Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam – Trung Đông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG ĐÔNG.
1. Quá trình phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông
Quan hệ giữa Việt Nam và nhiều nước Trung Đông đã được thiết lập từ lâu, nhưng chỉ thực sự được quan tâm và phát triển mạnh từ thập niên 1990 do những yếu tố cả khách quan và chủ quan của Việt Nam, cũng như Trung Đông và cùng với xu hướng toàn cầu hoá và hợp tác phát triển ngày càng tăng nhanh trên thế giới. Trong các loại quan hệ giữa hai bên, quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông có xu hướng gia tăng và đạt tốc độ tăng trưởng cao về xuất nhập khẩu, tuy nhiên mức tăng trưởng chưa ổn định vì các lý do liên quan đến tình hình chính trị – xã hội đầy biến động trong khu vực. Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Từ năm 1999 đến 2002 là thời kỳ “hoàng kim” của xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Đông với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 15,5%. Riêng năm 2003 do có cuộc chiến của Liên quân Anh – Mỹ với Irắc, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này đã bị giảm sút tới 55% so với năm 2002. Đến năm 2005, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Đông đạt 1,1 tỷ USD, tăng 15% so với mức 958 triệu USD năm 2004, trong đó Việt Nam xuất khẩu 480 triệu USD; năm 2006 tuy kim ngạch hai chiều chỉ đạt mức như năm 2005 nhưng Việt Nam lại chuyển sang vị thế nước xuất siêu với lượng xuất khẩu đạt 603 triệu USD;năm 2007 kim ngạch thương mại hai chiều đạt mức 1,2 tỷ đô la Mỹ trong đó chúng ta xuất khẩu 700 triệu đô la, đến năm 2008, dù bị tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng xuất khẩu sang Trung Đông của Việt Nam vẫn đạt trên 1,2 tỷ đô la Mỹ, được coi là năm có mức tăng vượt bậc trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam với thị trường tiềm năng này.
Bảng 8: Kim ngạch thương mại hai chiều giai đoạn 2004-2008
Biểu đồ 1: Tổng kim ngạch thương mại hai chiều giai đoạn 2004-2008
Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế – thương mại với hầu hết các nước Trung Đông, trong đó, kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất chủ yếu đối với một số thị trường chính như UAE, Arập Xêút , Irắc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Ixraen. Mặc dù trong những năm gần đây, quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông đã có những bước tiến đáng kể, năm 2008 được Bộ Công thương xác định là “năm Trung Đông” nhưng cho đến nay, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam với thị trường này vẫn chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng lượng hàng hoá xuất khẩu của cả nước, chỉ khoảng 3%. Đây là con số rất nhỏ bé so với nhu cầu của thị trường Trung Đông cũng như khả năng của các nhà xuất khẩu Việt Nam. Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ thị trường này mặt hàng xăng dầu, ngoài ra là các loại máy móc, thiết bị, phụ tùng, chất dẻo, nguyên phụ liệu các loại.
Đối với UAE, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ tháng 8 năm 1993, song quan hệ thương mại giữa hai nước chỉ thực sự phát triển mạnh trong khoảng một thập kỷ gần đây. Có thể nói đây là một thị trường đầy tiềm năng với hàng hoá của Việt Nam, là cửa ngõ cho hàng xuất khẩu Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường khu vực. Năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu của UAE là 130 tỷ USD, nhập khẩu 80 tỷ USD, GDP đạt 162 tỷ USD, tăng 10,2% so với năm 2005, GDP đầu người đạt 40000USD, một trong những nước cao nhất thế giới. Quan hệ thương mại hai chiều giữa hai nước Việt Nam – UAE tuy chưa lớn nhưng lại liên tục gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây. Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu 358 triệu USD vào thị trường này và nhập khẩu 132 triệu USD. Mức xuất siêu lên tới hơn 200 triệu USD. Ngoài ra, UAE còn là một thị trường lao động xuất khẩu lớn, hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 10000 lao động đang làm việc tại UAE. Quan hệ giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, lao động và các lĩnh vực khác đang ngày càng được tăng cường và chắc chắn sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới cùng sự phát triển của các quan hệ chính trị, ngoại giao đang ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ. Biểu hiện mới đây nhất là chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến UAE từ ngày 15 đến 18 tháng 2 năm 2009 và trước đó là chuyến thăm của Phó tổng thống, Thủ tướng Nhà nước UAE, Thống đốc tiểu vương quốc Đubai Môhamet an Máctum vào tháng 9 năm 2007, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước Việt Nam – UAE lên bước phát triển mới. Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Việt Nam và Arập Xêút thiết lập quan hệ ngoại giao khá muộn, chỉ từ 21-7-1999. Nhưng đây cũng là một thị trường rất có tiềm năng và có mối quan hệ thương mại với Việt Nam phát triển khá nhanh. Trong quan hệ với Arập Xêút hiện nay, Việt Nam luôn đứng ở vị thế nhập siêu nhưng tình hình đang dần được cải thiện theo hướng tăng kim ngạch xuất nhập khẩu nhưng Việt Nam giảm dần tỷ lệ nhập siêu.
Với Irắc, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao từ khá sớm, hai nước đặt quan hệ ngoại giao vào tháng 7 năm 1968 và quan hệ kinh tế thương mại cũng không ngừng tăng trưởng. Sau sự kiện Liên quân Anh – Mỹ tấn công Irắc, mối quan hệ này đã tạm thời bị gián đoạn do những nguyên nhân khách quan. Gần đây, với những nỗ lực ngoại giao của cả 2 nước cũng như của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, quan hệ thương mại Việt Nam – Irắc đã dần được phục hồi và đang ngày càng phát triển hơn nữa, xứng tầm với tiềm năng hợp tác của hai bên.
Việt Nam và Iran thiết lập quan hệ ngoại giao từ tháng 8 năm 1973 và ngay sau khi cuộc cách mạng Hồi giáo Iran thành công năm 1979, Việt Nam đã sớm công nhận nước Cộng hoà Hồi giáo Iran. Năm 1991, Iran chính thức mở Đại sứ quán tại Hà Nội và đến năm 1998, Việt Nam cũng đã có đại diện ngoại giao tại Têhêran. Sau năm 1990, quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Iran có bước phát triển mới , mở đầu bằng việc Iran mua gạo của Việt Nam với số lượng lớn, và thực tế hiện nay cho thấy, gạo vẫn là mặt hàng chính trong quan hệ mậu dịch giữa hai nước.
Tháng 7 năm 1993, Việt Nam và Ixraen thiết lập quan hệ ngoại giao, ngay sau đó tháng 12 năm 1993, Ixraen đã lập Đại sứ quán tại Hà Nội và trong một thời gian ngắn nữa, Việt Nam cũng sẽ mở Đại sứ quán tại Tel Avip. Hiện nay nông nghiệp là lĩnh vực rất có tiềm năng hợp tác giữa hai nước, ngoài ra Việt Nam và Ixraen đều mong muốn mở rộng quan hệ này sang một số lĩnh vực khác như công nghệ cao, đầu tư, du lịch, mua bán trang thiết bị phục vụ cho an ninh, quốc phòng,…Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ có quan hệ ngoại giao từ tháng 6 năm 1978 Tháng 2/1997, Thổ Nhĩ Kỳ lập Đại sứ quán thường trú tại Hà Nội. Tháng 10/2003, Việt Nam nâng Tổng lãnh sự quán tại Istanbul lên Đại sứ quán và chuyển về An-ca-ra. Kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng thường xuyên hàng năm. Việt Nam xuất khẩu: máy vi tính, sản phẩm điện tử, gạo, cao su, giày dép, hàng dệt may, chè, cà phê, quần áo may sẵn, sản phẩm mây tre, túi xách… và nhập khẩu phụ tùng máy các loại, nguyên phụ liệu dược phẩm, tân dược, các sản phẩm hoá chất của Thổ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
2.1 Hàng nông, hải sản
Hiện nay khi các quốc gia châu Âu tìm cách hạn chế nguồn hàng nông sản nhập khẩu vì nguồn tài chính thanh toán khan hiếm thì các doanh nghiệp nhập khẩu ở các nước Trung Đông hầu hết đều vẫn có khả năng tài chính rất tốt.
Trong thời gian gần đây các doanh nghiệp Việt Nam và Trung Đông đều gặp nhau ở chung một điểm là các nước này đang cố gắng tìm kiếm một thị trường nhập khẩu nông sản dồi dào và an toàn thay thế thị trường cung ứng truyền thống của họ là Trung Quốc đang liên tiếp xảy ra những vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm. Còn các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang tìm thị trường mới bên cạnh các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật… vốn đang khó khăn do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Có một đặc điểm của thị trường Trung Đông mà các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam phải hết sức chú ý, đó là thị trường này cần số lượng nhiều nhưng giá phải cạnh tranh. Nói cách khác Trung Đông không yêu cầu quá cao về chất lượng, và chủ yếu tiêu thụ các mặt hàng có phẩm cấp trung bình trở lên. Hàng cao cấp cũng có nhu cầu nhưng tiêu thụ chậm hơn. Mặt khác thời gian đầu khi chưa tìm được đối tác cố định tại Việt Nam, các nhà nhập khẩu của họ thường nhập cùng một mặt hàng của nhiều doanh nghiệp, sau quá trình so sánh, sàng lọc mới chọn ra một nhà xuất khẩu chính có giá bán cạnh tranh nhất cũng như đảm bảo về mặt chất lượng.
Gạo
Hàng năm gạo Việt Nam đều được xuất khẩu vào thị trường Trung Đông nói chung, thị trường Irắc, Iran và UAE…nói riêng. Trước đây, gạo của Việt Nam vẫn thường được xuất khẩu sang Irắc chủ yếu theo khuôn khổ chương trình “Đổi dầu lấy lương thực” của Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, cũng như các mặt hàng khác, sau năm 2003, xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường này đã có sự sụt giảm, mặc dù vậy trong những năm gần đây, mặt hàng này đã được xuất khẩu trở lại Irắc với kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng. Chỉ tính riêng trong năm 2008, Irắc đã nhập khoảng 180 nghìn tấn gạo từ Việt Nam với giá trị lên tới gần 90 triệu đô la Mỹ. Gạo Việt Nam vào thị trường UAE năm 1999 đạt 815 000 USD nhưng sau đó đã liên tục giảm xuống, đến năm 2002 chỉ còn khoảng 8000 USD. Năm 2003, chúng ta vẫn tiếp tục duy trì xuất khẩu vào thị trường này nhưng toàn bộ hàng sau đó được tái xuất sang thị trường các nước Châu Phi. Nguyên nhân chủ yếu là do thị trường UAE với dân số ít, hàng năm chỉ nhập khẩu nửa triệu tấn gạo với các chủng loại như gạo chưa xát, gạo đã xát và gạo tấm dùng để sản xuất công nghiệp cho tiêu dùng tại chỗ và khách du lịch, tuy nhiên các doanh nghiệp tại đây lại có nhu cầu rất lớn để tái xuất sang châu Phi. Các nước Đông Phi tiêu thụ gạo cao nhất từ UAE là Kênia và Tanzania, thường xuyên nhập khẩu loại gạo 5% và 10% tấm, trong khi các nước Tây Phi nghèo hơn lại thường có nhu cầu với loại gạo 20% hoặc 25% tấm. Các nước cung cấp gạo lớn nhất cho thị trường Dubai để từ đây xuất khẩu sang các thị trường trên là Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan. Gạo Việt Nam vào Dubai từ năm 2001 đến nay vừa ít vừa giảm mạnh là do sự cạnh tranh về giá mạnh mẽ từ gạo Ấn Độ và Pakistan, đặc biệt là khi họ có thuận lợi hơn về vị trí địa lý. Năm 2005, do lượng gạo xuất khẩu của các nước này sụt giảm lên gạo Việt Nam đã có cơ hội quay trở lại thị trường tiềm năng này. Năm 2005, Việt Nam xuất sang UAE lượng gạo trị giá 1,374 triệu USD. Năm 2006 tuy giảm nhưng vẫn đạt 680 000 USD. Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Bảng 9: Kim ngạch xuất khẩu gạo từ Việt Nam sang một số nước Trung Đông năm 2006-2008
Cà phê
Hiện nay, thị trường các nước Trung Đông chủ yếu tiêu thị 4 loại cà phê là cà phê chưa rang, đã rang và chưa tách, đã tách caffeine. Các nước cung cấp cà phê lớn cho Trung Đông là Braxin và Ấn Độ do họ đã thâm nhập từ rất lâu vào các thị trường này. Việt Nam tuy là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ hai thế giới nhưng trước đây, thị trường Trung Đông không được các doanh nghiệp Việt Nam chú trọng. Hiện nay cà phê của Việt Nam đã có mặt tại thị trường UAE, Iran, Ixraen…nhưng mới chiếm một thị phần vô cùng nhỏ bé, chỉ từ 1,5-2% nhu cầu tiêu thụ tại thị trường này. Năm 2008, một số thị trường chính nhập khẩu của Việt Nam như Ixraen: 9,2 triệu USD, Gioóc đa ni: 2,1 triệu USD, Ôman: 1,5 triệu USD… Để gia tăng kim ngạch và hiệu quả của việc xuất khẩu cà phê vào Trung Đông, Việt Nam cần chú trọng đến việc xuất khẩu các loại cà phê đã qua chế biến, và đặc biệt phải đảm bảo những tiêu chuẩn về kiểm dịch hàng nông sản..
Rau quả
Với những điều kiện địa lý đặc thù, gây khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp nên trước đây, các nước Trung Đông hầu như phải nhập khẩu các mặt hàng nông sản từ nước ngoài. Tuy nhiên từ sau thập kỷ 90 của thế kỷ 20, nhờ những cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp cùng với việc ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học kỹ thuật, các nước Trung Đông đã tự túc được tới 80% nhu cầu về rau xanh, nhưng vẫn phải nhập hầu hết các sản phẩm trái cây, gồm cả trái cây khô và đóng hộp, các loại rau tươi và rau giữ ở nhiệt độ thấp, các loại trái cây đều được khuyến khích nhập khẩu và được miễn thuế. Trong những năm 2002-2005, rau quả Việt Nam là mặt hàng có sự gia tăng đột biến vào thị trường UAE. Từ 63000USD năm 2002 lên tới 3,6 triệu USD năm 2005. Tuy nhiên sau đó lại sụt giảm mạnh do sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước khác có ưu thế về giá cả và chất lượng. Năm 2008, Việt Nam chỉ xuất sang thị trường UAE lượng rau quả trị giá 1,037 triệu USD. Đây cũng là tình hình chung của việc xuất khẩu hàng rau quả Việt Nam vào thị trường này, cho thấy các doanh nghiệp trong nước cần có những chuyển biến để thâm nhập vào thị trường rất giàu tiềm năng này. Các loại trái cây Việt Nam có triển vọng nhất để xuất khẩu vào khu vực Trung Đông là dứa thơm, thanh long, vải, măng cụt, chôm chôm, xoài, chuối, mận…Nhưng đang gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ các nước khác như Philippin, Kênia, Nam Phi, Pakixtan,…Nếu giải quyết được bài toán trên, chắc chắn các doanh nghiệp sẽ tìm được đầu ra mới cho hàng rau quả Việt Nam, tránh tình trạng phụ thuộc nặng nề vào thị trường Trung Quốc như thời gian vừa qua. Đảm bảo quyền lợi cho người nông dân cũng như các đơn vị xuất khẩu mặt hàng này.
Hồ tiêu
Hiện nay trên thị trường thế giới nói chung và thị trường các nước Trung Đông nói riêng, tiêu đen của Việt Nam hiện là mặt hàng rất được ưa chuộng do những đặc tính về chất lượng, hương vị…hơn hẳn các nguồn hàng cùng loại từ Malaysia, Inđônêxia. Tại Trung Đông, hạt tiêu Việt Nam chủ yếu được nhập khẩu vào Dubai, số lượng chiếm tới khoảng hơn 30% lượng tiêu thông dụng nhập khẩu vào thị trường này hàng năm. Từ Dubai, hạt tiêu Việt Nam đã được tái xuất sang các nước xung quanh, bao gồm cả một số nước Bắc Phi. Hiện nay, nhu cầu tiêu qua chế biến của thị trường này đang ngày càng gia tăng, do đó các doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng nâng cao kim ngạch xuất khẩu, từ mức 9,344 triệu USD năm 2005 lên mức 22,412 triệu USD năm 2008. Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu tiêu cũng đã thâm nhập vào các thị trường khác ở khu vực này như Ixraen, Arập Xêút , Yêmen,Thổ Nhĩ Kỳ,…và đều đạt được những kết quả rất khả quan. Năm 2005, lượng tiêu nhập khẩu từ Việt Nam của Ixraen có giá trị 1,2 triệu USD, năm 2008 lên mức 2,1 triệu USD, ở Arập Xêút con số trên lần lượt là 1,8 triệu và 2,5 triệu USD.
Hạt điều
Trung Đông có thể coi là thị trường mới đầy tiềm năng cho hạt điều Việt Nam. UAE đã tiêu thụ mặt hàng này từ năm 2001 nhưng với kim ngạch rất ít ỏi. Bắt đầu từ năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hạt điều của Việt Nam mới tăng mạnh lên mức 1,46 triệu USD. Năm 2005, Ixraen trở thành nhà nhập khẩu hạt điều Việt Nam lớn nhất trong khu vực với trị giá lên tới 5,2 triệu USD và năm 2008, gấp hơn 2 lần con số đó với 10.9 triệu USD. Nhập khẩu hạt điều từ Việt Nam trong năm 2008 của một số nước Trung Đông khác như sau: UAE: 5,9 triệu USD; Li Băng: 4 triệu USD; Arập Xêút : 2,1 triệu USD; Thổ Nhĩ Kỳ: 1,8 triệu USD. Hạt điều Việt Nam được đánh giá là có chất lượng cao và có giá cả khá cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại của các nước xuất khẩu hạt điều khác trên thế giới, do đó, tiếp theo xu hướng của thời gian vừa qua, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm trên của Việt Nam sẽ còn có cơ hội tăng nhanh trong thời gian tới.
Chè
Từ đầu những năm 1990, chè Việt Nam đã được nhập khẩu vào thị trường Irắc. Trong năm 1995, Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này 6.427 tấn chè, trị giá 8 triệu USD, năm 1996 tăng lên 11 triệu USD. Đến năm 1997, chè Việt Nam đã xuất hiện thêm ở một số thị trường khác trong khu vực như UAE và Ixraen với tổng kim ngạch đạt trên 22 triệu USD, năm 1998 đạt trên 29 triệu USD, năm 1999 đạt 19,5 triệu USD (do sự sụt giảm lớn về lượng từ các nhà nhập khẩu Irắc); năm 2000, kim ngạch xuất khẩu chè tăng đột biến trở lại lên mức 31 triệu USD. Những năm sau đó do ảnh hưởng của cuộc chiến Irắc, kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vào Trung Đông đã sụt giảm mạnh và chỉ bắt đầu phục hồi vào năm 2005. Năm 2008, xuất khẩu chè của Việt Nam sang UAE đạt 7,8 triệu USD ( năm 2005:2,1 triệu USD); sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1,5 triệu USD ( năm 2005:1,6 triệu USD); sang Arập Xêút đạt 3,3 triệu USD ( năm 2005:465.000 USD) Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Những số liệu trên cho thấy mặc dù mức tăng trưởng xuất khẩu chè của Việt Nam vào thị trường Trung Đông có những thay đổi bấp bênh tuỳ thuộc vào tình hình chính trị – xã hội bất ổn nhưng nhìn chung chè Việt Nam đang dần tìm thấy thị trường tại khu vực này. Trong những năm tới, với sự đầu tư vào một số dây chuyền chế biến chè hiện đại, phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thị trường Trung Đông, cộng với sự cải thiện trong tình hình Irắc, chắc chắn kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vào Trung Đông sẽ còn gia tăng đáng kể.
Sữa và sản phẩm từ sữa
Đến trước năm 2003, các sản phẩm sữa của Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được sang thị trường Irắc với giá trị khá lớn. Năm 2001 thị trường này nhập khẩu một lượng sữa từ Việt Nam với trị giá 162 triệu USD, năm 2002 là 81,4 triệu USD và năm 2003 còn 63.2 triệu USD. Sau đó do ảnh hưởng của chiến tranh, xuất khẩu mặt hàng này vào Irắc cũng gặp phải một số khó khăn nhất định nhưng gần đây đang cho thấy dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Năm 2008, Irắc nhập khẩu khoảng 30,5 triệu USD các sản phẩm sữa từ Việt Nam. Cũng trong thời kỳ này sản phẩm sữa của Việt Nam cũng đã bắt đầu xâm nhập vào các thị trường khác như UAE, Arập Xêút, Cô Oét…cũng trong năm 2008 Việt Nam xuất khẩu 23,4 triệu USD các sản phẩm sữa sang Cô Oét. Con số này của UAE mới chỉ đạt khoảng 300000 USD nhưng đây là thị trường rất tiềm năng do luôn được coi là cửa ngõ đi vào các thị trường rộng lớn khác trong khu vực.
Thuỷ, hải sản
Trong bối cảnh gặp khó khăn khi tìm đường xuất khẩu vào các thị trường trọng điểm như Mỹ, EU, Nhật Bản, hải sản là mặt hàng Việt Nam đang gia tăng xuất khẩu vào Trung Đông và hứa hẹn sẽ còn gia tăng nhanh hơn nữa, trước hết là thị trường UAE. Năm 2004 xuất khẩu thuỷ hải sản của Việt Nam vào thị trường này mới đạt trên 1 triệu USD thì đến năm 2006 đã tăng lên 14 triệu USD và mới đây nhất, năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu lượng hàng này vào UAE với trị giá đạt gần 30 triệu USD. Tại các thị trường khác, việc xuất khẩu thuỷ hải sản của Việt Nam cũng gặp nhiều thuận lợi với kim ngạch đang gia tăng rất nhanh. Tại thị trường Arập Xêút, xuất khẩu thuỷ hải sản của Việt Nam năm 2006 đạt 60000 USD, năm 2008 tăng lên 24 triệu USD, trở thành nhà nhập khẩu các mặt hàng này của Việt Nam đứng thứ hai trong khu vực. Các nước có mức nhập khẩu thuỷ hải sản lớn có xuất xứ từ Việt Nam năm 2008 là Ixraen:18,8 triệu USD; Li Băng: 12,4 triệu USD, Gioóc đa ni: 12,4 triệu USD, Cô Oét: 6,1 triệu USD…Hiện nay Việt Nam mới xuất khẩu vào thị trường này tôm, cua, cá basa tươi sống và đông lạnh. Đây là những mặt hàng hoàn toàn được miễn thuế vào thị trường các nước trong khu vực.
Tuy nhiên điều quan trọng nhất là các doanh nghiệp Việt Nam phải giữ được uy tín về chất lượng các mặt hàng này do các yếu tố về dư lượng kháng sinh, sử dụng chất kích thích, môi trường nuôi trồng, tránh để lặp lại tình trạng bị gián đoạn như thị trường Ai Cập tháng 3 năm 2009.
2.2 Hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Hàng điện tử, máy tính và linh kiện Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Trước đây, trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, các mặt hàng điện tử hầu như không có trong danh mục các loại hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử trong nước và nhu cầu đang ngày một gia tăng ở các nước Trung Đông nên hàng điện tử Việt Nam đã có nhiều cơ hội xâm nhập vào thị trường này và bắt đầu tăng mạnh. Năm 2005, xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam vào UAE đạt 30,2 triệu USD, Thổ Nhĩ Kỳ 8,3 triệu USD, Arập Xêút 2,32 triệu USD và Ixraen 1,2 triệu USD. Năm 2008, lượng hàng này vào UAE đã lên tới 67 triệu USD, Arập Xêút 3,5 triệu USD, Thổ Nhĩ Kỳ giảm còn 5,5 triệu USD và Ixraen là 1,4 triệu USD. Ngoài ra hàng điện tử, máy tính và linh kiện máy tính của Việt Nam cũng đã được xuất sang một số thị trường mới trong khu vực như Iran, Li Băng,…tuy nhiên số lượng không nhiều và không đều do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp hai nước. Đây là vấn đề cần được tháo gỡ kịp thời vì Việt Nam đang ngày càng gia tăng việc sản xuất mặt hàng này và nhu cầu xuất khẩu của các doanh nghiệp cũng rất lớn.
Dệt may
Những năm vừa qua đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc của ngành dệt may trong việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường thế giới. Khu vực Trung Đông mặc dù là một thị trường mới mẻ không chỉ đối với ngành dệt may nhưng nhờ những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hợp lý, mặt hàng các sản phẩm dệt may Việt Nam đã ngày càng thâm nhập được vào thị trường này. Các thị trường chủ yếu của ngành dệt may ở Trung Đông là UAE, Irắc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Ixraen. Năm 1999 đánh dấu sự xuất hiện của hàng dệt may trong khu vực với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 triệu USD. Năm 2000 tăng lên 1,9 triệu USD. Đến năm 2003, ngành dệt may xuất khẩu lượng hàng có giá trị gần 10 triệu USD vào Trung Đông trong đó riêng UAE đã chiếm tới hơn 80%. Năm 2005, nước này tiếp tục nhập khẩu 23,5 triệu USD hàng dệt may Việt Nam, các nước khác như Thổ Nhĩ Kỳ đạt 5,6 triệu USD. Arập Xêút đạt 8 triệu USD. Năm 2008 là năm hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Trung Đông với tổng trị giá hơn 100 triệu USD. Thành công này là do những thay đổi trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước do những ảnh hưởng tiêu cực từ một số thị trường lớn như Mỹ và Châu Âu. Trong năm này, các nước nhập khẩu dệt may chính từ Việt Nam bao gồm UAE: 40 triệu USD, Arập Xêút 29 triệu USD, Thổ Nhĩ Kỳ 27 triệu USD…Doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất vào thị trường Trung Đông là công ty dệt may Thái Tuấn. Về mặt hàng vải, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ là 2 thị trường lớn nhất trong khu vực. Tuy vậy gần đây tại các thị trường này đã xuất hiện một lượng không nhỏ hàng nhái của Việt Nam với mẫu mã tương tự nhưng chất lượng thua sút rất nhiều. Điều này có thể khiến hàng Việt Nam mất dần uy tín với người tiêu dùng trong khu vực.
Giày dép
Từ năm 2001, mặt hàng giày dép của Việt Nam được xuất vào Trung Đông vẫn chủ yếu qua thị trường UAE, từ đây được tái xuất tới thị trường Châu Phi và các nước khác trong khu vực. Dubai là thị trường lớn trong khu vực, tập trung các đầu mối nhập khẩu mặt hàng này từ nhiều nước khác như Trung Quốc, Ân Độ, Băng la đét,…tuy nhiên hàng Việt Nam vào đây hầu hết mới là giày dép phụ nữ và trẻ em. Muốn gia tăng kim ngạch xuất khẩu thì khâu nghiên cứu thiết kế mẫu mã rất quan trọng. Đây là điểm yếu của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam khi tiến ra thị trường quốc tế. Hội chợ Motexha chuyên về dệt may và giày dép được tổ chức 2 năm 1 lần là cơ hội quan trọng cho việc tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy mức tăng trưởng xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào thị trường Trung Đông chưa ổn định, có năm cao năm thấp nhưng nhìn chung đây là thị trường rất tiềm năng cho mặt hàng này và đạt được những kết quả bước đầu khả quan. Cụ thể xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào Trung Đông năm 1999 có kim ngạch đạt 7,5 triệu USD, năm 2000 giảm xuống hơn 1/2 chỉ còn 2,9 triệu USD, năm 2001 tăng trở lại đạt 3.8 triệu USD, năm 2002 đạt 4,9 triệu USD và năm 2003 là 7 triệu USD. Đến năm 2005, xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào Trung Đông đã có bước tiến quan trọng, riêng xuất khẩu vào thị trường Dubai (UAE) đã đạt 10,5 triệu USD, Thổ Nhĩ Kỳ đạt 13,2 triệu USD, Ixraen đạt 6,8 triệu USD. Tiếp tục xu hướng tăng chung của các mặt hàng dệt may và da giày xuất khẩu vào thị trường Trung Đông, năm 2008, UAE đã nhập khẩu 24,5 triệu USD giày dép từ Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ: 20 triệu, Ixraen: 8 triệu USD và Arập Xêút : 2,5 triệu USD.
Gỗ và các sản phẩm gỗ
Hiện nay, mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ từ Việt Nam đang rất được ưa chuộng tại thị trường Trung Đông. Việt Nam mới bắt đầu xuất khẩu đồ gỗ sang Trung Đông vào năm 2001, trước tiên là vào hai thị trường Irắc và UAE với kim ngạch đạt 809000 USD, năm 2002 tăng lên 2,5 triệu USD, năm 2003 là 1,9 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Trung Đông năm 2003 giảm sút là do Irắc chỉ còn nhập khẩu với lượng hàng bằng 1/3 so với năm 2002. Các sản phẩm được ưa chuộng ở các thị trường này gồm các loại đồ gỗ lưu niệm (tượng gỗ, bình trang trí,…), bàn ghế khảm trạm, gỗ lũa, ngoài ra là các sản phẩm đồ gỗ dùng cho văn phòng.
Tại Dubai, trung tâm thương mại lớn nhất của khu vực Trung Đông hàng năm đều tổ chức các hội chợ thương mại là cơ hội tốt để doanh nghiệp Việt Nam quảng bá và ký các hợp đồng xuất khẩu với các doanh nghiệp. Hội chợ đồ gỗ và nội thất lớn nhất là hội chợ INDEX được tổ chức vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 hàng năm, là nơi gặp gỡ và giao lưu của rất nhiều các tên tuổi lớn trên thế giới. Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ của Việt Nam đã coi thị trường Dubai là cửa ngõ để tái xuất các sản phẩm này vào các nước khác trong khu vực. Năm 2006, xuất khẩu đồ gỗ vào UAE đạt 4,5 triệu USD; năm 2008 đạt 7,3 triệu USD; sang Thổ Nhĩ Kỳ năm 2006 đạt 3,2 triệu USD, năm 2008 lên mức 6,8 triệu USD. Ngoài ra một số thị trường khác cũng đang dần chấp nhận mặt hàng đồ gỗ có xuất xứ Việt Nam như Ixraen, Arập Xêút , Li Băng, Gioóc đa ni,… Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Đồ nhựa và chất dẻo các loại
Người tiêu dùng khu vực Trung Đông có thói quen dùng đồ nhựa gia dụng như ca, cốc, thìa, đĩa, bình nước, gạt tàn…đặc biệt là các loại đĩa thường có nhu cầu rất lớn được sử dụng trong các bữa ăn do người theo đạo Hồi thường có thói quen ăn trực tiếp bằng tay. Trị giá xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam và khu vực Trung Đông hiện nay chưa lớn, chủ yếu tập trung vào UAE và Irắc. Còn về mặt hàng chất dẻo các loại, Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay là nước nhập khẩu nhiều nhất từ Việt Nam trong khu vực với kim ngạch năm 2008 đạt xấp xỉ 6 triệu USD, tiếp theo là UAE 2,9 triệu USD, Iran 2,1 triệu USD, Arập Xêút 2 triệu USD. Nhìn chung đối với các mặt hàng này, nhu cầu của thị trường Trung Đông cũng là rất lớn nhưng khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất hạn chế do những bất lợi về thông tin, mẫu mã cũng như giá thành sản phẩm khi gặp phải sự cạnh tranh từ hàng xuất khẩu của Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia,…
Sắt thép các loại
Trong những năm vừa qua, với việc giá dầu tăng lên một cách nhanh chóng, GDP của các nước Trung Đông cũng không ngừng được nâng cao. Do đó nhu cầu về các loại sắt thép phục vụ cho ngành xây dựng bao gồm cả xây dựng công cộng và xây dựng của tư nhân là rất lớn, đặc biệt là ở các nước GCC, những nước hưởng lợi nhiều nhất từ việc tăng giá dầu mỏ. Mặc dù vậy do năng lực sản xuất có hạn của các nhà máy, khu vực này hàng năm vẫn phải phải nhập khẩu một lượng lớn các sản phẩm sắt thép từ các nước như Ấn Độ, Trung Quốc,…Gần đây, với việc đẩy mạnh xuất khẩu sắt thép của các doanh nghiệp trong nước, nhất là khu vực có vốn đầu từ nước ngoài, chỉ riêng năm 2008 Việt Nam đã xuất khẩu một lượng lớn các sản phẩm này sang Trung Đông trong đó đứng đầu phải kể đến các thị trường như Thổ Nhĩ Kỳ: 63 triệu USD, Iran: 25 triệu USD, Gioóc đa ni: 23 triệu USD, Cata: 14 triệu USD,…Theo dự báo, đây là khu vực ít bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay và nhu cầu đầu tư xây dựng vẫn rất lớn, do đó cơ hội xuất khẩu các sản phẩm sắt thép của Việt Nam vào thị trường này vẫn còn bỏ ngỏ.
2.3 Hàng hoá khác
Ngoài các mặt hàng kể trên, một số mặt hàng khác cũng có nhiều triển vọng xuất khẩu vào thị trường khu vực Trung Đông, trước mắt hầu hết thông qua Du bai – trung tâm thương mại của toàn khu vực. Các mặt hàng này bao gồm thực phẩm chế biến (mỳ ăn liền, dầu ăn), sản phẩm thủ công mỹ nghệ như đồ gốm, túi xách, va li, mũ, ô, dù, đồ chới trẻ em, các sản phẩm từ mây tre, cơm dừa, dây và cáp điện,…
Có thể thấy rằng trong khoảng 3 năm trở lại đây, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Đông ngày càng có sự đa dạng về chủng loại, bởi nhu cầu của các nước Trung Đông và các nước nhập khẩu qua khu vực này về các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang tăng mạnh. Hơn nữa, nếu như trước kia, hàng hoá của Việt Nam sang Trung Đông chủ yếu là tìm đến thị trường Irắc thông qua các chương trình của Liên Hợp Quốc thì hiện nay các mặt hàng của Việt Nam đã có nhiều điểm đến hơn với các đầu mối nhập khẩu quan trọng ở UAE, Thổ Nhĩ Kỳ,…Ngày càng có nhiều các công ty Việt Nam và các doanh nghiệp Trung Đông tăng cường các mối quan hệ đối tác trực tiếp, mở rộng quan hệ buôn bán và đầu tư. Rõ ràng trong điều kiện hiện nay, Trung Đông là khu mà nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đang dần chú trọng nhằm đa dạng hoá các thị trường xuất khẩu.
3. Thực trạng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Đông Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Cùng với việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Trung Đông, trong những năm qua, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này cũng không ngừng gia tăng, năm 2008, Việt Nam đã nhập khẩu một lượng hàng hoá trị giá 760 triệu USD từ Trung Đông trong đó chủ yếu là các mặt hàng như xăng dầu, máy móc thiết bị, chất dẻo nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may, da giày và phân bón các loại, đó là chưa kể đến các sản phẩm xăng dầu được nhập khẩu qua các nước thứ ba ( chủ yếu qua thị trường Xingapo )
Bảng 10: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Đông giai đoạn 2004-2008
Biểu đồ 2: Nhập khẩu từ Trung Đông giai đoạn 2004-2008
Một số mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Đông năm 2008 gồm:
Chất dẻo nguyên liệu:
Năm 2008, Việt Nam nhập khẩu khoảng 190 triệu Đô la Mỹ chất dẻo nguyên liệu, một sản phẩm quan trọng của các tổ hợp lọc hoá từ khu vực Trung Đông trong đó đáng kể nhất là từ thị trường Arập Xêút với tổng trị giá gần 120 triệu đô la Mỹ, tiếp theo là UAE: 26,6 triệu USD, Cô Oét: 16,5 triệu USD…Dự báo trong những năm tới, lượng nhập khẩu mặt hàng này vẫn còn gia tăng để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước cho đến khi các nhà máy chế biến sản phẩm này thuộc các tổ hợp lọc dầu ở Dung Quất, Nghi Sơn, Long Sơn, … sẽ lần lượt được đưa vào vận hành.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng
Đây cũng là một trong những mặt hàng các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu khá nhiều từ thị trường Trung Đông với kim ngạch đạt trên 51 triệu đô la Mỹ. Các mặt hàng này được nhập khẩu chủ yếu cho các hoạt động công nghiệp, khai khoáng với chất lượng tốt và giá thành tương đối hợp lý so với các mặt hàng cùng loại đến từ Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu. Trong đó các nước xuất khẩu lớn nhất cho Việt Nam gồm Iran: 30,5 triệu USD, Ixraen 7,6 triệu USD, Thổ Nhĩ Kỳ 6,2 triệu USD…
Hàng hoá khác
Ngoài những mặt hàng kể trên, trong năm 2008 Việt Nam còn nhập khẩu nhiều mặt hàng khác từ khu vực Trung Đông nhưng khôn lớn và thường chỉ nhập từ một nhà cung cấp ổn định của một số nước trong khu vực như phôi thép (Thổ Nhĩ Kỳ -51 triệu USD), phân bón (Ixraen -40 triệu USD,Cata – triệu USD), sản phẩm hoá chất (Cata -19 triệu USD), vải (Thổ Nhĩ Kỳ-12 triệu USD), lưu huỳnh (Cô Oét-17,6 triệu USD, Iran-16,5 triệu USD), linh kiện ôtô (Thổ Nhĩ Kỳ-14 triệu USD), ôtô dưới 12 chỗ (Ôman-8,4 triệu USD)… Ngoài ra là một số mặt hàng khác như vải từ Thổ Nhĩ Kỳ, UAE, thép phế liệu từ Cô Oét, Cata, các sản phẩm sắt thép (chất lượng cao, phục vụ cho công nghiệp) từ Ixraen, Thổ Nhĩ Kỳ, một số loại nguyên phụ liệu dệt may, da giày từ Thổ Nhĩ Kỳ, Iran,…
Trong thời gian tới, dự kiến nhập khẩu từ Trung Đông sẽ tiếp tục tăng nhưng vẫn thấp hơn so với kim ngạch xuất khẩu. Mặt hàng có thể tăng trưởng nhiều nhất trong thời gian tới có thể là dầu thô phục vụ cho các nhà máy lọc dầu ở Việt Nam, các loại hoá chất, nguyên phụ liệu của một số ngành, máy móc thiết bị công nghiệp,… Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông