Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn. Mâu thuẫn này có thể được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn. Với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong các nghiệp vụ cấp tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ kinh doanh cổ điển của các ngân hàng thương mại trên thế giới, ra đời từ rất sớm và phát triển cho đến ngày nay. Với việc chiết khấu giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng, khách hàng được đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn ngay mặc dù giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán, còn đối với các tổ chức tín dụng đây là nghiệp vụ tạo ra một khoản lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, ở nước ta, chiết khấu giấy tờ có giá vẫn là nghiệp vụ chưa được thực hiện phổ biến. Mặc dù trong thực tiễn có rất nhiều học giả nghiên cứu hoạt động này dưới góc độ kinh tế học, nhưng lại có rất ít các tài liệu nghiên cứu về bản chất pháp lý cũng như tính ưu việt của hoạt động này. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Như định hướng của Chính phủ đặt ra cho năm 2013, ngành ngân hàng đã và đang có những chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tái cơ cấu. Ngay từ những tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các thông tư thay thế các quy định cũ mà trong thực hiễn đã bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại. Trong đó phải kể đến Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Thông tư số 04/2013/TT-NHNN do Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 01/03/2013 có hiệu lực từ 01/05/2013, đòi hỏi các tổ chức tín dụng nói chung cũng như ngân hàng thương mại nói riêng phải điều chỉnh hoạt động của mình để đáp ứng những yêu cầu mới từ phía cơ quan quản lý.

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là văn bản ghi lại sự thỏa thuận, ý chí của các bên khi tham gia vào giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá. Để tránh rủi ro phát sinh, ngoài việc cần có chuyên môn vững về tài chính ngân hàng, các cán bộ ngân hàng còn cần nắm vững các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Mặt khác, khách hàng chiết khấu giấy tờ có giá cũng cần tìm hiểu để biết thêm về một giải pháp huy động vốn trong hoạt động kinh doanh cũng như có thể bảo vệ quyền, lợi ích của mình khi quyết định tham gia giao dịch. Nghiên cứu về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá  không chỉ giúp các chủ thể tham gia giao dịch nắm vững và vận dụng một cách có hiệu quả những quy định pháp luật mà còn giúp cơ quan quản lý nhà nước nhận thấy và có biện pháp điều chỉnh đối với những quy định còn hạn chế.

Có thể thấy, nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá để hiểu đúng, thực hiện đúng, cũng như phát hiện những điểm bất cập nhằm hoàn thiện chúng là một công việc cần thiết. Lựa chọn vấn đề “Hợp đồng chiết  khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Khóa luận, người viết mong muốn sẽ góp phần nâng cao hiểu biết pháp lý cũng như góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Qua đó, khẳng định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là hành lang pháp lý quan trọng giúp phát triển thị trường chiết khấu giấy tờ có giá.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay đã có một số công trình khoa học có nội dung liên quan đến pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, cụ thể như sau: Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Nhung (2006), Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Khóa luận đã làm rõ nội dung, đặc điểm của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, trong đó đề cập một số nội dung về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá như chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia… hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Tuy nhiên, khóa luận chỉ tập trung đề cập đến những bất cập, vướng mắc của pháp luật về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá mà không tập trung vào hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Ngoài ra, do được hoàn thành vào năm 2006, khóa luận nghiên cứu trên cơ sở quy định pháp luật cũ đã hết hiệu lực (Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15/10/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).

Khóa luận tốt nghiệp của Lương Thị Thùy Linh (2011), Hoàn thiện pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Khóa luận đã phân tích những vấn đề lý luận về chiết khấu giấy tờ có giá và pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá; thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá ở Việt Nam và hướng hoàn thiện. Tuy nhiên, khóa luận chỉ đề cập sơ bộ đến hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và tập trung phân tích hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá. Hơn nữa, những phân tích này cũng dựa trên Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN (đã bị thay thế bởi Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Ngoài ra, có một số bài viết, nghiên cứu trao đổi khác đã đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành; cũng như một số nội dung trong giáo trình, sách tham khảo có gián tiếp đề cập đến hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá hoặc đề cập đến một tiểu vấn đề của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Hiện nay chưa thấy tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học thể hiện việc nghiên cứu một cách chuyên biệt, trực diện, toàn diện các vấn đề pháp lý của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Do vậy, việc nghiên cứu “Hợp đồng chiết  khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam” vừa là sự kế thừa, phát triển các công trình khoa học có liên quan, vừa là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu chuyên biệt, trực diện, toàn diện và có hệ thống các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của Khóa luận Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam đặt trong mối quan hệ với pháp luật về hợp đồng tại BLDS và các văn bản pháp lý chuyên ngành khác có liên quan. Trên cơ sở những vấn đề lý luận về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, Khóa luận tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá để phát hiện các bất cập, hạn chế của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam. Từ đó, Khóa luận đề xuất các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam.

4. Mục tiêu nghiên cứu của Khóa luận

Mục tiêu nghiên cứu của Khóa luận là làm sáng tỏ về mặt lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, sau đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật tại Việt Nam. Cụ thể:

  • Làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá; phát hiện những đặc điểm pháp lý riêng biệt của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá; đưa ra những tiêu chí để phân biệt các loại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.
  • Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam trên cơ sở đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá; phát hiện những mặt hạn chế, bất cập của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam.
  • Nêu các định hướng và các kiến nghị cụ thể, chi tiết để hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam.

5. Các câu hỏi nghiên cứu của Khóa luận

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, Khóa luận trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

  • Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là gì? Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.
  • Thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam như thế nào?
  • Có những giải pháp nào nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá?

6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện Khóa luận

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Khóa luận kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu chuyên sâu như: i) Phương pháp phân tích kết hợp với bình luận được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá; ii) Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hóa thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật; iii) Phương pháp so sánh được áp dụng để tìm ra mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu nhất quán của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá; iv) Phương pháp tổng kết thực tiễn nhằm vận dụng nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam.

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Khóa luận

Khóa luận có thể mang lại những điểm mới sau đây:

  • Khóa luận phân tích, xác định được bản chất pháp lý của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.
  • Khóa luận làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá; phát hiện các quy định của pháp luật đã bất cập, hạn chế cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn, đảm bảo công bằng, hợp lý hơn và giúp thị trường chiết khấu giấy tờ có giá phát triển.
  • Khóa luận đưa ra các giải pháp chi tiết, cụ thể hoàn thiện các quy định về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trên cơ sở kế thừa, phát triển và chọn lọc các nghiên cứu, tổng kết có liên quan phù hợp với bối cảnh nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ

1.1. Khái quát về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

1.1.1. Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá và hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

1.1.1.1. Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá

Trong lịch sử hình thành và phát triển của ngành ngân hàng, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá được biết đến như một nghiệp vụ kinh doanh truyền thống của các tổ chức tín dụng (chủ yếu là ngân hàng thương mại). Theo đó, tổ chức tín dụng thỏa thuận mua các thương phiếu của khách hàng trước kỳ hạn thanh toán với điều kiện là khấu trừ một phần giá trị của thương phiếu được chiết khấu, gọi là lợi tức chiết khấu. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Ngày nay, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá đã có nhiều điểm phát triển hơn, đặc biệt là ở tính đa dạng của chủ thể và đối tượng giấy tờ có giá được chiết khấu. Chủ thể thực hiện hoạt động chiết khấu với tư cách là một nghiệp vụ không chỉ có các ngân hàng thương mại mà còn có các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính… Thương phiếu cũng không còn là loại giấy tờ có giá duy nhất được chiết khấu nữa mà còn có thêm nhiều loại giấy tờ có giá khác như tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu… Sự đa dạng này là kết quả tất yếu của nhu cầu phát triển của các công cụ tài chính. Chiết khấu giấy tờ có giá đã dần trở thành một trong những nghiệp vụ tín dụng hỗ trợ đắc lực, giải quyết kịp thời nhu cầu về vốn cho các nhà kinh doanh trong hoạt động nghề nghiệp của mình.

  • Dưới góc độ lý luận:

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác (khoản 8 Điều 6). Xét trên tiêu chí thời hạn, có thể chia giấy tờ có giá thành hai loại: Giấy tờ có giá ngắn hạn và giấy tờ có giá dài hạn. Giấy tờ có giá ngắn hạn có thời hạn tính từ thời điểm phát hành đến thời điểm tổ chức phát hành có nghĩa vụ thanh toán là dưới 1 năm. Đối với giấy tờ có giá dài hạn, thời hạn trên sẽ từ 1 năm trở lên. Như vậy, kể từ khi xác lập quyền sở hữu các giấy tờ có giá, chủ sở hữu cần phải chờ đến hạn thanh toán mới có thể thu hồi được lượng giá trị từ đồng vốn bỏ ra. Tuy nhiên, trong trường hợp chủ sở hữu giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán nhưng lại cần tiền, chủ sở hữu có thể chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá ấy cho một chủ thể khác trước hạn thanh toán với giá thấp hơn mệnh giá ghi trên giấy tờ có giá. Như vậy, chiết khấu giấy tờ có giá được hiểu là việc một ngân hàng thỏa thuận mua giấy tờ có giá của khách hàng trước kỳ hạn thanh toán từ tổ chức phát hành, với điều kiện khấu trừ một phần giá trị của chứng từ được chiết khấu.

  • Dưới góc độ kinh tế

Ở góc độ kinh tế, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá được quan niệm như một nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại. Theo đó, ngân hàng thương mại chấp thuận cho khách hàng vay vốn bằng việc nhận mua các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng với điều kiện khấu hao một phần giá trị của giấy tờ có giá chiết khấu (gọi là lợi tức chiết khấu), để được hưởng quyền đòi nợ thay khách hàng đối với nghiệp vụ thanh toán theo giấy tờ có giá khi đáo hạn. Hoặc, chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng cho khách hàng, dựa trên kỹ thuật chuyển nhượng một trái quyền từ khách hàng cho ngân hàng với giá cả được các bên thỏa thuận thấp hơn giá trị bề mặt của chứng thư xác nhận trái quyền được chuyển nhượng. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

  • Dưới góc độ pháp lý

Luật các tổ chức tín dụng 1997 định nghĩa chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Trong đó:

  • Thương phiếu được hiểu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu.
  • Giấy tờ có giá sẽ được phân tích tại Mục 2.2 Chương 2 Khóa luận.

Xuất phát từ định nghĩa này, một số văn bản hướng dẫn đã được ban hành nhưng chỉ đề cập đến chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác mà không đề cập đến chiết khấu công cụ chuyển nhượng (công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định. Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15/10/2004 về việc ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng định nghĩa chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng.

Năm 2005, Quốc hội ban hành Luật các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11. Để bổ sung quy định về hoạt động chiết khấu theo Luật các công cụ chuyển nhượng, năm 2006, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng kèm theo Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006. Quy chế này định nghĩa chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc tổ chức tín dụng mua công cụ chuyển nhượng từ người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.

Như vậy, quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325 và Quyết định 63 khá tương đồng về khái niệm chiết khấu, cụ thể, chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại giấy tờ có giá (công cụ chuyển nhượng) chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Định nghĩa chiết khấu này rất khó lý giải cho phương thức chiết khấu có thời hạn (chiết khấu kèm theo yêu cầu mua lại của khách hàng). Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Trong pháp luật dân sự, quan hệ mua bán tài sản phát sinh là căn cứ xác lập quyền sở hữu của người mua đối với tài sản; trong quan hệ sở hữu tài sản đó, các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không bị hạn chế. Đối chiếu định nghĩa chiết khấu theo các văn bản hướng dẫn Luật các tổ chức tín dụng 1997, có thể thấy định nghĩa này chưa giải quyết được triệt để trường hợp tổ chức tín dụng không có quyền định đoạt giấy tờ có giá (công cụ chuyển nhượng) trong quan hệ chiết khấu có thời hạn. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ra đời đã mở rộng phạm vi hoạt động chiết khấu, cụ thể, chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Các phương thức mua có kỳ hạn và mua có bảo lưu quyền truy đòi được hiểu như sau: (i) Mua có kỳ hạn công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua và nhận chuyển nhượng quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng, đồng thời khách hàng cam kết sẽ mua lại công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác đó sau một khoảng thời gian được xác định tại hợp đồng chiết khấu. (ii) Mua có bảo lưu quyền truy đòi giấy tờ có giá, ngân hàng thương mại mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng; khách hàng có trách nhiệm hoàn trả đối với số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu trong trường hợp ngân hàng thương mại không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán/người phát hành giấy tờ có giá.  Khái niệm chiết khấu tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã bao quát tất cả các trường hợp, phương thức chiết khấu có thể được thực hiện, kể cả trường hợp quyền sở hữu bị giới hạn bằng cam kết mua lại của khách hàng.

Ngoài ra, khi đề cập đến khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá, cần lưu ý rằng có hai hoạt động chiết khấu được thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau với mục đích khác nhau. Thứ nhất, hoạt động chiết khấu được thực hiện bởi Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, là hình thức tái cấp vốn ngắn hạn, nhằm mục đích thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô. Thứ hai, hoạt động chiết khấu được thực hiện bởi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với khách hàng nhằm mục đích kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận. Ở khuôn khổ của Khóa luận, người viết chỉ tập trung tìm hiểu hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá giữa ngân hàng thương mại với khách hàng.

Tóm lại, khi xem xét dưới những góc độ khác nhau, định nghĩa hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại đối với khách hàng có những cách diễn đạt khác nhau. Tuy nhiên, nói chung, chiết khấu giấy tờ có giá chính là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại mà theo đó, ngân hàng thương mại thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng để đổi lấy quyền sở hữu các trái quyền do khách hàng chuyển giao cho mình với giá cả bao giờ cũng thấp hơn giá trị thực tế của trái quyền được giao dịch. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

1.1.1.2. Khái niệm hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) được hình thành từ thuật ngữ “contrahere” trong tiếng La-tinh, có nghĩa là “ràng buộc”, xuất hiện lần đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ VIV TCN. Theo pháp luật của Pháp định nghĩa hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó. Trong Bách Khoa toàn thư về pháp luật của Hoa Kỳ đã định nghĩa rõ bản chất pháp lý và mục đích cơ bản, ý nghĩa của việc tồn tại hợp đồng thông qua việc khẳng định hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để không làm một việc, giao một vật xác định.

Còn tại Việt Nam, khái niệm “hợp đồng” thường được hiểu theo nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan. Theo đó, nghĩa khách quan của khái niệm “hợp đồng” được hiểu là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong pháp luật dân sự, bao gồm các quy phạm pháp luật được qui định cụ thể trong Bộ luật Dân sự nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau. Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng được hiểu là sự ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể giao kết hợp đồng hay là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về quyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện. Mặc dù có thêm từ “dân sự” vào sau khái niệm “hợp đồng”, nhưng định nghĩa “hợp đồng dân sự” tại Bộ luật Dân sự hiện hành về cơ bản phù hợp với định nghĩa hợp đồng của một số nước khác khi định nghĩa: Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Đến ngày 01/07/2017 (Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực), pháp luật Việt Nam sẽ quy định khái niệm “hợp đồng” phù hợp với các nước khi xác định “hợp đồng” là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định “hợp đồng chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác” là văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên về việc chiết khấu. Có thể thấy, định nghĩa “hợp đồng chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác” được quy định dựa vào định nghĩa “hợp đồng dân sự” trong BLDS 2005 hay “hợp đồng” theo BLDS 2015. Định nghĩa xác định rõ hơn về các bên tham gia (tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng) và nội dung hợp đồng (về việc chiết khấu). Như vậy, khái niệm hợp đồng chiết khấu nêu tại Thông tư 03/2011/TT-NHNN có tính khái quát và linh hoạt cao do đã dẫn chiếu đến những thuật ngữ đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, định nghĩa này chưa nêu ra được đặc trưng của việc chiết khấu giấy tờ có giá là việc ngân hàng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng để đổi lấy quyền sở hữu giấy tờ có giá do khách hàng chuyển giao cho mình trước khi đến hạn thanh toán.

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là hợp đồng, theo đó ngân hàng thương mại thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng để đổi lấy quyền sở hữu giấy tờ có giá do khách hàng chuyển giao cho mình trước khi đến hạn thanh toán.

1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thực chất là một dạng của hợp đồng dân sự, vì thế đương nhiên hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá mang đầy đủ các đặc điểm chung như: i) Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là một hợp đồng song vụ (ngân hàng thương mại và khách hàng đều có các quyền và nghĩa vụ nhất định, không bên nào chỉ có quyền hoặc chỉ phải thực hiện các nghĩa vụ, nghĩa vụ của bên này là quyền lợi của bên kia và ngược lại); ii) Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là hợp đồng có đền bù (khi ngân hàng thương mại hoặc khách hàng đã thực hiện cho bên kia một lợi ích, thì sẽ nhận được từ phía bên kia một lợi ích tương ứng).

Tuy vậy, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng có những đặc điểm riêng để phân biệt với các hợp đồng dân sự khác. Các đặc điểm này bao gồm:

Thứ nhất, về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng: Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng gồm bên nhận chiết khấu và bên đề nghị chiết khấu. Về nguyên tắc, các chủ thể này có thể tham gia vào hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá nếu đáp ứng được các điều kiện pháp luật quy định. Pháp luật hiện hành quy định như sau: i) Bên nhận chiết khấu có thể là tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và ngân hàng hợp tác xã khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản), chi nhánh ngân hàng nước ngoài. ii) Bên đề nghị chiết khấu (khách hàng) là người thụ hưởng công cụ chuyển nhượng được phép giao dịch tại Việt Nam, chủ sở hữu giấy tờ có giá được phát hành trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng: Đối tượng của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là các giấy tờ có giá đến hạn thanh toán.

Thứ ba, về hình thức pháp lý, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá bao giờ cũng phải được lập thành văn bản.

Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ. Khi ngân hàng thương mại chấp nhận chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng, khách hàng chuyển giao ngay và thực hiện các thủ tục về chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng, chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá khác cho ngân hàng thương mại theo quy định pháp luật. Kể từ thời điểm chuyển giao, ngân hàng thương mại được thế vào vị trí của người có quyền (khách hàng) để thực hiện quyền đòi tiền đối với người có nghĩa vụ phải thanh toán giấy tờ có giá khi đến hạn thanh toán. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

1.1.3. Phân loại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có thể được phân loại theo các tiêu chí nhất định đối với những mục đích nhất định để pháp luật có sự điều chỉnh thích hợp với từng loại hình, phương thức chiết khấu giấy tờ có giá phát sinh trên thực tế, tạo sự thuận lợi cho các bên tham gia chiết khấu giấy tờ có giá.

1.1.3.1. Phân loại dựa trên tiêu chí thời hạn chiết khấu

Theo tiêu chí này, có thể chia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thành hai loại là hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá dài hạn và hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn.

  • Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá dài hạn

Là loại hợp đồng có thời hạn chiết khấu giấy tờ có giá từ một năm trở lên. Thời hạn chiết khấu giấy tờ có giá là khoảng thời gian tính từ ngày tiếp theo của ngày ngân hàng thương mại nhận chiết khấu giấy tờ có giá đến ngày khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ cam kết mua lại hoặc đến ngày đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên giấy tờ có giá, bao gồm cả ngày nghỉ và ngày lễ. Thời hạn chiết khấu do ngân hàng thương mại và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá thời hạn thanh toán còn lại của giấy tờ có giá. Đối với loại hợp đồng chiết khấu này, rủi ro cho ngân hàng thương mại sẽ cao hơn nên lãi suất chiết khấu cũng sẽ cao hơn so với hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn. Mức lãi suất chiết khấu do ngân hàng thương mại và khách hàng thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

  • Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Là loại hợp đồng có thời hạn chiết khấu giấy tờ có giá dưới một năm. Trên thực tế, loại hợp đồng này thường được áp dụng hơn hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá dài hạn vì nó đảm bảo tốt hơn khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại, đồng thời, khách hàng cũng phải trả lãi chiết khấu thấp hơn nên số tiền nhận được còn lại sẽ cao hơn. Đối với giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng khác phát hành, bắt buộc phải áp dụng loại hợp đồng có thời hạn chiết khấu tối đa là dưới một năm.

1.1.3.2. Phân loại dựa trên tiêu chí về khả năng được thanh toán của ngân hàng với khách hàng

Theo tiêu chí này, có thể chia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thành hợp đồng chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi là hợp đồng chiết khấu không bảo lưu quyền truy đòi.

  • Hợp đồng chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi

Là hợp đồng chiết khấu có thỏa thuận về việc khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đối với số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu trong trường hợp ngân hàng thương mại không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán giấy tờ có giá. Quy định về việc bảo lưu quyền truy đòi nhằm đảm bảo giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động chiết khấu của ngân hàng thương mại cũng như đảm bảo nguyên tắc hoàn trả của hoạt động cấp tín dụng. Trong trường hợp giấy tờ có giá không được người có trách nhiệm thanh toán, ngân hàng thương mại có thể yêu cầu khách hàng thực hiện trách nhiệm hoàn trả với mình. Do tính chất đặc biệt này, hợp đồng chiết khấu cần ghi rõ nội dung điều khoản về bảo lưu quyền truy đòi để tạo thuận lợi cho việc thực hiện quyền trong thực tế.

  • Hợp đồng chiết khấu không bảo lưu quyền truy đòi

Là hợp đồng chiết khấu không có thỏa thuận về việc khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đối với số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu trong trường hợp ngân hàng thương mại không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán giấy tờ có giá. Khi giao kết loại hợp đồng này, ngân hàng thương mại đã lường trước tình huống có thể không được thanh toán từ người có trách nhiệm và chấp nhận rủi ro. Khách hàng sẽ không chịu sự ràng buộc pháp lý khi xảy ra tình huống bất lợi cho ngân hàng thương mại như trên. Chính vì vậy, loại hợp đồng này làm tăng rủi ro thu hồi vốn của ngân hàng thương mại.

1.1.3.3. Phân loại dựa trên tiêu chí quyền mua lại có giá của khách hàng

Theo tiêu chí này, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có hai loại là hợp đồng chiết khấu có kỳ hạn và hợp đồng chiết khấu toàn bộ thời gian. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

  • Hợp đồng chiết khấu có kỳ hạn

Là hợp đồng chiết khấu có điều khoản thỏa thuận về việc ngân hàng thương mại mua và nhận chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng, đồng thời khách hàng cam kết sẽ mua lại giấy tờ có giá đó sau một khoảng thời gian được xác định tại hợp đồng chiết khấu. Việc mua, bán giấy tờ có giá trong loại hợp đồng này chỉ mang tính chất tạm thời, chịu sự ràng buộc của điều khoản cam kết về thời hạn mua lại đã thỏa thuận.

Thông tư 04/2013/TT-NHNN không có quy định về việc hết thời hạn chiết khấu mà khách hàng không thực hiện việc mua lại giấy tờ có giá. Tuy nhiên, theo Quy chế chiết khấu, tài chiết khấu giáy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì khi xảy ra trường hợp này, ngân hàng thương mại là chủ sở hữu hợp pháp và được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ giấy tờ có giá đó. Như vậy, có thể hiểu rằng nếu ngân hàng thương mại muốn chuyển giao quyền sở hữu các giấy tờ có giá trong thời hạn chiết khấu thì quyền ưu tiên mua sẽ thuộc về khách hàng. Nếu khách hàng không thực hiện việc mua lại sau một khoảng thời gian xác định tại hợp đồng chiết khấu, khách hàng sẽ mất quyền ưu tiên mua lại và khi đó ngân hàng thương mại có quyền chuyển nhượng giấy tờ có giá cho bên thứ ba. Tương tự như phương thức mua có bảo lưu quyền truy đòi, phương thức mua có kỳ hạn giấy tờ có giá nhằm đảm bảo nguyên tắc hoàn trả của hoạt động cấp tín dụng.

  • Hợp đồng chiết khấu toàn bộ thời gian Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Là hợp đồng chiết khấu quy định việc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá được thực hiện ngay tai thời điểm chiết khấu mà không kèm theo cam kết mua lại giấy tờ có giá của khách hàng. Đây được xem là hình thức mua hẳn giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại. Kể từ thời điểm hoàn tất thủ tục chuyển giao quyền sở hữu, ngân hàng thương mại sẽ là chủ sở hữu hợp pháp của giấy tờ có giá này và đương nhiên được hưởng mọi quyền phát sinh từ nó. Cũng từ thời điểm này, ngân hàng thương mại có quyền thực hiện tái chiết khấu các giấy tờ có giá cho chủ thể khác vào bất cứ lúc nào trước khi giấy tờ có giá đó đến hạn thanh toán mà không vi phạm các điều khoản của hợp đồng. Chiết khấu toàn bộ thời gian phù hợp với trường hợp thời hạn còn lại của giấy tờ có giá ngắn và nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng dài hơn thời hạn còn lại của giấy tờ có giá được chiết khấu.

1.1.4. Phân biệt hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và hợp đồng bao thanh toán Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Theo Luật các tổ chức tín dụng, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong số các loại hình cấp tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá thường bị nhầm với bao thanh toán hơn là hoạt động cho vay, cho thuê tài chính hay bảo lãnh. Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Trong khi đó, chiết khấu được coi là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Khóa luận xin phân tích điểm khác biệt của hai loại hợp đồng này.

Về chủ thể: Đối với nghiệp vụ chiết khấu, khách hàng là người thụ hưởng công cụ chuyển nhượng được phép giao dịch tại Việt Nam, chủ sở hữu giấy tờ có giá được phát hành trên lãnh thổ Việt Nam. Trong khi đó, khách hàng được ngân hàng thương mại bao thanh toán là các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ và được thụ hưởng các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo thoả thuận giữa bên bán hàng và bên mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ tại hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Mặc dù định nghĩa bao thanh toán tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 ghi nhận chủ thể là khách hàng của quan hệ bao thanh toán có thể là bên mua các khoản phải trả phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng trên thực tế khách hàng thường là bên bán có các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa.

Về đối tượng: Đối tượng của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá là các loại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu theo luật định. Đối tượng của hoạt động bao thanh toán là các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Trong đó, khoản phải thu là khoản tiền bên bán hàng phải thu từ bên mua hàng theo hợp đồng mua, bán hàng.

Về phương thức thực hiện: Chiết khấu giấy tờ có giá được thực hiện theo 02 phương thức là mua có kỳ hạn và mua có bảo lưu quyền truy đòi o Mua có kỳ hạn công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua và nhận chuyển nhượng quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng, đồng thời khách hàng cam kết sẽ mua lại công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác đó sau một khoảng thời gian được xác định tại hợp đồng chiết khấu. Mua có bảo lưu quyền truy đòi giấy tờ có giá, ngân hàng thương mại mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng; khách hàng có trách nhiệm hoàn trả đối với số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu trong trường hợp ngân hàng thương mại không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán/người phát hành giấy tờ có giá

Trong khi đó, bao thanh toán được thực hiện theo 03 phương thức là bao thanh toán từng lần, bao thanh toán theo hạn mức và đồng bao thanh toán: Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

  • Bao thanh toán từng lần: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán hàng.
  • Bao thanh toán theo hạn mức: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thoả thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
  • Đồng bao thanh toán: Hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt động bao thanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng, trong đó một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán.

Có thể thấy tiêu chí phân chia phương thức thực hiện hai loại hình cấp tín dụng này trong pháp luật hiện hành không thống nhất. Tiêu chí phân loại phương thức chiết khấu dựa vào quyền của các bên tham gia, trong khi đó, tiêu chí phân loại phương thức bao thanh toán lại dựa vào thủ tục, trình tự thực hiện. Do đó, cần xem xét thêm cả quy định về loại hình bao thanh toán theo luật. Trong bao thanh toán, các bên không thực hiện hình thức bao thanh toán có kỳ hạn mà chỉ thực hiện hình thức bao thanh toán có quyền truy đòi và không có quyền truy đòi: (i) Bao thanh toán có quyền truy đòi là đơn vị bao thanh toán có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu; (ii) Bao thanh toán không có quyền truy đòi là đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu. Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng như thoả thuận tại hợp đồng mua, bán hàng hoặc vì một lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng.

Như vậy, dù cùng là hợp đồng áp dụng trong hoạt động cấp tín dụng, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và hợp đồng bao thanh toán vẫn có nhứng điểm khác biệt.

1.2. Khái quát pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Trong một thời gian dài, các quy định pháp luật trực tiếp điều chỉnh hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá tồn tại một cách tản mát, chưa đầy đủ và nhất quán. Năm 1997, Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (khoản 14 Điều 9, khoản 2 Điều 17), Luật các tổ chức tín dụng (khoản 14, 15 Điều 20; Điều 57), Luật thương mại (Điều 221), hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá mới được thừa nhận chính thức tại các văn bản có giá trị cao về mặt pháp lý. Các văn bản này chỉ có một vài điều khoản ít ỏi quy định trực tiếp hay gián tiếp về nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của tổ chức tín dụng đối với giấy tờ có giá của khách hàng. Luật các tổ chức tín dụng 1997 định nghĩa hoạt động chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Xuất phát từ định nghĩa này, một số văn bản hướng dẫn đã được ban hành nhưng chỉ đề cập đến chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác mà không đề cập đến chiết khấu công cụ chuyển nhượng.

Pháp lệnh số 17/1999/PL-UBTVQH10 ngày 24/12/1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thương phiếu và Nghị định số 32/2001/NĐ-CP ngày 05/07/2001 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thực hiện Pháp lệnh thương phiếu cũng có đề cập đến chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu nhưng chỉ là những quy định mang tính chất dẫn chiếu đến quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Quy định về chiết khấu tại các văn bản nêu trên chưa có tính cụ thể, chỉ dừng lại ở việc xác lập tính hợp pháp của hoạt động chiết khấu. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Đến năm 2004, Ngân hàng Nhà nước mới ban hành một văn bản riêng để quy định cụ thể, tạo ra cơ chế pháp lý cho nghiệp vụ chiết khấu của ngân hàng thương mại, đó là, Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15/10/2004 về việc ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Sự ra đời của Quy chế này là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá. Các quy định về riêng về thỏa thuận chiết khấu giấy tờ có giá đã bắt đầu xuất hiện. Tuy vậy, Quy chế mới chỉ quy định về hình thức của thỏa thuận chiết khấu, tái chiết khấu; còn quy định về nội dung của Quy chế vẫn dẫn chiếu đến quy định của pháp luật có liên quan và hợp đồng mẫu do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam ban hành.

Năm 2005, Quốc hội ban hành Luật các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11. Năm 2006, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng kèm theo Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006 để bổ sung quy định về hoạt động chiết khấu theo Luật các công cụ chuyển nhượng. Các văn bản này cũng góp phần thúc đẩy việc chiết khấu thương phiếu bởi Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá không quy định về chiết khấu đối với thương phiếu nên việc chiết khấu vẫn phải tuân theo Nghị định 32/2001/NĐ-CP. Tương tự Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng mới chỉ quy định về hình thức của thỏa thuận chiết khấu, tái chiết khấu có thời hạn.

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ra đời trong bối cảnh hoạt động ngân hàng của Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh, nghiệp vụ ngân hàng mở rộng về phạm vi…, trong khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 chưa đáp ứng được các nhu cầu đặt ra tại thời điểm này. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Phạm vi điều chỉnh của Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã mở rộng hơn so với luật năm 1997. Do vậy, Thông tư số 04/2013/TT-NHNN đã được ban hành ngày 01/03/2013 nhằm hướng dẫn cụ thể quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010. Thông tư 04/2013/TT-NHNN thống nhất quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng tại một văn bản. Đây cũng là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm, quy định về hình thức và nội dung của hợp đồng chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác.

Cần lưu ý rằng, ngoài các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá còn chịu sự điều chỉnh của các quy định về hợp đồng như quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 và Luật thương mại 2005.

1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Hiện nay, đã có một số quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, tạo cơ sở pháp lý cho các bên thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá đang nằm rải rác nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.

Là một loại hợp đồng cụ thể, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chịu sự điều chỉnh chung của các quy định pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự như khái niệm hợp đồng, giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, chấm dứt hợp đồng… Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2005 vẫn có hiệu lực nhưng từ ngày 24/11/2015, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 có hiệu lực vào 01/01/2017. Do đó, khi nghiên cứu quy định pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nói riêng, cần xem xét những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 để có thể nắm bắt kịp thời những thay đổi của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Các vấn đề mang tính đặc thù của hợp đồng chiết khấu giấy tờ được quy định tại các văn bản cụ thể trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao như Luật các tổ chức tín dụng 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 chỉ có một số quy định liên quan đến hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá mà không nhắc đến hợp đồng chiết khâu giấy tờ có giá. Hiện nay, các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chỉ nằm ở các văn bản hướng dẫn luật. Các quy định này tương đối tản mạn, nằm rải rác trong nhiều văn bản khác nhau, tương ứng với từng chủ thể tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá như:

Đối với hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là cá nhân, tổ chức (không thuộc trường hợp nêu trên): Thông tư 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Đối với hợp đồng mua lại giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/06/2012 quy định về hoạt động cho vay, đi vay, mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 01/2013/TT-NHNN ngày 07/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều kiện của Thông tư số 21/2012/TT-NHNN.

Đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Thông tư 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 về chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư số 01 không quy định về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá mà chỉ có quy định về văn bản tham gia nghiệp vụ chiết khấu.

Trong phạm vi Khóa luận, người viết chỉ tập trung phân tích về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá giữa ngân hàng thương mại và khách hàng mà không đi sâu vào hợp đồng giữa các chủ thể khác như Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với nhau.

Như đã phân tích về sự hình thành và phát triển của phát luật điều chỉnh hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nêu trên, có thể thấy sự ra đời của Thông tư 04/2013/TT-NHNN đã góp phần tạo ra hành lang pháp lý cho hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Thông tư đã đưa ra những quy định cụ thể về khái niệm, hình thức và nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Về phần nội dung, Thông tư không chỉ liệt kê những điều khoản chính của hợp đồng mà còn đưa ra những quy định cụ thể đối với từng điều khoản này. Ngoài những nội dung cụ thể về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, những quy định khác của Thông tư cũng có tác dụng hỗ trợ việc ký kết và thực hiện hợp đồng này. Ví dụ các quy định về điều kiện ngân hàng thương mại được thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá cũng như định nghĩa về khách hàng sẽ tạo cơ sở để các bên thực hiện việc thẩm định năng lực, điều kiện của đối tác trước khi ký kết hợp đồng.

1.2.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Một hệ thống các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá vận hành có hiệu quả sẽ góp phần giúp thị trường chiết khấu giấy tờ có giá phát triển, khuyến khích các chủ thể trong xã hội tham gia vào thị trường chiết khấu giấy tờ có giá, qua đó giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Sự cần thiết phải có điều chỉnh bằng pháp luật đối với hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được thể hiện ở một số điểm như sau:

  • ii) Xuất phát từ nhu cầu khách quan của thị trường

Sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá xuất phát từ chính nhu cầu của các bên tham gia hoạt động kinh doanh thương mại. Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá được biết đến như một nghiệp vụ kinh doanh truyền thống của ngân hàng thương mại bởi nó mang lại lợi ích cho tất cả các chủ thể tham gia giao dịch:

  • Đối với ngân hàng thương mại

Đối với ngân hàng thương mại, chiết khấu là nghiệp vụ cấp tín dụng có mức độ an toàn khá cao do việc bảo đảm trả nợ đến từ nhiều bên (khách hàng, bên có nghĩa vụ thanh toán, bên bảo lãnh…). Sau khi thực hiện việc chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng, để đáp ứng nhu cầu thu hồi vốn trước mắt, ngân hàng thương mại có thể thực hiện việc tái chiết khấu giấy tờ có giá đó cho tổ chức tín dụng khác. Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Về mặt quản trị ngân hàng, đây là một dạng dự trữ thứ cấp khá tốt, vừa đảm bảo thanh khoản lại vừa sinh lãi ở mức chấp nhận được.

  • Đối với khách hàng

Kinh doanh luôn xuất hiện nhu cầu về vốn, doanh nghiệp nào tìm được biện pháp giải quyết nhu cầu về vốn sẽ có thuận lợi lớn trong hoạt động kinh doanh của mình. Với đòi hỏi về vốn ngày càng tăng trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng thông qua các nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố… ra đời và được đánh giá là biện pháp hữu hiệu giúp các doanh nghiệp vượt qua các giai đoạn khó khăn về tài chính. Hoạt động chiết khấu đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp vì khi doanh nghiệp cần vốn, doanh nghiệp có thể tiến hành chiết khấu giấy tờ có giá đó để có tiền sử dụng vào sản xuất. Chiết khấu khách hàng giải quyết kịp thời các vấn đề về tài chính mà không cần có các biện pháp bảo đảm như khi thực hiện vay vốn, trình tự, thủ tục thực hiện cũng đơn giản hơn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá còn giúp gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Có điều này là do khi ngân hàng chiết khấu giấy tờ có giá thì người có trách nhiệm thanh toán giấy tờ có giá mới chính là đối tượng chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi cấp tín dụng, mặc dù chính chủ nợ, hay người thụ hưởng mới là người mang giấy tờ có giá đi chiết khấu. Cho nên nếu người thanh toán là công ty lớn, hoạt động hiệu quả thì sẽ dễ dàng được ngân hàng chấp nhận chiết khấu. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

  • Đối với Nhà nước

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá giúp xác định trách nhiệm của các bên, trình tự, thủ tục… thực hiện giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá. Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá sẽ tạo cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước như kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về nghiệp vụ chiết khấu của các bên. Qua đó, giúp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động chiết khấu, đảm bảo sự phát triển ổn định của quan hệ kinh tế. Có thể thấy, pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là công cụ giúp nhà nước quản lý hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, nhằm đảm bảo hoạt động này phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Có thể thấy hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá là một hoạt động cần thiết, mang lại lợi ích cho chính các chủ thể tham gia. Một hệ thống pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tiễn sẽ đáp ứng nhu cầu của thị trường, đồng thời khuyến khích thị trường chiết khấu giấy tờ có giá phát triển.

  • i) Tạo hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá:

Một vai trò quan trọng của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là giúp đảm bảo quyền và lợi ích của cả ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu) và khách hàng (bên đề nghị chiết khấu) khi tham gia vào giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá.

Trên thực tế, trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá luôn tiềm ẩn rủi ro cho các bên.

Đối với ngân hàng thương mại, đó là khả năng thu hồi vốn. Đối với khách hàng, là các vấn đề liên quan đến lãi suất, thanh toán tiền chiết khấu trước hạn… Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá sẽ dự liệu các trường hợp có thể xảy ra và đưa ra biện pháp phù hợp để giải quyết qua đó tạo sự tin tưởng cho các bên tham gia giao dịch.

Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các tranh chấp này có thể về việc thanh toán của ngân hàng, về nghĩa vụ mua lại giấy tờ có giá của khách hàng trong trường hợp áp dụng phương thức mua có kỳ hạn… Khi các tranh chấp này xảy ra, các bên có thể sử dụng các quy định pháp luật để tự thương lượng, hòa giải hoặc được các cơ quan có thẩm quyền (tòa án, trọng tài) vận dụng quy định pháp luật để giải quyết. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

Hệ thống pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá sẽ tạo cơ sở pháp lý để giải quyết thoả đáng quyền lợi giữa các bên trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá.

  • iii) Để phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế

Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện cũng như xây dựng mới các văn bản pháp luật trong nước nhằm tạo nên một cơ chế pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn của nước ta, yêu cầu của pháp luật và thông lệ quốc tế. Trong những năm gần đây, cùng với việc nước ta gia nhập ASEAN (AFTA), APEC, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), FTA ASEAN – Trung Quốc, FTA ASEAN – Hàn Quốc, WTO, FTA ASEAN – Nhật Bản, FTA Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)…. các doanh nghiệp nước ta ngày càng mở rộng quan hệ giao lưu thương mại, đầu tư với các nước trong khu vực và trên thế giới. Quá trình hội nhập và tăng cường giao lưu thương mại này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm hiểu và sử dụng các phương thức, phương tiện thanh toán phổ biến trong quan hệ thương mại quốc tế, quan hệ tín dụng quốc tế như thư tín dụng, séc, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ,… Mặt khác, quá trình hội nhập cũng đòi hỏi nước ta phải thay đổi, ban hành mới một số văn bản quy phạm pháp luật mới để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước phù hợp hơn với thể chế, chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Để thúc đẩy sự phát triển tín dụng thương mại, đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ cho các hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá nói chung và hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nói chung. Việc ban hành quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá sẽ bảo đảm cho việc hình thành khung pháp lý để đảm bảo sự an toàn và khuyến khích các chủ thể tham gia hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.

Ở nước ta, giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại chưa thực sự phát triển. Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân song một nguyên nhân rất cơ bản là sự tản mạn, chưa thống nhất và thiếu các quy định hợp lý để thúc đẩy hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá nói chung cũng như hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nói riêng. Do vậy, cần phải có các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá để đảm bảo cho việc xác lập và thực hiện các giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá, từ đó tạo điều kiện góp phần phát triển quan hệ kinh tế. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464