Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam – Trung Đông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

II. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC TRUNG ĐÔNG

1. Thổ Nhĩ Kỳ

1.1 Tổng quan về thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và quan hệ thương mại Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ

Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia đất rộng người đông, với số dân 72 triệu người (2007) và diện tích 779.452 km2 nằm trên hai đại lục Á – Âu, có eo biển Bosphor nối biển Đen với Địa Trung Hải. Thổ Nhĩ Kỳ có vị trí địa lý thuận lợi nằm trên con đường giao nhau giữa Châu Á, Châu Âu, Châu Phi. Đặc điểm từ xa xưa đã là một lợi thế chiến lược giúp cho Thổ Nhĩ Kỳ mở rộng hoạt động thông thương và buôn bán với thế giới bên ngoài cũng như phát triển kinh tế. Với lịch sử và văn hoá mang cả hai đặc điểm của Châu Á và Châu Âu hoà quyện lẫn nhau, Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia có tiềm năng kinh tế lớn và người Thổ Nhĩ Kỳ từ lâu đã nổi tiếng với các hoạt động thương mại. GDP năm 2007 của Thổ Nhĩ Kỳ là 656,4 tỷ USD đứng thứ 16 trong 30 nước OECD và GDP bình quân đầu người đạt 9300USD/ năm, dự trữ ngoại tệ 108,2 tỷ USD. Tuyệt đại đa số dân Thổ Nhĩ Kỳ theo đạo Hồi trong đó lực lượng lao động gồm 25.3 triệu người và tỷ lệ thất nghiệp năm 2007 là 10,2 %. Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên của các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, NATO, WTO, WB, IMF, OECD,…và đang trên con đường đàm phán để trở thành thành viên đầy đủ của EU Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Thổ Nhĩ Kỳ là thị trường lớn nhất trong khu vực Trung Đông, có tiềm năng lớn trong hợp tác thương mại và có nhu cầu nhập khẩu nhiều mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam. Trong tương lai, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ là thị trường tiêu thụ và trung chuyển đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam như: gạo, cao su, hạt tiêu, chè, hàng dệt may và da giày, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ… Ngược lại Thổ Nhĩ Kỳ có khả năng cung cấp những mặt hàng phục vụ cho các ngành công nghiệp của Việt Nam với chất lượng và giá cả hợp lý như : phôi thép, sắt thép, vật liệu xây dựng, hóa chất, phụ tùng ô tô,…Ngoài ra Việt Nam cũng có thể xem xét khai thác một số thế mạnh của kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ để tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như chế biến nông sản và thực phẩm, dệt may và du lịch…

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ mới có từ năm 1993 trở lại đây. Tuy nhiên đến tháng 8 năm 1997 hai nước mới thực sự có quan hệ kinh tế thương mại chính thức thông qua việc ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại. Tháng 11 năm 1999, Việt Nam đặt Văn phòng đại diện thương mại tại Istambul và đây là cơ quan thường trú đầu tiên của Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kể từ khi có quan hệ thương mại chính thức đến nay, hai nước đã tiến hành 4 lần họp UBHH Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ. Lần gần đây nhất được tổ chức vào tháng 11 năm 2008 tại Ankara. Tại các kỳ họp của Ủy ban này, hai bên đã ký được các văn kiện tạo thêm các khung pháp lý cho hoạt động kinh tế thương mại như: Hiệp định hợp tác Du lịch, Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực Khoa học công nghệ và môi trường, Thoả thuận hợp tác giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ của hai nước. Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã ký các hiệp định và văn kiện quan trọng như Hiệp định hợp tác thương mại, kinh tế và kỹ thuật ( 8/2007), Nghị định thư về hợp tác kinh tế và thương mại (2/1998), Thoả thuận về hợp tác nông nghiệp(3/2000) và Thành lập Hội đồng doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ – Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu song phương Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ trong thời gian qua phát triển rất tốt đẹp. Đáng chú ý là kỳ họp thứ 4 của UBHH Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ tổ chức tại Ankara tháng 11 năm 2008 đã diễn ra thành công tạo đà cho 2 nước tiếp tục phát triển trong các lĩnh vực thương mại và đầu tư. Toạ đàm doanh nghiệp Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ với sự tham dự của hơn 100 doanh nghiệp hai nước đã thu hút được những kết quả tích cực với nhiều hợp đồng được ký kết.

Bảng 11: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2004-2008

Từ năm 1993-1999, kim ngạch xuất nhập khẩu 2 chiều giữa hai nước đã có nhưng còn ở mức rất thấp, chỉ khoảng từ vài trăm nghìn đến vài triệu USD. Kể từ năm 2002 đến nay kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam vào Thổ Nhĩ Kỳ tăng rất mạnh, cụ thể năm 2002/2001: tăng 80%, 2003/2002: tăng 43%, 2004/2003: tăng 46%, 2005/2004: tăng 37%, 2006/2005: tăng 136%, 2007/2006: tăng 42% và gần đây nhất 2008/2007: tăng 65%. Hiện nay Việt Nam xuất sang Thổ Nhĩ Kỳ các sản phẩm như máy vi tính, sản phẩm điện tử, gạo, cao su, giày dép, hàng dệt may, chè, cà phê, sản phẩm thủ công nghiệp…và nhập khẩu phụ tùng máy móc các loại, nguyên phụ liệu dược phẩm, tân dược, các sản phẩm hoá chất.

Bảng 12: Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu một số mặt hàng của Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ năm 2008.

Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Thổ Nhĩ Kỳ đang thay đổi theo hướng tích cực. Nếu như từ trước năm 1999, xuất khẩu nông sản thô chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa hai nước thì từ năm 2000 trở lại đây cơ cấu này đã dần thay đổi, mặt hàng công nghiệp đã chiếm tỷ trọng cao hơn với mức tăng ngày càng nhanh, cụ thể: năm 2000: chiếm 55%, năm 2005: chiếm 84%, năm 2007: chiếm hơn 90%. Trong cơ cấu ngoại thương với Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam luôn ở thế xuất siêu. Năm 2006, xuất siêu đạt xấp xỉ 110 triệu USD, năm 2008 con số này là gần 120 triệu USD. Tuy vậy trao đổi thương mại vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên. Hai nước còn rất nhiều cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực như đóng tàu, chế biến thực phẩm, dệt may, dầu khí,…

Theo thống kê của Tổng cục hải quan Việt Nam, năm 2008, Việt Nam nhập khẩu 109,5 triệu USD hàng hoá từ Thổ Nhĩ Kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam là phôi thép: 51,8 triệu USD, linh kiện ô tô 16,7 triệu USD, vải các loại 12,5 triệu USD,máy móc thiết bị và phụ tùng: 6,7 triệu USD , chất dẻo nguyên liệu 2,6 triệu USD, hoá chất 1,9 triệu USD… Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng rất mong muốn đấy mạnh hợp tác kinh tế – thương mại với Việt Nam, coi Việt Nam là bàn đạp để xâm nhập các thị trường khác trong ASEAN. Các doanh nghiệp nước này đang ngày càng tích cực đi khảo sát thị trường Việt Nam nhằm tìm kiếm đối tác và cơ hội kinh doanh. Thổ Nhĩ Kỳ là thị trường lớn có tiềm năng lớn ở khu vực Trung Đông, mặc dù vậy các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa quan tâm đúng mức và chưa hiểu biết nhiều về thị trường và các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ.

1.3. Triển vọng hợp tác

Trong những năm tới đây, Việt Nam và Thỗ Nhĩ Kỳ tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt hợp tác về kinh tế, thương mại giữa hai nước. Với những bước phát triển mới, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước dự tính sẽ đạt tới 1 tỷ USD vào cuối năm 2010, năm cuối cùng trong kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ 9 của Thổ Nhĩ Kỳ. Với kim ngạch nhập khẩu lên tới hơn 100 tỷ USD mỗi năm và dự kiến đến 2015 là tỷ USD, Thổ Nhĩ Kỳ đang thực sự là thị trường có tiềm năng lớn với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Các mặt hàng công nghiệp có hàm lượng lao động cao cần được quan tâm hàng đầu tại thị trường Thỗ Nhĩ Kỳ như hàng điện tử, máy vi tính, linh kiện,…Qua thống kê có thể thấy tốc độ tăng trưởng của hàng điện tử Việt Nam vào Thổ Nhĩ Kỳ đạt mức cao nhất so với các mặt hàng khác (100-200%/năm). Với đà này, việc phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam còn rất nhiều triển vọng

Do vị trí địa lý và lịch sử cũng như mối quan hệ về văn hoá, với nhiều phong cảnh đẹp, Việt Nam có thể trở thành cầu nối văn hoá giữa các nền văn minh giữa hai khu vực Á – Âu. Lĩnh vực vận tải, nhất là vận tải hàng không đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại, du lịch vì vậy việc mở các đường bay thẳng đến mỗi nước đang được những bên có liên quan nghiên cứu. Hy vọng với những nỗ lực của hai chính phủ và các doanh nghiệp, đến năm 2010, kim ngạch thương mại hai nước sẽ đạt mức 1 tỷ USD như kỳ họp lần thứ 4 của UBHH đã đề ra, tương xứng với tiềm năng kinh tế mỗi nước.

2. Liên bang các Tiểu vương quốc Arập thống nhất Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

2.1 Tổng quan về thị trường UAE và quan hệ thương mại Việt Nam – UAE

Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE) gồm 7 tiểu vương quốc là Abu Dhabi, Sharjah, Ras Al – Khaimah, Umm Al – Qaiwain, Ajman và Fujairah nằm trong vùng khí hậu sa mạc nắng nóng, dân số khoảng 4,6 triệu người.

UAE là một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới Arập và là trung tâm tài chính – thương mại chủ yếu của khu vực Trung Đông. UAE đứng thứ 17/61 nền kinh tế có tính cạnh tranh cao trên thế giới, ngành hàng không đứng thứ 8 thế giới, ngành du lịch đứng thứ 2 trong khu vực. UAE xuất khẩu chủ yếu dầu thô, hơi đốt, hàng tái xuất, cá khô, chà là, nhập khẩu máy móc, thiết bị vận tải, hoá chất, thực phẩm…Năm 2008, UAE xuất khẩu đạt hơn 200 tỷ

USD (trong đó dầu thô chiếm 45%). UAE giàu tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu là dầu lửa và hơi đốt (trữ lượng dầu lửa 98 tỷ thùng, chiếm khoảng 10% tổng dự trữ đã được xác định của thế giới), trữ lượng khí đốt gần 6 nghìn tỷ m3, xếp hàng thứ 4 (sau Nga, Iran và Cata). Ngành công nghiệp của UAE chủ chốt là khai thác và chế biến dầu lửa. Sản lượng dầu khai thác đạt khoảng 2,6 triệu thùng/ngày. Về cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 1,6%; công nghiệp 61,8%; dịch vụ 36,6%.Năm 2008, UAE có tốc độ tăng trưởng 8,5% và đạt GDP bình quân đầu người là 40.400 USD.

Từ 1/8/1993, Việt Nam và UAE thiết lập quan hệ ngoại giao. Hai bên đều mở Đại sứ quán tại thủ đô của nhau; đồng thời cũng trao đổi nhiều đoàn các cấp. Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa đã thăm UAE (6/2006); Phó Tổng thống kiêm Thủ tướng UAE Mohammed Bin Rashid Al-Maktoum thăm Việt Nam tháng 9/2007. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thăm UAE tháng 8/2008. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức UAE (2/2009) Hai nước đã ký Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế, Khoa học-Kỹ thuật và Thương mại (10/1999), Hiệp định về vận chuyển hàng không (5/2001), Biên bản ghi nhớ về hợp tác phát triển công nghiệp (9/2007); thoả thuận đầu tư giữa tỉnh Quảng Nam và tập đoàn Sama Dubai (9/2007); Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam với Phòng Thương mại và Công nghiệp Dubai (9/2007); Biên bản ghi nhớ về Dự án Đặc khu kinh tế tại Phú Yên (10/2008).

2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu song phương

Quan hệ thương mại Việt Nam – UAE những năm gần đây liên tục phát triển. Kim ngạch buôn bán hai chiều tăng từ 67 triệu USD (2002) lên trên 118 triệu USD (2003), 150 triệu USD (2004) 200 triệu USD (2005), 250 triệu USD (2006, trong đó Việt Nam xuất khẩu 150 triệu USD), khoảng 350 triệu USD (2007) năm 2008 đạt gần 500 triệu USD. Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Bảng 13: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-UAE giai đoạn 2004-2008

Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang UAE chủ yếu là chè, cà phê, hạt tiêu, hải sản, đồ điện tử, hàng dệt may, gốm sứ. Trong năm 2008, Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang UAE các mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, dệt may, thuỷ sản,.. và nhập khẩu chính là hoá chất, máy móc, thức ăn gia súc.

Bảng 14: Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu một số mặt hàng của Việt Nam và UAE năm 2008.

Có thể thấy trong những năm gần đây, quan hệ thương mại giữa hai nước đã diễn ra rất tích cực, bất chấp những diễn biến bất lợi của nền kinh tế thế giới. Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang UAE (chủ yếu là Dubai) không ngừng gia tăng là do đây được coi là cửa ngõ để vào Trung Đông, hàng hoá Việt Nam nhập khẩu vào đây sau đó sẽ tiếp tục xuất khẩu sang các nước Trung Đông và Bắc Phi khác. Đây là điều các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã tân dụng rất tốt những thuận lợi về giao thông, thuế quan mà UAE dành cho nhiều loại hàng hoá nhập khẩu. Đặc biệt, trong 2 năm trở lại đây, các hoạt động đầu tư của UAE tại Việt Nam trở nên sôi động với một loạt các dự án đang trong quá trình triển khai hoặc thăm dò, đàm phán như: Dự án Khu du lịch Nam Hội An; Dự án khách sạn 5 sao Hạ Long (550 triệu USD); Khu vực tái định cư Thủ Thiêm (700 triệu USD); Dự án “Làng châu Á” đưa 500.000 lao động sang sinh sống và làm việc lâu dài tại UAE…

2.3 Triển vọng hợp tác

Chuyến thăm UAE lần đầu tiên của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến UAE đã tạo ra bước đột phá trong quan hệ hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại; thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực hai nước có tiềm năng và yêu cầu như năng lượng, lao động, tài chính, ngân hàng, nông nghiệp. Hai bên cũng đã ký nhiều văn kiện hợp tác quan trọng như Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế, Khoa học kỹ thuật và Thương mại; Hiệp định về vận chuyển hàng không. Hiện nay, đối với Việt Nam, UAE là một đối tác quan trọng, là một ưu tiên tại Trung Đông và là một trong những thị trường trọng điểm của năm 2009. Các nhà lãnh đạo UAE luôn coi trọng vị thế của Việt Nam, đánh giá Việt Nam có môi trường an ninh, chính trị ổn định, kinh tế phát triển. Hiện nay, UAE đẩy mạnh chính sách hướng Đông, tăng cường quan hệ, chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế đầu tư với các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam. Ngay sau chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam, Chính phủ UAE đã quyết định cử đoàn cấp cao do một Phó Thủ tướng dẫn đầu sang thăm chính thức Việt Nam để triển khai và cụ thể hoá các thoả thuận và cam kết hợp tác đã đạt được trong chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam. Tháng 6-2009 sẽ có một đoàn doanh nghiệp lớn của UAE gồm các công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, sang Việt Nam tìm hiểu cơ hội hợp tác, kinh doanh.

Với những cam kết và nỗ lực cao của lãnh đạo và doanh nghiệp hai nước, cùng với các thoả thuận cụ thể đạt được trong chuyến thăm lần này, quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại, đầu tư giữa Việt Nam – UAE sẽ được tăng cường mạnh mẽ trong thời gian tới, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần vào sự phát triển ổn định và thịnh vượng của cả hai nước.

3. Arập Xêút Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

3.1 Tổng quan về thị trường Arập Xêút và quan hệ thương mại Việt Nam – Arập Xêút

Với dân số hơn 27 triệu người, Arập Xêút là nước có nền kinh tế lớn nhất trong khối GCC (Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh). Đây cũng là quốc gia xuất khẩu dầu thô lớn nhất trên thế giới và đứng đầu OPEC với dự trữ dầu thô chiếm 25% của thế giới. Năm 2008, GDP tăng 6% và đạt khoảng 467 tỷ USD; xuất khẩu đạt 330 tỷ USD và nhập khẩu đạt 107,2 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 21.300 USD.

Nền kinh tế của Arập Xêút chủ yếu dựa vào ngành công nghiệp quan trọng là khai thác dầu, lọc dầu, hoá dầu và các sản phẩm có liên quan đến dầu như: phân bón và chất dẻo. Ngành công nghiệp dầu chiếm 75% thu ngân sách, 45% GDP và 90% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu dầu dầu thô và các sản phẩm hoá dầu chiếm đa số nguồn thu của Arập Xêút. Do đặc điểm như vậy, Arập Xêút hầu như nhập khẩu tất cả các loại hàng hoá để phục vụ nhu cầu trong nước từ sản xuất tới tiêu dùng. Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, lương thực thực phẩm, hoá chất, hàng tiêu dùng. Các bạn hàng chủ yếu gồm: Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan.

Chính phủ Arập Xêút đã và đang thực hiện cải cách kinh tế sâu rộng nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế quốc dân. Dấu mốc quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế là việc Arập Xêút gia nhập WTO tháng 12/2005. Hiện tại, Arập Xêút muốn thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại trên tất cả các lĩnh vực với các nước trong đó có Việt Nam.

Việt Nam và Arập Xêút lập quan hệ ngoại giao ngày 21/10/1999. Đại sứ Việt Nam tại Cô Oét kiêm nhiệm Arập Xêút và Đại sứ Arập Xêút tại Băng-cốc kiêm nhiệm Việt nam. Tháng 5/2007, Việt Nam mở Đại sứ quán tại thủ đô Riyadh của Arập Xêút. Ngay sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, Arập Xêút đã cử một đoàn gồm bộ Ngoại giao, Nội vụ, Lao động do ngài Ibrahim Bin Omar Al Khurashi, Vụ Lãnh sự dẫn đầu đoàn vào thăm Việt Nam từ 30/1 đến /2/2/2000. Hoàng tử Arập Xêút An Oa-lột Bin Ta-lan áp-đun A-dớt thăm Việt Nam tháng 5/2007. Tháng 7/2000, đoàn Thương mại Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Thương mại Đỗ Như Đính làm trưởng đoàn sang thăm Arập Xêút và trao cho phía Arập Xêút dự thảo Hiệp định thương mại để nghiên cứu. Tháng 5/2007 Thứ trưởng Đỗ Như Đính đi thăm và làm việc tại

Arập Xêút, nhân dịp đó 1 đoàn doanh nghiệp Việt Nam đã đi khảo sát thị trường này theo Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia. Ngoài ra, hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn 1000 lao động làm việc tại Arập Xêút.

3.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu song phương Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao cuối năm 1999, quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Arập Xêút phát triển tích cực. Những năm gần đây, trao đổi buôn bán song phương đã tăng nhanh và đạt hơn 100 triệu USD/năm. Năm 2005, kim ngạch buôn bán hai chiều đạt 120 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 30,5 triệu USD và nhập khẩu 89,5 triệu USD. Năm 2006, Việt Nam xuất khẩu 49,3 triệu USD và nhập khẩu 100,6 triệu USD. Năm 2007, Việt Nam xuất khẩu khoảng 51,5 triệu USD và nhập khẩu khoảng 136 triệu USD. Năm 2008, con số này lần lượt là 118 triệu USD và triệu USD. Như vậy có thể thấy, khác với quan hệ thương mại với hầu hết các nước Trung Đông khác, Việt Nam luôn ở thế nhập siêu so với Arập Xêút, đây là do Việt Nam có nhu cầu lớn nhập khẩu một số mặt hàng mà nước này có thế mạnh như nguyên liệu chất dẻo và các loại hoá chất, sản phẩm từ quá trình lọc dầu của các nhà máy Arập Xêút.

Bảng 15: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Arập Xêút giai đoạn 2004-2008

Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang thị trường này gồm có: dệt may, máy tính và sản phẩm điện tử và linh kiện, giầy dép, gỗ và sản phẩm gỗ, hạt điều, hạt tiêu, sản phẩm chất dẻo; ngoài ra còn có túi xách, ví, vali, mũ, ô dù, gạo, chè, hải sản, rau quả, gốm sứ, cà phê, cao su, sản phẩm mây tre đan….. Ngược lại, các mặt hàng Việt nam nhập khẩu gồm: chất dẻo nguyên liệu, hoá chất, sản phẩm hoá chất, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến, sắt thép các loại…

Bảng 16: Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt Nam – Arập Xêút năm 2008

3.3 Triển vọng hợp tác

Trong tương lai lâu dài, Arập Xêút là một thị trường có tiềm năng tại khu vực Trung Đông. Việt Nam có thể xuất khẩu các mặt hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷ hải sản, may mặc và điện tử sang Arập Xêút; đồng thời xem xét nhập khẩu xăng dầu, phân bón và hoá chất từ thị trường này. Để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp có cơ hội gặp gỡ trực tiếp, tăng cường hợp tác giao thương và nhằm đảm bảo tăng cường kim ngạch sang thị trường rất lớn này, cần khuyến khích tổ chức nhiều đoàn cũng như các doanh nghiệp cần tích cực chủ động đi khảo sát thị trường Arập Xêút để giới thiệu với các đối tác về khả năng xuất khẩu của Việt Nam, sự đa dạng về chủng loại hàng hoá, mẫu mã của Việt Nam cũng như tìm kiếm đối tác mới, hiểu rõ hơn nhu cầu, thị hiếu, tập quán tiêu dùng của Arập Xêút. Ngoài ra, Bộ Công thương cũng đã kiến nghị cho thành lập thương vụ tại Arập Xêút nhằm quảng bá hình ảnh Việt Nam, xúc tiến du lịch và hợp tác đầu tư, góp phần tăng cường quan hệ kinh tế thương mại Việt nam – Arập Xêút. Có như vậy mới dần dần tạo thế đứng cho hàng Việt Nam tại thị trường nước này.

4. Ixraen Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

4.1 Tổng quan về thị trường Ixraen và quan hệ thương mại Việt Nam- Ixraen

Nhà nước Ixraen được thành lập theo nghị quyết 181(II) năm 1948 của Liên Hiệp quốc nhưng bị các nước Arập bác bỏ. Bốn cuộc chiến tranh Trung Đông xảy ra sau đó đã làm cho các nước Arập mất thêm đất đai và tình hình khu vực càng trở nên phức tạp. Hiện nay diện tích của Ixraen là 20.770km2, kể cả Đông Jerusalem km2 với dân số 7,11 triệu người (2008). Đất nước này có nguồn tài nguyên hết sức hạn chế, chỉ có ít Potash, quặng đồng, phốt phát dạng đá, bromide ma-nhê, đất sét…Trong cơ cấu kinh tế của Ixraen, nông nghiệp chiếm 2,7%; công nghiệp: 31,7%; dịch vụ: 65,6%. Ixraen chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng như : kim cương đã chế tác, thiết bị công nghệ cao, vũ khí, phần mềm tin học, hoá chất, dệt may… và nhập khẩu ngũ cốc, dầu thô, nguyên liệu, thiết bị quân sự, kim cương thô…. Các chỉ số kinh tế năm 2008 của Ixraen gồm: tăng trưởng GDP: 4,2% ,GDP: 205,7 tỷ USD,GDP bình quân đầu người: 28.900 USD , lạm phát: 4,7% và tỷ kệ thất nghiệp: 6,1% Việt Nam và Ixraen lập quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1993. Tháng 12 cùng năm, Ixraen mở Đại sứ quán tại Hà Nội, khởi đầu nhiều hoạt động mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đào tạo, trao đổi kinh nghiệm khoa học-công nghệ… đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiêp, thuỷ lợi, y tế. Trong năm 2009, Việt Nam cũng dự định mở Đại sứ quán tại Tel Avip nhằm nâng quan hệ song phương, đặc biệt là quan hệ kinh tế – thương mại lên bước phát triển mới. Hiện nay Ixraen cấp cho Việt Nam hàng trăm học bổng đào tạo ngắn hạn, cử chuyên gia sang chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, thiết lập các trại nông nghiệp mẫu tại Hà Giang, Hà Tây, Hà Nội… Ixraen cũng đóng góp giúp Việt Nam khắc phục một số vụ thiên tai, xây dựng nhà tình nghĩa, khám bệnh cho người nghèo, giúp trẻ em tàn tật…

Mặc dù bị hạn chế bởi tình hình Trung Đông, trao đổi thương mại Việt Nam – Ixraen tăng lên hàng năm và đạt khoảng 68 triệu đô la (2005) lên gần 80 triệu năm 2006, 147 triệu năm 2007. Việt Nam xuất giầy dép, quần áo, nông sản và nhập từ Ixraen thiết bị công nghệ cao, hoá chất, phân bón…. Các công ty Ixraen tham gia liên doanh, đầu tư vào một số dự án tại Việt Nam, như toà Landmark ở Hà Nội và Capital Fund Tp Hồ Chí Minh. Ixraen hiện xếp thứ 56/81 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Hai nước đã ký kết rất nhiều các hiệp định như: Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế, nông nghiệp, thương mại, khoa học-kỹ thuật (1996), Hợp tác Hải quan, Du lịch, nông nghiệp, Hiệp định Thương mại (2004), Hiệp định hợp tác văn hoá, Hiệp định hợp tác vận tải hàng không (6/2007). Hiện nay Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-Ixraen cũng đang trong vòng đàm phán. Nếu đàm phán thành công Hiệp định này sẽ mở ra nhiều cơ hội và triển vọng hợp tác cho các doanh nghiệp của hai nước.

4.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu song phương Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Trong suốt 15 năm kể từ ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, đã có nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao sang thăm và làm việc tại hai nước. Bên cạnh các đoàn lãnh đạo cấp cao, còn có các đoàn doanh nghiệp tham gia các chương trình xúc tiến thương mại tìm hiểu thị trường và xúc tiến giao thương giữa hai nước. Phía Ixraen đã tổ chức nhiều đoàn doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như nông nghiệp, viễn thông, dầu khí …sang tham dự hội chợ triển lãm tại Việt Nam. Đồng thời, Ixraen cũng tổ chức nhiều hội thảo doanh nghiệp giới thiệu các cơ hội hợp tác kinh doanh cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Về phía ta, nhiều doanh nghiệp đã sang tìm hiểu cơ hội hợp tác kinh doanh với các đối tác Ixraen. Bộ Thương Mại trước đây đã tổ chức đoàn doanh nghiệp đi khảo sát thị trường và tổ chức hội thảo tại Ixraen năm 2005 nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế – thương mại song phương.

Kể từ đó đến nay, kim ngạch trao đổi thương mại song phương giữa Việt Nam và Ixraen không ngừng gia tăng. Năm 2006, xuất khẩu của Việt Nam sang Ixraen đạt 40,8 triệu USD và nhập khẩu đạt 37,2 triệu USD. Năm 2007, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đạt 141 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 57,2 triệu USD và nhập khẩu 83,4 triệu USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước trong năm 2008 đạt 162,4 triệu USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 82 triệu USD, tăng 43% so với năm 2007.

Bảng 17 : Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Ixraen giai đoạn 2004 -2008

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Ixraen gồm: giày dép, cà phê, gạo, hải sản, sản phẩm gỗ các loại, dệt may, hạt điều, chè, thủ công mỹ nghệ, hạt tiêu, linh kiện điện tử, quế… Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ Ixraen gồm máy móc thiết bị, phân bón, sản phẩm linh kiện điện tử, chất dẻo nguyên liệu, nguyên liệu thức ăn gia súc, thuốc sâu, hoá chất, dược phẩm…

Bảng 18: Cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu Việt Nam – Ixraen năm 2008

4.3 Triển vọng hợp tác

Trong các nước Trung Đông, Ixraen là một trường hợp khá đặc biệt bởi đây là quốc gia Do Thái duy nhất trong khu vực. Việc hợp tác với Ixraen và các nước Arập khác có ý nghĩa quan trọng trong chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ của Việt Nam hiện nay. Với việc xúc tiến mở Đại sứ quán Việt Nam tại Ixraen, trong thời gian tới chắc chắn doanh nghiệp hai nước sẽ có điều kiện để tìm hiểu về các nhu cầu của mỗi bên nhiều hơn. Các ngành công nghệ cao là thế mạnh của Ixraen và việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp trong nước với chi phí hợp lý. Đặc biệt trong bối cảnh Ixraen cũng rất mong muốn đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam, vốn được đánh giá có vị thế quan trọng trong các chính sách ngoại giao, thương mại của Ixraen đối với khu vực Đông Nam Á.

III. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

1. Kết quả

Thứ nhất, quan hệ chính trị, kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông trong thời gian qua không ngừng phát triển. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với tất cả các nước ở khu vực Trung đông. Quan hệ chính trị với khu vực này thời gian qua phát triển tốt đẹp. Nhiều hiệp định và nghị định thư song phương đã được ký kết với các nước thuộc khu vực Trung đông nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động hợp tác giữa hai bên như: Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, Hiệp định vận tải hàng hải…..Quan hệ kinh tế – thương mại giữa Việt nam với các nước Trung Đông trong năm qua tiếp tục phát triển tốt đẹp. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn các cấp đi thăm lẫn nhau và nhiều văn kiện hợp tác song phương đã được ký kết nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động hợp tác giữa hai bên. Điều này được thể hiện qua các chuyến thăm của: Thủ tướng Cô Oét thăm Việt Nam tháng 5/2007, Bộ trưởng Kinh tế Ôman và Cố vấn kinh tế của Thủ tướng Baranh thăm Việt Nam tháng 4/2007, Hoàng tử Arập Xêút Al Waheed thăm Việt Nam tháng 6/2007, Phó Tổng thống kiêm Thủ tướng UAE và Quốc vương Dubai thăm Việt Nam tháng 9/2007, Bộ trưởng Kinh tế Ôman , Bộ trưởng Dầu mỏ Cô Oét thăm Việt Nam tháng 4/2008. Về phía Việt Nam, đoàn Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đi thăm nước: Ôman, Baranh và Cata tháng 11/2007. UBHH Việt nam – Iran đã họp tại Tehran tháng 12/2007 để thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Đặc biệt, cũng tháng 12/2007, UBHH Việt Nam – Irắc đã tổ chức thành công kỳ họp lần thứ 17 tại Hà Nội, trong đó có nội dung quan trọng là Irắc cam kết xoá số nợ còn lại cho Việt nam và mong muốn nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu từ Việt Nam, UBHH Việt Nam-Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã nhóm họp tháng 11/2008 với nhiều kết quả khả quan.

Thứ hai, thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, đạt tốc độ tăng trưởng cao. Năm 2007, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Trung

Đông đạt 1,19 tỷ USD; trong đó Việt nam xuất khẩu 700 triệu USD, tăng 17,2% so với năm 2006, và nhập khẩu 490 triệu USD. Các thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh gồm: UAE (233 triệu USD), Thổ Nhĩ Kỳ (202 triệu USD), Ixraen (57 triệu USD) và Arập Xêút (51 triệu USD). Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Trung Đông gồm: gạo, cà phê, sản phẩm dệt may, máy tính và linh kiện điện tử, giày dép các loại, chất dẻo nguyên liệu, hải sản, sợi các loại, cao su, than đá, chè, gỗ và sản phẩm gỗ. Mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ khu vực Trung Đông chủ yếu gồm: xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu, phân bón, hoá chất, sắt thép, chất dẻo…. là những thế mạnh của thị trường khu vực này. Điều đáng lưu ý trong quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông trong năm qua là sự chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu. Nếu những năm trước, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Đông chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu sang Irắc và UAE thì năm 2007 và 2008 hoạt động xuất khẩu , ngoài UAE, đã chuyển sang các thị trường khác như Thổ Nhĩ Kỳ, Ixraen và Arập Xêút.

Thứ ba, cán cân xuất nhập khẩu có sự thay đổi theo hướng tích cực. Cán cân xuất nhập khẩu đã có sự thay đổi lớn với thị trường Trung Đông, cụ thể là Việt Nam đã chuyển sang thế xuất siêu từ chỗ nhập siêu. UAE và Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành 2 thị trường xuất khẩu đứng đầu khu vực. Một trong những nguyên nhân tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Đông là do giá dầu thế giới tăng đã thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu của các nước Trung Đông tăng mạnh. Nguyên nhân thứ hai là việc nỗ lực của các công ty Việt Nam trong việc tìm kiếm và đa dạng hoá bạn hàng, đa dạng hoá hình thức bán hàng. Hiện nay, các công ty của Việt Nam tích cực đi khảo sát thị trường, tham gia vào các hội chợ triển lãm tại các nước trong khu vực để giới thiệu, quảng bá sản phẩm và tìm cách đưa hàng hoá của Việt Nam xâm nhập vào khu vực này. Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc xúc tiến, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm bạn hàng như của Bộ Công Thương (thông qua các chương trình xúc tiến thương mại, tổ chức đưa đoàn doanh nghiệp đi khảo sát thị trường, tổ chức hội thảo doanh nghiệp để gặp gỡ trực tiếp, tìm kiếm bạn hàng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các Hiệp hội ngành hàng…. trong việc tổ chức cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hội chợ, triển lãm và hội thảo tại các nước như UAE, Arập Xêút, Iran… nhằm tìm kiếm bạn hàng mới. Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Thứ tư, tiếp tục xuất hiện những tín hiệu khả quan trong hợp tác Việt Nam – Trung Đông trong thời gian tới. Quan hệ kinh tế – thương mại giữa Việt Nam và các nước Trung Đông năm 2009 sẽ có những bước phát triển vượt bậc so với năm 2008 do Việt Nam và các nước Trung Đông đang đẩy mạnh tăng cường quan hệ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế – thương mại, đầu tư và hợp tác công nghiệp. Các doanh nghiệp ở khu vực Trung Đông bắt đầu quan tâm hơn tới thị trường và đối tác Việt Nam để tìm kiếm các cơ hội hợp tác kinh doanh song phương cũng như tìm các cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Hiện nay, đã xuất hiện làn sóng đầu tư từ các nước Trung Đông vào Việt Nam. Nhà máy sản xuất thép Zamil Steel ở Đồng Nai và khu du lịch giải trí cao cấp Raffles Resort ở Đà Nẵng là những dự án đầu tư thành công điển hình của Arập Xêút tại Việt Nam. Ngoài ra, sau chuyến thăm Ôman, Cata và Baranh của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cuối tháng 11 đầu tháng 12/2007, đặc biệt là sau chuyến thăm trong tháng 2 và tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang UAE, Cata, Cô Oét, nhiều doanh nghiệp của các nước này cũng như các doanh nghiệp trong khối GCC đã bày tỏ quan tâm đến làm ăn với thị trường Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực hợp tác đầu tư mà cụ thể là trong lĩnh vực dầu khí và công nghiệp hoá dầu. Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã ký các thoả thuận về hợp tác dầu khí với 3 nước nói trên. Hơn nữa, sau năm 2008 được Chính phủ Việt Nam chọn là năm trọng điểm trong quan hệ với Trung Đông, năm 2009 các đơn vị liên quan cũng coi thị trường này là điểm đến tiềm năng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang đi xuống. Các yếu tố này sẽ góp phần tích cực vào đẩy mạnh kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và khu vực này. Dự báo, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Đông năm 2009 có thể đạt 1,5 tỷ USD, tăng khoảng 33% so với năm 2008, với các thị trường chủ yếu vẫn tập trung vào: UAE ,Thổ Nhĩ Kỳ, Ixraen và Arập Xêút.

2. Hạn chế

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả trong trao đổi thương mại Việt Nam-Trung Đông trong những năm vừa qua, tuy nhiên vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới như:

Thứ nhất, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước không ngừng tăng lên nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của mỗi bên. Hiện Việt Nam mới chỉ cung cấp một lượng hàng hoá rất nhỏ so với nhu cầu của toàn khu vực Trung Đông. Thị trường Trung Đông cùng với Châu Phi mới chỉ đứng thứ 6 trong cơ cấu các thị trường xuất khẩu của Việt Nam. So với nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Malaixia, Thái Lan, hàng hoá Việt Nam mới chỉ xuất hiện ở một số ít các thị trường trọng điểm.

Thứ hai, các đơn hàng từ các đối tác Trung Đông có tăng lên nhưng không đều trong từng giai đoạn mà chủ yếu vẫn mang tính thời vụ. Có thể thấy, các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ là sự lựa chọn của các doanh nghiệp khu vực này khi họ không thể tìm được các nhà xuất khẩu phù hợp tại các nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaixia,…

Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam thường rất thụ động trong việc tìm kiếm các khách hàng Trung Đông. Chủ yếu họ mới chỉ tìm hiểu thông qua các thông tin mà Bộ công thương cung cấp. Điều này dẫn đến việc số lượng các mặt hàng được cung cấp thường không lớn do không có sự chủ động về thời gian. Đây là thiệt thòi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả các khách hàng Trung Đông muốn hợp tác lâu dài.

3. Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

Là khu vực có nhiều tiềm năng, nhưng Trung Đông luôn tiềm ẩn những rủi ro bất ổn về về an ninh và chính trị. Các cuộc xung đột giữa Palestine và Ixraen, bất ổn tại Irắc, vấn đề người Kurd ở phía bắc Irắc… vẫn chưa được giải quyết triệt để. Cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Iran đến nay vẫn chưa có hồi kết khiến cho giá dầu vẫn đang đứng ở mức cao, ảnh hưởng đến nền kinh tế nhiều quốc gia. Do thiếu thông tin về thị trường và đối tác của nhau nên hợp tác công nghiệp giữa Việt Nam và các nước ở Trung Đông còn khiêm tốn, chưa phản ánh tiềm năng và mong muốn của mỗi bên. Các nguyên nhân của sự hạn chế đó có thể kể đến gồm:

Thứ nhất, quan hệ bạn hàng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp các nước Trung Đông còn chưa nhiều và chưa vững chắc. Phong tục tập quán buôn bán của vùng Trung Đông cũng có nhiều điểm khác biệt so với Việt Nam và so với tập quán quốc, chính vì vậy xây dựng một mối quan hệ bạn hàng tốt đẹp, tăng cường trao đổi thông tin là điều rất quan trọng nhằm củng cố và nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu, tạo dựng niềm tin để tránh những rủi ro không đáng có khi thực hiên các hợp đồng.

Thứ hai, hàng hoá Việt Nam tại thị trường các nước Trung Đông còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng lượng hàng hoá nhập khẩu vào thị trường này, vì vậy người tiêu dùng tại đây vẫn chưa được biết đến, sức cạnh tranh thấp, giá cả thường lại cao hơn hàng hoá của một số nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakixtan,…mẫu mã chậm thay đổi, các quy cách nhiều khi còn chưa thực sự đáp ứng những yêu cầu đặc biệt của khách hàng. Đây là những hạn chế đáng kể của hàng hoá Việt Nam khi muốn thâm nhập sâu hơn nữa vào thị trường giàu tiềm năng này

Thứ ba, một ưu điểm của thị trường Trung Đông, đặc biệt là thị trường Dubai – cửa ngõ thương mại của toàn khu vực trong những năm gần đây là ngày càng mang tính mở nhiều hơn. Chính điều này đã tạo ra sự cạnh tranh rất khốc liệt giữa các đối thủ kinh doanh đến từ nhiều nước. Hàng hoá từ Trung Quốc, Ấn Độ có các chủng loại, mẫu mã phong phú được thay đổi thường xuyên theo thị hiếu thị trường, lại có giá cả rất cạnh tranh, cùng với các chủng loại hàng hoá từ các nước Châu Âu có thương hiệu nối tiếng, chất lượng cao, đang là những đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ nhất, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải năng động hơn, hàng hoá Việt Nam phải được nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, không ngừng cải tiến mẫu mã, thị hiếu mới có thể đứng vững và giành thị phần cao hơn trong khu vực này. Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông

One thought on “Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-Trung Đông

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464