Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Những định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

3.1.1. Hoàn thiện phải gắn với việc phát triển thị trường chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam

Trên thực tế, pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá chưa thực sự trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu giúp thức đẩy sự phát triển thị trường chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam. Chiết khấu giấy tờ có giá vẫn chưa phải là một nghiệp vụ tạo ra nguồn thu cho chính các ngân hàng thương mại. Lợi nhuận cho vay chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác trên tổng lợi nhuận cho vay khách hàng tại một số ngân hàng năm 2014 như sau: BIDV thu được 77.833/445.693.100 triệu đồng (0,018%); Vietcombank thu được 1.695.473/323.332.037 triệu đồng (0,52%); Vietinbank thu được 516.404/439.869.027 triệu đồng (0,12%); TP bank thu được 99.944/19.838.991 triệu đồng (0,50%). Qua đây, có thể thấy số lượng gia dịch chiết khấu còn quá khiêm tốn so với số lượng giao dịch của các nghiệp vụ khác.

Các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cần được hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thực tại của nền kinh tế thị trường, trong đó có thị trường chiết khấu giấy tờ có giá. Những quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải đảm bảo sự phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, bởi “Một hệ thống pháp luật không phù hợp với trình độ phát triển của xã hội là một hệ thống ảo. Đó có thể là một hệ thống pháp luật duy ý chí hay một hệ thống pháp luật vay mượn, sao chép”.

Mặt khác, pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng phải có những quy định để hài hòa lợi ích giữa các bên có liên quan như ngân hàng thương mại, khách hàng, người có trách nhiệm thanh toán giấy tờ có giá… Pháp luật cần thiết lập một  môi trường pháp lý bình đẳng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng, nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và hạn chế tối đa tình trạng độc quyền, ít nhất là tình trạng độc quyền nhóm ở một số ngân hàng có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước trong hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng cần đảm bảo sự linh hoạt, tự chủ của các bên tham gia hợp đồng, tránh việc Nhà nước can thiệp quá sâu vào quan hệ kinh tế. Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.1.2. Hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, khắc phục những bất cập, hạn chế

Đúng như định hướng của Chính phủ đặt ra cho năm 2013, ngành ngân hàng đã và đang có những chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tái cơ cấu. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều thông tư thay thế những quy định cũ mà trong thực tiễn thực hiện đã bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại. Trong đó, phải kể đến Thông tư 04/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư 04 về hoạt động chiết khấu có những thay đổi theo hướng đảm bảo an toàn hơn cho hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, để thúc đẩy sự phát triển của thị trường chiết khấu giấy tờ có giá nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng, cần thiết phải trao quyền chủ động cho các bên tham gia. Những quy định quá an toàn sẽ hạn chế hơn quyền lựa chọn của các bên, không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động thương mại, từ đó kìm hãm sự phát triển của thị trường chiết khấu giấy tờ có giá. Vậy, khi nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cần phải xem xét nhu cầu thực tiễn của các bên tham gia hợp đồng và đưa ra giải pháp khắc phục những bất cập, hạn chế còn tồn tại.

3.1.3. Hoàn thiện để phù hợp với các quy định liên quan trong Bộ luật Dân sự

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, quan hệ hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được điều chỉnh bởi các quy định của luật chung và luật chuyên ngành. Cụ thể, các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá với tư cách là luật chuyên ngành phải xuất phát và phù hợp với các quy định về hợp đồng tại Bộ luật Dân sự. Ngày 24/11/2015, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, bộ luật này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 24/11/2017. Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải phù hợp với các quy định trong Bộ luật Dân sự mới để khẳng định Bộ luật Dân sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được hình thành theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia. Bộ luật Dân sự phải được coi là văn bản chưa đựng các quy định gốc về hợp đồng, còn văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá (nếu có) phải đảm bảo nguyên tắc không được trái với các quy định tại Bộ luật Dân sự. Theo đó, các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá không cần nhắc lại những quy định chung về hợp đồng tại Bộ luật Dân sự mà cần có điều khoản dẫn chiếu đến các quy định của Bộ luật Dân sự hoặc trên cơ sở các quy định chung tại Bộ luật Dân sự quy định cụ thể hoá, chi tiết hoá việc ký kết, thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nếu xét thấy cần thiết. Ngoài ra, các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng phải phù hợp, có tính thống nhất với quy định khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng khác có liên quan.

3.1.4. Hoàn thiện để tương thích với pháp luật các nước trong điều kiện hội nhập quốc tế Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Để đáp ứng nhu cầu giao lưu kinh tế quốc tế, tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần đẩy mạnh quốc tế hóa pháp luật, trong đó báo gồm cả các quy định về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Trên thực tế, tại Việt Nam vẫn thiếu các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, ví dụ là đối tượng của hợp đồng không tương thích nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, việc sửa đổi các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu tham khảo quy định của pháp luật về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá tại các nước để tạo nên sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước. Việc tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tiễn của Việt Nam là hết sức cần thiết. Yêu cầu này đòi hỏi phải nghiên cứu một cách căn bản, có hệ thống kinh nghiệm lập pháp của các hệ thống pháp luật tiêu biểu trên thế giới cũng như khu vực, để chuyển hóa và tiếp thu có chọn lọc những quy định, tập quán quốc tế cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam

3.2. Những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

3.2.1. Xây dựng văn bản pháp luật điều chỉnh thống nhất về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Trên thực tế, hiện nay đã có một số quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, tạo cơ sở pháp lý cho các bên thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá đang nằm rải rác nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Ngoài những quy định chung, mang tính nguyên tắc về hợp đồng tại Bộ luật Dân sự, về nghiệp vụ chiết khấu tại Luật các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam… tương ứng với từng chủ thể tham gia việc ký kết và thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá lại có những văn bản dưới luật với những hình thức khác nhau như: Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Đối với hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là cá nhân, tổ chức (không thuộc trường hợp nêu trên): Thông tư 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Đối với hợp đồng mua lại giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/06/2012 quy định về hoạt động cho vay, đi vay, mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 01/2013/TT-NHNN ngày 07/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều kiện của Thông tư số 21/2012/TT-NHNN.

Đối với văn bản tham gia nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Thông tư 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 về chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thực trạng nêu trên dẫn đến một thiếu sót lớn của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá ở Việt Nam là các quy định về chiết khấu giấy tờ có giá nằm tản mạn ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và chứa đứng nội dung mâu thuẫn, không thống nhất, thậm chí có những quy định chưa làm rõ ý tưởng, gây ra không ít sự vướng mắc, sự lúng túng trong việc áp dụng pháp luật trong quá trình giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Ví dụ 1: Thông tư 21/2012/TT-NHNN chỉ sử dụng thuật ngữ “giao dịch mua, bán có kỳ hạn” mà không sử dụng “chiết khấu” hay “tái chiết khấu” được quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010.

Ví dụ 2: Thông tư 04/2013/TT-NHNN quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác. Tuy nhiên, theo Thông tư 21/2012/TT-NHNN thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá (không quy định đối với công cụ chuyển nhượng) chưa đến hạn thanh toán từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác.

Ví dụ 3: Thông tư 04/2013/TT-NHNN đã liệt kê các loại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu. Dù vậy, để đảm bảo tuân thủ pháp luật khi thực hiện chiết khấu, người đọc cần phải tìm hiểu rất nhiều văn bản điều chỉnh từng loại giấy tờ có giá khác nhau như Quy chế phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 362/1999/QĐ-NHNN ngày 08/10/1999; Nghị định 01/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương; Thông tư 34/2013/TT-NHNN về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp… Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Do vậy, để thuận tiện cho các bên tham gia giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá, thúc đầy thị trường chiết khấu giấy tờ có giá phát triển, đáp ứng các yêu cầu phát sinh ngày một đa dạng, phức tạp thì việc thống nhất điều chỉnh các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là điều hết sức cần thiết. Trên thực tế, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là công cụ pháp lý rất quan trọng, nó quyết định đến kết quả thành công của giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá, là cơ sở để đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các bên tham gia giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có những đặc thù riêng, liên quan đến nhiều nội dung nên hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thường là rất phức tạp, đòi hỏi phải có quy định của pháp luật điều chỉnh chi tiết, chặt chẽ toàn bộ quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Việc này còn nhằm mục đích để tạo thuận lợi cho phát triển thị trường chiết khấu giấy tờ có giá, tránh những bất tiện cho các chủ thể gặp khó khăn khi tìm hiểu chế định hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong quá trình thực hiện giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá. Đó có thể là sự kết nối tất cả quy định hiện hành về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đang nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cùng với việc sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá với các tiêu chí như:

Tính minh bạch: Các nội dung quy định tại văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải đảm bảo rõ ràng, ngôn ngữ sử dụng phải chính xác, dễ hiểu, tránh trường hợp bị hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Tính thống nhất: Các nội dung quy định tại văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải đảm bảo tuân thủ với các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn như: BLDS, Luật các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật các công cụ chuyển nhượng và các văn bản pháp luật khác.

Tính hợp lý: Nội dung tại văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải tạo điều kiện để các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tự do tham gia và thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, không có quy định phân biệt đối xử, bất cân xứng đối với các chủ thể tham gia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Tính khả thi: Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải giúp các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế.

3.2.2. Về chủ thể của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

3.2.2.1. Ngân hàng thương mại

Như đã phân tích tại Chương II Khóa luận, theo quy định của Thông tư 04/2013/TTNHNN, không phải ngân hàng thương mại nào cũng được thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá. Ngân hàng thương mại cần đáp ứng điều kiện (i) có Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp có ghi nội dung cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác và (ii) có quy định nội bộ để thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác phù hợp với quy định tại Thông tư 04, Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật liên quan.

Điều kiện về nội dung Giấy phép thành lập và hoạt động hoàn toàn phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010. Cụ thể, Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định tổ chức đáp ứng các quy định của pháp luật được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép thì được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Nói cách khác, bất kỳ hoạt động nghiệp vụ nào của ngân hàng thương mại cũng phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước.

Điều kiện ngân hàng thương mại muốn thực hiện hoạt động chiết khấu phải có quy định nội bộ phù hợp với pháp luật đặt ra một số vấn đề vướng mắc. Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Thứ nhất, khi có sự không phù hợp giữa quy định nội bộ của ngân hàng thương mại và quy định của pháp luật thì có thể coi là ngân hàng thương mại đương nhiên mất quyền thực hiện hoạt động này hay không? Trong trường hợp có sự mâu thuẫn, giá trị pháp lý của hợp đồng chiết khấu giữa ngân hàng và khách hàng sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?

Thứ hai, chưa quy định rõ vấn đề trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm soát quy định nội bộ của ngân hàng thương mại. Thông tư 04 không quy định cơ quan nào sẽ kiểm soát điều kiện về quy định nội bộ của ngân hàng thương mại. Trong trường hợp khách hàng có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá, khách hàng không thể căn cứ vào một danh sách các ngân hàng thương mại đủ điều kiện chiết khấu giấy tờ có giá do một cơ quan có thẩm quyền công bố mà phải tự mình xem xét liệu ngân hàng thương mại đó có đủ điều kiện thực hiện hoạt động chiết khấu hay không. Trong thực tế, việc kiểm tra này rất khó thực hiện bởi không phải ngân hàng nào cũng dễ dàng cho khách hàng tiếp cận những văn bản này. Hơn nữa, việc tự mình thẩm định sẽ không khả thi bởi ít khách hàng am hiểu được tường tận các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.

Thứ ba, điều kiện về quy định nội bộ không thực sự cần thiết. Ở đây, chúng ta cần xem xét về ý nghĩa của Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp. Nếu coi giấy phép hoạt động là cơ sở cho việc thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, thì liệu có cần thiết phải xem xét đến điều kiện ngân hàng phải có quy định nội bộ? Khi cấp phép cho ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, Ngân hàng Nhà nước có phải xem xét đến điều kiện có quy định nội bộ của ngân hàng hay không? Hơn nữa, khoản 3 Điều 93 Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã quy định tổ chức tín dụng phải gửi cho Ngân hàng Nhà nước các quy định nội bộ về cấp tín dụng ngay sau khi ban hành. Chiết khấu là một trong những nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng, vậy khi ngân hàng có quy định nội bộ, ngân hàng có trách nhiệm gửi cho Ngân hàng Nhà nước. Pháp luật không quy định rõ trong trường hợp nhận được quy định nội bộ của ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện việc quản lý nhà nước như thế nào. Việc Ngân hàng Nhà nước không kiểm soát được một cách toàn diện sự phù hợp giữa quy định nội bộ của ngân hàng với hệ thống pháp luật nhưng vẫn cấp giấy phép thực hiện nghiệp vụ chiết khấu cho ngân hàng thì có thể coi là đáp ứng điều kiện hay không? Những vấn đề này vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Theo người viết, việc quy định điều kiện để ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá là cần thiết. Tuy nhiên, pháp luật nên quy định theo hướng Ngân hàng Nhà nước sẽ kiểm tra các điều kiện này và chỉ cấp Giấy phép thành lập và hoạt động có ghi nội dung cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác cho ngân hàng khi tất cả các điều kiện được đáp ứng. Quy định này sẽ rõ ràng về cơ quan sẽ thực hiện việc kiểm soát các điều kiện thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại. Đồng thời, quy định cũng tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng có thể xác định các ngân hàng được thực hiện hoạt động chiết khấu để tìm đến khi có nhu cầu.

3.2.2.2. Khách hàng Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Thông tư 04/2013/TT-NHNN đã có sự xác định lại phạm vi khách hàng tham gia hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, đó là chỉ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nhóm đối tượng này sẽ phải thực hiện theo quy định tại Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/06/2012 quy định về hoạt động cho vay, đi vay, mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 01/2013/TT-NHNN ngày 07/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều kiện của Thông tư số 21/2012/TT-NHNN.

Có thể suy đoán rằng các nhà lập pháp quan niệm rằng hoạt động tái chiết khấu biểu hiện quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng, do đó, cần phải được điều chỉnh ở một quy chế riêng. Tuy nhiên, việc quy định tản mạn về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ gây khó khăn cho người đọc khi muốn tìm hiểu về hệ thống quy định pháp luật đối với nghiệp vụ này. Nhất là khi việc sử dụng thuật ngữ giữa hai văn bản pháp luật này hoàn toàn khác nhau (Thông tư 21/2012/TT-NHNN chỉ sử dụng thuật ngữ “giao dịch mua, bán có kỳ hạn” mà không sử dụng “chiết khấu” hay “tái chiết khấu”). Hơn nữa, Thông tư 21/2012/TT-NHNN chỉ quy định về việc tái chiết khấu giấy tờ có giá là: (i) Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước; (ii) Trái phiếu Chính phủ; (iii) Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; (iv) Trái phiếu Chính quyền địa phương; (v) Giấy tờ có giá do các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành (bao gồm cả giấy tờ có giá do chính tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó phát hành) theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; vi) Các loại tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do tổ chức khác phát hành. Như vậy, các quy định về tái chiết khấu hiện nay hoàn toàn không nhắc đến giấy tờ có giá là công cụ chuyển nhượng. Việc thiếu sót các quy định pháp luật này sẽ làm giảm sự hấp dẫn đối với ngân hàng thương mại khi thực hiện chiết khấu công cụ chuyển nhượng. Pháp luật cần thiết phải hoàn thiện hệ thống các quy định về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá để các quy định này không bị tản mản và thiếu thống nhất như hiện nay.

3.2.3. Về đối tượng của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, phương thức thanh toán phổ biến và đáng tin cậy nhất hiện nay là phương thức tín dụng chứng từ. Một trong những ưu điểm của phương thức này là tính linh hoạt, bên xuất khẩu có thể chiết khấu bộ chứng từ phù hợp tại các tổ chức tín dụng. Nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa và hội nhập với các nước khu vực và trên thế giới nên việc phải thích ứng với những phương thức thanh toán phổ biến, trong đó có phương thức tín dụng chứng từ là một điều tất yếu. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại chưa đáp ứng được xu thế này.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại vẫn được thực hiện hoạt động chiết khấu bộ chứng từ không có hối phiếu. Tại khoản 2 Điều 90 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào ngoài các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác ghi trong Giấy phép được Ngân hàng Nhà nước cấp cho tổ chức tín dụng. Theo đó, ngân hàng thương mại được chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu không có hối phiếu theo tập quán thương mại quốc tế nếu trong giấy phép hoạt động của ngân hàng thương mại có quy định được chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu không có hối phiếu, mà cụ thể là Giấy phép cần ghi nhận nội dung hoạt động “thanh toán quốc tế.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định điều chỉnh hoạt động chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu. Khoản 1 Điều 6 Thông tư 04/2013/TT-NHNN quy định ngân hàng thương mại nhận chiết khấu các loại công cụ chuyển nhượng sau: Hối phiếu đòi nợ; hối phiếu nhận nợ; séc; công cụ chuyển nhượng được chiết khấu theo quy định của pháp luật. Tại khoản 2 Điều 5 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng luật này đối với các công cụ chuyển nhượng khác. Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định bộ chứng từ xuất khẩu không có hối phiếu thanh toán theo phương thức nhờ thu (không kèm L/C), bộ chứng từ xuất khẩu không có hối phiếu kèm L/C (thanh toán ngay hoặc trả chậm)… là công cụ chuyển nhượng và được chiết khấu theo quy định của pháp luật. Vì vậy, ngân hàng thương mại không được thực hiện chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu nêu trên theo quy định tại Thông tư 04

Do pháp luật Việt Nam không có quy định về việc chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu nên hiện tại các ngân hàng thương mại phải áp dụng tập quán quốc tế khi thực hiện nghiệp vụ này. Tại Điều 3 Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tại khoản 3 Điều 759 Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại khoản 4 Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ngân hàng được quyền thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại do Phòng thương mại quốc tế ban hành hoặc tập quán thương mại khác không trái với pháp luật Việt Nam. Các tập quán này thường là tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành (UCP 600, UCR 522..).

Như vậy, có thể thấy pháp luật Việt Nam về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá nói chung và hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nói riêng đang có một khoảng trống về chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu. Trong tiến trình hội nhập kinh tế – quốc tế sâu rộng hiện nay, cần thiết để các nhà lập pháp sớm nghiên cứu và bổ sung các quy định về nghiệp vụ này theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế để đáp ứng nhu cầu tất yếu của thị trường. Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

3.2.4. Về nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Các nội dung trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá xác định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng. Theo quy định tại Điều 12 Thông tư 04/2013/TT-NHNN thì hợp đồng chiết khấu bao gồm các nội dung chính sau: i) Tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động chiết khấu; ii) tên, địa chỉ của khách hàng; iii) số chứng minh thư nhân dân/hộ chiếu/mã số thuế của khách hàng; iv) các thông tin chính của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu; v) giá chiết khấu; vi) mục đích sử dụng số tiền chiết khấu; vii) đồng tiền chiết khấu; viii) thời hạn chiết khấu; ix) lãi suất chiết khấu và các chi phí liên quan; x) quyền và nghĩa vụ của các bên; xi) các trường hợp chấm dứt hợp đồng chiết khấu trước thời hạn; xii) xử lý vi phạm hợp đồng; xiii) các nội dung khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Việc quy định hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá bắt buộc phải có những nội dung chủ yếu nêu trên thể hiện tính cứng nhắc, chưa thật sự mềm dẻo, linh hoạt thể hiện sự tôn trọng quyền tự do hợp đồng của các bên khi tham gia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Để bảo đảm vừa có tính định hướng, vừa tôn trọng tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, cần sửa đổi, bổ sung quy định về nội dung của hợp đồng để tránh cứng nhắc trong thực hiện và giải quyết tranh chấp về hợp đồng, nhất là tránh việc

Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do thiếu điều khoản nào đó. Theo đó, phải sửa đổi, bổ sung theo hướng: Quy định rõ các bên có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và đưa ra những nội dung có tính gợi ý cho các bên lựa chọn thỏa thuận. Những nội dung mà pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá quy định chỉ mang tính định hướng, khẳng định đó là nội dung thông thường của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chứ không phải là nội dung bắt buộc các bên phải tuân theo.

3.2.5. Về phương thức chiết khấu trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Từ khi Luật các tổ chức tín dụng 2010 ra đời, hoạt động chiết khấu đã có sự khác biệt so với quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325 và Quyết định 63. Các phương thức chiết khấu theo quy định pháp luật trước kia được phân biệt dựa trên yếu tố kỳ hạn. Cụ thể, có hai phương thức là chiết khấu toàn bộ thời hạn và chiết khấu có kỳ hạn (ngân hàng thương mại chỉ được bảo lưu quyền truy đòi khi đối tượng chiết khấu là công cụ chuyển nhượng). Trong khi đó, các phương thức chiết khấu theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư 04/2013/TT-NHNN là chiết khấu có kỳ hạn và chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi.

  • Về việc sử dụng thuật ngữ

Về mặt bản chất, phương thức chiết khấu có kỳ hạn thực ra là hợp đồng mua bán giấy tờ có giá giữa khách hàng với ngân hàng thương mại nhưng có điều khoản thỏa thuận mua lại sau một thời hạn nhất định, trước khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán. Phương thức mua bán này thường được áp dụng trong trường hợp khách hàng thiếu vốn tạm thời để sản xuất kinh doanh hoặc để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nhưng không muốn bán hẳn (bán đứt) các giấy tờ có giá mình đang sở hữu cho ngân hàng. Vì vậy, khi ký kết hợp đồng mua bán, họ thỏa thuận áp dụng điều khoản cam kết mua lại sau một thời hạn nhất định. Điều này cho thấy việc sử dụng “mua có kỳ hạn” trong pháp luật hiện hành là chưa chính xác. Thậm chí cách quy định này còn dẫn đến cách hiểu sai về việc hết thời hạn chiết khấu, tái chiết khấu mà khách hàng không thực hiện việc mua lại giấy tờ có giá thì ngân hàng là chủ sở hữu hợp pháp (tức là, trước đó dù ngân hàng đã mua giấy tờ có giá nhưng vẫn không có quyền sở hữu) như Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá ban hành kèm theo Quyết định 1325/2004/QĐ- NHNN trước kia. Vậy, theo người viết, thay vì gọi là “mua có kỳ hạn” như quy định hiện nay, nên định danh là hợp đồng chiết khấu có điều khoản mua lại.

  • Trường hợp khách hàng không thực hiện cam kết mua lại giấy tờ có giá Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Như đã phân tích tại Chương II Khóa luận, phương thức chiết khấu có kỳ hạn là phương thức chiết khấu mà khách hàng cam kết sẽ mua lại giấy tờ có giá sau khoảng thời gian được xác định trên hợp đồng chiết khấu. Với phương thức chiết khấu này, khoản tín dụng đã cấp sẽ được hoàn trả bởi chính khách hàng. Tuy vậy, Thông tư 04/2013/TT-NHNN lại không quy định về trường hợp hết thời hạn chiết khấu mà khách hàng không thực hiện việc mua lại giấy tờ có giá. Trong khi đó, pháp luật thời kỳ trước đã dự liệu về cách giải quyết khi xảy ra tình huống này. Cụ thể, theo Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325 và Quyết định 63, trong trường hợp khách hàng không mua lại, ngân hàng thương mại sẽ là chủ sở hữu hợp pháp và được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ giấy tờ có giá đó và ngân hàng thương mại có quyền xuất trình công cụ chuyển nhượng để được thanh toán. Có thể thấy, hiện nay pháp luật đang có khoảng trống khi xảy ra tình huống khách hàng không thực hiện việc mua lại khi hết thời hạn chiết khấu. Vì vậy, các ngân hàng thương mại cần thiết phải quy định trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá những nội dung để giải quyết khi trường hợp này xảy ra, thậm chí quy định về việc phạt hợp đồng đối với khách hàng khi vi phạm. Tuy vậy, đó chỉ là giải pháp nhất thời, để giải quyết triệt để vấn đề này, trong thời gian tới, các quy định pháp luật về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá cần bổ sung quy định về trường hợp khách hàng không mua lại khi hết thời hạn chiết khấu.

  • Trường hợp chiết khấu toàn bộ thời hạn

Hiện nay, pháp luật chỉ quy định về hai phương thức chiết khấu là mua có kỳ hạn và mua có bảo lưu quyền truy đòi công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác. Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư 04/2013/TT-NHNN đã có thay đổi về phương thức bảo đảm an toàn hơn cho hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, phương án này sẽ hạn chế lựa chọn của các bên tham gia giao hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Bởi, không phải lúc nào khách hàng cũng có nhu cầu mua lại giấy tờ có giá sau một thời hạn nhất định. Trong trường hợp khách hàng và cả ngân hàng đều muốn mua hẳn (mua đứt) giấy tờ có giá thì có được phép hay không? Về mặt lý thuyết, các bên có thể mua hẳn giấy tờ có giá (chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá) bằng cách thỏa thuận áp dụng phương thức mua có bảo lưu quyền truy đòi giấy tờ có giá. Tuy nhiên, rõ ràng, cách thức này không hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của các bên tham gia. Vậy, có lẽ các nhà lập pháp nên xem xét mở rộng hơn về phương thức chiết khấu giấy tờ có giá cho phù hợp với sự đa dạng của kinh tế thị trường hiện nay. Tùy từng trường hợp và khẩu vị rủi ro của ngân hàng, ngân hàng có thể chủ động đưa ra quyết định phù hợp để vừa đảm bảo an toàn, vừa mang lại lợi nhuận cao nhất có thể. Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

3.2.6. Về thủ tục chiết khấu trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Theo quy định tại Thông tư 04/2013/TT-NHNN, trình tự, thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá giữa ngân hàng thương mại và khách hàng sẽ được tiến hành theo trình tự, thủ tục sau:

  1. Khách hàng gửi đề nghị về việc chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác;
  2. Ngân hàng thương mại thẩm định, đánh giá: (i) mục đích sử dụng tiền chiết khấu, (ii) khả năng tài chính của khách hàng, (iii) khả năng thanh toán của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác để quyết định việc nhận chiết khấu.

Trường hợp chấp nhận chiết khấu, khách hàng chuyển giao ngay và thực hiện các thủ tục về chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng, chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá khác cho ngân hàng thương mại theo quy định pháp luật.

Như vậy, pháp luật không quy định thời hạn tiến hành từng bước trong thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại và khách hàng. Cách quy định này sẽ có lợi cho ngân hàng thương mại bởi ngân hàng hoàn toàn chủ động trong việc thiết lập trình tự, thủ tục chiết khấu của mình. Tuy nhiên, việc không ấn định thời hạn cụ thể sẽ khiến khách hàng phụ thuộc hoàn toàn vào ngân hàng thương mại. Để tránh tình trạng này, theo người viết, nên ấn định khoảng thời hạn tối đa cho từng bước trong trình tự, thủ tục chiết khấu. Ngân hàng thương mại có thể quy định thời hạn thực hiện từng bước ngắn hơn để phù hợp với từng trường hợp và để đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, khách hàng cũng được đảm bảo do không quá phụ thuộc vào quyết định của ngân hàng thương mại.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, chiết khấu giấy tờ có giá được coi là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, ngân hàng thương mại thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng để đổi lấy quyền sở hữu các trái quyền do khách hàng chuyển giao cho mình với giá cả thấp hơn giá trị thực tế của trái quyền được giao dịch. Để thực hiện giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá, pháp luật quy định các bên tham gia phải ký kết hợp đồng bằng văn bản. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là hợp đồng, theo đó ngân hàng thương mại thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng để đổi lấy quyền sở hữu giấy tờ có giá do khách hàng chuyển giao cho mình trước khi đến hạn thanh toán.

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự, nên các nguyên tắc giao kết, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ được thực hiện theo quy định tại Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng có những đặc điểm riêng. Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là ngân hàng thương mại và khách hàng chiết khấu. Tùy từng thời kỳ, pháp luật có những quy định cụ thể về điều kiện đối với chủ thể tham gia khác nhau. Các chủ thể này cũng chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá khi giấy tờ có giá đáp ứng các điều kiện luật định như được phát hành hợp pháp, thuộc quyền sở hữu của khách hàng, được phép giao dịch… Pháp luật cho phép các bên lựa chọn phương thức chiết khấu là mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu giấy tờ có giá và tùy theo phương thức chiết khấu mà thủ tục chiết khấu có thể khác nhau. Sau khi thống nhất ý chí, ngân hàng thương mại và khách hàng sẽ tiến hành ký kết hợp đồng với những nội dung chính như thông tin của các bên; thông tin của giấy tờ có giá được chiết khấu; giá chiết khấu; mục đích sử dụng số tiền chiết khấu; đồng tiền chiết khấu; thời hạn chiết khấu; lãi suất chiết khấu; quyền và nghĩa vụ của các bên… Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ ở ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464