Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài

Kể từ khi các quốc gia trên thế giới tiến hành buôn bán và trao đổi với nhau, nền ngoại thương thế giới không ngừng phát triển. Đặc biệt là sau khi tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời, các quốc gia đều chú trọng đến nền ngoại thương của mình, coi đó là điều kiện tiên quyết để tăng tốc con tàu kinh tế của họ. Trong những năm qua, Việt Nam cũng đã quan hệ ngày càng nhiều với các đối tác nước ngoài. Hơn thế nữa, với định hướng ưu tiên sản xuất phục vụ xuất khẩu của Nhà nước, hoạt động xuất khẩu của đất nước diễn ra ngày một sôi động và đang là một hoạt động mang lại cho đất nước những nguồn lợi đáng kể.

Đối với Việt Nam, một nền kinh tế non trẻ đang trên đà phát triển thì hoạt động xuất nhập khẩu lại càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước là đề ra chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá nền kinh tế nước ta đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, đặc biệt là chủ trương đường lối chuyển dịch cơ cấu hướng về xuất khẩu. Do đó, trong chính sách phát triển kinh tế của mình, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động xuất nhập khẩu và coi xuất nhập khẩu là một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Ngành xuất khẩu thủy sản là mặt hàng chủ lực có lợi thế của Việt Nam, trong hơn thập kỷ qua đã thu được nhiều thành công rực rỡ. Từ mức 550,5 triệu USD xuất khẩu vào năm 1995 thì đến năm 2004 đã đạt 2,4 tỷ USD. Mỗi năm bình quân tăng trên 130 triệu USD, với tỷ lệ bình quân là 14,5% mỗi năm. Hiện nay thị trường xuất khẩu thủy sản (XKTS) đã được mở rộng trên 80 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hàng thủy sản Việt Nam đã có chỗ đứng khá vững chắc trên những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản… và chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của cả nước. Thủy sản đang thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Chính vì vậy nhà nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích sự tham gia của các Công ty trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản.

Nghành thủy sản nước ta đã bắt đầu tiếp cận các công nghệ hiện đại và tiên tiến, đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Nhờ sự phát triển của kinh tế, phát triển thủy sản ngày càng được xếp vào vị trí ưu tiên; các cơ sở đánh bắt, các nhà máy chế biến thủy sản cũng ngày được nâng cấp và hiện đại hóa trong kỹ thuật đánh bắt và chế biến, Nhìn chung quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã mang đến những thay đổi đáng kể cho các ngành kinh tế nói chung và cho ngành thủy sản nói riêng.

Một số doanh nghiệp đã chú trọng dầu tư sản xuất hàng hóa xuất khẩu hàng hóa xuất khẩu và đã đạt được mốt số thành công đáng kể, trong đó có Công ty Cổ phẩn xuất nhập khẩu thủy sản Quảng Ninh. Từ những làng chài nhỏ ven sông chỉ tập trung khai thác các loài gần bờ. Tuy nhiên sau khi được khuyến khích mở rộng và đầu tư dần dần tiếp xúc với hướng khai thác xa bờ, tập trung vào các loài có giá trị kinh tế cao nhưng vẫn duy trì sự ổn định cho môi trường nước.

Nhờ áp dụng các tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, hệ thống các tàu thuyền lớn phục vụ cho việc ra khơi cũng ngày càng được cải tiến. Thêm vào đó công tác cứu hộ khẩn cấp đang được triển khai. Công ty đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tốt,

Trước tình hình dịch bệnh căng thẳng vài năm trở lại đây, ngư dân là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Vì vậy nhờ có chính sách hỗ trợ kịp thời của chính phủ đã giúp ngư dân có thể yên tâm bám biển, đưa khai thác nhanh chóng đi vào khác hoạt động lại.

Nhờ áp dụng những đổi mới trong kỹ thuật các doanh nghiệp xuất khẩu đã tạo ra các sản phẩm chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh và tăng khả năng cạnh tranh của Công ty, nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế. Để tạo ra sản phẩm tốt đến người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, cần phải đáp ứng yêu cầu cao về mặt kỹ thuật và công nghệ. Bởi vì khi sản phẩm được hoàn thành và xuất bán, sản phẩm của họ sẽ đánh giá bởi các nhà tiêu dùng bởi nhiều chỉ tiêu như chất lượng, giá thành,…. Bên cạnh đó những thế mạnh đó, còn có những mặt hạn chế về sự sụt

giảm lợi nhuận cũng như doanh số của việc kinh doanh nhập khẩu đối với mặt hàng thủy sản. Do đó cần làm rõ các vấn đề liên quan đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh. Từ đó để đánh giá hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiện trong giai đoạn trước. Căn cứ vào việc phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và Công ty nói riêng để tìm ra những nguyên nhân của hiệu quả và những tồn tại trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, em xin đề xuất hướng đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình: “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Quảng Ninh” để nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh, Khoa Kinh tế – Luật “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Hà Nội” (2011), khóa luận đã hệ thống cơ sở lí luận chủ yếu của hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó nêu nên được thành công và hạn chế trong hiệu quả kinh doanh, đề xuất giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn trong hiệu quả kinh doanh.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thùy Trang, Khoa Kinh tế – Luật “Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát” (2019), khóa luận này nói về thực trạng kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát, trên cơ sở đó thấy được những mặt hàng tồn tại để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Văn Huy, Khoa Kinh tế – Luật “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nam” (2019), khóa luận này đã hệ thống cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan, đồng thời đi sâu vào phân tích các số liệu hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh, đồng thời kiến nghị nên Nhà nước.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Việt Hà, Khoa Kinh tế – Luật “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần quốc tế Việt Nam” (2020), khóa luận này cũng đã hệ thống thống được cơ sở lí luận và các số liệu, thấy được những kết quả đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục để nâng cao hiệu quả kinh doanh, từ đó đề xuất ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần quốc tế Việt Nam.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thu Thảo, Khoa Kinh tế – Luật “Nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu quế và hồi của Công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Hà Nội (NAFORIMEX)” (2020), bài khóa luận này đã hệ thống hóa được các lý thuyết về xuất khẩu và quá trình xuất khẩu sản phẩm quế, hồi. Đánh giá tổng quan thực trạng xuất khẩu mặt hàng quế, hồi trên thị trường quốc tế giai đoạn 2007 – 2011. Đưa ra được những thành công, tồn tại trong quá trình xuất khẩu, Từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu quế và hồi của Công ty Công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Quý Trọng, Khóa Kinh tế – Luật “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu mặt hàng tăm hương và hương của công ty TNHH Kim Nguyên” (2020), khóa luận này tập trung làm rõ được tính cấp thiết của việc nâng cao hoạt động xuất khẩu, thực trạng hoạt động xuất khẩu mặt hàng tăm và tăm hương của công ty tuy nhiên phần giải pháp còn chung chung, chưa cụ thể và theo sát với hoạt động của doanh nghiệp.

Lĩnh vực xuất khẩu thủy sản được đánh giá tiềm năng trong những năm gần đây. Em đã tìm hiểu và nhận thấy có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề nâng cao hiệu quả kinh các nghành hàng so với các đề tài trước đã nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có khóa luận nào trùng lặp về doanh nghiệp xuất nhập khẩu thủy sản như của em. Vì vậy, với nội dung nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Quảng Ninh” là nội dung hoàn toàn mới, mà chưa được đề cập tới bất kì khoá luận nào trước đó.

3. Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của Công ty CP XNK Thủy sản Quảng Ninh, từ đó phân tích thực trạng của Công ty để đưa ra các giải pháp hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

3.2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu:” Nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Quảng Ninh” hướng tới các mục tiêu sau:

Mục tiêu lý luận: Làm rõ một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Mục tiêu thực tiễn:

Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty CP XNK Thủy sản Quảng Ninh trong thời gian qua (từ năm 2017 đến năm 2020), rút ra những thành công và hạn chế trong hiệu quả kinh doanh của Công ty CP XNK Thủy sản Quảng Ninh.

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Quảng Ninh.

3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống các vấn đề lý luận về hiệu quả kinh doanh, các nhân tố ảnh hướng đến hoạt quả kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó phân tích thực trang hoạt kinh doanh của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Quảng Ninh trong thời gian qua (2017 – 2020), rút ra những hạn chế còn yếu kém và tìm nguyên nhân, từ đó đề xuất ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty.

4. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu:” Nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Quảng Ninh” có phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành nhiều yếu tố, trong phạm vi của bài luận văn này em chỉ đưa một số các yếu tố chính cấu thành nên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm: khả năng về tài chính, công nghệ, máy móc, năng suất…góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian tiếp theo.
  • Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Quảng Ninh.
  • Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình trang hiệu quả kinh doanh của nghành thủy sản, cá tôm mực đông lạnh trong khoảng thời gian 2017 – 2020, từ đó đề xuất ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh về mặt hàng này của doanh nghiệp trong thời gian từ nay đến năm 2025.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập được từ việc thu thập và tham khảo số liệu liên quan đến tiêu thụ sản phẩm trên thị trường qua các Website, các đề tài nghiên cứu trong nước và trên thế giới có nội dung liên quan, sách báo và tài liệu của trường Đại học thương mại. Dữ liệu thứ cấp sử dụng trong khóa luận còn được thu thập được từ quá trình thực tập tại công ty. Cụ thể:

Nguồn dữ liệu bên trong công ty: là các báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; các báo cáo nghiên cứu marketing trước đó. Các số liệu doanh thu, lợi nhuận, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong 4 năm 2017 đến năm 2020 từ các bộ phận kinh doanh, kế toán của công ty. Qua đó, tổng hợp thống kê được doanh thu, doanh số tiêu thụ mặt sản phẩm của Công ty trên thị trường. Kết quả của việc thu thập được thống kê hầu hết ở chương 2 của đề tài, đặc biệt ở các bảng số liệu được thống kê trong khóa luận.

Thông qua các phương tiện truyền thông như: internet, báo, tạp chí…để thu thập các thông tin cần thiết khác để viết phần tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

5.2. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu

a) Phương pháp thống kê

Phướng pháp thống kê được thực hiện ở mục tổng kết số liệu, trên cơ sở những số liệu đã được thống kê và các tài liệu đã được tổng hợp kết hợp với việc vận dụng các phương pháp phân tích thống kê như số tương đối, tuyệt đối, số bình quân nhằm phân tích mức độ sản xuất, tiêu thụ cũng như năng lực hiệu quả kinh doanh của Công ty. Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được phân tích để xác định mức độ, xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích qua các kỳ tại công ty dưới dạng các bảng. Từ các bảng, em rút ra được các đánh giá tổng quát về hiệu quả kinh doanh của hàng thủy sản phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở nội dung chương 2 và 3 của khóa luận. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

b) Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh: sau khi thu thập số liệu qua các kì dưới dạng bảng và sắp xếp phù hợp em đem tiến hành so sánh đối chiếu để thấy được sự chênh lệch giữa các năm, sự tăng lên hay giảm đi của các chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận, vốn trước thuế, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn cố định, hiệu quả sử dụng vốn cố định,…sau đó rút ra những nhận xét về những nhân tố làm hạn chế hoặc thúc đẩy hoạt động của công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng. Từ đó đề xuất ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phương phá này được sử dụng chủ yếu ở nội dung chương 2 và 3 của khóa luận.

c) Phương pháp phân tích, tổng hợp

Tổng hợp các dữ liệu đã có từ phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, từ đó thấy được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả sử dụng kinh doanh của Công ty CP XNK Thủy sản Quảng Ninh.

Khóa luận sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu những kiến thức lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, dựa trên nguồn thông tin thông qua các nghiên cứu được xuất bản trong các tạp chí khoa học trong và ngoài nước, các bài báo, tài liệu hội thảo, hội nghị, các tài liệu nghe nhìn, mạng internet… làm cơ sở cho việc phân tích các số liệu doanh thu, lợi nhuận, thị phần của công ty. Từ đó rút ra được những thành công, tồn tại và nguyên nhân của hoạt động sản xuất kinh doanh, đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Trong quá trình phân tích lý luận và thực tiễn, bài khóa luận còn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích tổng hợp, phương pháp logic và phương pháp triển khai, quy nạp.

6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, lời mở đầu, tài liệu tham khảo, các phụ lục, thì gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Một số lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Quảng Ninh.
  • Chương 3: Các đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Quảng Ninh.

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp

Thuật ngữ doanh nghiệp là một phạm trù rất rộng. Tất cả các đơn vị kinh doanh cho dù chỉ là một người hay cả một tổ chức đa quốc gia khi có hoạt động bán hàng hóa hay dịch vụ đều được coi là doanh nghiệp. Như vậy từ định nghĩa trên doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau và được sử dụng rộng rãi như: hộ kinh doanh, hộ sản xuất, cửa hàng, nhà máy xí nghiệp, hãng tập đoàn … Một doanh nghiệp có thể thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường. Điều đó tùy thuộc vào chức năng của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường rất nhiều doanh nghiệp thực hiện trọn vẹn cả quá trình đầu tư nhằm kiếm được lợi nhuận cao hơn chẳng hạn như các doanh nghiệp thương mại cũng sản xuất hàng hóa sau đó bán ra thị trường.

Theo mục 7 điều 1 chương 1 luật doanh nghiệp 2014: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.

1.1.2. Khái niệm kinh doanh

Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người. Hoạt động này thường được thông qua các thể chế như tập đoàn, công ty. Nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất, buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình.

Kinh doanh được coi là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương pháp mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Nó bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận chuyển, thương mại, tiếp thị…. Trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời tốt nhất.

Pháp luật ở nhiều nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ “commerce” (kinh doanh/thương mại) theo nghĩa rộng dùng để chỉ một cách tổng hợp các hoạt động sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ. Đồng thời có sự phân biệt với thuật ngữ “trade” để chỉ riêng hoạt động mua bán hàng hoá thuần tuý.

  • Việt Nam, thuật ngữ kinh doanh được sử dụng trong Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân 1990. Các hoạt động kinh doanh được nhận biết thông qua các dấu hiệu:
  • Hoạt động phải mang tính nghề nghiệp, tức là chúng được tiến hành một cách chuyên nghiệp, liên tục, thường xuyên. Hoạt động này mang lại nhiều nguồn thu nhập chính cho người thực hiện chúng;
  • Hoạt động cần phải được thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh mình để tiến hành các hoạt động kinh doanh. Họ tự quyết định mọi vấn đề liên quan và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình;
  • Hoạt động được các chủ thể tiến hành nhằm mục đích kiếm lời.

Theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam thì để thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thể cần phải tiến hành đăng kí kinh doanh tại quan đăng kí kinh doanh.

Hoạt động kinh doanh theo luật định, là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Hoạt động kinh doanh có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn: Theo tính chất của hoạt động, chúng ta có hoạt động sản xuất (sản phẩm hoặc dịch vụ) và hoạt động thương mại. Theo bản chất kinh tế, chúng ta có các doanh nghiệp công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, tài chính…

1.1.3. Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong đó doanh nghiệp nhằm thu hút được kết quả cao nhất với một chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.

Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh và sự phát triển của ngành quản trị kinh doanh. Sau đây chúng ta xem xét một vài quan điểm về khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:

Quan điểm thứ nhất là quan điểm của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith theo ông: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Ở đây, hiệu quả kinh doanh được ông đồng nhất chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết quả xác định sản xuất kinh doanh có thể tăng do chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất. Nếu cùng một kết quả nhưng có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng tôi có cùng một mức hiệu quả.

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan điểm này biểu hiện được quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí tiêu hao. Nhưng xét trên quan điểm triết học của Mác – Lênin thì sự vật và hiện tượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng rẽ độc lập, hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có quan hệ chặt chẽ mật thiết với các yếu tố sẵn có, chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả kinh doanh chỉ được xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Quan điểm thứ 3 cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. từ điểm của quan điểm này phản ánh được mối quan hệ bản chất hiệu quả kinh tế nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên, quan điểm này chưa biểu hiện hết được sự quan trọng về lượng và chất giữa kết quả và chi phí và chưa phản ánh hết được mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này để phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, chúng ta cần phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả kinh doanh đạt được hoặc chi phí kinh doanh bỏ ra. Nhưng theo quan điểm của Chủ nghĩa mác-lênin thì các yếu tố này không ở trong trạng thái tĩnh mà luôn vận động biến đổi.

Quan điểm thứ tư cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là mức độ thỏa mãn yêu cầu quy luật cơ bản của Chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp” quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong khó khăn, ở đây là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định giường đó đời sống nhân dân nói chung và mức sống nói riêng rất đa dạng và phong phú xác định được mức độ thỏa mãn nhu cầu hai bức đội nâng cao đời sống là điều khó khăn

Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân: “Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm bất kì các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép giải pháp thực hiện có tính cân nhắc tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong điều kiện cụ thể” để theo quan điểm này hiệu quả ở đây hiểu theo một số nội dung sau:

  • Hiệu quả là kết quả hoạt động thực tiễn của con người.
  • Biểu hiện của kết quả hoạt động này là các phương án quyết định.
  • Kết quả tốt nhất trong điều kiện cụ thể.

Để để làm sáng tỏ bản chất và đi đến một khái niệm hiệu quả kinh doanh hoàn chỉnh chúng ta phải xuất phát từ luận điểm của triết học mác-lênin và những luận điểm của lý thuyết hệ thống hiệu quả kinh doanh chủ yếu được thẩm định bởi thị trường là tiêu chuẩn xác định phương hướng hoạt động của doanh nghiệp như vậy hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ của nguồn lực bao gồm nhân lực tài lực và vật Lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh để có được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất.

Từ khái niệm ở trên ta có thể đưa ra được công thức hiệu quả:

Kết quả đầu ra trong kinh doanh được đo bằng các chỉ tiêu như giá trị tổng sản lượng doanh thu thuần lợi nhuận thuần. Còn nguồn lực đầu vào bao gồm lao động phải đối tượng lao động vốn cách đánh giá này phản ánh việc sử dụng một đơn vị nguồn lực tạo ra được bao nhiêu kết quả đầu ra. Khi H Càng lớn chứng tỏ quá trình kinh doanh càng đạt hiệu quả

1.2. Nội dung hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

1.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh. 

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một việc làm quan trọng của các nhà quản trị trong bất cứ doanh nghiệp nào. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh là công cụ quản trị kinh doanh. Để tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để toạ ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận. Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có. Để đạt được mục tiêu này quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn đề bàn cãi nếu nguồn tài nguyên không hạn chế. Người ta có thể sản xuất vô tận hàng hoá, sử dụng kết quả thiết bị máy móc, nguyên vật liệu một cách khôn ngoan cũng chẳng sao nếu nguồn tài nguyên là vô tận. Nhưng thực tế, mọi nguồn tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng sản, hải sản… là một phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng chúng. Trong khi đó một mặt, dân cư ở từng vùng, từng quốc giâ và toàn thế giới ngày càng tăng và tốc độ tăng dân số cao làm cho sự tăng dân số rất lớn và mặt khác, nhu cầu tiêu dùng vật phẩm của con người lại là phạm trù không giới hạn: không có giới hạn ở sự phát triển các loại cầu và ở từng loại cầu thì cũng không có giới hạn – càng nhiều, càng phong phú, càng có chất lượng cao càng tốt. Do vậy, của cải đã khan hiếm lại càng khan hiếm và ngày càng khan hiếm theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó. Khan hiếm đòi hỏi và bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm tăng lên dẫn đến vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm túc, gay gắt. Tức là việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề cấp thiết. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Do trình độ khoa học – kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển do đó người ta có nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo ra sản phẩm. kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép cùng với những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh sao cho có lợi nhuận tối đa nhất. Lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu, sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất thu được nhiều lợi ích nhất. Giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng kết thúc và nhường chỗ cho sự phát triển theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị…, và nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế.

Như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.

Tuy nhiên, sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế kinh tế khác nhau là không giống nhau. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, việc lựa chọn kinh tế thường không đặt ra cho cấp xí nghiệp. Mọi quyết định kinh tế: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? đều được giải quyết từ một trung tâm duy nhất. Xí nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo sự chỉ đạo từ trung tấm đó và vì thế mục tiêu cao nhất của xí nghiệp là hoàn thành kế hoạch nhà nước giao. Do vậy các doanh nghiệp ít quan tâm đến hiệu quả kinh doanh của mình. Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Trong cơ chế kinh tế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai dự trên quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác. Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hoạch toán lỗ lãi, lãi nhiều hưởng nhiều lãi ít hưởng ít không có lãi sẽ đi đến phá sản. Lúc này, mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh.

Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Trong cuộc cạnh tranh gay gắt đó nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng cũng có không ít cá doanh nghiệp đã bị thua lỗ, giải thể, phá sản. Để có thể trụ lại trong cơ chế thị trường này, các doanh nghiệp luôn nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm chi phí kinh doanh, nâng cao uy tín, nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao càng tốt. Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.

1.2.2. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Đối với nền kinh tế quốc dân: hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế quan trọng, phản ánh yêu cầu quy luật tiết kiệm thời gian, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trình độ sản xuất và mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng cao, quan hệ sản xuất càng hoàn thiện càng nâng cao hiệu quả. Tóm lại hiệu quả kinh doanh đem lại cho thuốc ra sự phân bổ, sử dụng các nguồn lực ngày càng hợp lý và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp.

Đối với bản thân doanh nghiệp: hiệu quả kinh doanh xét về mặt tuyệt đối chính là lợi nhuận thu được. Đó là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên. Đối với mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn giúp doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, đầu tư, mở rộng, cải tạo, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh.

Đối với người lao động: hiệu quả kinh doanh là động lực thúc đẩy kích thích người lao động hăng hái sản xuất, hình thành ra thói quen quan tâm đến kết quả lao động của mình. Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống lao động thúc đẩy tăng năng suất lao động và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.

1.2.3. Bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai vật có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu cần phải khai thác, tận dụng triệt để các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng đến các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là là phải đạt kết quả tối đa hóa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là kết quả tối đa với chi phí thấp nhất.

Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh là rất phức tạp và khó tính toán. Việc xác định một cách chính xác kết quả và hao phí và được gắn với một thời kỳ cụ thể là rất khó khăn. Bởi vì nó vừa là thước đo trình độ quản lý của các cán bộ lãnh đạo, vừa là chỉ tiêu đánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào, vừa phải đồng thời thỏa mãn lợi ích của doanh nghiệp. Vì vậy cần phải hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đó phân tích và tìm ra phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phát triển doanh nghiệp theo các mục tiêu đã định trước.

1.2.4. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại, phát triển vô cùng phức tạp và có nhiều biểu hiện khác nhau. Để có thể đánh giá chính xác, toàn diện và khách quan quá trình phát triển của sự vật hiện tượng nào đó thì đòi hỏi phải xem xét hiện tượng đó trên nhiều mặt của nó và phải kết hợp nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Chính vì vậy, không thể dùng một tiêu chuẩn để đánh giá bản chất của hiện tượng nghiên cứu mà phải thông qua nhiều tiêu chuẩn, phải nghiên cứu kĩ thì mới có thể đánh giá đúng hiện tượng kinh tế cần nghiên cứu.

Thời gian, không gian cũng nằm trong hệ thống các tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì tại mỗi thời gian và địa điểm khác nhau thì mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp cũng khác nhau.

Chẳng hạn, trong thời kì suy thoái của nền kinh tế, doanh nghiệp kinh doanh không có lãi thì ta không thể vội vàng kết luận rằng doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả. Bởi trong thời kì đó, mục tiêu của doanh nghiệp là tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh của mình chứ lợi nhuận không đạt lên hàng đầu. Mặc dù không có lợi nhuận nhưng doanh nghiệp có thể lấy doanh thu bù đắp được chi phí thì doanh nghiệp đó vẫn đạt được hiệu quả kinh doanh vì họ đã đạt được mục tiêu kinh doanh của mình trong thời kì đó.

Chính vì vậy, có thể nói rằng thời gian là yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào mục đích đánh giá hiệu quả kinh doanh và lựa chọn các mốc thời gian khác nhau để đánh giá. Thông thường các doanh nghiệp đánh giá hiệu quả kinh doanh theo từng năm. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Bên cạnh đó, ta cũng có thể coi tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay chính là sự biến động của các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của kỳ này so với kỳ trước, tình hình kinh doanh thực tế so với kế hoạch … Xét trên góc độ cụ thể, có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua một số tiêu chuẩn:

  • Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp cao, giá trị gia tăng trên vốn ngày càng tăng, doanh nghiệp có sự tích lũy để tái đầu tư, mở rộng quy mô, và phát triển thị trường kinh doanh…
  • Đời sống của người lao động được doanh nghiệp quan tâm và ngày càng được nâng cao.
  • Doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước
  • Tình hình tài chính của doanh nghiệp minh bạch, doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

1.2.5. Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp và hiệu quả kinh tế bộ phận.

Bên cạnh các chỉ tiêu hiệu quả tổng quát phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh tế của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tư liệu sản xuất, nguyên, nhiên vật liệu, lao động, … và tất nhiên bao hàm cả tác động của yếu tố quản trị đến việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố trên) thì người ta còn dùng các chỉ tiêu bộ phận để phân tích hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động, từng yếu tố sản xuất cụ thể.

Các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận đảm nhiệm hai chức năng cơ bản sau:

Phân tích có tính chất bổ sung cho chỉ tiêu tổng hợp để trong một số trường hợp kiểm tra và khẳng định rõ hơn kết luận được rút ra từ các chỉ tiêu tổng hợp.

Phân tích hiệu quả từng mặt hoạt động, hiệu quả sử dụng từng yếu tố sản xuất nhằm tìm biện pháp làm tối đa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp. Đây là chức năng chủ yếu của hệ thống chỉ tiêu này.

Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bộ phận không phải là mối quan hệ cùng chiều, trong lúc chỉ tiêu tổng hợp tăng lên thì có thể có những chỉ tiêu bộ phận tăng lên và cũng có thể có chỉ tiêu bộ phận không đổi hoặc giảm. Vì vậy, cần chú ý là:

Chỉ có chỉ tiêu tổng hợp đánh giá được hiệu quả toàn diện và đại diện cho hiệu quả kinh doanh, còn các chỉ tiêu bộ phận không đảm nhiệm được chức năng đó.

Các chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động (bộ phận) nên thường được sử dụng trong thống kê, phân tích cụ thể chính xác mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, từng mặt hoạt động, từng bộ phận công tác đến hiệu quả kinh tế tổng hợp.

1.2.6. Hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả tổng hợp Lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầu đẻ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định…

Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của người lao động mang lại. Lợi nhuận được xác định doanh thu trừ chi phí:

Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí

Lợi nhuận là một đòn bảy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và các đơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn.

Doanh thu

Doanh thu tăng góp phần làm chi lợi nhuận tăng. Nhưng không phải lúc nào doanh thu tăng cũng chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Doanh thu tăng nhiều khi do giá bán trên thị trường nhưng giá bán tăng có thể do một số tác động như lạm phát, đầu cơ…những yếu tố này làm cho doanh thu tăng nhưng hoạt động của doanh nghiệp lại không hiệu quả. Trong kinh tế, doanh thu được tính bằng sản lượng tiêu thụ nhân với giá bán:

Doanh thu= Sản lượng tiêu thụ * Giá bán

Khi sản lượng tăng thì cũng làm cho doanh thu tăng nhưng lợi nhuận chưa chắc đã tăng lên vì sản lượng tăng dẫn đến cung trên thị trường tăng làm giá cả giảm xuống theo qui luật cung- cầu. Nếu cung hàng hóa đó có độ co giãn thấp thì việc tăng sản lượng sẽ làm lợi nhuận giảm.

Vì thế, khi đánh giá chỉ tiêu doanh thu của doanh nghiệp phải có sự xem xét một cách đồng bộ tất cả những vấn đề trên.

Chỉ tiêu hệ số doanh lợi của tổng tài sản (ROA)

Phản ánh một đồng vốn doanh nghiệp đầu tư vào tài sản đem về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

Lợi nhuận sau thuế

ROA = Tổng tài sản

Nghĩa của chỉ tiêu này là phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của công ty, ROA càng cao càng thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt.

Chỉ tiêu hệ số doanh lợi của nguồn vốn chủ sở hữu (ROE)

Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho doanh nghiệp thế. Doanh lợi vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu này, nó phản ánh một đồng vốn mà chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

Lợi nhuận sau thuế

ROE = Vốn sở hữu

Chỉ tiêu này cho ta thấy kết quả của việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu. ROE có liên quan đến chi phí trả lãi vay, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bảy tài chính.

Các chỉ số tài chính được so sánh với các chỉ số tài chính của các năm trước, mức trung bình của ngành và của các đối thủ cạnh tranh để tìm ra các điểm mạnh điểm yếu trong quản lý tài chính của doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả bộ phận Chỉ tiêu năng suất lao động

Chỉ tiêu này phản ánh một lao động trong một kì sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh trực quan nhất hiệu quả làm việc của lao động, thể hiện chất lượng nguồn nhân lực cũng như khả năng khai thác nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ

Năng suất lao động = Tổng số lao động trong kỳ

Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho một lao động

Chỉ tiêu này cho thấy với mỗi lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ. Dựa vào chỉ tiêu này để so sánh mức tăng hiệu quả của mỗi lao động trong kỳ.

Lợi nhuận bình quân một lao động = Hiệu quả sử dụng vốn cố định

Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, thể hiện trình độ sử dụng tài sản cố định, khả năng sinh lời của tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh.

Mức sinh sinh lời của vốn cố định = Lợi nhuận trước thuế

Vốn cố định bình quân trong kỳ

Sức sản xuất của vốn cố định

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản cố định cũng như sự đóng góp của máy móc vào việc tạo ra giá trị doanh thu cho doanh nghiệp.

Sức sản xuất của vốn lưu động

Là chỉ số tính bằng tỷ lệ giữa tổng doanh thu tiêu thụ trong một kỳ chia cho vốn lưu động bình quân trong kỳ của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm, trong một chu kỳ kinh doanh vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng:

Nếu chỉ số này tăng so với những kỳ trước thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động luân chuyển vốn có hiệu quả hơn và ngược lại.

Mức sinh lời của vốn lưu động

Chỉ tiêu này đánh giá một đồng vốn lưu động hoạt động trong kỳ kinh doanh có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Lợi nhuận trước thuế

Mức sinh sinh lời của vốn lđ = Vốn lưu động bình quân trong kì

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

1.3.1. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh 

a) Lực lượng lao động

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, lực lượng lao động tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Vì con người sẽ quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ những cán bộ công nhân viên đến các nhà lãnh đạo của công ty đều có những nhiệm vụ và công việc riêng của mình. Việc cán bộ nắm chắc được nghiệp vụ nhập khẩu sẽ đem lại tác động lớn tới sự thành công của doanh nghiệp. Sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian giao dịch, tổ chức thực hiện hợp đồng thuận lợi, sẽ nhập khẩu được những hàng hoá chất lượng cao từ đó tạo uy tín đối với khách hàng, tiêu thụ hàng hoá được nhanh chóng tránh để động vốn…Khi lao động có kỷ luật, chấp hành đúng mọi quy định về thời gian, về quy trình nhập khẩu, làm việc có trách nhiệm, có tinh thần hợp tác, phối hợp, khả năng thích ứng với những thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp thì sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngược lại nếu hiệu quả kinh doanh được nâng cao thì sẽ tạo môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo công ăn việc làm ổn định cho người lao động và cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên. Hiện nay chăm lo việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của nhiều doanh nghiệp.

b) Yếu tố trình độ kỹ thuật

Yếu tố này tác động đến hiệu quả kinh doanh theo các hướng:

  • Sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ tạo ra những cơ hội để nắm bắt thông tin trong quá trình hoạch định kinh doanh cũng như trong quá trình điều chỉnh, định hướng lại hoặc chuyển hướng kinh doanh Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh
  • Kỹ thuật và công nghệ sẽ tác động tới việc tiết kiệm chi phí chất trong quá trình kinh doanh làm cho chúng ta sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm chi phí vật chất.
  • Cơ sở kỹ thuật và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật sẽ tạo ra khả năng đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật cao sẽ tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào khan hiếm, là yếu tố cơ bản hỗ trợ khả năng của con người.

c) Nhân tố quản trị doanh nghiệp

Trong kinh doanh, nhân tố quản trị có vai trò vô cùng quan trọng: Quản trị doanh nghiệp có vai trò trong việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng trong hoạt động kinh doanh, xác định đúng chiến lược kinh doanh và phát triển kinh doanh. Chiến lược kinh doanh và phát triển là cơ sở đầu tiên đem lại kết quả, hiệu quả hoặc thất bại, của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Mọi nhân tố phân tích ở trên đều có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh thông qua các hoạt động của bộ máy quản trị doanh nghiệp vào đội ngũ các nhà quản trị nó

Nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, bằng phẩm chất và tài năng của mình, có vai trò quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với việc duy trì thành đạt của một tổ chức. Trong các nhiệm vụ hoàn thành người cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp phải chú ý đến hai nhiệm vụ chủ yếu:

  • Xây dựng tập thể thành một tập thể đoàn kết năng động và chất lượng.
  • Dìu dắt tập thể dưới quyền, hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững chắc và ổn định, ở bất kỳ doanh nghiệp nào hiệu quả kinh tế đều phụ thuộc lớn vào cơ cấu tổ chức của bộ máy quản trị, nhận thức, hiểu biết, trình độ của đội ngũ của các nhà quản trị, phải xác định chính xác mục tiêu, phương hướng kinh doanh của những người lãnh đạo doanh nghiệp.

1.3.2. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

a) Môi trường quốc tế và khu vực

Đối với các doanh nghiệp có hoạt động XNK, thì ảnh hưởng của môi trường quốc tế và khu vực khá mạnh: vì thị trường cung ứng hay thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp này phụ thuộc vào nền kinh tế khác trên thế giới. Nếu thị trường thuận lợi thì hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra sôi nổi và hiệu quả. Nếu thị trường đi xuống, không chỉ mất thị trường tiêu thụ mà cả thị trường nhập khẩu cũng sẽ gặp khó khăn… từ đó có thể thấy được những ảnh hưởng của các nền kinh tế bên ngoài ảnh hưởng đến doanh nghiệp trong nước như thế nào.

Đối với các doanh nghiệp không có hoạt động xuất- nhập khẩu: tuy các nền kinh tế bên ngoài không phải là thị trường trực tiếp đối với các doanh nghiệp này, nhưng những biến động đó sẽ ảnh hưởng đến những doanh nghiệp XNK ảnh hưởng tới nền kinh tế của quốc gia thông qua cán cân XNK, cán cân thương mại của đất nước…từ đó ảnh hưởng tới đời sống của người dân và thay đổi hành vi chi tiêu của Chính phủ. Do đó ảnh hưởng đến thị trường trong nước…

b) Môi trường kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh mức gia tăng giá trị sản xuất chung của toàn nền kinh tế. Kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa với việc hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn nền kinh tế nói chung sẽ tăng cao. Khi nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nghĩa là tỉ suất sinh lời của nền kinh tế đó cao và thị trường lạm phát và lãi suất phản ánh chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lãi suất tăng hay giảm sẽ có kích thích doanh nghiệp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Khi lãi suất tăng doanh nghiệp sẽ chịu chi phí cao hơn, muốn đảm bảo lợi nhuận doanh nghiệp sẽ phải có cân nhắc trong sử dụng đồng vốn như thế nào là hợp lí nhất và ngược lại.

c) Môi trường chính trị- pháp luật

Môi trường Chính Trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho sự phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. Các hoạt động đầu tư đó lại tác động trở lại rất lớn từ các hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ thuật sản xuất tạo ra một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động, các hoạt động của doanh nghiệp như sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất bằng cách nào, bán cho ai ở đâu, đầu vào lấy ở đâu, đều phải dựa vào các quy luật của pháp luật. Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, với xã hội và với người lao động như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp…). Môi trường pháp luật ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất, ngành nghề, phương thức kinh doanh…của doanh nghiệp. Không những thế nó còn tác động đến chi phí của doanh nghiệp cũng như là chi phí lưu thông, chi phí vận chuyển, mức độ về thuế…đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh XNK còn bị ảnh hưởng bởi chính sách thương mại quốc tế, hạn ngạch do Nhà nước giao cho, luật bảo hộ cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh. Tóm lại môi trường chính trị- luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống công cụ pháp luật, công cụ vĩ mô…

d) Môi trường văn hóa xã hội

Khi tình trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội…đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Nếu không có tình trạng thất nghiệp, người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm thì chắc chắn chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp đó sẽ tăng cao do đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại nếu tình trạng thất nghiệp cao thì chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ giảm làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng tình trạng thất nghiệp cao sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm và có thể dẫn đến tình trạng an ninh chính trị bất ổn định, do bệnh lại làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trình độ văn hóa ảnh hưởng tới khả năng đào tạo cũng như chất lượng chuyên môn và khả năng tiếp thu các kiến thức cần thiết của đội ngũ lao động, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội… Nó ảnh hưởng tới cầu về sản xuất của các doanh nghiệp nên nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

One thought on “Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Cty thủy sản Quảng Ninh

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp NC hiệu quả kinh doanh của Cty thủy sản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464