Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Chủ thể của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Mang bản chất là một giao dịch mua bán nên chủ thể tham gia vào hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá cũng giống như quan hệ mua bán trong dân sự thông thường, gồm có bên mua và bên bán. Trong đó, ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu) đảm nhận vai trò của bên mua, còn khách hàng (bên đề nghị chiết khấu) là bên bán.

2.1.1. Ngân hàng thương mại

Theo Quy chế chiết khấu, tài chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, bên nhận chiết khấu là các tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động và được thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Đối chiếu với Luật các tổ chức tín dụng 2010, chỉ có ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã (nếu được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản), công ty tài chính và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam (với điều kiện ngân hàng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá tại nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính) mới được phép thực hiện nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá. Theo pháp luật hiện hành, các chủ thể (bên nhận chiết khấu) có thể tham gia vào hoạt động chiết khấu (không bao gồm nghiệp vụ chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước) là tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại; công ty tài chính; công ty cho thuê tài chính và ngân hàng hợp tác xã khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Như vậy, Thông tư 04/2013/TT-NHNN ra đời đã quy định lại về chủ thể (bên nhận chiết khấu) theo hướng phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng 2010. Qua quy định về bên nhận chiết khấu, có thể thấy hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá có những đòi hỏi khắt khe về chủ thể và cũng thể hiện nghiệp vụ này luôn gắn với hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Trong phạm vi Khóa luận, người viết chỉ phân tích về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Do vậy, đối với chủ thể của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, Khóa luận chỉ phân tích về ngân hàng thương mại. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật. Tùy theo tính chất và mục tiêu hoạt động, ngân hàng được phân chia thành các loại hình như ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Trong đó, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Chiết khấu là nghiệp vụ cấp tín dụng thuộc hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, không phải ngân hàng thương mại nào cũng được thực hiện nghiệp vụ này. Ngân hàng thương mại được thực hiện nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá khi có đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, trong Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp có ghi nội dung cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác. Theo đó, ngân hàng thương mại không được thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá khi Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp không có nội dung cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác. Để được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, ngân hàng thương mại phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng. Trường hợp, trong Giấy phép của ngân hàng thương mại không có nội dung này, ngân hàng thương mại cần thực hiện việc bổ sung Giấy phép đối với hoạt động nêu trên theo đúng quy định của pháp luật. Trên thực tế, sau khi Thông tư 04/2013/TTNHNN ra đời, nhiều ngân hàng thương mại đã thực hiện sửa đổi Giấy phép. Ví dụ, ngày 10/4/2015, Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng đã xin Đại hội đồng cổ đông về việc sửa đổi, bổ sung Giấy phép từ “chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá” thành “chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác”, “chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá bằng ngoại tệ” thành “chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác bằng ngoại tệ”. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Thứ hai, có quy định nội bộ để thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác phù hợp với quy định của pháp luật. Thông tư 04/2013/TT-NHNN không quy định về các nội dung tối thiểu trong quy định nội bộ cũng như không yêu cầu ngân hàng thương mại phải đăng ký quy định nội bộ với Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010, ngân hàng thương mại phải ban hành quy định về cấp tín dụng để đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích và phải gửi cho Ngân hàng Nhà nước các quy định nội bộ ngay sau khi ban hành. Nội dung chính của quy định nội bộ về cấp tín dụng cũng được quy định cụ thể tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN. Do chiết khấu được coi là nghiệp vụ cấp tín dụng, các quy định nội bộ để thực hiện hoạt động chiết khâu sẽ phải tuân thủ theo quy định chung về quy định nội bộ về cấp tín dụng như trên.

Nhìn qua Thông tư 04/2013/TT-NHNN, có thể nhầm tưởng rằng các quy định pháp luật hiện tại về điều kiện để ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá khá đơn giản. Tuy nhiên, điều kiện để ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá không được liệt kê quá nhiều bởi chủ thể thực hiện (ngân hàng thương mại) đã phải đáp ứng những yêu cầu rất khắt khe về năng lực tài chính, người quản lý điều hành, phương án kinh doanh… mới được phép thành lập và hoạt động.

Thực tế cho thấy rằng, ngoài việc thỏa mãn những điều kiện pháp định trên đây, ngân hàng thương mại chỉ có thể kinh doanh hiệu quả khi có những điều kiện khác như nguồn vốn, kỹ năng nghiệp vụ chiết khấu, khả năng tiếp cận thị trường, hệ thống công nghệ hiện đại, trình độ quản trị tiên tiến, chiến lược khách hàng hợp lý… Những điều kiện này tuy không có tính chất bắt buộc và không ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá mà các bên xác lập nhưng lại là những đảm bảo cần thiết để thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng trên thị trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2. Khách hàng chiết khấu Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Pháp luật trước đây quy định khách hàng chiết khấu giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng là chủ sở hữu giấy tờ có giá, bao gồm: Tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sinh sống, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; tổ chức tín dụng. Khách hàng tái chiết khấu giấy tờ có giá tại các tổ chức tín dụng là tổ chức tín dụng sở hữu giấy tờ có giá đó. Đối với giấy tờ có giá là công cụ chuyển nhượng (hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc), khách hàng là người thụ hưởng công cụ chuyển nhượng và có nhu cầu chiết khấu công cụ chuyển nhượng đó, bao gồm: Tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài. Vậy, đối với công cụ chuyển nhượng hay các loại giấy tờ có giá khác, khách hàng đều có thể là tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài. Điểm khác biệt duy nhất là đối với loại giấy tờ có giá khác, nếu khách hàng là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải đáp ứng cả điều kiện đang sinh sống, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Pháp luật hiện hành quy định khách hàng (bên đề nghị chiết khấu) là người thụ hưởng công cụ chuyển nhượng được phép giao dịch tại Việt Nam, chủ sở hữu giấy tờ có giá được phát hành trên lãnh thổ Việt Nam. Khách hàng có thể là: i) tổ chức trong nước (không bao gồm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) và cá nhân trong nước; hoặc ii) pháp nhân, cá nhân nước ngoài đang hoạt động, cư trú hợp pháp tại Việt Nam, có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, cá nhân nước ngoài. Pháp luật dân sự của Việt Nam đã được dẫn chiếu để làm cơ sở đánh giá năng lực pháp luật của khách hàng nước ngoài khi tham gia giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Có thể thấy, Thông tư 04/2013/TT-NHNN đã giới hạn đối tượng khách hàng tham gia chiết khấu là tổ chức tín dụng so với Quy chế cũ. Hoạt động tái chiết khấu biểu hiện quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng, vì vậy, các nhà lập pháp quan niệm rằng hoạt động này cần phải được điều chỉnh bởi một quy chế riêng. Hiện nay, nhóm khách hàng là tổ chức tín dụng sẽ phải thực hiện theo quy định tại Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngay 18/6/2012 về hoạt động cho vay, đi vay, mua, bán có kì hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 01/2013/TT-NHNN ngày 07/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2012/TT-NHNN với yêu cầu khắt khe hơn về điều kiện và mục đích khi thực hiện khoản vay. Trong phạm vi Khóa luận, người viết xin tập trung phân tích về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại theo Thông tư 04/2013/TT-NHNN mà không đi sâu vào hoạt động tái chiết khấu theo Thông tư 21/2012/TTNHNN.

Ngoài những quy định nêu trên của pháp luật, các ngân hàng thương mại thường bổ sung thêm những điều kiện về khách hàng. Ví dụ, Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) yêu cầu khách hàng phải đáp ứng điều kiện: (i) Được xếp hạng tín dụng nội bộ từ A trở lên; (ii) Là doanh nghiệp quy mô lớn theo quy định của MB; (iii) Có mục đích vay phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp; (iv) Có tối thiểu 05 năm kinh nghiệm, 03 năm liên tiếp gần nhất có lãi; (v) không phát sinh nợ từ nhóm 02 trở lên tại MB và các tổ chức tín dụng trong vòng 12 tháng gần nhất. Những điều kiện này được đưa ra nhằm đảm bảo những nguyên tắc chiết khấu như đảm bảo khách hàng sử dụng tiền chiết khấu để thanh toán các giao dịch mà pháp luật không cấm, đảm bảo khả năng tài chính để mua lại giấy tờ có giá hoặc thanh toán đầy đủ số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác mà các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu

2.2. Đối tượng của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Mỗi hình thức cấp tín dụng khác nhau có đối tượng hợp đồng khác nhau. Nếu như đối tượng hợp đồng bao thanh toán là các khoản phải thu, khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thì ở đây, đối tượng của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán (xem phân tích tại mục 1.1).

2.2.1. Khái niệm giấy tờ có giá

  • Về phương diện lý luận

Giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác. Giấy tờ có giá có ba thuộc tính: (1) Xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định; (2) Trị giá được bằng tiền; và (3) Có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao lưu dân sự.

Sở dĩ, giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản bởi nó là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ của một chủ thể đối với người thụ hưởng (chủ thể có quyền sở hữu đối với khoản nợ) trong một thời hạn nhất định và trong điều kiện nhất định (cũng có thể là vô điều kiện).

Một nội dung không thể thiếu của giấy tờ có giá là mệnh giá. Thuộc tính trị giá được bằng tiền giúp cho chủ sở hữu giấy tờ có giá có thể nhận được khoản tiền mặt tương ứng với giá trị của giấy tờ có giá khi họ có nhu cầu. Nhờ vậy, giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Có thể chuyển giao quyền sở hữu là yếu tố đảm bảo cho giấy tờ có giá có thể tham gia giao dịch trong các quan hệ dân sự. Giấy tờ có giá có thể là (i) giấy tờ có giá ghi danh hoặc (ii) giấy tờ có giá vô danh. Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá, trong khi đó, giấy tờ có giá ghi danh có ghi tên người sở hữu. Đối với giấy tờ có giá ghi danh, tổ chức phát hành giấy tờ có giá phải mở sổ đăng ký quyền sở hữu và tiến hành đăng ký lại khi khách hàng có yêu cầu chuyển nhượng quyền sở hữu. Có một số giấy tờ có giá có thể ghi cụm từ “không được chuyển nhượng”, “cấm chuyển nhượng”, “không trả theo lênh” hoặc các cụm từ có ý nghĩa tương tự nhưng những giấy tờ có giá không được phép giao dịch trên sẽ không đủ điều kiện được nhận chiết khấu.

  • Về phương diện pháp lý

Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015 đều thống nhất tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Thuật ngữ “giấy tờ có giá” được dùng phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng, Luật các công cụ chuyển nhượng, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các văn bản quy phạm pháp luật khác trong lĩnh vực ngân hàng (Quyết định 1022/2004/QĐ-NHNN ngày 17/08/2004, Quyết định số 11/QĐ-NHNN ngày 06/01/2010, Thông tư 34/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013…), các văn bản quy phạm pháp luật về giao dịch bảo đảm (Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012…). Tuy nhiên, các văn bản này vẫn có những cách quy định khác nhau về “giấy tờ có giá”. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Cụ thể, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác (khoản 8 Điều 6). Thuật ngữ “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ” được hiểu giấy tờ có giá sẽ là điều kiện ràng buộc để tổ chức phát hành thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho chủ sở hữu khi đến hạn. Định nghĩa này của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mang tính khái quát chung. Tuy vậy, luật vẫn chưa phù hợp với đối tượng giấy tờ có giá là séc hay hối phiếu đòi nợ bởi với séc hay hối phiếu đòi nợ thì nghĩa vụ trả nợ thực tế cho người thụ hưởng (chủ sở hữu séc hay hối phiếu) thuộc về bên đề nghị phát hành séc, hối phiếu (người ký phát) chứ không phải là tổ chức phát hành (người bị ký phát). Pháp luật quy định người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp thuận hoặc bị từ chối thanh toán (khoản 1 Điều 17 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005). Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng (khoản 4 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005). Việc thanh toán nợ của tổ chức phát hành cho người thụ hưởng chỉ là việc thực hiện thay nghĩa vụ cho bên đề nghị phát hành để được hưởng khoản phí hoa hồng từ việc thực hiện nghiệp vụ này của họ.

Các văn bản quy phạm pháp luật khác lại quy định về giấy tờ có giá theo hướng liệt kê các loại giấy tờ có giá thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản. Ví dụ, Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 quy định các công cụ chuyển nhượng quy định trong luật gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường (Điều 1); Thông tư 34/2013/TT-NHNN điều chỉnh các giấy tờ có giá là kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu (Điều 1); Nghị định 11/2012/NĐ-CP quy định giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, các giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch (khoản 1 Điều 1)…

Trong nghiệp vụ chiết khấu, giấy tờ có giá được chiết khấu bao gồm hai dạng: (i) các công cụ chuyển nhượng (hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, các cộng cụ chuyển nhượng khác theo quy định pháp luật); và (ii) giấy tờ có giá khác (tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi) theo quy định của pháp luật và quy định của Ngân hàng Nhà nước. Phạm vi giấy tờ có giá được chiết khấu theo Thông tư 04 đã có những thay đổi trong cách thức liệt kê. Theo đó, văn bản này bổ sung các công cụ chuyển nhượng khác có thể được chiết khấu bên cạnh séc, hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ. Đối với giấy tờ có giá, Thông tư 04 loại trừ một số đối tượng được ghi nhận tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325, đó là: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng Tổ quốc. Riêng giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành, chỉ có kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu được chấp nhận chiết khấu.

2.2.2. Các loại giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Pháp luật hiện hành quy định các loại giấy tờ có giá được chiết khấu bao gồm:

  • Công cụ chuyển nhượng:

Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định (khoản 1 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005).

Ngân hàng thương mại được phép lựa chọn chiết khấu các công cụ chuyển nhượng phát hành ở Việt Nam hoặc phát hành ở nước ngoài được chuyển nhượng ở Việt Nam, bao gồm: hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các loại công cụ chuyển nhượng khác được chiết khấu theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 6 Thông tư 04/2013/TT-NHNN):

Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng (khoản 2 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005);

Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng (khoản 3 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005);

Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng (khoản 4 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005);

  • Giấy tờ có giá khác:

Ngoài giấy tờ có giá là công cụ chuyển nhượng thì ngân hàng thương mại còn được lựa chọn chiết khấu các loại giấy tờ có giá khác như (khoản 2 Điều 6 Thông tư 04/2013/TTNHNN):

  • Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước;
  • Trái phiếu Chính phủ;
  • Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
  • Trái phiếu Chính quyền địa phương;
  • Kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.
  • Kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu do tổ chức khác phát hành và được chiết khấu theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trong đó:

  • Tín phiếu là loại giấy tờ có giá ngắn hạn do Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước hoặc các doanh nghiệp phát hành nhằm mục đích huy động vốn trong ngắn hạn (dưới 1 năm). Phổ biến nhất là tín phiếu Kho bạc – công cụ vay nợ ngắn hạn của Chính phủ do Kho bạc phát hành để tạm thời bù đặp những thiếu hụt của Ngân sách Nhà nước trong năm ngân sách. Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước là giấy tờ có giá ngắn hạn, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành để tạo ra công cụ trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
  • Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành. Có các loại trái phiếu như trái phiếu Chính phủ (gồm tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, công trái xây dựng Tổ quốc), trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.
  • Kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.
  • Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu.

Có thể thấy, pháp luật Việt Nam về chiết khấu không quy định về hoạt động chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu. Chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định bộ chứng từ xuất khẩu không có hối phiếu thanh toán theo phương thức nhờ thu (không kèm L/C), bộ chứng từ xuất khẩu không có hối phiếu kèm L/C (thanh toán ngay hoặc trả chậm)… là công cụ chuyển nhượng và được chiết khấu theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hiện tại các ngân hàng thương mại phải thực hiện chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu theo tập quán thương mại quốc tế  như tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành (UCP 600, UCR 522..).

2.2.3. Điều kiện giấy tờ có giá được nhận chiết khấu

Không phải giấy tờ có giá nào cũng được coi đối tượng chiết khấu. Các giấy tờ có giá này phải đáp ứng đủ các điều kiện luật định như sau: Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

  • Đối với công cụ chuyển nhượng

Công cụ chuyển nhượng được ngân hàng thương mại nhận chiết khấu khi có đủ các điều kiện sau:

Được phát hành hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước phát hành hoặc tập quán thương mại quốc tế phù hợp với pháp luật Việt Nam. Điều kiện được phát hành hợp pháp của giấy tờ có giá là công cụ chuyển nhượng được hiểu là công cụ chuyển nhượng phải do những chủ thể được phép phát hành, nội dung, hình thức, thủ tục phát hành… phù hợp quy định của pháp luật.

Thuộc quyền thụ hưởng hợp pháp của khách hàng, không có tranh chấp, không sử dụng để cầm cố, bảo đảm cho nghĩa vụ khác. Theo quy định pháp luật hiện hành, người thụ hưởng là người sở hữu công cụ chuyển nhượng với tư cách là một trong những người sau đây: i) Người được nhận thanh toán số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng theo chỉ định của người ký phát, người phát hành; ii) Người nhận chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng theo các hình thức chuyển nhượng quy định tại Luật này; iii) Người cầm giữ công cụ chuyển nhượng có ghi trả cho người cầm giữ.

Trên công cụ chuyển nhượng không ghi cụm từ “Không được chuyển nhượng”, “Cấm chuyển nhượng”, “Không trả theo lệnh” hoặc cụm từ có ý nghĩa tương tự. Như đã đề cập tại mục 1.1.2 nêu trên, công cụ chuyển nhượng là những giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán nên việc công cụ chuyển nhượng có ghi nhận các cụm từ trên sẽ không thể đem đi chiết khấu được. Lý do rất đơn giản, giả sử nếu được chiết khấu thì bên thụ hưởng (ngân hàng thương mại nhận chiết khấu) sẽ phải gánh chịu rủi ro do không được bên có nghĩa vụ thanh toán đối với công cụ chuyển nhượng khi đáo hạn. Chính vì vậy, quy định điều kiện này nhằm bảo vệ quyền lợi của ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu) công cụ chuyển nhượng.

Chưa đến hạn thanh toán. Tương tự như điều kiện trên, yếu tố chưa đến hạn thanh toán nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi của ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu) công cụ chuyển nhượng.

Còn nguyên vẹn, không tẩy xóa, sửa chữa. Tương tự như điều kiện trên, yếu tố này nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi của ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu) công cụ chuyển nhượng bởi công cụ chuyển nhượng bị tẩy xóa, sửa chữa sẽ có cơ sở để đảm bảo những điều kiện nêu trên.

  • Đối với giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Giấy tờ có giá khác được ngân hàng thương mại nhận chiết khấu khi có đủ các điều kiện sau:

Được phát hành hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mặc dù Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325/2003/QĐ-NHNN về điều kiện giấy tờ có giá được nhận chiết khấu, tái chiết khấu không quy định về việc giấy tờ có giá được phát hành hợp pháp, đây không phải là điều kiện lần đầu tiên xuất hiện trong các văn bản pháp luật. Bởi lẽ Điều 5 Quy chế đã quy định rõ về việc phát hành đối với từng loại giấy tờ có giá được chiết khấu phải tuân theo quy định nào. Điều kiện được phát hành hợp pháp của giấy tờ có giá được hiểu là công cụ chuyển nhượng phải do những chủ thể được phép phát hành, nội dung, hình thức, thủ tục phát hành… phù hợp quy định của pháp luật.

Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng; không có tranh chấp, không sử dụng để cầm cố, bảo đảm cho nghĩa vụ khác. Khách hàng là chủ sở hữu giấy tờ có giá được chiết khấu phải có trong tay ba quyền năng cơ bản của quyền sở hữu, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Giấy tờ có giá là đối tượng của hợp đồng chiết khấu được thiết lập giữa các bên, do đó, nếu giấy tờ có giá không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của hợp đồng chiết khấu. Ngân hàng thương mại cần chú ý kiểm tra điều kiện này khi xem xét, quyết định việc nhận chiết khấu. Ngân hàng thương mại có thể yêu cầu khách hàng chứng minh giấy tờ có giá đủ điều kiện chiết khấu theo quy định của pháp luật.

Được phép giao dịch (mua, bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, bảo lãnh và các giao dịch hợp pháp khác) theo quy định của pháp luật. Giấy tờ có giá phải được phép giao dịch bởi chính các giao dịch về mua bán, tặng cho, chuyển nhượng, cầm cố, bảo lãnh… mới đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng thương mại. Chính điều kiện này sẽ giúp ngân hàng có thể dễ dàng thu hồi vốn thông qua hình thức tái chiết khấu mà không cần đợi đến hạn thanh toán từ tổ chức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu.

Chưa đến hạn thanh toán. Điều kiện này có thể hiểu là giấy tờ có giá phải chưa được thanh toán bởi tổ chức phát hành. Đây là yếu tố xác định giá trị của giấy tờ có giá khi tham gia chiết khấu, bởi lẽ, nếu giấy tờ có giá không còn giá trị (đã được thanh toán) thì sẽ không thể tham gia vào bất kỳ giao dịch nói chung nào cũng như chiết khấu nói riêng.

Còn nguyên vẹn, không tẩy xóa, sửa chữa. Điều kiện này nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi của ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu) giấy tờ có giá bởi giấy tờ có giá bị tẩy xóa, sửa chữa sẽ có cơ sở để đảm bảo những điều kiện nêu trên.

Thông tư 04 đã có những quy định bổ sung về điều kiện đối với đối tượng chiết khấu là giấy tờ có giá, công cụ chuyển nhượng. Theo đó, để được chiết khấu, các đối tượng cần phải đáp ứng thêm điều kiện về việc không có tranh chấp, không sử dụng để cầm cố, bảo đảm cho nghĩa vụ khác. Điều kiện này phụ thuộc vào sự trung thực của khách hàng khi cung cấp thông tin cho ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, điều kiện này cũng là căn cứ chấm dứt việc chiết khấu nếu ngân hàng thương mại phát hiện thông tin khách hàng cung cấp không chính xác. Về mặt hình thức, giấy tờ có giá phải còn nguyên vẹn, không tẩy xóa, sửa chữa. Nhìn chung, những điều kiện bổ sung này nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động chiết khấu, tạo sự thuận lợi trong hoạt động chiết khấu của ngân hàng thương mại.

2.3. Hình thức, nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

2.3.1 Hình thức của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Hình thức của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là cách thức biểu hiện ra bên ngoài những nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định. Theo quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325/2004/QĐ-NHNN, các thỏa thuận về việc chiết khấu, tái chiết khấu giữa tổ chức tín dụng và khách hàng phải được lập thành văn bản. Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 63/2006/QĐ-NHNN lại quy định trường hợp chiết khấu, tái chiết khấu có thời hạn, thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng về mua bán lại công cụ chuyển nhượng phải được lập thành văn bản phù hợp với quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự, Luật Các công cụ chuyển nhượng, Quy chế này và quy định của pháp luật có liên quan. Tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2013/TT-NHNN quy định hợp đồng chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên về việc chiết khấu. Qua định nghĩa này, có thể thấy pháp luật từ trước đến nay đều yêu cầu hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải lập thành văn bản. Pháp luật không bắt buộc các bên phải thực hiện công chứng hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Trong văn bản đó, ngân hàng thương mại và khách hàng ghi nhận đầy đủ những nội dung đã thỏa thuận, cùng ký tên xác nhận vào văn bản. Văn bản là hình thức ngôn ngữ viết, được trình bày trên một chất liệu hữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc, lưu giữ và bảo đảm được sự toàn vẹn nội dung đó. Hợp đồng bằng văn bản đảm bảo sự thể hiện rõ ràng ý chí các bên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng mà các bên muốn cam kết. Đối với các trường hợp khách hàng là tổ chức có tư cách pháp nhân, ngoài việc người đại diện hợp pháp ký, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá còn được đóng dấu của tổ chức đó. Trên thực tế, văn bản hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thường được lập thành hai hay nhiều bản gốc giống nhau, đều phải có chữ ký của các bên, mỗi bên được giữ một bản. Việc này ngoài đảm bảo các bên có căn cứ chứng minh hợp đồng mua bán đã được xác lập còn nhằm mục đích giúp các bên dễ dàng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được ghi nhận tại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Việc thể hiện nội dung hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá dưới hình thức văn bản hướng đến các mục đích như: i) Công bố công khai chính thức mối quan hệ pháp lý giữa ngân hàng thương mại và khách hàng; ii) Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là bằng chứng pháp lý cụ thể cho việc chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá từ khách hàng sang cho ngân hàng và là căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên có liên quan; iii) Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là cơ sở để các cơ quan công quyền căn cứ vào đó để thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chiết khấu. Ngoài ra, hình thức hợp đồng chiết khấu bằng văn bản còn tạo tiền đề, cơ sở và bằng chứng pháp lý cho các bên có liên quan tiến hành các hoạt động hạch toán, kế toán một cách minh bạch, công khai và đúng pháp luật.

2.3.2 Nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là tổng hợp những điều khoản ghi nhận sự thỏa thuận của ngân hàng thương mại và khách hàng. Các nội dung trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá xác định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng. Theo quy định tại Điều 12 Thông tư 04/2013/TT-NHNN thì hợp đồng chiết khấu bao gồm các nội dung chính sau: i) Tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động chiết khấu; ii) tên, địa chỉ của khách hàng; iii) số chứng minh thư nhân dân/hộ chiếu/mã số thuế của khách hàng; iv) các thông tin chính của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu; v) giá chiết khấu; vi) mục đích sử dụng số tiền chiết khấu; vii) đồng tiền chiết khấu; viii) thời hạn chiết khấu; ix) lãi suất chiết khấu và các chi phí liên quan; x) quyền và nghĩa vụ của các bên; xi) các trường hợp chấm dứt hợp đồng chiết khấu trước thời hạn; xii) xử lý vi phạm hợp đồng; xiii) các nội dung khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.

Việc quy định hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá bắt buộc phải có những nội dung chủ yếu nêu trên thể hiện tính cứng nhắc, chưa thật sự mềm dẻo, linh hoạt thể hiện sự tôn trọng quyền tự do hợp đồng của các bên khi tham gia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Hơn nữa, việc quy định cứng các nội dung tối thiểu phải có trong hợp đồng mà không có quy định về chế tài phạt khi hợp đồng không có một vài quy định bắt buộc sẽ dẫn đến sự tùy tiện khi xử lý hợp đồng của các cơ quan chức năng. Liệu hợp đồng chiết khấu có bị coi là vô hiệu khi tên, địa chỉ khách hàng không chính xác hay trường hợp hợp đồng không ghi nhận các khả năng vi phạm và phương thức xử lý?… Trong khi đó, để có thể xác định chính xác những vấn đề này trong trường hợp tranh chấp xảy ra, căn cứ pháp ý được xem xét, viện dẫn không phải Thông tư 04 mà là quy định của pháp luật dân sự. Vì vậy, khó có thể khẳng định về nội dung chính của hợp đồng chiết khấu tại Điều 12 Thông tư 04 là thừa hay thiếu. Để bảo đảm vừa có tính định hướng, tôn trọng tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng chiết khấu, quy định về nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chỉ nên có tính gợi ý cho các bên lựa chọn thỏa thuận phù hợp với thực tiễn đa dạng trong quá trình ký hợp đồng, chứ không phải là nội dung bắt buộc. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Dưới đây Khóa luận xin phân tích một số nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá:

2.3.2.1. Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại

Theo khoản 1 Điều 16 Thông tư 04/2013/TT-NHNN, ngân hàng thương mại có quyền:

  1. Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ các loại giấy tờ chứng minh công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác có đủ điều kiện thực hiện chiết khấu;
  2. Yêu cầu khách hàng cam kết bằng văn bản sử dụng tiền chiết khấu hợp pháp, chứng minh khả năng tài chính đảm bảo mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu;

Từ chối yêu cầu chiết khấu của khách hàng nếu thấy công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác không đủ điều kiện để chiết khấu hoặc việc sử dụng tiền chiết khấu không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc ngân hàng thương mại không có đủ nguồn vốn để chiết khấu;

  1. Chấm dứt việc chiết khấu, thu hồi tiền chiết khấu trước thời hạn chiết khấu nếu phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng chiết khấu;
  2. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền chiết khấu của khách hàng theo quy định của pháp luật; vi) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 2 Điều 16 Thông tư 04/2013/TT-NHNN, ngân hàng thương mại có nghĩa vụ:

  1. Thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu;
  2. Làm thủ tục và thực hiện chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng, chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá khác cho khách hàng theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng, pháp luật hiện hành có liên quan khi khách hàng thanh toán đầy đủ số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí khác có liên quan; iii) Thực hiện bảo quản, sử dụng công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật;
  3. iv) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

2.3.2.2. Quyền và nghĩa vụ của khách hàng Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Theo khoản 1 Điều 15 Thông tư 04/2013/TT-NHNN, khách hàng có các quyền sau:

i) Quyết định lựa chọn tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đề nghị được chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác; ii) Có quyền từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không đúng với thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu và quy định của pháp luật; iii) Nhận lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu;  iv) Được mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác trước hạn chiết khấu nếu được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chấp nhận; v) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 2 Điều 15 khách hàng có nghĩa vụ:

  1. Thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu;
  2. Cung cấp đầy đủ các loại giấy tờ chứng minh công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác có đủ điều kiện thực hiện chiết khấu theo quy định tại Thông tư này;

Cam kết bằng văn bản sử dụng tiền chiết khấu hợp pháp, chứng minh khả năng tài chính đảm bảo mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu; iv) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2.3.2.3. Phương thức chiết khấu

Các bên tham gia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chỉ được thỏa thuận, lựa chọn các phương thức chiết khấu theo quy định của pháp luật. Đây là một nội dung quan trọng trong hợp đồng nhưng lại không được liệt kê trong quy định về hợp đồng chiết khấu tại Thông tư 04/2014/TT-NHNN.

Từ khi Luật các tổ chức tín dụng 2010 ra đời, hoạt động chiết khấu đã có sự khác biệt so với quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325 và Quyết định 63. Các phương thức chiết khấu theo quy định pháp luật trước kia được phân biệt dựa trên yếu tố kỳ hạn. Cụ thể, có hai phương thức là chiết khấu toàn bộ thời hạn và chiết khấu có kỳ hạn (ngân hàng thương mại chỉ được bảo lưu quyền truy đòi khi đối tượng chiết khấu là công cụ chuyển nhượng). Trong khi đó, các phương thức chiết khấu theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư 04/2013/TT-NHNN là chiết khấu có kỳ hạn và chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư 04/2013/TT-NHNN đã có những thay đổi về phương thức chiết khấu theo hướng đảm bảo an toàn hơn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Xuất phát từ bản chất hoạt động chiết khấu là hoạt động cấp tín dụng, yêu cầu hoàn trả luôn đặt ra khi ngân hàng  thương mại cấp tín dụng cho khách hàng, vì vậy, khả năng hoàn trả của khách hàng cần được đảm bảo. Phương thức chiết khấu toàn bộ thời hạn của giấy tờ có giá là phương thức mua hẳn giấy tờ có giá theo giá chiết khấu và khách hàng chuyển giao ngay quyền sở hữu giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại. Khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán, ngân hàng thương mại xuất trình giấy tờ có giá để thanh toán với tổ chức phát hành. Như vậy, việc hoàn trả sẽ thuộc về bên thứ ba có nghĩa vụ theo giấy tờ có giá. Tuy nhiên, rủi ro vẫn có thể xảy ra cho ngân hàng thương mại khi bên thứ ba không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả. Để tránh rủi ro này, Thông tư 04 đã trao cho ngân hàng thương mại quyền truy đòi với khách hàng. Theo đó, khách hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đối với số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu trong trường hợp ngân hàng thương mại không nhận được đầy đủ số tiền từ người có trách nhiệm thanh toán.

Phương thức chiết khấu có kỳ hạn là phương thức chiết khấu mà khách hàng cam kết sẽ mua lại giấy tờ có giá sau khoảng thời gian được xác định trên hợp đồng chiết khấu. Với phương thức chiết khấu này, khoản tín dụng đã cấp sẽ được hoàn trả bởi chính khách hàng. Nhằm đảm bảo tính an toàn cho khoản cấp tín dụng, Thông tư 04 đã ghi nhận quyền của ngân hàng thương mại trong việc yêu cầu khách hàng cam kết bằng văn bản sử dụng tiền chiết khấu hợp pháp, chứng minh khả năng tài chính đảm bảo mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu. Bằng việc chứng minh năng lực tài chính của khách hàng, ngân hàng thương mại có thể gián tiếp đảm bảo được khả năng hoàn trả trong tương lai. Hơn nữa, ngân hàng thương mại còn được ghi nhận quyền chấm dứt việc chiết khấu, thu hồi tiền chiết khấu trước thời hạn chiết khấu nếu phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng chiết khấu. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng thương mại.

Tuy vậy, Thông tư 04/2013/TT-NHNN lại không quy định về trường hợp hết thời hạn chiết khấu mà khách hàng không thực hiện việc mua lại giấy tờ có giá. Theo điểm b khoản 1 Điều 8 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1325, trong trường hợp khách hàng không mua lại, ngân hàng thương mại sẽ là chủ sở hữu hợp pháp và được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ giấy tờ có giá đó. Theo khoản 2 Điều 8 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 63, trong trường hợp này, ngân hàng thương mại có quyền xuất trình công cụ chuyển nhượng để được thanh toán. Có thể thấy, hiện nay pháp luật đang có khoảng trống khi xảy ra tình huống khách hàng không thực hiện việc mua lại khi hết thời hạn chiết khấu. Vì vậy, các ngân hàng thương mại cần thiết phải quy định trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá những nội dung để giải quyết khi trường hợp này xảy ra, thậm chí quy định về việc phạt hợp đồng đối với khách hàng khi vi phạm. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

2.3.2.4. Các nội dung khác trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Tên, địa chỉ của ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động chiết khấu; tên, địa chỉ của khách hàng: Trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải thể hiện đầy đủ các thông tin của các chủ thể như: Tên, địa chỉ của ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu); tên, địa chỉ của khách hàng (bên đề nghị chiết khấu). Đặc biệt các thông tin của người đại diện của các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải được ghi nhận đầy đủ các thông tin để xác định danh tính. Trong trường hợp người đại diện tham gia ký kết hợp đồng theo ủy quyền thì phải nêu rõ văn bản ủy quyền hoặc các văn bản làm căn cứ chứng minh đủ tư cách đại diện ủy quyền.

Số chứng minh thư nhân dân/hộ chiếu/mã số thuế của khách hàng: Tương tự như quy định về tên, địa chỉ của các bên tham gia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, việc ghi số chứng minh thư nhân dân/hộ chiếu/mã số thuế sẽ giúp định danh các bên. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ trong điều khoản này chưa thật sự chính xác bởi Nghị định 05/1999/NĐCP ngày 03/02/1999 về chứng minh nhân dân sử dụng thuật ngữ “chứng minh nhân dân” chứ không phải “chứng minh thư nhân dân”. Ngoài ra, do Thông tư 04/2013/TT-NHNN ban hành trước khi Luật căn cước công dân được ban hành (Thông tư 04 ban hành từ 01/03/2013, Luật căn cước công dân ban hành ngày 20/11/2014) nên Thông tư 04 chưa ghi nhận về số thẻ căn cước công dân.

Các thông tin chính của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu: Hợp đồng cần ghi các thông tin chính của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá (ví dụ số, giá trị, người phát hành…) để có thể xác định chính xác đối tượng giao dịch chiết khấu. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Giá chiết khấu: Giá chiết khấu là số tiền mà ngân hàng thương mại chi trả cho khách hàng khi thực hiện chiết khấu. Giá chiết khấu do ngân hàng thương mại và khách hàng thỏa thuận trên cơ sở giá trị thanh toán khi đến hạn thanh toán, mức độ rủi ro của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác, lãi suất chiết khấu, thời hạn còn lại của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá và các yếu tố khác. Trên thực tế, giá chiết khấu sẽ thấp hơn mệnh giá ghi trên giấy tờ có giá.

Mục đích sử dụng số tiền chiết khấu: Khách hàng phải sử dụng tiền chiết khấu để thanh toán các giao dịch mà pháp luật không cấm. Ngân hàng cũng phải thẩm định, đánh giá mục đích sử dụng tiền chiết khấu của khách hàng.

Đồng tiền chiết khấu; thời hạn chiết khấu: Đối với công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác ghi trả bằng đồng Việt Nam, thì đồng tiền chiết khấu là đồng Việt Nam.Đối với công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác ghi trả bằng ngoại tệ, ngân hàng thương mại và khách hàng thực hiện như sau:i) Chiết khấu bằng ngoại tệ ghi trả trên công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đối với khách hàng được phép thu và sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối hoặc khách hàng sử dụng tiền chiết khấu để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền giao dịch phải bằng ngoại tệ; ii) Chiết khấu bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không được phép thu và sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối hoặc khách hàng có nhu cầu chiết khấu bằng đồng Việt Nam.

Thời hạn chiết khấu: Thời hạn chiết khấu là khoảng thời gian tính từ ngày tiếp theo của ngày ngân hàng thương mại nhận chiết khấu đến ngày khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ cam kết mua lại hoặc đến ngày đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác, bao gồm cả ngày nghỉ và ngày lễ. Thời hạn chiết khấu do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá thời hạn thanh toán còn lại của giấy tờ có giá. Đối với giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng khác phát hành, thời hạn chiết khấu tối đa là dưới 01 năm.

Lãi suất chiết khấu và các chi phí liên quan: Lãi suất chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu do ngân hàng thương mại và khách hàng thỏa thuận, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

  1. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng chiết khấu trước thời hạn: Các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn sẽ do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.
  2. Xử lý vi phạm hợp đồng: Trên thực tế, điều khoản xử lý vi phạm hợp đồng thường quy định về quyền của ngân hàng khi khách hàng vi phạm bởi hợp đồng chiết khấu thường theo mẫu do ngân hàng đưa ra và rủi ro thường xảy ra do hành vi vi phạm của khách hàng (cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định như sử dụng tiền chiết khấu sai mục đích…).
  3. Các nội dung khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật: Thông thường, hợp đồng chiết khấu sẽ có thêm một số điều khoản như quy định về biện pháp bảo đảm, luật điều chỉnh và giải quyết tranh chấp, hiệu lực hợp đồng…

Các bên tham gia giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng cần chú ý về những nội dung không được liệt kê trong quy định về nội dung chính của hợp đồng chiết khấu nhưng pháp luật yêu cầu các bên phải thực hiện. Ví dụ, ngân hàng thương mại và khách hàng phải thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu việc thanh toán tiền chiết khấu trước thời hạn, thu phí hoặc không thu phí khi khách hàng thanh toán tiền chiết khấu trước thời hạn. Hoặc hợp đồng cần ghi nhận cam kết của khách hàng về sử dụng tiền chiết khấu để thanh toán các giao dịch pháp luật không cấm; cam kết mua lại các giấy tờ có giá ngay khi hết thời hạn chiết khấu trong trường hợp thực hiện chiết khấu theo phương thức mua có kỳ hạn giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán.

2.4. Giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là việc ngân hàng thương mại và khách hàng bày tỏ ý định với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định nhằm xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

2.4.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản quy định tại Bộ luật Dân sự, nên các nguyên tắc giao kết hợp đồng quy định tại Điều 390 Bộ luật Dân sự được áp dụng đối với hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Theo đó, khi giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, các bên phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

Tự do giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội: Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Bằng ý chí tự do của mình, ngân hàng thương mại và khách hàng có quyền giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật. Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các bên tham gia hợp đồng cũng phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của cá nhân, tổ chức khác cũng như lợi ích của toàn xã hội.

Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá: Chỉ khi nào các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đồng thì ý chí tự nguyện của mỗi bên mới thật sự được bảo đảm. Vì vậy, những hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của các bên sẽ không được pháp luật thừa nhận. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Ngoài những nguyên tắc chung nêu trong pháp luật dân sự, các bên còn phải đảm bảo nguyên tắc chiết khấu giấy tờ có giá tại văn bản pháp luật chuyên ngành ngân hàng. Cụ thể:

Thực hiện theo thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng, phù hợp với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Các công cụ chuyển nhượng, Thông tư 04/2013/TT- NHNN, các quy định của pháp luật liên quan và tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành. Nguyên tắc này nhằm cụ thể hơn quy định tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật quy định tại pháp luật dân sự.

Khách hàng phải sử dụng tiền chiết khấu để thanh toán các giao dịch mà pháp luật không cấm, đảm bảo khả năng tài chính để mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác hoặc thanh toán đầy đủ số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác cho ngân hàng thương mại theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng chiết khấu. Nguyên tắc này cũng phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 về việc tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp trước khi quyết định cấp tín dụng (khoản 1 Điều 94). Điều này cũng thể hiện hoạt động chiết khấu là một nghiệp vụ cấp tín dụng và nguyên tắc có hoàn trả của nghiệp vụ này.

Ngân hàng thương mại phải thực hiện xét duyệt chiết khấu theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác.

  1. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu việc thanh toán tiền chiết khấu trước hạn, thu phí hoặc không thu phí khi khách hàng thanh toán tiền chiết khấu trước hạn.
  2. Khi ngân hàng thực hiện chiết khấu theo phương thức mua có kỳ hạn công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán, thì khách hàng phải cam kết sẽ mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác ngay khi hết thời hạn chiết khấu.
  3. Khi thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác có mệnh giá ghi trả bằng ngoại tệ, ngân hàng và khách hàng phải đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối và pháp luật có liên quan.

Khi thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài, ngân hàng thương mại và khách hàng thực hiện theo các quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng về áp dụng điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế trong quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài, quy định của pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, quy định về quản lý ngoại hối và Thông tư này. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Ngân hàng thương mại xem xét, quyết định việc chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đảm bảo an toàn, thu hồi đầy đủ, đúng hạn tiền chiết khấu, tiền lãi và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu.

  • Trình tự giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Trong quá trình giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, các vấn đề pháp lý cơ bản cần được làm rõ bao gồm: (i) Đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá; (ii) Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá; và (iii) Thời điểm giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

  • Đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là việc một trong các bên tham gia vào giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá thể hiện rõ ý định muốn giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này với bên còn lại.

Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng ban hành kèm theo Quyết định 63/2006/QĐ-NHNN và Thông tư 04/2013/TT-NHNN chỉ quy định về việc thẩm định của ngân hàng thương mại khi nhận được đề nghị của khách hàng về việc chiết khấu giấy tờ có giá mà không quy định cụ thể về hồ sơ, giấy tờ các bên phải cung cấp khi có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá. Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá ban hành kèm theo Quyết định 1325/2004/QĐ-NHNN74 quy định rõ hơn về nội dung này, cụ thể, khi có nhu cầu chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, khách hàng gửi (i) giấy đề nghị chiết khấu, tái chiết khấu và (ii) giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng. Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, hợp lệ của giấy tờ có giá chiết khấu, tái chiết khấu tại tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, Quyết định 1325/2004/QĐ-NHNN đã hết hiệu lực, hiện nay, các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chưa có quy định chi tiết về việc đề nghị giao kết hợp đồng nên về nguyên tắc, đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện theo các quy định hiện hành tại Bộ luật dân sự.

Trên thực tế, khi khách hàng muốn chiết khấu giấy tờ có giá, khách hàng cần gửi một bộ hồ sơ đề nghị chiết khấu đến ngân hàng. Mỗi ngân hàng sẽ có quy định riêng về các tài liệu của hồ sơ. Ví dụ Ngân hàng Bưu điện Liên Việt yêu cầu hồ sơ về giấy tờ có giá gồm: Bản chính giấy tờ có giá và Giấy tờ chứng minh nguồn gốc, quyền sử dụng hợp pháp giấy tờ có giá (nếu có). Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam yêu cầu hồ sơ đề nghị chiết khấu phải có: Giấy đề nghị chiết khấu và bản chính hối phiếu. Có thể thấy những giấy tờ nêu trên chỉ là hồ sơ ban đầu khi khách hàng đưa ra đề nghị chiết khấu giấy tờ có giá. Bởi, ngân hàng còn phải thực hiện việc thẩm định, đánh giá mục đích sử dụng tiền chiết khấu, khả năng tài chính của khách hàng, khả năng thanh toán của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác. Vì vậy, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng cung cấp thêm các giấy tờ, tài liệu để phục vụ cho công tác thẩm định cũng như đảm bảo giấy tờ có giá đáp ứng đủ các điều kiện chiết khấu luật định.

  • Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ hay một phần nội dung của đề nghị. Cũng giống như đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là hành vi pháp lý có thể làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Pháp luật hiện hành có quy định về trình tự chấp thuận chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng của ngân hàng thương mại nhưng không quy định cụ thể về thời gian thực hiện các bước.  Cụ thể, khi nhận được đề nghị của khách hàng về việc chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác, ngân hàng thương mại sẽ thẩm định đánh giá mục đích sử dụng tiền chiết khấu, khả năng tài chính của khách hàng và khả năng thanh toán của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác để quyết định việc nhận chiết khấu. Ngân hàng thương mại có quyền yêu cầu khách hàng chứng minh công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác có đủ điều kiện chiết khấu theo quy định pháp luật. Khi ngân hàng thương mại chấp thuận chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác cho khách hàng, khách hàng chuyển giao ngay và thực hiện các thủ tục về chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng, chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá khác cho ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật. Có thể thấy, pháp luật hiện hành cho phép các bên có thể linh hoạt trong việc thực hiện đề nghị giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Trình tự, thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá sẽ được quy định cụ thể trong quy định nội bộ về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại. Do vậy, từ những quy định cơ bản của pháp luật, các ngân hàng có thể xây dựng quy định riêng cho mình để phù hợp với thực tiễn kinh doanh thương mại trong từng thời kỳ.

2.4.1.1. Thời điểm giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, vì thời điểm giao kết hợp đồng giúp xác định sự gặp gỡ ý chí, thống nhất ý chí của ngân hàng thương mại và khách hàng, cơ sở để công nhận hiệu lực của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Về nguyên tắc theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có qui định khác, thì hợp đồng mặc nhiên có hiệu lực vào thời điểm giao kết. Thời điểm giao kết thường là thời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Thời điểm giao kết hợp đồng được quy định khác nhau phụ thuộc vào cách thức giao kết và hình thức của hợp đồng. Do hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được thể hiện bằng hình thức văn bản, nên theo Điều 404 Bộ luật Dân sự 2005, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.

2.5. Thực hiện, sửa đổi, chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

2.5.1. Thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Sau khi các bên giao kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phù hợp với pháp luật, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Ngân hàng thương mại và khách hàng căn cứ vào nội dung hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, lần lượt thực hiện các hành vi mang tính nghĩa vụ đúng với tính chất đối tượng, thời hạn, phương thức mà nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đã xác định. Vì vậy, thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là việc ngân hàng thương mại và khách hàng thực hiện các hành vi mà mỗi một bên tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền tương ứng của bên kia.

2.5.1.1. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Khi thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, ngân hàng thương mại và khách hàng phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật về thực hiện hợp đồng quy định tại Điều 412 BLDS. Cụ thể, ngân hàng thương mại và khách hàng phải tuân theo các nguyên sau:

Thực hiện đúng nội dung thỏa thuận tại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá: Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá sau khi được giao kết có hiệu lực phải được ngân hàng thương mại và khách hàng thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận. Khách hàng có nghĩa vụ chuyển giao, thực hiện các thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá cho ngân hàng và nhận tiền. Còn ngân hàng thương mại có nghĩa vụ trả tiền cho khách hàng theo thoả thuận tại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau: Khi ký kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, khách hàng và ngân hàng thương mại đã tự nguyện ràng buộc mình vào các nghĩa vụ được quy định tại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Các nghĩa vụ tại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá càng phức tạp thì thoả thuận của các bên càng phải chi tiết nhằm dự liệu và điều chỉnh được các tình huống có thể xảy ra trong quá trình thực hiện. Song dù có thoả thuận chi tiết đến đâu, vào thời điểm ký kết, ngân hàng thương mại và khách hàng cũng không thể lường trước được tất cả những tình huống có thể xảy ra ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng sau này. Do vậy, để việc thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá diễn ra phù hợp với lợi ích của các bên tham gia hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, các bên cần có nghĩa vụ thông báo cho nhau những thông tin liên quan và hợp tác chặt chẽ, trao đổi thường xuyên để tìm biện pháp thoả đáng giải quyết những vấn đề mới xuất hiện. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác: Các bên không những có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các thoả thuận trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, mà khi thực hiện các nghĩa vụ đó không được xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thứ ba. Khi ký hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, khách hàng có nghĩa vụ bảo đảm giấy tờ có giá có đủ điều kiện thực hiện chiết khấu theo quy định pháp luật.

2.5.1.2. Nội dung thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Khi thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, các bên phải thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản của hợp đồng. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là một dạng hợp đồng song vụ, nên mỗi bên đều phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn. Các bên không được lấy lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình mà hoãn việc thực hiện nghĩa vụ (trừ trường hợp việc không thực hiện nghĩa vụ của bên kia làm cho bên này không thể thực hiện được nghĩa vụ). Nếu trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá không xác định bên nào phải thực hiện nghĩa vụ trước thì cùng một lúc, các ngân hàng thương mại và khách hàng phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau.

Khi ngân hàng thương mại chấp thuận chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác cho khách hàng, khách hàng chuyển giao ngay và thực hiện các thủ tục về chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng, chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá khác cho ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá là thời điểm chuyển giao và hoàn thành thủ tục chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng hoặc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá khác.

  • Đối với công cụ chuyển nhượng:

Có 2 hình thức chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng là ký chuyển nhượng hoặc chuyển giao.

Chuyển nhượng bằng chuyển giao là việc người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng cho người nhận chuyển nhượng bằng cách chuyển giao công cụ chuyển nhượng cho người nhận chuyển nhượng. Việc chuyển nhượng bằng chuyển giao chỉ áp dụng đối với một số loại công cụ chuyển nhượng sau đây: i) được ký phát trả cho người cầm giữ; ii) chỉ có một chuyển nhượng bằng kỳ chuyển nhượng để trống; iii) có chuyển nhượng cuối cùng là ký chuyển nhượng để trống.

Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng cho người nhận chuyển nhượng bằng cách ký vào mặt sau công cụ chuyển nhượng và chuyển giao công cụ chuyển nhượng cho người nhận chuyển nhượng. Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng được áp dụng cho tất cả công cụ chuyển nhượng, trừ các công cụ chuyển nhượng có ghi cụm từ “không được chuyển nhượng”, “cấm chuyển nhượng”, “không trả tiền theo lệnh” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương đương. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

  • Đối với giấy tờ có giá khác:

Thủ tục chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh doanh của mình và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sở hữu giấy tờ có giá.

Đối với trường hợp chiết khấu theo phương thức mua có kỳ hạn, khi khách hàng hoàn thành nghĩa vụ cam kết mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác, ngân hàng thương mại chuyển giao ngay và thực hiện các thủ tục chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng, chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá khác cho khách hàng theo quy định của pháp luật. Cùng với quy định về khái niệm “chiết khấu”, “hợp đồng chiết khấu” (như đã phân tích tại Chương I Khóa luận), Thông tư 04 đã tạo cơ sở pháp lý cho các bên trong việc thực hiện  quyền đối với giấy tờ có giá khác và công cụ chuyển nhượng. Đồng thời với việc chuyển giao trong quan hệ chiết khấu, bên tiếp nhận giấy tờ có giá sẽ được nhận quyền sở hữu đối với tài sản, kể cả trong trường hợp có cam kết mua lại. Cách quy định như vậy giúp giải quyết một cách dứt điểm những vướng mắc trong quan hệ sở hữu đồng thời tôn trọng cam kết, thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự được thực hiện dưới dạng hợp đồng.

2.5.2. Sửa đổi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Sau khi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được giao kết và có hiệu lực, để việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của mỗi bên, các bên vẫn có thể thoả thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Sửa đổi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là việc các bên bằng ý chí tự nguyện của mình thoả thuận với nhau để làm thay đổi, bổ sung, hiệu chỉnh một số điều khoản trong nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đã được giao kết. Sau khi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đã được sửa đổi, các bên thực hiện theo những phần không bị sửa đổi cùng với những nội dung mới được sửa đổi và cùng nhau giải quyết những hậu quả khác của việc sửa đổi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Về nguyên tắc, hình thức ghi nhận việc sửa đổi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải phù hợp với hình thức của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đã giao kết. Đối với những hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng kí hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng phải tuân theo hình thức đó. Các quy định của pháp luật hiện hành quy định hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải được lập thành văn bản, nên việc sửa đổi hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá cũng phải được lập thành văn bản. Ngoài ra, mọi trường hợp sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đều phải được quyết bởi người có thẩm quyền của khách hàng và ngân hàng thương mại.

2.5.3. Chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại BLDS, nên về nguyên tắc, việc chấm dứt hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thực hiện theo quy định tại Điều 424 BLDS. Theo đó, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có thể bị chấm dứt, hủy bỏ trong các trường hợp sau đây:

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được chấm dứt khi đã được hoàn thành: Trường hợp này xảy ra khi ngân hàng thương mại và khách hàng đã thực hiện toàn bộ nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Mỗi bên đều nhận thấy mục đích, nội dung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đã được thực hiện thỏa đáng, đáp ứng được quyền lợi của mình, thì hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được coi là hoàn thành. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được chấm dứt theo thoả thuận của các bên: Các bên có thể thoả thuận về việc chấm dứt hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Ví dụ trường hợp một trong các bên không có khả năng để thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá… iii) Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng: Theo quy định của pháp luật hiện hành, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có thể bị đơn phương chấm dứt nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 426 Bộ luật Dân sự 2005). Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung thêm quy định khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên kia có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại. Quy định này đặt ra để bảo đảm quyền lợi cho các bên trong trường hợp pháp luật không có quy định cụ thể và các bên cũng chưa lường trước được khi dự thảo hợp đồng. Hiện nay, Thông tư 04/2013/TT-NHNN mới có quy định về quyền chấm dứt việc chiết khấu, thu hồi tiền chiết khấu trước thời hạn chiết khấu của ngân hàng thương mại trong trường hợp phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng chiết khấu. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của ngân hàng thương mại (bên nhận chiết khấu) do đây là bên chịu nhiều rủi ro hơn trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá.

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá chấm dứt khi bị huỷ bỏ: Các quy định pháp luật hiện hành cho phép các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được thoả thuận về việc một bên có quyền huỷ hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá nếu bên kia vi phạm nghĩa vụ quy định tại hợp đồng. Khi một bên huỷ hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thì hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên phải hoàn trả cho nhau những tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng vật thì phải hoàn trả bằng tiền. Tuy nhiên, quy định này không phù hợp, vô tình dẫn đến trường hợp hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá dễ dàng bị một trong các bên tuyên bố huỷ bỏ chỉ vì bên kia vi phạm bất kỳ một điều khoản nào đó của hợp đồng. Điều này gây nên sự bất ổn định cho các giao dịch và tốn kém khi mà một bên có thể sử dụng sự vi phạm không đáng kể của phía bên kia để chấm dứt hợp đồng. Do đó, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định các trường hợp một bên có quyền hủy hợp đồng như sau: (i) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; (ii) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; (iii) Trường hợp khác do luật quy định. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định thêm về việc hủy hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ (Điều 424), không có khả năng thực hiện (Điều 425), trong trường hợp tài sản bị mất/bị hư hỏng (Điều 426).

Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá không thể thực hiện được do giấy tờ có giá (đối tượng hợp đồng) không còn: Trong trường hợp giấy tờ có giá của khách hàng không còn thì hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá đó đương nhiên được coi là chấm dứt. Các bên có thể thoả thuận thay thế giấy tờ có giá khác hoặc bồi thường thiệt hại. Khóa luận: Thực trạng PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Kiến nghị PL hợp đồng chiết khấu giấy tờ ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464