm soát chất lượng nhập khẩu do các cơ quan chức năng của nước này cấp để thay thế giấy phép nhập khẩu, kể cả hàng hoá có chứng nhận quốc tế. Cụ thể, thực phẩm chế biến chỉ được nhập khi có giấy chứng nhận của Bộ Nông nghiệp và Nông thôn; dược phẩm, hoá mỹ phẩm phải có giấy chứng nhận của Bộ Y tế còn hoá chất thì do Bộ Môi trường và Lâm nghiệp cấp. các nước thuộc Hội đồng Hợp tác vùng vịnh (GCC) bao gồm Arập Xêút, UAE, Cô Oét, Ôman, Baranh, Cata, giấy phép nhập khẩu khá phức tạp. Ví dụ như tại Cata quy định người nhập khẩu phải là công dân Cata còn tại Arập Xêút trong quá trình nhập khẩu đòi hỏi giấy phép nhập khẩu đặc biệt cho từng mặt hàng cụ thể. Ixraen thì công bố hạn ngạch nhập khẩu mỗi năm và thủ tục hải quan hết sức phức tạp, rườm rà. Trong khi đó, Iran, vì chưa là thành viên WTO, nên sử dụng rào cản thuế. Từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, Iran đã tăng thuế nhập khẩu hàng hoá trung bình 56%, trong đó thuế nhập khẩu hàng viễn thông, linh kiện điện tử tăng 70%.
Với những rào cản nêu trên, các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu thông tin cụ thể, chính xác thông qua các thương vụ, tham tán thương mại của Việt Nam ở những thị trường này. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tìm được các đối tác tin cậy, tránh được rủi ro trong thanh toán.
Doanh nghiệp cũng nên hợp tác chặt chẽ với đối tác là nhà nhập khẩu địa phương để đáp ứng đầy đủ những quy định, nắm bắt những thay đổi và cùng tìm cách giải quyết khi sự cố xảy ra. Chẳng hạn, doanh nghiệp xuất khẩu chỉ được mang hàng về nước khi có giấy từ chối nhận hàng của nhà nhập khẩu còn nếu hàng hoá tại cảng quá 40 ngày sẽ bị xung vào công quỹ. Đây là những đặc điểm doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp đã từng xuất khẩu sang các thị trường khác như EU, Mỹ, Nhật Bản cần lưu ý.
3. Hoạt động ngoại thương của các nước Trung Đông Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Trong cơ cấu hoạt động ngoại thương, mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Trung Đông vẫn là dầu thô và các sản phẩm hoá dầu hoặc có chiết xuất và liên quan tới dầu thô. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nhóm hàng lương thực thực phẩm và máy móc thiết bị. Có thể nói, dầu mỏ là động lực phát triển hay nói cách khác chính là xương sống của nền kinh tế các nước Trung Đông. Mặc dù vậy, các nước Trung Đông hiện đang có những cải cách cơ cấu để giảm sự phụ thuộc nhất định của nền kinh tế vào dầu mỏ.
Trong thập niên 1990, hầu hết các nước trong khu vực đã hạ thấp các hàng rào thuế quan và phi thuế quan so với thời kỳ trước đó, nhưng nhìn chung tỷ lệ này vẫn thuộc hàng cao nhất thế giới và điều đáng nói là lại đang có xu hướng gia tăng trở lại, dẫn đến tình trạng bảo hộ thương mại cao. Nếu như trong những năm 50 của thế kỷ trước, tốc độ tăng trưởng thương mại hàng năm của khu vực Trung Đông được đánh giá là cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới thì bắt đầu từ những năm 1980, tốc độ tăng trưởng đã giảm nhanh chóng. Tài nguyên dầu lửa đã giúp khu vực này có tỷ lệ Xuất khẩu/GDP cao, từ đó kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế gia tăng. Tuy nhiên, sự lên xuống thất thường của giá dầu có tác động trực tiếp đến hoạt động thương mại của toàn khu vực. Trong giai đoạn 1973-1985, khi giá dầu tăng gấp 4 lần, tỷ lệ của xuất khẩu dầu mỏ trên GDP của các nước này tăng mạnh, tuy nhiên sau đó đã giảm xuống cùng với sự sụt giảm về giá dầu trên thị trường thế giới. Mặc dù một số nhà xuất khẩu dầu mỏ nhỏ thuộc GCC như Baranh, Ôman, UAE đã đạt được một số thành công nhất định trong việc đa dạng hoá cơ cấu hàng xuất khẩu, nhưng ở các nước nghèo tài nguyên hơn (Giooc đa ni), và các nước có nguồn lao động dồi dào ( Iran, Xi Ri), hoạt động ngoại thương tiếp tục xu hướng giảm. Xuất nhập khẩu chiếm tới 100% GDP của khu vực Trung Đông vào giữa thập kỷ 1960 giảm xuống còn 60% vào những năm 1980 và hơn 50% vào năm 2007.
So sánh với các khu vực khác trên thế giới, tình hình của Trung Đông có sáng sủa hơn so với Châu Phi nhưng vẫn bị đánh giá là đang mất dần những cơ hội hội nhập sâu rộng vào hệ thống thương mại toàn cầu. Mặc dù giữa các nền kinh tế của các nước Trung Đông có những đặc trưng có thể bổ sung cho nhau, như giữa các nước có sự khác nhau tương đối về nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động và các nước giàu tài nguyên nhưng thiếu lao động, nhưng hai nhóm này thực tế không bổ sung được cho nhau.Trong hơn một thập kỷ qua, trong khi toàn cầu hoá thương mại diễn ra ngày càng sôi động, đặc biệt ở khu vực châu Á Thái Bình Dương thì các nước này lại đã mất đi phần lớn những cơ hội, đặc biệt là những nước giàu tài nguyên và lao động, cũng như các nước GCC. Họ đã không thể hoàn thành các mục tiêu về chuyển dịch căn bản cơ cấu kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu
Đến nay hầu hết các nước Trung Đông đã gia nhập WTO, tuy nhiên trong các hội nghị của tổ chức này, vấn đề mở cửa thị trường, phá bỏ những hàng rào bảo hộ đối với một số sản phẩm của khu vực vẫn bị phê phán gay gắt. Xu hướng liên kết khu vực của các nước này vẫn còn rất hạn chế. Và để khắc phục tình trạng này, từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, các nước Trung Đông đã tăng cường ký kết các hiệp định thúc đẩy sự hợp tác phát triển thương mại giữa các nước trong và ngoài khu vực. Một trong những nỗ lực theo chiều hướng đó là vào năm 1995, các nước Trung Đông đã ký kết Hiệp ước Euro – Med( Hiệp ước giữa các nước thuộc khu vực đồng Euro và Địa Trung Hải) nhằm tăng cường đối thoại chính trị, liên kết kinh tế, hợp tác văn hoá – xã hội. Đã có hiệp định ký kết với các nước Arập, tập trung vào tự do hoá thương mại hàng hoá công nghiệp trong 12 năm kể từ ngày ký kết. Các sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ cũng được thảo luận trên nguyên tắc chung , tuy nhiên việc có đi đến ký kết hay không còn phải chờ đến những vòng đàm phán tiếp theo. Thời gian ký kết hiệp định này cũng phụ thuộc vào từng nước: Giooc đa ni đã ký hiệp định Euro – Med năm 1997, Iran năm 2000, Li Băng năm 2002…Thương mại nội khối cũng được thúc đẩy thông qua Khu vực thương mại tự do liên Arập ( PAFTA) và Liên minh Hải quan của nhóm GCC. Tuy nhiên tính đến hết năm 2008, kim ngạch xuất nhập khẩu nội khối của các nước Trung Đông mới chỉ chiếm 9% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn khu vực so với con số 25% ở ASEAN và hơn 60% ở khu vực EU ( Theo WB, 2008) Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Kể từ năm 2000 đến nay, trước những tác động của môi trường kinh tế, thương mại toàn cầu, các nước Trung Đông đã tích cực thúc đẩy các chính sách thương mại vốn đã được khởi xướng trước đó nhưng chưa thực hiện hoặc thực hiện kém hiệu quả. Các hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký kết ngày càng nhiều, các nền kinh tế trong khu vực cũng cam kết giảm bớt những hàng rào đối với hàng hoá nhập khẩu.
Bảng 7: Xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ của các nước Trung Đông giai đoạn 2000-2006 (%GDP)
Như đã nêu trên, xuất khẩu dầu lửa là một trong những nguồn thu quan trọng nhất của các nước Trung Đông. Cho đến trước khi thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng hiện nay, xuất khẩu dầu lửa của các nước Trung Đông đã có xu hướng tăng nhanh về giá trị xuất khẩu do giá dầu đã liên tục tăng cao. Năm 2006, xuất khẩu dầu lửa của khu vực Trung Đông và Bắc Phi gộp lại đạt gần 547 tỷ USD, chiếm 70% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá toàn khu vực. Có một sự khác biệt rất lớn trong khu vực Trung Đông về xuất khẩu dầu khí. Tại các nước giàu tài nguyên như Iran, Irắc, Xi Ri, GCC,…xuất khẩu dầu lửa năm 2006 lên tới 510,2 tỷ USD chiếm 93% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn khu vực và chiếm 75% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các nước này. Trong khi đó các nước nghèo tài nguyên như Li Băng, Gióoc đa ni, Palextin,…xuất khẩu dầu đạt rất thấp chỉ chiếm khoảng 1/5 kim ngạch xuất khẩu. Những nước xuất khẩu nhiều mặt hàng này nhất là Arập Xêút ( 198 tỷ USD), UAE ( 61 tỷ USD),…
4. Các liên kết trong khu vực
Tại hầu hết các khu vực trên thế giới ngày nay, các lý do chính để liên kết khu vực trở thành xu hướng tất yếu là nhằm tăng cường lợi ích kinh tế, thúc đẩy quyền thương lượng chính trị tập thể trong quan hệ với các đối tác ngoài khu vực, nâng cao những lợi ích khác của quốc gia. Những điều kiện cần thiết cho liên kết khu vực là sự thuận lợi về kinh tế, điều kiện địa lý và văn hoá các quốc gia trong cùng khu vực. Đối với Trung Đông, những điều kiện này đều sẵn có và bản thân các nước khu vực đều mong muốn có những thay đổi cơ bản về mặt chính sách nhằm liên kết khu vực trên diện rộng và hội nhập sâu hơn vào hệ thống kinh tế – thương mại toàn cầu. Và mặc dù liên kết toàn khu vực chưa phát triển, nhưng ở Trung Đông liên kết trong từng khu vực nhỏ đã có những bước tiến triển, hình thành một số tổ chức như Cộng đồng hợp tác Vùng Vịnh (GCC), Khu vực thương mại tự do Arập (AFTA), Liên minh Arập Maghreb…. Những tổ chức này hoạt động chủ yếu dựa trên những điều kiện tiềm năng của khu vực và bước đầu đã thu được một số thành công nhất định. Xét về mặt kinh tế, các tổ chức khu vực này đều có nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài chính dồi dào, sức mua nội khối lớn. Xét về mặt địa lý, những nước thuộc các tổ chức trên cùng nằm trên một dải địa lý có điều kiện tương đồng về nguồn tài nguyên thiên nhiên – dầu lửa và khí đốt. Xét về mặt văn hoá, các tổ chức khu vực này đều có nét tương đồng chung về văn hoá Hồi giáo, rõ ràng có thuận lợi hơn so với một số tổ chức liên kết tiêu biểu khác như ASEAN, EU.
Các liên kết khu vực được hy vọng sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các hoạt động kinh tế, thương mại ở khu vực Trung Đông. GCC được thành lập từ năm 1981, được coi là tổ chức liên khu vực thành công nhất Trung Đông kể cả lĩnh vực kinh tế, thương mại và chính trị. Về mặt chính trị, GCC là một tổ chức hợp tác chính trị tương đối chặt chẽ giữa các nước nhỏ, đủ sức cạnh tranh với hai thế lực đã và đang là quyền lực lớn trong khu vực là Iran, Irắc. Về kinh tế, thương mại, GCC tiến hành huỷ bỏ hàng rào thuế quan tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại, đầu tư trong khối. Năm 2007, xuất khẩu của GCC chiếm gần 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn Trung Đông và đầu tư vào khối này cũng chiếm 11% tổng số FDI vào Trung Đông.
Nhìn chung, chính phủ các nước Arập đã cố gắng hình thành liên kết khu vực theo nhiều hình thức khác nhau, từ đối thoại song phương đến giảm thuế cho một số hàng hoá nhất định và muốn hình thành một số thị trường chung Arập, tuy vậy việc thực hiện hầu hết các hiệp định lại không mang lại kết quả khả quan. Thậm chí nhiều hiệp định còn chưa bao giờ được thực hiện đầy đủ, khiến liên kết khu vực ở Trung Đông bị hạn chế hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới. Xuất khẩu nội khối của các nước Arập chỉ tăng từ 5,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu lên 8,2% năm 1998, 9% năm 2008. Thấp hơn nhiều so với các tổ chức khu vực khác như ASEAN, EU, NAFTA. Dòng vốn đầu tư nội khối trong các nước Arập cũng đạt rất thấp, chỉ chiếm 10% trong tổng vốn đầu tư nước ngoài của toàn khối. Trong giai đoạn 1999-2007, xuất khẩu hàng hoá chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các nước Arập chỉ đạt 24% trong khi đó EU đạt 82%, NAFTA 75% và ASEAN là 66%. Thuế nhập khẩu trong tổng doanh thu thuế của các nước trong khu vực lên tới 30%, cao hơn rất nhiều so với mức 2% của NAFTA và 15% của ASEAN.
4.1 Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Đây là một tổ chức được hình thành vào năm 1981, với khởi nguồn từ Hiệp hội các nước Arập. GCC bao gồm 6 quốc gia là Baranh, Cô Oét, Ôman, Cata, Arập Saudi và UAE. GCC có diện tích khoảng 2,5 triệu km2, dân số tính đến năm 2007 là hơn 40 triệu người, trong đó có khoảng hơn 8 triệu người nước ngoài. Tỷ lệ tăng dân số cao, 3%/năm, cao nhất là ở Cata và UAE do mức nhập khẩu lao động cao. Sáu nước GCC chiếm tới 50% trữ lượng và khoảng 19% sản lượng dầu mỏ thế giới, trên 25% tổng lượng thương mại dầu thô và các sản phẩm chế biến từ dầu. Do những lợi thế tuyệt đối về tài nguyên dầu khí, tổng GDP của 6 nước GCC đạt rất cao. Năm 2007, GDP của GCC đạt trên 600 tỷ USD, đứng thứ 17 trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng bình quân của GCC đạt 5-10%/năm trong suốt những năm qua. Thu nhập bình quân đầu người của GCC ngang với mức trung bình của các nước phát triển, trong đó GDP đầu người của Cata được xếp vào hàng cao nhất thế giới với 93000 USD/người/năm.
Cũng nhờ vào xuất khẩu dầu khí mà hiện nay, ngân sách của các nước GCC luôn thặng dư ở mức cao. Chỉ có Arập Xêút là có tỷ lệ nợ chính phủ tương đối cao do những yếu kém trong quản lý tài chính ở chính quyền địa phương. Còn lại các nước khác tỷ lệ thặng dư ngân sách đều rất lớn, Cô Oét thặng dư ngân sách chiếm 20,4% GDP, Cata chiếm 23,8% GDP, Ôman 19,6% GDP,…GCC cũng đồng thời là khu vực có sự gắn kết chặt chẽ với thương mại quốc tế. Đây là một trong những thị trường xuất khẩu mới nổi hấp dẫn nhất thế giới, chỉ trong năm 2007, 6 nước này đã nhập tới gần 200 tỷ USD hàng hoá các loại. Ngoài ra GCC cũng là một trong 10 thị trường dịch vụ lớn nhất thế giới. GCC hiện đang được đánh giá là một trong những khu vực phồn thịnh nhất thế giới trong tương lai gần và có thể trở thành trung tâm trao đổi, mua bán dầu mỏ, khí đốt của toàn thế giới trong những thập kỷ tới. GCC đang dần nỗ lực để thực hiện mục tiêu đó với kế hoạch tăng sản lượng dầu thêm 72%. Tuy nhiên điều này có thể bị gián đoạn trong ngắn hạn trong thời kỳ hiện nay khi cuộc khủng hoảng kinh tế đang ngày càng trầm trọng và chưa có dấu hiệu ngừng lại. Mặc dù vậy, năm 2008, theo tính toán của ngân hàng thương mại Goldman Sachs, đến năm 2030, 6 nước GCC sẽ tích luỹ được từ 3600 – 5100 tỷ USD. Tuy còn nhiều bát ổn đang diễn ra trong khu vực song GCC đang phấn đấu để trở thành một khu vực có tầm cỡ như các nước phát triển lớn trên thế giới.
Dù đạt được một số kết quả khả quan như trên nhưng tương tự như tình hình chung của toàn khu vực Trung Đông thương mại nội khối hiện nay của GCC lại đạt rất thấp, dưới 10% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn khối. Chi tiêu của các Chính phủ vẫn phải phụ thuộc chặt chẽ vào sự lên xuống liên tục của giá dầu mỏ. Dòng vốn FDI chảy vào khu vực, tuy đã có những chuyển biến trong những năm gần đây nhưng vẫn chủ yếu tập trung vào khai thác, chế biến dầu mỏ, khí đốt hoặc các ngành có liên quan.
4.2 Khu vực thương mại tự do Arập Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Những nỗ lực hội nhập kinh tế khu vực trong các nước Arập đã được tiến hành rất sớm, từ những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Hiệp ước thương mại trung chuyển (1953) là hiệp ước đầu tiên đánh dấu những nỗ lực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại thông qua việc áp dụng thuế quan ưu đãi cho một số sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp. Năm 1975, 3 nước Trung Đông là Giooc đa ni, Xi Ri, Irắc và 2 nước Bắc Phi – Ai Cập và Li Bi đã ký kết thành lập thị trường chung Arập. Năm 1981, các nước Arập đã ký kết các hiệp định tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy thương mại nội vùng Arập bao gồm cả việc thiết lập một khu vực Thương mại tự do để tiến hành tự do hoá thương mại, tiến tới thành lập một liên minh Thuế quan. Tuy nhiên sau nhiều trở ngại về kinh tế, chính trị việc thực hiện những sáng kiến này rất hạn chế.
Tháng 2 năm 1997, Liên minh kinh tế Arập đã ký kết một hiệp ước nhằm huỷ bỏ các rào cản thương mại giữa các nước thành viên. Cho đến năm 2001, Ủy ban kinh tế và xã hội thuộc Liên đoàn Arập đã họp tại Riyad và quyết định thời hạn hoàn thành việc thành lập Khu vực thương mại tự do Arập mở rộng (GAFTA) năm 2005 với 22 nước thành viên (Cả Trung Đông và Bắc Phi). Mục tiêu của GAFTA là thúc đẩy mạnh mẽ sự “bùng nổ” về kinh tế của các nước thành viên thông qua các chương trình hành động, các chính sách đồng bộ ở tất cả các nước. Tuy nhiên cho đến nay, giống như các liên kết khu vực khác, kết quả đạt được của GAFTA còn rất khiêm tốn. Tỷ lệ trao đổi thương mại giữa các nước thành viên năm 2008 mới chỉ đạt 11%, nguyên nhân chính là do sự giống nhau trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trong khu vực cũng như việc một số nước, tiêu biểu là nhóm GCC, còn đặt ra rất nhiều hàng rào phi thuế quan với cả các mặt hàng xuất xứ từ các nước thuộc GAFTA.
III. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-TRUNG ĐÔNG Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
1. Trung Đông – Thị trường xuất khẩu mới, rất nhiều tiềm năng
Trung Đông là thị trường xuất khẩu tiềm năng cho các mặt hàng nông sản, các hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật cao, tuy nhiên muốn tiếp cận, doanh nghiệp phải vượt qua nhiều rào cản. Tốc độ tăng trưởng GDP của toàn khu vực Trung Đông là 5,9% trong năm 2008 và ước đạt 5% trong năm 2009 mặc dù kinh tế toàn cầu suy giảm mạnh. Trong đó, bốn nước đứng đầu về GDP theo đầu người là Cata, Cô Oét, UAE và Ixraen. Theo Vụ châu Phi – Tây Á – Nam Á thuộc Bộ Công Thương, trong năm 2008, toàn khu vực Trung Đông xuất khẩu 1.093 tỉ đô Mỹ và nhập khẩu 541,5 tỉ đô la Mỹ. Trong khi đó, Việt Nam chỉ xuất khẩu 1,2 tỉ đô la Mỹ và nhập khẩu 760 triệu đô la Mỹ từ khu vực này. Vì vậy, tiềm năng khai thác ở thị trường này là khá lớn và còn khá lâu mới đến trạng thái bão hoà. Đặc biệt, cơ cấu kinh tế của các nước đang được điều chỉnh mở, thông thoáng hơn và hướng hoạt động thương mại, đầu tư của mình sang phía Đông, trong đó có Việt Nam.
Thêm nữa, người tiêu dùng ở Trung Đông khá đa dạng, nhất là tầng lớp trung lưu, chiếm đến 80% dân số. Và theo tập quán tiêu dùng ở đây, người dân luôn có nhu cầu mua sắm rất lớn, cả với những loại hàng hoá thứ cấp. Khu vực này có nhu cầu lớn về các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu và hàng tiêu dùng như giày dép, dệt may… Hiện nay, khu vực còn nhập các mặt hàng có hàm lượng chất xám và hàm lượng lao động cao như hàng điện tử, giày dép, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ… Trong đó, có những mặt hàng tăng trưởng tới 88 – 100%.
Mới đây, chương trình hành động thực hiện “Đề án thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Trung Đông của Chính phủ giai đoạn 2008-2015” đã đặt mục tiêu nâng tổng giá trị trao đổi thương mại với Trung Đông lên 3,1 tỉ USD vào năm 2010 và đạt khoảng 9,6 tỉ USD vào năm 2015. Mặc dù tình hình kinh tế thế giới đang có nhiều bất lợi, nhưng đây hoàn toàn là mục tiêu có thể đạt được.
2. Trung Đông – Cửa ngõ để hàng hoá Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước Châu Phi.
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Trung Đông trong những năm gần đây ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ, trở thành lĩnh vực dẫn đầu trong các quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực, thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các doanh nghiệp Trung Đông. Theo những nghiên cứu có tính dự báo của một số chuyên gia kinh tế trong nước, thị trường Trung Đông và đặc biệt là Dubai sẽ là một trong những thị trường có tính chiến lược của Việt Nam trong những năm tới, đó là một thị trường mang tính mở cao, một “cảng” trung chuyển đầy tiềm năng giúp các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cung cấp hàng hoá cho các nước trong khu vực mà còn vươn tới các thị trường trọng điểm khác, đặc biệt tại khu vực Bắc Phi, vốn rất gần về địa lý cũng như tương đồng trong văn hoá tiêu dùng. Hàng hoá Việt Nam sau khi được nhập khẩu về Trung Đông, các doanh nghiệp Việt Nam còn có thể tận dụng được lợi thế của các nhà phân phối bản địa có tiềm lực tài chính mạnh tiếp tục đưa hàng vào các thị trường khác có nhiều khó khăn hơn về chính sách nhập khẩu, thủ tục hải quan,…
3. Trung Đông – Thị trường lao động hấp dẫn Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
Trung Đông hiện nay là khu vực nhận nhiều lao động nước ngoài nhất thế giới từ trước đến nay. Đặc biệt ở những nước GCC, nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài vẫn còn rất lớn. Hiện Việt Nam có trên 21.000 lao động tại Trung Đông. Riêng năm 2007, khu vực này đã tiếp nhận hơn 9.000 lao động Việt Nam. Dân số ít, nguồn dầu mỏ dồi dào, lại đang triển khai hàng loạt công trình xây dựng nên các quốc gia này đang rất thiếu lao động. Năm 2008, Trung Đông là điểm nhấn của ngành xuất khẩu lao động Việt Nam. Việt Nam đã có quan hệ chính thức với tất cả các nước trong khu vực về hợp tác lao động. Theo Hiệp định về hợp tác lao động ký với Cata đầu năm 2008, đến năm 2010, Cata sẽ tiếp nhận 100.000 lao động Việt Nam. Arập Xêút được đánh giá là nước có nhu cầu lao động lớn nhất. Mỗi năm nước này cần khoảng 800.000-900.000 lao động nước ngoài. So với các thị trường khác, thị trường Trung Đông tuy có môi trường làm việc khắc nghiệt hơn, lại có các yêu cầu đặc biệt về văn hoá, xã hội nhưng bù lại, mức lương được trả luôn cao hơn so với các thị trường khác nhiều lần. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, các thị trường truyền thống của Việt Nam như Đài Loan, Malaixia, Nga,…đang khép lại cánh cửa với lao động nước ngoài thì việc chuyển hướng sang thị trường Trung Đông là một bước đi phù hợp, góp phần giải quyết những khó khăn cho người lao động trong nước.
4. Trung Đông – Cơ hội đầu tư và thu hút đầu tư
Các nước Vùng Vịnh như UAE, Cata, Cô Oét, Arập Xêút gần đây đã đẩy mạnh các hoạt động đàm phán, ký kết và triển khai nhiều dự án lớn ở Việt Nam. Tập đoàn Tamouh nghiên cứu triển khai dự án thành phố Tây Hạ Long trị giá 10 tỉ USD, Tập đoàn Kingdom Hotels Investments (Arập Xêút ) khởi công xây dựng khách sạn Raffles và khu căn hộ cao cấp tiêu chuẩn 5 sao tại thành phố Đà Nẵng…. Việt Nam cũng đã ký thoả thuận lập quỹ đầu tư chung với Cata trị giá 1 tỉ USD và với Ôman với giá trị ban đầu là 100 triệu USD. Tổng vốn đầu tư từ các nước trong khu vực vào Việt Nam đến nay đạt trên 10 tỉ USD. Điều đặc biệt là các nhà đầu tư Trung Đông có tiềm lực tài chính tốt, ít bị ảnh hưởng bới khủng hoảng kinh tế nên tính khả thi của các dự án này là rất cao.
Các nước Trung Đông cũng là nơi các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiến hành đầu tư một cách thuận lợi, đặc biệt là vào ngành dầu khí, vật liệu xây dựng,… Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ký các thoả thuận về hợp tác dầu khí với Ôman, Cata, Baranh. Petro Việt Nam cũng đã dành được một số hợp đồng về thăm dò, khai thác dầu tại Irắc, Iran và hợp tác với nhiều công ty khác để tham gia vào thị trường nhiều triển vọng này. Trước tình hình khai thác dầu trong nước giảm sút cùng với việc khánh thành các nhà máy lọc dầu trong thời gian tới, việc tự chủ được nguồn cung dầu mỏ có ý nghĩa vô cùng quan trọng với an ninh năng lượng quốc gia. Do đó, Trung Đông là một địa điểm đầu tư không thể thiếu trong chiến lược phát triển của ngành dầu khí. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông