Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam – Trung Đông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG
1. Quan điểm
Trong Đề án “ Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam Trung Đông giai đoạn 2008-2015” đã nêu ra những quan điểm của Chính phủ trong việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với khu vực này trong thời gian tới. Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
1.1 Đối với Việt Nam, Trung Đông là khu vực có tiềm năng to lớn cho các quan hệ hợp tác và phát triển, nhất là trên các mặt như xuất nhập khẩu, khai thác, chế biến và buôn bán dầu lửa, khí đốt, hợp tác đầu tư du lịch, xuất khẩu lao động.
Có thể thấy các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các doanh nghiệp đã nhận thức rõ tiềm năng và tầm quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với khu vực Trung Đông do những lợi thế mà khu vực này mang lại. Trong thời gian vừa qua các chuyến thăm viếng lẫn nhau ở cấp cao của lãnh đạo Việt Nam và các nước Trung Đông với nhiều hiệp định được ký kết, chủ yếu trên lĩnh vực thương mại và đầu tư cũng cho thấy quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy mối quan hệ này. Hiện nay, hai khu vực Trung Đông và Châu Phi được coi là thị trường lớn thứ 6 của Việt Nam sau các thị trường lớn khác như Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc và ASEAN. Tuy nhiên, cho đến nay các quan hệ kinh tế thương mại với thị trường Trung Đông còn rất nhiều hạn chế. Mặc dù xét về tốc độ, mức tăng trưởng kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều đạt tỷ lệ cao, nhưng vẫn mới chỉ đạt trên 2 tỷ USD, chưa tương xứng với tiềm năng của cả hai bên. Việt Nam mới chỉ có quan hệ thương mại với một số nước chính trong khu vực như UAE, Thổ Nhĩ Kỳ, Arập Xêút,…Vì vậy Việt Nam cần có những bước đi mang tính chiến lược, rõ ràng, thiết thực nhằm cụ thể hoá mối quan hệ hợp tác cùng có lợi với khu vực Trung Đông.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1.2 Trong giai đoạn 2008-2015, cần thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại với thị trường Trung Đông, đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh vào các nước trong khu vực có nhu cầu cao như hàng nông sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, hàng công nghiệp. Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Với những kết quả tốt đẹp trong quan hệ chính trị giữa Việt Nam với các nước Trung Đông cũng như sự tăng trưởng trao đổi thương mại những năm gần đây, trong giai đoạn 2008-2015 lĩnh vực kinh tế, thương mại được Chính phủ Việt Nam xác định là mục tiêu trọng tâm trong công tác đối ngoại với khu vực này. Đây cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam-“ngoại giao phục vụ kinh tế”. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả nhưng có thể nói Trung Đông vẫn là một thị trường mới với các doanh nghiệp Việt Nam, có các chính sách nhập khẩu và tập quán tiêu dùng khác với các thị trường truyền thống khác. Vì vậy, trong Đề án đã xác định các mặt hàng mạnh của Việt Nam, có thể cạnh tranh với hàng hoá của các nước khác và thị trường các nước Trung Đông có nhu cầu lớn, đó là hàng nông sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, hàng công nghiệp.
1.3 Tận dụng những ưu đãi mà các quốc gia Trung Đông được hưởng từ Mỹ, EU hoặc các nước trong khu vực để tạo cầu nối mở rộng thương mại với các quốc gia khác.
Hiện nay nhiều nước trong khu vực Trung Đông như Ixraen, UAE, Giooc đa ni đã ký các thoả thuận thương mại và các hiệp định FTA với Mỹ và EU qua đó dành được nhiều ưu đãi trong việc xuất khẩu nhiều chủng loại mặt hàng vào thị trường này như dệt may, thuỷ sản, hàng công nghiệp,… Vì vậy gần đây, Bộ công thương cũng đã đề xuất khả năng các doanh nghiệp Việt Nam có thể thiết lập các liên doanh sản xuất các sản phẩm này tại các nước Trung Đông, vừa tận dụng được những ưu đãi của các nước này do họ đang muốn phát triển các ngành phi dầu lửa, vừa dành được những thuận lợi khi xuất khẩu sang Mỹ, EU và một số nước khác. Ngoài ra, việc hình thành các khu vực mậu dịch tự do giữa các nước Trung Đông, Bắc Phi cũng tạo cơ hội cho hàng hoá Việt Nam từ một số thị trường cửa ngõ như UAE, Thổ Nhĩ Kỳ có thể xâm nhập sang các thị trường cùng khu vực.
1.4 Thúc đẩy việc triển khai các dự án dầu khí đã ký và mở rộng các hoạt động liên quan đến lĩnh vực dầu khí tại Trung Đông bằng cách tận dụng những cơ hội thuận lợi để ký kết các hợp đồng thăm dò, khai thác các các mỏ dầu khí, đa dạng hoá nguồn nhập khẩu dầu khô, khí LNG nhằm phục vụ chiến lược an ninh năng lượng của Việt Nam.
Giai đoạn 2010-2020 là giai đoạn được Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam xác định là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được kết quả đó, việc đảm bảo an ninh năng lượng là một nhân tố vô cùng quan trọng trong việc phát triển ổn định nền kinh tế. Khu vực Trung Đông với trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới luôn là điểm đến không thể thiếu của các nước trên thế giới trong việc tìm kiếm nguồn cung ứng năng lượng cho quốc gia. Chính phủ đã giao cho tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam cần nhanh chóng ký kết các hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí với các nước, khu vực trọng điểm như Angiêri, Vênêxuêla, Irắc,…và các nước Trung Đông khác. Về lâu dài, đây sẽ là nguồn cung cấp dầu thô chủ yếu cho các nhà máy lọc dầu của Việt Nam cũng như các sản phẩm từ dầu mỏ khác phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Định hướng Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Đối với Việt Nam, những diễn biến phức tạp về tình hình kinh tế, chính trị của khu vực Trung Đông đều rất cần được đánh giá, nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời và hiệu quả. Trong bối cảnh hiện nay, có thể đưa ra một số định hướng chung như:
Thị trường Trung Đông hiện đang có nhu cầu rất lớn với các mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như gạo, cà phê, cao su, hàng điện tử, dệt may, gia dày,…Trung Đông trong những năm gần đây cũng dành được sự quan tâm ngày càng nhiều của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, những biện pháp xúc tiến thương mại, khai thác thị trường trong thời gian qua còn nhiều hạn chế. Trong thực tế, Việt Nam mới phát triển quan hệ với một số thị trường trọng điểm trong khu vực, kim ngạch thương mại hai chiều còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu mỗi bên. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới hạn chế này nhưng một nguyên nhân cơ bản là Việt Nam đang thiếu một chiến lược tiếp cận thị trường hoàn chỉnh. Vì vậy, mối quan hệ kinh tế – thương mại Việt Nam – Trung Đông trong thời gian qua dù đã có nhiều tiến triển nhưng vẫn chưa phát huy được nhiều tiềm năng to lớn của mỗi bên. Trong thời gian tới, cần nỗ lực và quyết tâm hơn nữa để phát triển mối quan hệ với thị trường này, nhất là trong các lĩnh vực như mở rộng quan hệ thương mại, tăng cường xuất khẩu lao động, phát triển du lịch, thu hút đầu tư.
2.2 Thứ hai, cần coi trọng và đẩy mạnh các quan hệ hợp tác trong việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến và xuất nhập khẩu nguồn tài nguyên dầu lửa với các nước Trung Đông
Như ở trên đã nêu rõ, Trung Đông là khu vực giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ. Ngày nay dầu mỏ không chỉ chiếm vị trí chi phối nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực Trung Đông mà còn có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam cũng là một nước xuất khẩu dầu mỏ và nguồn tài nguyên này cũng đang góp phần quan trọng trong việc đáp ứng một phần nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này Việt Nam, ngoài vùng biển Đông còn chưa xác định được và đang trong tình trạng tranh chấp, còn lại các khu vực khác được dự báo có trữ lượng không lớn và các mỏ đang khai thác sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Vì vậy, hiện nay và trong tương lai, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu dầu lửa để phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với trữ lượng dầu mỏ lớn, Trung Đông là khu vực quan trọng để Việt Nam có thể hợp tác trên nhiều mặt, từ chế biến tới khai thác, qua đó chủ động nguồn cung ứng năng lượng cần thiết cho đất nước trong tương lai.
2.3 Thứ ba, cần đẩy mạnh việc thu hút nguồn vốn dầu lửa của các nước Trung Đông Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Nguồn vốn thu được từ xuất khẩu dầu của các nước Trung Đông là rất lớn, theo ước tính có thể lên tới từ 800 đến 1000 tỷ USD và đang nằm trong các ngân hàng lớn ở các nước Mỹ, châu Âu hoặc được chi tiêu không hiệu quả. Khi Việt Nam thu hút được một phần nguồn vốn này, đây sẽ là một động lực quan trọng để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế đất nước. Biến nguồn vốn “nhàn rỗi” từ các thế lực dầu lửa Trung Đông hoàn toàn là một mục tiêu khả thi của Việt Nam trong thời gian tới. Hiện nay, khi nguồn vốn đầu tư đến từ các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, các nước EU,…bị ảnh hưởng mạnh do cuộc khủng hoảng kinh tế, việc xúc tiến thu hút đầu tư từ khu vực này lại càng quan trọng trong việc duy trì ổn định cho nền kinh tế. Các doanh nghiệp Trung Đông thời gian qua đã bắt đầu chú ý đến Việt Nam và có nhiều dự án lớn trong lĩnh vực du lịch, công nghiệp. Tuy nhiên, cần tăng cường thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mà doanh nghiệp Trung Đông có thế mạnh như sản xuất chế biến hàng nông sản, dược phẩm, công nghiệp nặng,…
2.4. Thứ tư, cần tích cực tìm hiểu, tham gia vào quá trình ngăn chặn và khắc phục những diễn biến phức tạp thường nổ ra và xuất phát từ Trung Đông cùng những ảnh hưởng tiêu cực của chúng đến các nước khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đặc biệt, cần quan tâm đến những vấn đề vì hoà bình và an ninh quốc gia như chiến tranh, xung đột tôn giáo, chương trình vũ khí hạt nhân Iran, dân chủ, nhân quyền, khủng bố,…Đây là những vấn đề không trực tiếp ảnh hưởng đến Việt Nam nhưng lại có tác động đến quan hệ giữa Việt Nam với các nước Trung Đông, nhất là các mặt chính trị, kinh tế và thương mại. Thực tế đã cho thấy khi cuộc chiến Irắc nổ ra, các quan hệ thương mại giữa Việt Nam với nước này đã bị đình trệ trong một thời gian dài, nhiều hợp đồng của các doanh nghiệp Việt Nam với các nhà nhập khẩu Irắc bị huỷ. Đến năm 2008, Việt Nam vẫn chưa mở lại thương vụ tại Bátđa, mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang thị trường truyền thống này đã tăng trở lại, nhưng chắc chắn phải mất một thời gian nữa mới đạt được kết quả như trước năm 2003. Tuy nhiên, cũng do cuộc chiến tại đất nước này, các doanh nghiệp Việt Nam đã tìm được các thị trường xuất khẩu mới trong khu vực Trung Đông như UAE, Cô Oét,…
II. GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG ĐÔNG GIAI ĐOẠN 2009-2015 Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Năm 2008 được Bộ công thương xác định là “năm Trung Đông” đồng thời Chính phủ cũng đã thông qua “Đề án thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Trung Đông giai đoạn 2008-2015” với mục tiêu phấn đấu nâng trao đổi thương mại Việt Nam – Trung Đông lên mức 3,1 tỷ USD năm 2010 và 9,6 tỷ USD năm 2015 trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2010 đạt 2,3 tỷ USD và năm 2015 đạt 7,5 tỷ USD với mức tăng trưởng bình quân đạt 27%/ năm. Để hoàn thành các mục tiêu trên, việc thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và hiệu quả là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay.
1. Tăng cường công tác thông tin, xúc tiến thương mại vào thị trường Trung Đông
Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam cho biết những thông tin về thị trường Trung Đông mà họ có được còn rất ít. Nhiều doanh nghiệp mới chỉ biết đến những khái niệm cơ bản nhất về đất nước văn hoá xã hội của khu vực này thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Chưa kể đến những hạn chế về ngôn ngữ gây trở ngại không nhỏ cho các hoạt động giao dịch và trao đổi trực tiếp với đối tác. Từ đó rất khó trong việc xây dựng sự tin cậy, quan hệ thân thiết với khách hàng, dẫn đến việc khó đạt được thoả thuận trong hợp đồng, ảnh hưởng bất lợi trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Khi buôn bán với thị trường nước ngoài, việc chuẩn bị thông tin chung và các thông tin cụ thể hơn về thị trường, mặt hàng, thủ tục giao nhận, phương thức thanh toán là điều vô cùng quan trọng. Do đó, để khắc phục những hạn chế trên, chúng ta cần tăng cường thu thập, cung cấp các thông tin về thị trường nước ngoài, trong đó có các thị trường mới tại khu vực Trung Đông qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là từ các thương vụ tại Trung Đông để cung cấp thêm thông tin về điều tra thị trường theo yêu cầu với từng mặt hàng của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng cần tăng cường tổ chức khảo sát các thị trường Trung Đông, tổ chức, tham gia hội chợ, hội thảo tại nước ta cũng như các nước trong khu vực. Trong đó trước hết nên tập trung chú ý tới thị trường Dubai (UAE) là trung tâm hội chợ, hội thảo của toàn khu vực.
2. Đổi mới cơ cấu mặt hàng vào thị trường Trung Đông
Để gia tăng kim ngạch xuất khẩu vào Trung Đông, khu vực có những yêu cầu rất riêng về hàng hoá, trước hết cần xem xét thị trường này nhập khẩu chủ yếu những loại sản phẩm nào, đồng thời xác định nhu cầu của các nước trong khu vực với các mặt hàng có thể xuất khẩu của Việt Nam hiện nay. Thời gian qua một số mặt hàng chế tạo có giá trị cao của Việt Nam đã có mặt tại thị trường Trung Đông như hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện, vải, ắc quy, giày dép, sản phẩm nhựa và chất dẻo….Một số sản phẩm khác như đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, hải sản, rau quả cũng là những mặt hàng đang tăng mạnh vào thị trường này. Từ đó có thể thấy việc từng bước thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng cường các mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng cao là điều hoàn toàn có thể thực hiện được.
Mặc dù vậy, để thực sự biến đổi cơ cấu xuất khẩu vào bất kỳ một thị trường nào, nhất là các thị trường có nhiều đặc điểm riêng về văn hoá tiêu dùng như Trung Đông còn phụ thuộc rất lớn cả vào việc tìm hiểu thị trường, tìm ra các mẫu mã hợp thị hiếu của khách hàng nơi đây. Một trong những thành công của doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường quốc tế nói chung và thị trường Trung Đông nói riêng là đã tạo ra nhiều mẫu mã thích hợp với nhiều đối tượng người tiêu dùng khác nhau. Trong khi đó hàng hóa các doanh nghiệp Việt Nam lại thường mang tính sản xuất nhỏ lẻ, chủng loại không đa dạng và tiến độ giao hàng không đáp ứng được yêu cầu của phía đối tác.
3. Củng cố và phát huy các mặt hàng truyền thống Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Từ trước đến nay, phần lớn các mặt hàng lớn xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Đông đều là hàng nông sản. cụ thể là hồ tiêu, gạo, chè, cà phê, hạt điều, cơm dừa, cao su…Tuy nhiên, kể cả những mặt hàng được coi như thế mạnh này thì ngoài hồ tiêu, còn lại hàng Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ quá nhỏ bé trong toàn bộ nhu cầu tiêu dùng của các nước Trung Đông. Đặc điểm của nhóm mặt hàng nông sản là thường có giá cả biến động thất thường mang tính mùa vụ, trong khi thị trường Trung Đông có vị trí địa lý tương đối xa, chi phí vận chuyển cao trong khi giá cả lại không ổn định như các thị trường lớn khác nên đã xảy ra trường hợp doanh nghiệp bỏ hợp đồng đã ký với doanh nghiệp các nước này khi giá lên hoặc khi có sự khan hiếm về nguồn hàng. Thậm chí có nơi vẫn giao hàng nhưng không đảm bảo về quy cách và chất lượng. Thông thường chỉ có các doanh nghiệp có nguồn cung ổn định và có các đối tác lâu dài mới có thể duy trì quan hệ với thị trường này. Bên cạnh đó, do chủ yếu chỉ có các thông tin về các công ty của UAE tại Dubai nên thường doanh nghiệp Việt Nam không nắm được sự lên xuống thường xuyên của giá cả các mặt hàng trong khu vực mà thường xuất thẳng cho các doanh nghiệp UAE để họ tiếp tục tái xuất lên giá cả thường không cao. Nếu khắc phục được những trở ngại trên, hàng nông sản Việt Nam mới có được chỗ đứng vững chắc hơn trong khu vực.
4. Đẩy mạnh công tác tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp
Hiện nay nhiều doanh nghiệp trong nước rất quan tâm đến các dịch vụ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường Trung Đông, trước mắt là các thị trường trọng điểm như UAE, Thỗ Nhĩ Kỳ, Arập Xêút ,…Một số dịch vụ các doanh nghiệp đang rất cần nhận được sự tư vấn và hỗ trợ như:
- Hỗ trợ về thủ tục xin, cấp giấy phép, địa điểm giới thiệu và bán hàng
- Tư vấn thông tin thị trường trong đó có cung cấp tên, địa chỉ liên lạc các công ty và thông tin điều tra thị trường tại từng nước riêng biệt
- Đại diện cho các công ty trong việc tiếp thị chào hàng và các yêu cầu khác về giao nhận thanh toán.
- Thủ tục thiết lập hệ thống đại lý bán hàng
- Thu xếp Visa, khách sạn, trạm dừng chân cho các chuyến khảo sát của doanh nghiệp
- Tư vấn, sắp xếp tham gia những hội chợ quan trọng
- Tư vấn bảo vệ thương hiệu, bản quyền tại các nước trong khu vực
5. Xây dựng những danh mục hàng hoá riêng cho thị trường Trung Đông Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Trong bối cảnh hàng hoá Việt Nam đang xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường thế giới, hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Trung Đông vẫn chủ yếu là những mẫu mã chung với những quy cách, phẩm chất giống các tiêu chuẩn của các thị trường Mỹ và Châu Âu. Trong khi đó thực tế cho thấy thị hiếu của người tiêu dùng Trung Đông, do những ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá, tôn giáo lại không giống với những khách hàng ở cá khu vực khác. Nhiều loại hàng hoá được nhập vào đây đều phải có những đặc điểm chuyên biệt. Hiện nay nhiều nước như Trung Quốc, Malaysia đã có những công ty/những dây chuyền chuyên sản xuất các sản phẩm phục vụ riêng cho thị trường này. Doanh nghiệp Việt Nam là những người đi sau khi thâm nhập vào Trung Đông vì vậy có rất nhiều thuận lợi để nghiên cứu kỹ hơn về kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ngoài trước đó. Chỉ khi coi Trung Đông là một thị trường chiến lược, không phải là “giải pháp tình thế”, các công ty Việt Nam mới có thể hợp tác lâu dài và thành công với các đối tác nhiều tiềm năng của khu vực.
6. Tăng cường đầu tư cho Thương mại điện tử
Theo dự báo, trong khi nền kinh tế toàn cầu gặp khó khăn như hiện nay, thương mại điện tử sẽ là “cứu cánh” cần thiết trong thương mại quốc tế, là chìa khoá giúp các doanh nghiệp vượt giai đoạn khủng hoảng. Thị trường Trung Đông, với vị trí địa lý nằm tương đối xa, ngành vận tải hàng hải trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu, đặc biệt là đến các thị trường mới, trong khi doanh nghiệp Việt Nam lại thường có những trở ngại ngôn ngữ khi giao dịch với đối tác từ các nước Trung Đông. Việc đi lại để trao đổi đàm phán sẽ tốn rất nhiều chi phí cho cả hai bên, giảm đi cơ hội có thể hợp tác. Chính vì vậy, đầu tư cho thương mại điện tử là một giải pháp hữu hiệu nhằm quảng bá tên tuổi của các doanh nghiệp Việt Nam đến thị trường Trung Đông. Thực tế cho thấy, hiện nay việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế, đặc biệt số doanh nghiệp coi các công cụ điện tử như một kênh kinh doanh chính của mình lại càng ít ỏi. Hầu hết các công ty Việt Nam mới chỉ xây dựng website để “ cho có” với các thông tin sơ sài, giao diện không thân thiện và thiếu những chi tiết cơ bản nhất về các chủng loại hàng hoá. Bên cạnh đó, hầu hết các website mới chỉ được viết bằng tiếng Việt, một số ít có thêm các ngôn ngữ khác, chủ yếu là tiếng Anh nhưng hoàn toàn không có ngôn ngữ các nước Arập . Nhận thức được vai trò của ứng dụng thương mại điện tử sẽ là yếu tố quyết định những thành công trong tương lai của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Trung Đông. Thông qua những website hoặc những sàn giao dịch trực tuyến, các doanh nghiệp Việt Nam có thể trao đổi một cách trực tiếp, tìm hiểu yêu cầu của đối tác thông qua các công cụ rất đơn giản hiện nay như Yahoo chat, email,…Việc bố trí những gian hàng điện tử cũng có ích lợi hơn rất nhiều, đặc biệt là về chi phí so với việc tham dự các hội chợ triển lãm tốn kém. Những thông tin về sản phẩm, tình trạng đơn hàng cũng được cập nhật nhanh chóng khi ứng dụng những công nghệ mới đầy tiện ích này. Ngoài ra đây cũng là cách để tạo dựng uy tín với các đối tác nước ngoài trong việc minh bạch hoá các thông tin cơ bản về doanh nghiệp.
III. KIẾN NGHỊ Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Nhằm tiếp tục tăng cường và thúc đẩy quan hệ kinh tế – thương mại giữa Việt nam với khu vực Trung Đông, trong thời gian tới, cần tập trung triển khai thực hiện một số nội dung theo đặc điểm của các cơ quan, đơn vị có liên quan như:
1. Đối với Nhà nước
Thứ nhất, tăng cường trao đổi các đoàn lãnh đạo cấp cao, đoàn cấp Bộ ngành để thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước Trung Đông, trước mắt là các thị trường trọng điểm như: UAE, Arập Xêút, Thổ Nhĩ Kỳ, Ixraen…Thực tế cho thấy, trong suốt quá trình Đổi mới, với quan điểm Ngoại giao phục vụ kinh tế, Việt Nam đã tạo được rất nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng bè bạn quốc tế, khẳng định vị thế ngày càng cao của đất nước, đem đến hình ảnh mới mẻ, năng động về một nước Việt Nam hoà bình, phát triển. Những chuyến công du nước ngoài cũng cần được quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cùng tháp tùng, tận dụng tối đa các phương tiện ngoại giao nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam có tiếng nói hơn trong hợp tác với các doanh nghiệp Trung Đông.
Thứ hai,tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý thông qua việc ký kết các Hiệp định như Hiệp định Thương mại, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực hàng không, hàng hải, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các nước Trung Đông. Chỉ đạo tăng cường hợp tác và phối hợp giữa Bộ Công Thương cũng như Phòng Thương mại và Công nghiệp của Việt Nam với các cơ quan tương ứng của các nước trong khu vực nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp 2 bên tìm kiếm các cơ hội kinh doanh với nhau. Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã ký rất nhiều những Hiệp định dạng này với nhiều đối tác khác nhau, không chỉ trong khu vực Trung Đông. Việc ký kết các văn bản chính thức sẽ tạo điều kiện rõ ràng về mặt pháp lý, ngoại giao cho các hợp đồng giữa hai bên, dành những ưu đãi “có đi có lại”, góp phần thúc đẩy các mối quan hệ vốn rất nhiều triển vọng.
2. Đối với Bộ Công Thương Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Thứ nhất, lên kế hoạch nghiên cứu cụ thể về thị trường Trung Đông. Hiện tại, Vụ Thị trường Châu Phi, Tây Á và Nam Á – Bộ Công thương đang nghiên cứu Đề án đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường khu vực này. Trong đề án tập trung vào một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có thế mạnh và Bạn có nhu cầu để xâm nhập thị trường như: Nông sản (gạo, hạt tiêu, chè, cà phê, hạt điều), thực phẩm (hải sản, gà, trái cây, rau quả), thủ công mỹ nghệ, hàng công nghiệp (dệt may, giày dép, đồ điện tử, linh kiện, máy vi tính). Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm hợp tác với các doanh nghiệp trong khu vực này từ đó đưa ra những khuyến cáo, định hướng đúng đắn cho các doanh nghiệp về từng ngành hàng, mặt hàng khi tham gia trao đổi thương mại với các doanh nghiệp Trung Đông. Các kế hoạch này cần được lập chi tiết, có phản biện đánh giá của các bên liên quan nhằm đưa ra được một kế hoạch có tính khả thi cao, hữu ích cho Nhà nước khi lập chiến lược chung với thị trường, đồng thời cũng trợ giúp cho các doanh nghiệp đang có nhu cầu tìm hiểu về thị trường Trung Đông. Tránh tình trạng thông tin nửa vời, để doanh nghiệp tự “ mò mẫm” tìm đường xuất khẩu với nhiều rủi ro tiềm ẩn.
Thứ hai, xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp cho các doanh nghiệp mở rộng cơ hội hợp tác kinh doanh, đầu tư vào thị trường này. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại. Một mặt tăng cường các hoạt động Xúc tiến thương mại như chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia, tham dự triển lãm, hội chợ. Mặt khác, cần có sự điều chỉnh đối với các chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia như Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí xúc tiến cho các đoàn Xúc tiến thương mại hoặc khảo sát thị trường tại những nước như Iran, Ixraen, Arập Xêút, Thổ Nhĩ Kỳ. Các chương trình Xúc tiến thương mại cần được đổi mới, hạn chế các đoàn khảo sát, nghiên cứu chung chung. Các đoàn Xúc tiến thương mại cần tập hợp được đại diện của những doanh nghiệp có tiềm năng lớn về hàng xuất khẩu, những chuyên gia về chính sách thương mại. Tăng cường liên hệ với các đối tác, tận dụng các kênh ngoại giao, chính trị để các nước Trung Đông tạo điều kiện tốt nhất về mọi mặt khi tiến hành khảo sát thị trường.
Thứ ba, cần sớm triển khai thành lập cơ quan Thương vụ tại các thị trường như: Arập Xêút, Ixraen, bổ sung nhân sự cho Thương vụ tại UAE để thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế – thương mại và hợp tác công nghiệp song phương với các nước này. Đây là những thị trường có mức tăng trưởng cao trong xuất nhập khẩu với Việt Nam trong những năm vừa qua. Tuy nhiên hiện nay còn rất nhiều giao dịch mà các doanh nghiệp phải tự xúc tiến hoặc thông qua một kênh thứ ba, thường là các đại diện của một nước khác. Những thương vụ tại Trung Đông khi được thành lập sẽ có chức năng tham mưu cho Bộ, Nhà nước nhằm giải quyết nhanh chóng, kịp thời những vướng mắc về thủ tục, chính sách. Đồng thời cũng là cầu nối của các doanh nghiệp, đầu mối cung cấp cập nhật nhất những thông tin, những biến động của thị trường, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt những xu thế mới. Các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài phải thực sự trở thành điểm đến tin cậy không chỉ của các doanh nghiệp trong nước mà còn của cả các doanh nghiệp Trung Đông khi họ quan tâm, tìm hiểu và muốn tiến hành hợp tác với phía Việt Nam. Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao và các đơn vị có liên quan cũng cần tạo điều kiện tối đa cho các đại diện thương mại tại những nước này nhằm giúp họ có khả năng phát huy nhứng thuận lợi khi tiến hành thu thập thông tin về thị trường.
Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền đối ngoại tại khu vực nhằm nâng cao hình ảnh về đất nước, con người, nền kinh tế, môi trường kinh doanh và đầu tư của Việt nam để quảng bá với các khách hàng Trung Đông. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thu thập và phổ biến thông tin thị trường cho các doanh nghiệp khi có nhu cầu tìm hiểu.
Với các cơ quan quản lý của Bộ Công thương :
- Vụ thị trường Châu Phi, Tây Á và Nam Á:
- Chủ trì, phối hợp với Vụ hợp tác quốc tế tổ chức các đoàn công tác của lãnh đạo Bộ đi thăm và làm việc tại một số nước trọng điểm tại Trung Đông để tăng cường thúc đẩy quan hệ với các Bộ ngành liên quan của các nước trong khu vực. Đồng thời phối hợp với Vụ hợp tác quốc tế kiện toàn và đổi mới cách thức hoạt động của các UBHH, do lãnh đạo Bộ công thương làm đồng chủ tịch, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của mối quan hệ kinh tế, thương mại hai bên.
- Vụ cũng cần phối hợp với Vụ năng lượng, Vụ hợp tác quốc tế hỗ trợ về mọi mặt cho các hoạt động đầu tư thăm dò, khai thác dầu khí tại Trung Đông. Trước mắt là việc tái đàm phán Hợp đồng Amara tại Irắc, triển khai dự án Danan tại Iran, dự án thăm dò dầu khí tại Cô Oét, Cata.
- Hoàn thiện Đề án đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Trung Đông trong năm 2009
- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan đôn đốc, thúc đẩy việc đàm phán và ký kết các Hiệp định, thoả thuận hợp tác trong nhiều lĩnh vực như thương mại, ngân hàng, vận tải,…với các nước Trung Đông. Nghiên cứu khả năng ký Hiệp định thương mại tự do với một số nước trọng điểm trong khu vực như UAE, Ixraen, Thổ Nhĩ Kỳ, Arập Xêút,…
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ tăng cường phổ biến rộng rãi thông tin, tuyên truyền về thị trường Trung Đông cho các doanh nghiệp đặc biệt là về chính sách thương mại của các nước, tình hình thị trường, tập quán kinh doanh.
- Phối hợp với Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam, Cục XTTM, các thương vụ Việt Nam tại Trung Đông, các ĐSQ và thương vụ các nước Trung Đông tại Việt Nam,… tổ chức các Hội thảo giới thiệu thị trường Trung Đông tại Việt Nam, giải đáp kịp thời những thắc mắc, kiến nghị của doanh nghiệp mỗi bên. Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
- Kiện toàn và phát huy vai trò hoạt động của các cơ quan Thương vụ tại một số thị trường trọng điểm để làm cầu nối về hợp tác kinh doanh và đầu tư giữa các doanh nghiệp của Việt Nam và khu vực này. Tư vấn cho doanh nghiệp cách thức thâm nhập vào các kênh phân phối hoặc cách thức để đưa hàng hoá nhập khẩu vào thị trường khu vực một cách hiệu quả nhất.
- Phối hợp với Vụ tổ chức cán bộ sớm hoàn tất Đề án trình Chính phủ cho phép mở thương vụ tại Ixraen và Arập Xêút trong năm 2009.
Vụ Hợp tác quốc tế
- Chủ trì, phối hợp với Vụ thị trường Châu Phi, Tây Á và Nam Á, các đơn vị hữu quan khác của Bộ công thương nghiên cứu việc ký kết các biên bản thoả thuận với các Bộ có liên quan của các nước Trung Đông.
- Phối hợp với Vụ công nghiệp nặng, Vụ năng lượng nghiên cứu đề án thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp với các nước Trung Đông và thu hút đầu tư từ các nước Trung Đông vào lĩnh vực này.
Vụ Xuất nhập khẩu
- Phổ biến cơ chế, chính sách xuất khẩu cho các doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu vào thị trường Trung Đông, đặc biết với các mặt hàng chủ lực và các mặt hàng mới nhưng Việt Nam có thế mạnh như nhóm hàng nông sản, hàng thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng công nghiệp.
3. Đối với Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam và các Hiệp hội Ngành hàng
Thứ nhất, rà soát và đổi mới cách thức tổ chức các Chương trình Hỗ trợ doanh nghiệp, phối hợp với Cục XTTM Bộ công thương lập các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài nhằm tận dụng tối đa cơ hội để thu thập thông tin về cơ chế chính sách, tập quán buôn bán, nhu cầu mặt hàng, rà soát và kiện toàn các thoả thuận song phương với các đối tác của các nước ở khu vực nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp hai bên…
Thứ hai, cần tăng cường phổ biến thông tin, tranh thủ ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập cũng như phổ biến thông tin thị trường trên trang web của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, các trang web của các hiệp hội ngành nghề cũng như của các Trung tâm Xúc tiến thương mại ở các tỉnh/thành phố trực thuộc TW, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, tham gia các Cổng thương mại điện tử, giới thiệu khả năng xuất, nhập khẩu với các Đối tác Trung Đông.
Thứ ba, tổ chức các Hội thảo trong nước với sự giúp đỡ của Bộ công thương nhằm giới thiệu về thị trường Trung Đông cho các doanh nghiệp cũng như tổ chức các hội thảo tại các thị trường trọng điểm ở Trung Đông để tuyên truyền và giới thiệu về thị trường và doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp các nước Trung Đông.
4. Đối với các tỉnh thành, các Sở thương mại Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong khi tìm hiểu về thị trường Trung Đông, tích cực giới thiệu về thị trường này cho các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng mà khu vực Trung Đông có nhu cầu. Đồng thời, thông tin đến các doanh nghiệp về các buổi Hội thảo, các đoàn XTTM do Bộ công thương, Cục XTTM tổ chức. Trong trường hợp có thể, mời các chuyên gia của Vụ thị trường Châu Phi, Tây Á và Nam Á về địa phương, giải đáp trực tiếp các thắc mắc, tháo gỡ các khó khăn về Chính sách, tập quán tiêu dùng của các nước Trung Đông cho các doanh nghiệp trong tỉnh.
5. Đối với các doanh nghiệp
Thứ nhất, chủ động hơn trong công tác nghiên cứu thị trường để nắm bắt nhu cầu và thị hiếu khách hàng .Mặc dù sự hỗ trợ từ Nhà nước là vô cùng quan trọng, tuy nhiên chỉ mang tính chất khởi đầu. Những thông tin quan trọng nhất vẫn phải do các doanh nghiệp tự mình thu thập và phân tích. Bởi không ai khác ngoài bản thân các doanh nghiệp hiểu rõ được các sản phẩm của mình, những lợi thế và điểm yếu còn tồn tại. Mặt khác việc chủ động khai thác nguồn thông tin cũng giúp công ty đề ra một chiến lược kinh doanh phù hợp với từng nước trong khu vực, tìm ra cách thức phù hợp để đưa hàng hóa nhất xâm nhập có hiệu quả vào các thị trường khác nhau. Việc cập nhật thông tin thường xuyên giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời những diễn biến trên thị trường, đồng thời có thể xây dựng quan hệ với một số nhà nhập khẩu chính, có nhu cầu thường xuyên với hàng hoá từ Việt Nam và giúp doanh nghiệp đảm bảo được khâu phân phối một cách ổn định nhất.
Thứ hai, tích cực đi khảo sát thị trường, tham dự hội chợ, hội thảo doanh nghiệp tại thị trường khu vực nhằm tìm cách đưa hàng hoá của ta xâm nhập vào thị trường sở tại một cách hiệu quả nhất . Hàng năm Bộ công thương, Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam, Đại sứ quán và thương vụ các nước Trung Đông tại Việt Nam luôn đưa ra các thông tin về các Hội chợ, triển lãm trong khu vực (dù còn tương đối hạn chế). Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ, khu vực này hàng năm có rất nhiều Hội chợ trưng bày nhiều loại sản phẩm khác nhau. Trước mắt, doanh nghiệp Việt Nam có thể tập trung vào thị trường UAE, cửa ngõ nhập khẩu của toàn khu vực. Từ đó từng bước tiến sâu vào thị trường các nước khác. Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Thứ ba, tăng cường mối liên hệ với các Thương vụ của Việt Nam tại các nước sở tại. Thương vụ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các khó khăn. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể gửi hàng mẫu đề nghị Thương vụ giúp chào hàng và tìm hiểu thủ tục của thị trường sở tại về những vấn đề khác liên quan. Việc tận dụng những nguồn lực sẵn có giúp các doanh nghiệp có thông tin một cách nhanh chóng, chính xác. Trong điều kiện không phải doanh nghiệp Việt Nam nào cũng có thể cử nhiều đoàn nghiên cứu thị trường trong một năm thì việc thông qua các cơ quan đại diện thương mại, ngoại giao tại các nước sở tại là một kênh thông tin vô cùng hữu ích.
Thứ tư, lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp. Doanh nghiệp cần lựa chọn các hình thức kinh doanh cho phù hợp với khả năng tài chính cũng như mục tiêu của mình như xuất khẩu qua trung gian, tìm đại lý đại diện bán hàng, mở văn phòng giới thiệu sản phẩm, xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu tại chỗ hay đầu tư.
Thứ năm, tập trung đào tạo và xây dựng đội ngũ marketing hàng hoá chuyên nghiệp : Các Hiệp hội ngành hàng cần tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đào tạo xây dựng đội ngũ tiếp thị theo từng nhóm, ngành hàng để nâng cao chất lượng giao dịch kinh doanh và quảng bá sản phẩm hàng hoá. Công tác tiếp thị sản phẩm luôn đóng vai trò quan trọng. Nhất là trong điều kiện hàng hoá Việt Nam còn ít được biết đến trên thị trường khu vực.
Thứ sáu, từng bước xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng của doanh nghiệp : Một khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi đi ra thị trường quốc tế nói chung là việc thiếu một thương hiệu nối tiếng nhằm dành được sự tin tưởng của các đối tác. Các doanh nghiệp Việt Nam trong nhiều trường hợp đã chấp nhận sử dụng các nhãn mác hàng hoá nước ngoài, thường là những nước có uy tín trên thị trường xuất khẩu hàng hoá thế giới. Điều này vô hình đã làm giúp doanh nghiệp các nước này ngày càng có được thương hiệu vững chắc hơn. Một chiến lược hợp lý với việc đảm bảo chất lượng, mẫu mã, giá thành sẽ góp phần tạp nên thương hiệu hàng Việt Nam trong lòng khách hàng Trung Đông. Ngoài ra cũng cần chú ý đến công tác đăng ký bảo hộ thương hiệu tại các nước trong khu vực. Trước hết có thể tập trung vào các thị trường UAE, Ixraen,…
6. Đối với Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
Là doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm chính trong việc đảm bảo nguồn năng lượng dầu khí cho quốc gia, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam cần nhận thức rõ tầm quan trọng của thị trường Trung Đông để tiến hành các công tác như :
- Tích cực đàm phán để tái khởi động Dự án phát triển mỏ Amara tại Irắc và triển khai dự án Danan tại Iran cũng như các công việc có liên quan đến 2 dự án này
- Mở rộng các hoạt động dầu khí tại các nước Trung Đông thông qua việc tiếp xúc, phối hợp thăm dò với các đối tác tại UAE, Arập Xêút, tìm kiếm các cơ hội hợp tác mới.
- Phối hợp với Vụ năng lượng, Vụ hợp tác quốc tế nhằm xây dựng các phương án kêu gọi đầu tư từ các nước Trung Đông vào phát triển công nghiệp dầu khí và năng lượng.
KẾT LUẬN
Với sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn – PGS.TS Nguyễn Hữu Khải cùng sự nỗ lực của bản thân, Khóa luận với đề tài “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đôn ” qua gần 100 trang nghiên cứu với bố cục gồm 3 chương đã đạt được một số kết quả quan trọng như mục tiêu ban đầu đã đề ra như:
Thứ nhất, khóa luận đã cung cấp những thông tin khái quát về địa lý, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị của khu vực Trung Đông với các thông tin, số liệu cập nhật có thể tra cứu thông qua các báo cáo mới nhất của các tổ chức quốc tế có uy tín như WB, IMF, CIA,…Qua đó, chỉ ra những nét khác biệt, đặc trưng trên từng lĩnh vực của các nước Trung Đông so với các khu vực khác trên thế giới. Là nguồn thông tin khoa học hữu ích cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu hợp tác tại những thị trường này.
Thứ hai, khóa luận đã đưa ra những luận điểm xác đáng chứng tỏ tầm quan trọng của việc thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông trong thời gian tới. Đây là một thị trường mới với các doanh nghiệp Việt Nam và có rất nhiều tiềm năng phát triển. Đồng thời Trung Đông cũng là cửa ngõ để Việt Nam thâm nhập vào các thị trường rộng lớn khác, đặc biệt là thị trường Châu Phi. Ngoài ra các nước Trung Đông còn có nhu cầu lớn với lao động nước có trình độ ở một số lĩnh vực như công nghiệp, xây dựng,… Do đó đây là cơ hội lớn cho các lao động Việt Nam làm việc tại thị trường này. Cùng với đó, việc thu hút vốn từ các nhà đầu tư Trung Đông có tiềm lực tài chính lớn mạnh vào Việt Nam cũng có nhiều triển vọng trong thời gian tới.
Thứ ba, khóa luận đã trình bày thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông trong thời gian qua, đánh giá những kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại cùng với nguyên nhân của các hạn chế này. Đây cũng là cơ sở để tác giả đưa ra những giải pháp, kiến nghị trong thời gian tới.
Thứ tư, khóa luận đã đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2009 – 2015. Các kiến nghị và giải pháp là kết quả của sự tổng hợp, phân tích các thông tin tác giả thu được trong quá trình nghiên cứu, có tham khảo những ý kiến quý báu của giáo viên hướng dẫn.
Dù đã rất cố gắng để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp một cách tốt nhất nhưng chắc chắn do những hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu, bài viết sẽ không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, tác giả kính mong nhận được sự đóng góp, của các Thầy, Cô giáo và bạn đọc cho khoá luận được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Đông
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt nam-Trung Đông

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng thương mại trong khu vực Trung Đông