Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quan trọng trong phát triển và giảm nghèo. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về kinh tế, thách thức về các vấn đề xã hội đối với thế giới càng trở nên gay gắt cũng nổi lên đe dọa đến sự ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của các nước , đó là các vấn đề: gia tăng dân số, giải quyết việc làm, tham nhũng, tệ nạn xã hội, bất bình đẳng về thu nhập, chênh lệch giàu –nghèo, khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, bất bình đẳng về giới, sự yếu kém của hệ thống an sinh xã hội và bảo hiểm, yếu kém của thể chế dẫn đến yếu kém trong điều hành quốc gia là những thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển,v.v…Trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội nhìn chung vẫn là trách nhiệm của các Nhà nước. Tuy nhiên, trong khi nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ công và giải quyết các vấn đề xã hội thì cần thiết phải có sự tham gia của nhiều thành phần xã hội tham gia vào quá trình giải quyết các thách thức này.Doanh nghiệp xã hội chính là một trong những nhân tố có thể tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề nêu trên.

Đóng góp của doanh nghiệp xã hội tập trung vào các lĩnh vực: cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mang tính sáng tạo phù hợp với nhu cầu của cộng đồng có hoàn cảnh đặc biệt (người khuyết tật, người có hiv/aids; tạo cơ hội hòa nhập xã hội thông qua các chương trình đào tạo phù hợp, tạo cơ hội việc làm; đưa ra các giải pháp mới cho những vấn đề xã hội chưa được đầu tư rộng rãi như biến đổi khí hậu, năng lượng thay thế, tái chế… Doanh nghiệp xã hội mang lại nhiều lợi ích cho xã hội như phục vụ cộng đồng, đặc biệt phục vụ tầng lớp yếu thế trong xã hội. Doanh nghiệp xã hội là những doanh nghiệp bổ trợ cho nhà nước, doanh nghiệp nói chung trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Doanh nghiệp xã hội cũng tạo ra sự phát triển công bằng hơn giữa 3 trụ cột là nhà nước, thị trường và xã hội. Ngoài ra, doanh nghiệp xã hội còn phát triển và khuyến khích các sáng kiến xã hội cũng như đóng góp lớn vào việc nâng cao nhận thức và ý thức cộng đồng, xã hội trong các vấn đề xã hội. Phương thức để doanh nghiệp xã hội góp phần giải quyết một trong những vấn đề xã hội quan trọng nhất trên thế giới, đó là tạo việc làm, và tạo ra những giá trị xã hội.Để vượt qua những thách thức và góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra cần có một nỗ lực đột phá trên quy mô toàn cầu, bao gồm việc nâng cao nhận thức cho các đối tượng khác nhau về doanh nghiệp xã hội, tạo điều kiện vững chắc để phát triển và tăng cơ hội hợp tác giữa doanh nghiệp xã hội trên thế giới.

Việt Nam là quốc gia có những điều kiện và mô hình tiêu biểu để phát triển loại hình doanh nghiệp xã hội. Nhưng Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam vẫn chưa phát triển như khả năng và kỳ vọng của xã hội. Kinh tế việt nam vẫn nằm trong khu vực các quốc gia đang phát triển. Việt nam cũng như các quốc gia đang phát triển khác phải đối mặt với các vấn đề về gia tăng dân số, giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ đói nghèo và phân hóa giàu nghèo giữa các khu vực, các vấn đề về an sinh xã hội khác như tình trạng ô nhiễm môi trường, số người nhiễm HIV, vấn đề về người khuyết tật, vv.. Theo thống kê của Bộ LĐ-TBXH, cả nước có hơn 2,31 triệu hộ nghèo (chiếm tỉ lệ 9,79% so với tổng số hộ dân cư trên toàn quốc) và hơn 1,24 triệu hộ cận nghèo (chiếm tỉ lệ 5,27%) theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

“Với 24 triệu người chiếm 28% dân số thuộc diện đối tượng cần hỗ trợ bao gồm hộ nghèo và cận nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người mãn hạn tù, người nhiễm HIV/AIDS, người già neo đơn. Đồng thời hàng loạt các vấn đề xã hội nẩy sinh và chưa giải quyết được hết như bạo lực xã hội, lối sống không lành mạnh, stress của dân đô thị, giáo dục và y tế quá tải và bất hợp lý, thực phẩm an toàn, xử lý rác thải, ô nhiễm không khí, tiết kiệm năng lượng, bảo tồn văn hóa …. thì sự đồng hành của DN cùng với Chính phủ chạm đến vấn đề gốc rễ sâu xa là vấn đề xã hội làm cho cộng đồng trở nên nhân văn hơn.

Do đó, doanh nghiệp xã hội tại việt nam sẽ có cơ hội lớn để phát triển và cùng với nhà nước tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội.

Luật Doanh 2014 lần đầu tiên khai sinh khái niệm Doanh nghiệp xã hội trong hệ thống pháp lý của Việt Nam. Nhưng đến tháng 12/2015, vẫn chưa có doanh nghiệp nào chính thức được thừa nhận pháp lý là Doanh nghiệp xã hội do việc đăng ký chuyển đổi mô hình hay thành lập mới Doanh nghiệp xã hội chưa tiến hành được vì thiếu thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 96/2015/NĐ-CP . Điều đó có nghĩa là, trước đó, Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chưa có môi trường pháp lý tốt để phát triển mặc dù đã có sẵn “con giống tốt” và “các điều kiện tốt” khác để phát triển.

Nghị định 96/2015/NĐ-CP đã tạo ra khung pháp lý cơ bản cho doanh nghiệp xã hội từ việc đăng ký thành lập, kêu gọi vốn, quản lý doanh nghiệp, các chính sách ưu đãi chung về cơ sở hạ tầng, ưu đãi thuế, vay vốn tín dụng. Mặc dù vậy, hầu hết mọi người đều chưa hiểu và nhận thức rõ về doanh nghiệp xã hội và các chính sách pháp luật còn nhiều điểm chưa thật sự đi vào thực tiễn.

Việc đăng ký doanh nghiệp của Doanh nghiệp xã hội dưới loại hình doanh nghiệp tương đối đơn giản, nhưng quan trọng là làm thế nào Doanh nghiệp xã hội thống nhất và đáp ứng quyền lợi cho các nhà đầu tư khác nhau khi họ tham gia vào doanh nghiệp xã hội với các mục tiêu khác nhau. Điều hành một doanh nghiệp với mục tiêu và sứ mệnh xã hội phải là người có tâm, có tầm, và có khả năng kinh tế để theo đuổi. Đây là một thách thức với bất kỳ cá nhân nào khi tham gia điều hành Doanh nghiệp xã hội.

Có thể thấy, ngoại trừ các doanh nghiệp nhà nước có đặc điểm giống với hình thức Doanh nghiệp xã hội trong Luật, phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động như những doanh nghiệp xã hội hiện tại chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực dịch vụ, sáng tạo như đào tạo việc làm, dạy nghề cho người khuyết tật, dịch vụ về du lịch, công nghệ thông tin, vv…

2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về Doanh nghiệp xã hội, hiệu quả của loại hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay, tác giả xác định đề tài này cần giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu sau:

Thứ nhất, Doanh nghiệp xã hội khác với doanh nghiệp thông thường như thế nào và các vấn đề về chính sách pháp luật và thực thi pháp luật hiện hành ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của loại hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam?

Thứ hai, chính sách pháp lý như thế nào để thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này tại Việt Nam?

  • Để trả lời hai câu hỏi phía trên, bài luận văn được chia làm 2 chương tương ứng với ba vấn đề:

Chương 1, làm rõ sự khác biệt giữa Doanh nghiệp xã hội và các loại hình doanh nghiệp khác. So sánh các quy định pháp lý liên quan giữa Việt Nam và một số quốc gia khác để trả lời câu hỏi tại sao loại hình này chưa phát triển như khả năng tiềm tàng–trong đó phân tích tập trung các nguyên nhân liên quan đến hệ thống quy định pháp luật. Trong đó phân tích sâu về các quy định pháp luật trong việc Quy trình, thủ tục thành lập Doanh nghiệp xã hội; Các quy định trong việc tạo lập nguồn vốn của Doanh nghiệp xã hội (vốn tự có và vốn tài trợ; Phân chia lợi nhuận của Doanh nghiệp xã hội như thế nào; Quy định về giải thể, phá sản đối với doanh nghiệp xã hội; Các chính sách ưu đãi dành cho Doanh nghiệp xã hội như : Ưu đãi trong việc vay vốn, chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ khả năng tiếp cận thị trường cho Doanh nghiệp xã hội,..

Chương 2, trình bày về thực trạng của Doanh nghiệp xã hội tại một số nước và doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, dựa trên kết quả phân tích, so sánh đối chiếu giữa các quy định của Pháp luật Anh và một số quốc gia khác trên thế giới trong vấn đề tương tự và đề xuất các chính sách pháp lý phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.

3. CÁC GIẢ THUYẾT KHOA HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ NGHIÊN CỨU

Thứ nhất, chính sách pháp luật của quốc gia có ảnh hưởng đáng kể đến việc phát triển loại hình doanh nghiệp xã hội.

Thứ hai, việc học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác trong những điều kiện tương đương và điều kiện có thể thực hiện được ở Việt Nam để phát triển loại hình doanh nghiệp xã hội sẽ giúp loại hình doanh nghiệp này mau chóng góp phần giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách tại Việt Nam hiện nay đồng thời đóng góp tỷ trọng đáng kể hơn trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam.

4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Cho đến nay, các đề tài nghiên cứu và công trình khoa học của Việt Nam chuyên biệt về doanh nghiệp xã hội chung còn chưa nhiều, và hoặc là tập trung phân tích dưới góc độ kinh tế-xã hội- quản trị doanh nghiệp, hoặc là tập trung vào phân tích nhằm mục tiêu ghi nhận và hoàn thiện khung pháp lý về Doanh nghiệp xã hội vào trong Luật Việt Nam ở thời điểm trước 2014.

Kể từ khi Luật Doanh Nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh Nghiệp 2014 luật định rõ về Doanh nghiệp xã hội, vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu ở khía cạnh pháp lý, so sánh và giải thích các nguyên nhân tại sao loại hình Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chưa phát triển để từ đó đề xuất các giải pháp khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này.

Công trình nghiên cứu công phu và hoàn chỉnh nhất về Doanh nghiệp xã hội trước 2014 tại Việt Nam có thể kể đến là Báo cáo “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam –Khái niệm, bối cảnh và chính sách” của Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm;do viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) ,Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP), Hội đồng Anh Việt Nam phát hành năm 2012. Báo cáo này đã phân tích rõ quá trình phát triển của doanh nghiệp xã hội nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc trưng kinh tế xã hội của doanh nghiệp xã hội. Báo cáo cũng đưa ra một số kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp xã hội tại các quốc gia Anh, Mỹ , Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore và đề xuất các phương án nhằm phát triển loại hình doanh nghiệp này tại Việt Nam. Tuy nhiên, như trên đã phân tích, bối cảnh của báo cáo là năm 2012 là thời điểm mà doanh nghiệp xã hội chưa được Luật hóa tại Việt Nam và hầu hết các kiến nghị cải cách liên quan đến pháp luật về doanh nghiệp xã hôi. để định danh doanh nghiệp xã hội đã được pháp luật Việt Nam bổ sung trong Luật mới. Ngoài ra, bài báo cáo thiên về chính sách kinh tế-xã hội nói chung nên vẫn chưa làm nổi bật các khía cạnh mang tính pháp lý liên quan đến sự phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.

Một số bài bình luận, trao đổi khác: “Tiềm năng phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam”- Nguyễn Thường Lạng – Đại học Kinh tế Quốc dân (2012); “Phát huy vai trò vườn ươm doanh nghiệp xã hội” -Nguyễn Thường Lạng – Đại học Kinh tế Quốc dân (2015). Các bài bình luận này cũng tham khảo tinh thần của báo cáo “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam –Khái niệm, bối cảnh và chính sách” nêu trên và cũng đặt trong bối cảnh trước khi Luật Doanh Nghiệp 2014 được ban hành.

Tương tự, một số đề tài nghiên cứu khác cũng tập trung vào khía cạnh kinh tế xã hội hơn là khía cạnh pháp lý khi phân tích và đánh giá về thực trạng và các chính sách phát triển loại hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.

Ngoài ra, kể từ khi có dự thảo Luật Doanh Nghiệp 2014 sửa đổi đến nay, có rất nhiều các bài báo tham gia đóng góp, đề xuất, bình luận về cách thức phát triển Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam trên các trang thông tin điện tử, báo giấy, tạp chí,…Tựu chung lại, các bài báo chỉ mang tính phân tích các đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội và tầm quan trọng của Doanh nghiệp xã hội trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, đưa ra các đánh giá và kiến nghị cải cách mang tính phổ quát.

Gần đây nhất là bài viết: “Hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam- Phan Thị Thanh Thủy, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tâp̣ 31, Số 4 (2015) 56-64 đã phân tích chi tiết các hình thức Pháp lý về doanh nghiệp xã hội trong pháp luật Anh và so sánh với pháp luât Việt Nam và đề xuất một số giải pháp trong việc khuyến khích, hỗ trợ việc thành lập doanh nghiệp xà hội.

Luận Văn Ths Luật Học “ Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Trần Minh Hiền –Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội do Tiến sĩ Phan Thị Thanh Thủy hướng dẫn chỉ nhắc lại các nghiên cứu đã được phân tích trong báo cáo “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam –Khái niệm, bối cảnh và chính sách” nêu trên và đề cập đến các quy định mới về doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh Nghiệp 2014 và chưa đi sâu phân tích và so sánh với các quy định pháp luật của các quốc gia khác.

5. MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tổng hợp và phân tích để đưa ra bức tranh tổng quan về các quy định, chính sách pháp lý tác động trực tiếp, gián tiếp đến loại hình Doanh nghiệp xã hội dưới góc độ là một doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam trên cơ sở so sánh với các quy định pháp luật của các quốc gia khác; Giải thích các nguyên nhân tại sao loại hình Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chưa phát triển ở khía cạnh pháp lý để đề xuất các giải pháp khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này tại Việt Nam.

Báo cáo xem xét Doanh nghiệp xã hội dưới góc độ là một doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật Doanh Nghiệp, không đi sâu vào việc so sánh, đánh giá loại hình Doanh nghiệp xã hội với các tổ chức NGO, các tổ chức xã hội khác.

6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Với đặc thù của ngành Luật học, các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài này đều là các phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm:

Phương pháp so sánh, phân tích luật và nghiên cứu học thuyết pháp lý được áp dụng chủ yếu để giải quyết câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Các vấn đề về chính sách và thực thi pháp luật hiện hành ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của loại hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam?

Phương pháp nghiên cứu cải cách pháp luật được áp dụng chủ yếu để đưa ra những kiến nghị giúp vận dụng hữu hiệu pháp luật, và trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Chính sách pháp lý như thế nào để thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này? Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

  • Để thực hiện mục đích trên, mục tiêu nghiên cứu của bài luận bao gồm:

Thứ nhất, nghiên cứu về thực trạng các loại hình tổ chức của Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay và các chính sách pháp luật hiện hành đối với loại hình doanh nghiệp này và so sánh với pháp luật của các nước khác.

Thứ hai, nghiên cứu về các kinh nghiệm của quốc tế – trong đó tập trung về các chính sách pháp lý trong quá trình phát triển doanh nghiệp xã hội tại quốc gia của họ. Trong bài nghiên cứu này chủ yếu phân tích so sánh pháp luật về Doanh nghiệp xã hội của Anh (được xem như cái nôi của Doanh nghiệp xã hội) với pháp Luật Việt Nam. Ngoài ra , bài viết sẽ phân tích và so sánh thêm với các quy định pháp luật của Thái Lan- là quốc gia có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng và nằm trong cùng khu vực với Việt Nam.

Thứ ba, đưa ra các kiến nghị cải cách pháp lý nhằm khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.

Chương 1: Khái quát về doanh nghiệp xã hội và các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội

1.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội

1.1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp xã hội

Trong từ điển “Business dictionnary” định nghĩa rằng : Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh phi lợi nhuận, sử dụng con người và lợi nhuận thu được để giúp đỡ các vấn đề xã hội hay môi trường. Chẳng hạn, một doanh nghiệp xã hội có thể cung cấp các dịch vụ có giá trị cho nhu cầu của một số cộng đồng dân cư, họ có thể thực hiện tình nguyện các công việc tư vấn hoặc thậm chí trả tiền cho các dự án làm sạch môi trường.

Có nhiều khái niệm về doanh nghiệp xã hội nhưng không có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp xã hội. Tùy điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội khác nhau và góc nhìn khác nhau mà các quốc gia có cách định nghĩa khách nhau. Nhưng tựu chung lại, doanh nghiệp xã hội là những doanh nghiệp thực hiện mục tiêu tối cao là giải quyết các vấn đề xã hội hay bảo vệ môi trường thông qua hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp. Doanh nghiệp xã hội có thể có các hình thức pháp lý khác nhau tùy theo quy định pháp luật của từng quốc gia như : tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức từ thiện, hay các doanh nghiệp.

Doanh nghiệp xã hội là loại hình doanh nghiệp đã phát triển lâu đời trên thế giới, đặc biệt tại Vương Quốc Anh. Tuy nhiên, khái niệm “doanh nghiệp xã hội” lại khá mới mẻ ở Việt Nam, và mới chỉ được quan tâm, nhắc đến trong vòng vài năm trở lại đây.

Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên quy định về loại hình doanh nghiệp xã hội trong Luật doanh nghiệp 2014. Tiêu chí xác định doanh nghiệp xã hội bao gồm: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

  • Được thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014;
  • Có mục tiêu hoạt động là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và vì lợi ích cộng đồng;
  • Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

Trong Chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.

Cách định nghĩa này bám sát vào những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội. Theo đó, việc kinh doanh (business) được hiểu như một mô hình, phương án, giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội mà doanh nghiệp cam kết theo đuổi thông qua hoạt động kinh doanh, chứ không phải việc ràng buộc doanh nghiệp xã hội vào một hình thức công ty cứng nhắc. Mục tiêu xã hội là sứ mệnh cơ bản và tiên quyết của việc thành lập doanh nghiệp. Thêm vào đó, nguyên tắc chung của các doanh nghiệp này là lợi nhuận được tái đầu tư lại cho tổ chức hoặc cộng đồng.

Theo cách định nghĩa của Chính phủ Anh, doanh nghiệp xã hội có thể là một tổ chức được thành lập dưới hình thức công ty hoặc một nhóm doanh nghiệp không phải là công ty. Theo đó, một doanh nghiệp xã hội có thể thành lập dưới hình thức “Unincoporated form” do một thương nhân, hoặc một nhóm thương nhân đơn lẻ hợp thành. Trường hợp này doanh nghiệp xã hội không được coi là công ty, không có sự tồn tại độc lập về mặt pháp lý với thương nhân hoặc các thương nhân thành lập nó; và không phải đăng ký kinh doanh.

Mặc dù hoạt động kinh doanh hướng tới mục tiêu xã hội nhưng lợi nhuận của doanh nghiệp xã hội do các thương nhân đơn lẻ làm chủ sẽ bị đánh thuế thu nhập cá nhân, có xem xét giảm trừ, doanh nghiệp xã hội tại Anh cũng có thể thành lập doanh nghiệp xã hội theo hình thức công ty theo Luật Công Ty của Anh hoặc thành lập dưới hình thức Hợp Tác Xã và Hiệp Hội vì lợi ích cộng đồng hoặc các tổ chức từ thiện. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

  • Tổ chức OECD định nghĩa:

“Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuỗi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngòai ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.

Tại Mỹ Khái niệm về doanh nghiệp xã hội nói chung rộng hơn nhiều nơi khác. Trong giới học thuật Mỹ, doanh nghiệp xã hội được hiểu là bao gồm những tổ chức, các doanh nghiệp theo định hướng vì lợi nhuận và tham gia vào các hoạt động công ích xã hội (tổ chức từ thiện của công ty hoặc trách nhiệm xã hội doanh nghiệp). Các doanh nghiệp hai mục tiêu đó (mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu xã hội) làm trung gian với nhiệm vụ hỗ trợ (mục đích xã hội) cho các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào hoạt động thương mại . Đối với tổ chức chỉ bao gồm mục đích xã hội, nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động thương mại có thể chỉ bao gồm hỗ trợ việc tạo ra doanh thu từ các chương trình phi lợi nhuận hoặc các hoạt động đồng thời tạo ra doanh thu và cung cấp chương trình đáp ứng các mục tiêu nhiệm vụ xã hội.

Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chủ yếu xem xét doanh nghiệp xã hội dưới góc độ là một doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức một công ty theo góc nhín của Luật Doanh nghiệp 2014.

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Doanh nghiệp xã hội có các đặc điểm đặc thù và khác biệt cơ bản so với các đặc điểm của các doanh nghiệp thông thường, tổ chức phi lợi nhuận khác.

Doanh nghiệp xã hội trước tiên phải là một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp thông thường. Phần lớn thu nhập của doanh nghiệp xã hội là thông qua hoạt động kinh doanh của mình. Đây là đặc điểm khác biệt của doanh nghiệp xã hội với các tổ chức từ thiện xã hội khác. Doanh nghiệp xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của chính mình để giải quyết các vấn đề xã hội và dành phần lớn lợi nhuận thu được để tái phân bổ cho các hoạt động, mục tiêu xã hội đã cam kết. Cũng chính đặc điểm này, doanh nghiệp xã hội ở một góc độ khác được nhìn nhận như là một doanh nghiệp thông thường, đăng ký hoạt động như các loại hình doanh nghiệp khác và tuân thủ các quy định về quản lý doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường khác. Doanh nghiệp xã hội cũng chịu sự chi phối của thị trường đối với các “sản phẩm” đầu ra của mình và chịu sự cạnh tranh như những doanh nghiệp thông thường khác, hoạt động kinh doanh có lỗ hoặc lợi nhuận như doanh nghiệp thông thường khác. Điều này hoàn toàn khác với các tổ chức từ thiện thông qua các nguồn tài trợ, các quỹ, hoặc kêu gọi lòng hảo tâm của nhiều cá nhân tổ chức khác để thực hiện công việc xã hội của mình.

Thông thường các doanh nghiệp xã hội phải tạo ra phần lớn hơn 50% doanh thu của họ để bù đắp chi phí hoạt động bên cạnh các nguồn thu khác ( nhận tài trợ). Tuy nhiên, đối với một số doanh nghiệp xã hội mới thành lập, tỷ lệ này có thể thấp hơn và DN phải sử dụng nguồn vốn sẵn có để bù đắp cho các hoạt động của mình.

Doanh nghiệp xã hội phải có mục tiêu, sứ mệnh xã hội rõ ràng, được đặt lên hàng đầu, là tôn chỉ, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đó . Mục tiêu xã hội này phải được thể hiện rõ ràng, công khai, minh bạch trong tài liệu quản lý của doanh nghiệp ngay từ khi đăng ký thành lập. Đặc điểm này làm cho doanh nghiệp xã hội khác biệt với những loại hình doanh nghiệp thông thường khác. Điều đó có nghĩa là, nếu như một doanh nghiệp thông thường, xuất phát từ nhu cầu của xã hội để tạo ra sản phẩm kinh doanh và thu về lợi nhuận, trái lại, doanh nghiệp xã hội xuất phát từ nhu cầu và các vấn đề xã hội để tạo lập mô hình kinh doanh và giải quyết chính nhu cầu xã hội đó. Doanh nghiệp xã hội phải nhận thức một cách rõ ràng về sứ mệnh xã hội của họ và luôn luôn cố gắng để tìm cách thực hiện, giải quyết và tạo ra các giải pháp bền vững, lâu dài cho các vấn đề xã hội.

Một đặc điểm khác biệt nữa giữa doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp thông thường nữa đó là, doanh nghiệp xã hội tái đầu tư phần lớn lợi nhuận thu được cho hoạt động vì cộng đồng của mình. Tỷ lệ tái đầu tư tối thiểu bắt buộc tùy thuộc vào pháp luật của địa phương nơi doanh nghiệp xã hội đăng ký thành lập và hoạt động. Theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014 của Việt Nam thì tỷ lệ này là 51%. Việc tái đầu tư lợi nhuận không đồng nghĩa với việc tạo ra giá trị xã hội và doanh nghiệp còn có nhiều cách khác để gia tăng nguồn vốn hoạt động. Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, quy định về tỷ lệ tái đầu tư trở lại lợi nhuận cho hoạt động của tổ chức hoặc cộng đồng là đặc điểm nhằm phân định mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là vì lợi nhuận ( tối đa hóa giá trị cho các chủ sở hữu , cổ đông) hay vì cộng đồng. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Doanh nghiệp xã hội được sở hữu và kiểm soát mang tính xã hội. Cấu trúc sở hữu (vốn góp) và quản lý của doanh nghiệp xã hội có sự tham gia của các tổ chức cộng đồng, các tổ chức và cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… Điều này cho phép doanh nghiệp xã hội có tính tự chủ cao trong hoạt động của mình đồng thời cũng được giám sát mạnh mẽ bởi các tổ chức xã hội trong việc thực hiện cam kết xã hội của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp xã hội cũng khác với các tổ chức từ thiện ở đặc điểm nữa đó là tìm cách trang trải chi phí của riêng mình trong dài hạn (mặc dù khi bắt đầu có thể cần sự trợ giúp), và doanh nghiệp xã hội cũng trả lương hợp lý cho các nhân viên của mình thay vì chủ yếu chỉ dựa vào nguồn vốn tài trợ và sự trợ giúp của các tình nguyện viên để hoạt động.

1.1.3 Sự cần thiết phải thành lập và điều chỉnh bằng pháp luật đối với loại hình Doanh nghiệp xã hội

Các doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp vì lợi ích cộng đồng có thể lựa chọn trở thành tổ chức từ thiện, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, bắt buộc phải thành lập doanh nghiệp mới đủ điều kiện tham gia các giao dịch. Ngoài ra, việc thành lập các doanh nghiệp xã hội thay vì là một tổ chức từ thiện còn có thêm nhiều ưu điểm:

Trước tiên phải kể đến việc thành lập một doanh nghiệp xã hội dễ dàng và thuận lợi hơn rất nhiều so với việc thành lập một quỹ từ thiện. Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp xã hội thực hiện theo thủ tục tương ứng với loại hình doanh nghiệp tương ứng mà doanh nghiệp đó lựa chọn, đăng ký tại Sở kế hoạch đầu tư cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Ngược lại, việc đăng ký thành lập một quỹ từ thiện trải qua nhiều thủ tục khắt khe hơn về cả quy định đối với người sáng lập quỹ ( lý lịch tư pháp của các sáng lập viên), quy định về vốn tối thiểu và cơ quan cấp phép hoạt động của quỹ tùy theo địa phương hoạt động. (Xem chi tiết về điều kiện thủ tục thành lập quỹ từ thiện tại phụ lục 01 đính kèm bài báo cáo này).

Thứ hai ,các doanh nghiệp xã hội được thiết kế đặc biệt để một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân, có thể thiết lập một công ty vì lợi ích cộng đồng và linh hoạt trong vai trò xuất hiện tương tự như tổ chức từ thiện; hoặc cũng có thể xuất hiện với tư cách là một doanh nghiệp thương mai thông thường khi tham gia các giao dịch. Một doanh nghiệp xã hội cũng có thể được sở hữu bởi một tổ chức từ thiện, có nghĩa là một doanh nghiệp xã hội có thể được sử dụng như là “cánh tay kinh doanh” của một tổ chức từ thiện.

Thứ ba, các doanh nghiệp xã hội có thể có tính chất thương mại nhiều hơn so với các tổ chức quỹ từ thiện, có tính tự chủ cao hơn, ít phụ thuộc vào nhà tài trợ trong quá trình hoạt động so với các tổ chức từ thiện. Doanh nghiệp xã hội cũng có thể được hưởng lợi từ một số trong những lợi thế của loại hình công ty (chẳng hạn như trách nhiệm hữu hạn và có khả năng phát hành cổ phiếu và trả cổ tức). Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Thứ tư, các doanh nghiệp xã hội tạo điều kiện dễ dàng hơn nhiều cho các giám đốc của được nhận thù lao của doanh nghiệp (trả thù lao) hơn là trường hợp ủy thác của tổ chức từ thiện.

Thứ năm, doanh nghiệp xã hội tạo ra giải pháp bền vững hơn để giải quyết các vấn đề xã hội thông qua chính hoạt động kinh doanh của mình. Các tổ chức từ thiện thường phụ thuộc vào nguồn vốn ban đầu được tài trợ và không làm cho nguồn vốn này sinh sôi nảy nở, gia tăng thêm, vì thế,các dự án của tổ chức từ thiện đều phải tạm ngưng khi thời hạn tài trợ chấm dứt cho dù dự án đã hoàn thành hay chưa, trừ khi kêu gọi được nguồn tài trợ mới để thực hiện chương trình.

Môi trường pháp lý là điều kiện cần thiết, cung cấp cơ hội và không gian để doanh nghiệp xã hội để doanh nghiệp xã hội có thể xuất hiện và hoạt động hiệu quả… Chính vì vậy, sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với loại hình doanh nghiệp xã hội là cần thiết.

Các Doanh nghiệp xã hội tại Anh có thể lựa chọn hình thức pháp lý khác nhau như: công ty trách nhiệm hữu hạn, tổ chức từ thiện,hợp tác xã, công ty vì lợi ích cộng đồng (CICs), thương nhân duy nhất hoặc hợp tác kinh doanh . Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo sự điều chỉnh của Luật công ty Anh và Luật doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp xã hội có thể được thành lập như một doanh nghiệp truyền thống và hoạt động tuân thủ theo các quy định của Luật công ty Anh 2006 –“Company Act 2006”. Các quy định điều chỉnh hoạt động của Doanh nghiệp xã hội cũng được quy định tại “Companies Act 2006” nhưng chi tiết, cụ thể hơn được tham chiếu tại “Companies (Audit, Investigations and Community Enterprise) Act 2004”, và “The Community Interest Company Regulations 2005 (UK)” Tại Mỹ, doanh nghiệp xã hội cũng hoạt động dưới nhiều hình thức đa dạng như: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Tổ chức phi lợi nhuận -NGO ( theo qui định tại điều 501(c)(3) của Luật thu nhập (Internal Revenue Code). Hoặc Doanh nghiệp xã hội có thể hoạt động dưới các hình thức doanh nghiệp thông thường như: Doanh nghiệp tư nhân (Soproprietorship), công ty TNHH (Limited Liability Company), công ty cổ phần (Corporation). Một số tiểu bang (Illinois, Louisiana, Maine, Michigan, North Carolina, Utah, Vermont và Wyoming) bắt đầu cho phép thành lập, quản lý hoạt động các Công ty TNHH lợi nhuận thấp (Low-profit limited liability companies, viết tắt là L3C) kể từ năm 2008.

L3C là mô hình kết hợp mục tiêu xã hội của các tổ chức phi lợi nhuận có hình thức sở hữu như Công ty Trách nhiệm hữu hạn và cho phép phân chia lợi nhuận kinh doanh. Tuy nhiên đối với các L3C, lợi nhuận không phải là mục tiêu kinh doanh hàng đầu. Các L3C vẫn phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường. Nhưng tại các doanh nghiệp L3C, nhà đầu tư xã hội chấp nhận lợi nhuận thấp hơn để mang lại những giá trị xã hội.

Tại Việt Nam, trong một thời gian dài trước thời điểm Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, Việt Nam vẫn chưa có một khuôn khổ pháp lý dành riêng cho các doanh nghiệp xã hội nên các doanh nghiệp này được thành lập, hoạt động và chịu sự điều chỉnh theo các quy định pháp luật khác nhau. Không ít các doanh nghiệp xã hội được thành lập tự phát, thông qua chuyển đổi từ các tổ chức phi chính phủ. Vì vậy, việc xây dựng hành lang pháp lý, môi trường hoạt động cùng những giải pháp hỗ trợ là việc làm cần thiết để mô hình doanh nghiệp xã hội phát triển tương xứng với tiềm năng, đồng thời hạn chế được những mặt tiêu cực. Doanh nghiệp xã hội ở nước ta trước đây được thành lập dưới nhiều hình thức như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, hộ kinh doanh hay các hội, hiệp hội… Các cơ sở sản xuất này rất khó khăn khi tiếp cận các nguồn vốn tín dụng hay hỗ trợ, ưu đãi về thuế do chưa hề có cơ chế riêng dành cho loại hình doanh nghiệp này. Do đó, việc hình thành môi trường pháp lý cùng những chính sách phù hợp nhằm khuyến khích hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp xã hội như một thành phần kinh tế mới bên cạnh các thành phần kinh tế khác là rất cần thiết và quan trọng.

Khi quy định về khái niệm doanh nghiệp xã hội, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới chỉ quy định doanh nghiệp xã hội là mô hình hoặc tổ chức thực hiện các hoạt động vì cộng đồng. Một số ý kiến cho rằng, việc quy định về Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam phải là một trong các hình thức doanh nghiệp của Luật Doanh Nghiệp 2014 đã đã loại trừ một số tổ chức là “doanh nghiệp xã hội thực tế” được hình thành từ lâu và đang thực hiện những hoạt động vì cộng đồng như doanh nghiệp xã hội. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, trong định hướng của nhà làm luật Việt Nam mong muốn chuẩn hóa các doanh nghiệp xã hội dưới hình thức công ty hơn là các tổ chức xã hội vì các công ty sẽ có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn, tính minh bạch hóa về tài chính, thông tin cao hơn do có nhiều cơ quan cùng giám sát ( Cơ quan đăng ký doanh nghiệp, cơ quan thuế, cơ quan quản lý lao động,…).

1.2 Các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

1.2.1 Thành lập Doanh nghiệp xã hội

Các doanh nghiệp xã hội tại Anh có thể thành lập công ty dưới hình thức công ty cổ phần (Company Limited by Share), Công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn bởi vốn cổ phần hoặc bảo lãnh (Companies limited by guarantee and having share capital), Công ty trách nhiệm hữu hạn (Companies limited by guarantee and not having share capital). Đối với các doanh nghiệp xã hội lựa chọn hình thức như là một doanh nghiệp thông thường, thành lập và tuân thủ theo quy định của Luật Công ty Anh 2006 thì công ty phải nêu rõ mục tiêu vì lợi ích cộng đồng trong Điều lệ công ty và phải cam kết tái đầu tư lợi nhuận cho các mục tiêu xã hội. .

Công ty vì Lợi ích Cộng đồng (Community Interest Company – CIC) là loại hình doanh nghiệp được thiết kế riêng cho doanh nghiệp xã hội (nhưng pháp luật không bắt buộc các doanh nghiệp xã hội phải lựa chọn loại hình này). Chính phủ Anh đã có quy định hướng dẫn rất cụ thể và chi tiết đối với từng loại hình tương ứng trong tài liệu upload lên website của chính phủ -“Chapter 3: CICs – limited companies”.

Nếu một CICs là “Company Limited by Share hoặc Companies limited by Guarantee and not having share capital)” thì bản ghi nhớ hoặc điều lệ công ty theo quy định của Phụ lục 1 của CICs Reg. Đối với CICs là loại hình “Companies limited by guarantee and having share capital” thì bản ghi nhớ hoặc điều lệ công ty theo quy định của Phụ lục 2 của CICs Reg.

Cũng có thể thành lập một doanh nghiệp xã hội tại Anh dưới hình thức Công ty hợp danh hữu hạn (limited liability partnerships – LLP) hoạt động theo Luật Công ty hợp danh hữu hạn năm 2000 (Limited Liability Partnerships Act 2000). Đây là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tương tự như các công ty hữu hạn trong Luật Công ty 2006. Không giống hình thức hợp danh cơ bản (standard partnership) do các doanh nhân đơn lẻ thành , các thành viên của LLP được hưởng trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty nhưng công ty phải minh bạch đối với mục đích thuế. Thành viên góp vốn (non-coperate partner) phải đăng ký tự đánh giá tài sản và trả thuế thu nhập cá nhân trên phần lợi nhuận được chia như các thương nhân đơn lẻ, trong khi đó phần lợi nhuận chia cho những thành viên hợp danh (corporate partner) sẽ phải chịu thuế doanh thu.

Các CICs phải nêu rõ trong biên bản ghi nhớ và điều lệ công ty rằng công ty là một doanh nghiệp vì lợi ích cộng đồng. Ngoài ra, để đàm bảo việc thực hiện vì lợi ích cộng đồng, các CICs phải có điều khoản về tài sản đảm bảo – “Asset Lock”, theo đó, tất cả các CICs và được thiết kế để đảm bảo rằng tài sản của CICs được sử dụng độc quyền cho lợi ích của cộng đồng. Bất kỳ tài sản và lợi nhuận (ngoài những phân phối phù hợp với các quy định về chia cổ tức) phải được giữ lại trong CICs và sử dụng chỉ duy nhất cho lợi ích cộng đồng. Các cơ quan duy nhất mà tài sản này được phép chuyển nhượng là tổ chức từ thiện, hoặc chuyển sang CICS khác. Các “Asset Lock” phải được thể hiện một cách rõ ràng là một điều khoản trong điều lệ của CICs.

Các CICs bị cấm thành lập vì mục đích chính trị, bao gồm: một công ty mà là (hoặc khi hình thành sẽ là) một đảng chính trị; một công ty mà là (hoặc khi hình thành sẽ là) một tổ chức vận động chính trị; hoặc là một công ty mà (hoặc khi hình thành sẽ là) một công ty con của một đảng chính trị hoặc của một tổ chức vận động chính trị. Ngoài ra, các CICs không thể được thiết lập để phục vụ cho một nhóm quá mức bình thường (xem quy định Điều 4 & 5 của CIC Reg) hay là một tổ chức từ thiện. Đương nhiên các CICs bị cấm thực hiện hoạt động trái pháp luật. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Tại Anh, đăng ký và thành lập Doanh nghiệp xã hội dưới hình thức một công ty tương tự như bất kỳ công ty “Limited” khác tại Anh. Các giấy tờ cần chuẩn bị đã được liệt kê tại mục “CIC checklist” upload tai website điện tử của Chính Phủ Anh và được cập nhật liên tục. Tổ chức mới có thể đăng ký bằng cách nộp mẫu IN01 và biên bản ghi nhớ và các tài liệu theo quy định tại Arcticle 36, CICs Reg 2005 (UK) như:

  • Đơn đăng ký
  • Thỏa thuận thành lập công ty
  • Điều lệ công ty
  • Bản kê khai nhân sự dự kiến
  • Cam kết tuân thủ
  • Tuyên bố về vốn và cổ phần ban đầu

Ngoài các giấy tờ nêu trên, các CICs còn phải có thêm tuyên bố hoạt động lợi ích cộng đồng có chữ ký của các giám đốc đầu tiên của công ty và được phê duyệt bởi người trở thành giám đốc đầu tiên của công ty; và tuyên bố rằng công ty khi hình thành sẽ không phải là một công ty loại trừ theo Điều 3 của CICs Reg. Các CICs cũng phải tạo ra một “Asset lock”- một lời hứa pháp lý nói rằng tài sản của công ty sẽ chỉ được sử dụng cho các mục tiêu xã hội của nó, và thiết lập giới hạn cho số tiền có thể trả tiền cho các cổ đông.

  • Phí Đăng ký công ty vì lợi ích cộng đồng ở Anh là £ 35, nộp lúc đăng ký:

Pháp Luật Anh không trực tiếp quy định mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư cho vào hoạt động kinh doanh của các CICs. Tuy nhiên lại gián tiếp quy định rằng mức cổ tức tối đa có thể đem chia cho các cổ đông là 35% lợi nhuận sau thuế. Do đó có thể suy ra rằng mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư là 65%. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Tại Thái Lan, Công ty hợp danh liên doanh với doanh nghiệp xã hội có thể đăng ký với Sở phát triển kinh doanh của Bộ Thương mại. Công ty hoặc hiệp hội phải có một mục đích từ thiện hoặc mục tiêu xã hội cụ thể được liệt kê trong mục tiêu của nó và đáp ứng các yêu cầu đặt tên. Điều đó có nghĩa, tất cả các loại hình công ty tại Thái Lan đều có thể đăng ký để trở thành một doanh nghiệp xã hội. Theo Nghị định Hoàng gia về miễn thuế (số 621) B.E. 2559 đã được thông qua vào năm 2016, để được xem là môt “doanh nghiệp xã hội” theo quy định của Nghị định Hoàng gia, doanh nghiệp xã hội phải:

  • Được thành lập theo luật pháp của Thái Lan, với mục đích kinh doanh để bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ nhằm thúc đẩy hoặc giải quyết các vấn đề hoặc phát triển cộng đồng địa phương, xã hội, hoặc môi trường;
  • Không chú trọng tối đa lợi nhuận cho cổ đông hoặc đối tác, với ít nhất 70% lợi nhuận đầu tư trở lại vào kinh doanh, hoặc vì lợi ích của người nông dân, người nghèo, người tàn tật, những người bất lợi hoặc các lợi ích chung khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
  • Ngoài ra, để được miễn thuế thu nhập theo quy định của Tổng cục thuế Thái Lan thì tên doanh nghiệp phải gồm các từ “doanh nghiệp xã hội” trong tên của mình;
  • Phải có giấy chứng nhận (Certified) là Doanh nghiệp xã hội của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế (Director General of the Revenue Department)
  • Có sự chấp thuận của Tổng giám đốc công ty về việc làm đơn xin thành lập doanh nghiệp xã hội theo mẫu quy định.

Tại Việt Nam, để thành lập một Doanh nghiệp xã hội, các nhà đầu tư có thể lựa chọn một trong các hình thức pháp lý là công ty Cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 . Tên doanh nghiệp xã hội đặt theo quy định và có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của doanh nghiệp. Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp xã hội là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Các doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam cũng phải thực hiện việc công khai Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Cũng giống Luật công ty 2006 của Anh, Luật doanh nghiệp Việt Nam 2014 có quy định hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải được gửi đến cơ quan đăng ký doanh nghiệp cùng với một khoản lệ phí đăng ký theo quy định. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp Việt Nam có quy định khác nhau cho từng loại doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần nhưng không chia thành công ty tư nhân và công ty đại chúng). Tuy nhiên, công ty đại chúng theo pháp luật Việt Nam được đề cập và điều chỉnh nhiều hơn bởi luật chứng khoán. Nói chung, với loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần thì hồ sơ gồm có 4 loại giấy tờ là (i) Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp; (ii) Điều lệ công ty; (iii) Danh sách thành viên/ danh sách cổ đông sáng lập; (iv) Giấy tờ nhân thân của thành viên/ cổ đông sáng lập là cá nhân, giấy tờ thành lập hợp pháp của các thành viên/ cổ đông sáng lập là tổ chức và giấy tờ nhân thân của người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Luật doanh nghiệp Luật Việt

Nam không quy định trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có thỏa thuận thành lập công ty nhưng lại yêu cầu phải có danh sách thành viên/ danh sách cổ đông sáng lập.

Như vậy, trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của Luật doanh nghiệp Việt nam không có yêu cầu phải nộp bản cam kết tuân thủ và tuyên bố về vốn và cổ phần ban đầu đối với công ty cổ phần. Thực ra không có bản cam kết tuân thủ riêng nhưng trong giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp đã có nội dung cam kết tuân thủ này, cụ thể là cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, chính xác và trung thực của nội dung đăng ký doanh nghiệp được nêu ra ở nội dung cuối cùng.

Người thành lập doanh nghiệp xã hội hoặc người được ủy quyền nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký doanh nghiệp cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Riêng đối với loại hình doanh nghiệp xã hội, tên doanh nghiệp xã hội được đặt theo quy định tại các Điều 38, 39, 40 và 42 Luật Doanh nghiệp và có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của doanh nghiệp.

Thủ tục thành lập doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Người thành lập doanh nghiệp xã hội hoặc người được ủy quyền nộp hồ sơ đăng ký theo Luật Doanh nghiệp tương ứng với loại hình doanh nghiệp mà doanh nghiệp xã hội dự kiến thành lập tại cơ quan đăng ký doanh nghiệp cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Hồ sơ này bao gồm:

  • Phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Bản cam kết đầu tư, thực hiện mục tiêu xã hội.
  • Bản báo cáo đánh giá tác động xã hội, môi trường.

Nếu nội dung cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường có sự điều chỉnh, thay đổi thì doanh nghiệp phải gửi thông báo tới cơ quan đăng ký doanh nghiệp các nội dung thay đổi trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thay đổi, nội dung này sẽ công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Thông báo phải thay đổi phải có kèm theo bản Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường đã được sửa đổi, bổ sung. Các biểu mãu đăng ký thực hiện theo quy định của  TT 04/2016/TT-BKHĐT về biểu mẫu đăng ký doanh nghiệp xã hội theo NĐ 96/2015/NĐ-CP Bản cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp được lập theo biểu mẫu theo quy định tại Điều 5 Nghị định 96/2015 và bao gồm các nội dung chính sau: Những vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp hướng tới giải quyết; Phương thức, cách thức thực hiện; Thời hạn thực hiện các hoạt động để giải quyết các vấn đề xã hội doanh nghiệp đang theo đuổi; Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư hàng năm; Nguyên tắc và cách thức sử dụng các nguồn vốn viện trợ, tài trợ từ tổ chức và cá nhân; Nguyên tắc và cách thức xử lý các khoản viện trợ, tài trợ còn dư trong trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc chuyển đổi thành doanh nghiệp thông thường (nếu có); Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

1.2.2 Chuyển đổi thành Doanh nghiệp xã hội Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Tại nước Anh, các công ty hiện tại có thể chuyển đổi sang loại hình CICs bằng cách thông qua các nghị quyết đổi tên của công ty và thay đổi Biên bản ghi nhớ, Điều lệ công ty và cung cấp cho cơ quan đăng ký của công ty bản sao của các tài liệu này. Để chuyển đổi một công ty hiện có sang một CIC, cần phải cung cấp các tài liệu sau đây cho cơ quan đăng ký doanh nghiệp của Anh –“The Registrar of Companies”.

  • Một bản sao của các nghị quyết đặc biệt:
  • Nghị quyết về các thay đổi điều lệ của công ty thể hiện rằng công ty là một
  • Các điều khoản thay đổi để công ty phù hợp với yêu cầu của pháp luật về
  • Nghị quyết Thay đổi về tên của công ty cho mục tiêu của CIC. Điều này không bắt buộc, trừ khi doanh nghiệp muốn thay đổi, doanh nghiệp có thể thay đổi đơn giản từ “Ltd” để “c.i.c.”.

Các tài liệu chuyển đổi theo quy định. “Các văn bản chuyển đổi theo quy định” có nghĩa là tờ khai theo luật định như vậy hoặc tờ khai khác hoặc báo cáo khi được yêu cầu của quy định để đi cùng với các bản sao của các nghị quyết đặc biệt, trong các hình thức như có thể được phê duyệt theo quy định.

  • Mẫu NM01 – Thông báo thay đổi tên gọi
  • Một bản in các quy định công ty thay đổi bởi các nghị quyết đặc biệt.
  • Mẫu CIC37 đó là tuyên bố lợi ích cộng đồng.

Lưu ý rằng: Các thông tin trong mẫu đơn CIC37 cho phép điều chỉnh quyết định của công ty đủ điều kiện trở thành CIC. Các thông tin về hình thức CIC37 khi đã nộp cho cơ quan đăng ký thì không thể thay đổi trừ khi công ty thay đổi đối tượng của nó, trong trường hợp này nó sẽ cần điều chỉnh trên mẫu CIC4 để cung cấp cho cơ quan đăng ký công ty một tuyên bố lợi ích cộng đồng mới trên một mẫu cùng với các tài liệu khác.

  • Lệ phí đăng ký chuyển đổi là £ 25

Tại Anh, một tổ chức từ thiện hoặc một cơ sở bảo trợ xã hội.. cũng có thể chuyển đổi thành một CICs. Hồ sơ đăng ký chuyển đổi về cơ bản cũng giống như chuyển đổi công ty thông thường thành một CIC, một số lưu ý khác biệt được ghi chú trong: “Guidane Note – Chapter 4: Creating a Community Interest Company (CIC)” của “Office of the Regulator of Community Interest Companies. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Tương tự, các doanh nghiệp tại Thái Lan có thể đăng ký chuyển đổi thành Doanh nghiệp xã hội thông qua việc đăng ký lại với Sở phát triển kinh doanh của Bộ Thương mại Thái Lan và bổ sung các hồ sơ, nghị quyết theo quy định đã phân tích tại mục 2.1 phía trên.

Luật doanh nghiệp Việt Nam có quy định cho phép chuyển đổi loại hình công ty, cụ thể là: chuyển đổi công ty TNHH thành công ty cổ phần, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH một thành viên, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên, chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH. Riêng việc chuyển đổi một công ty cổ phần thông thường thành một công ty đại chúng thì phải nộp hồ sơ công ty đại chúng cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày trở thành công ty đại chúng. Luật không có quy định về việc chuyển từ công ty đại chúng thành công ty thông thường, tuy nhiên có thể hiểu là nếu không đủ điều kiện thì không còn là công ty đại chúng. Như vậy trong trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động và muốn chuyển đổi thành doanh nghiệp xã hội thì phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật và nộp bản Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường theo quy định tại Điều 5, Nghị định 96/2015/NĐ-CP.

Cơ sở bảo trợ xã hội, quỹ xã hội và quỹ từ thiện được phép chuyển đổi thành doanh nghiệp xã hội và bắt đầu chấm dứt hoạt động kể từ ngày nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Việc chuyển đổi phải được sự cho phép của cơ quan đã cấp giấy phép thành lập cho tổ chức, đơn vị đó.

Hiện tại, nếu coi doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh vì mục tiêu xã hội, và có thể áp dụng cho nhiều loại hình tổ chức khác nhau thuộc cả khu vực tư nhân và nhà nước, thì các cơ sở tư nhân phi lợi nhuận, doanh nghiệp nhà nước công ích, đơn vị sự nghiệp, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập,… đã hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp có thể áp dụng mô hình doanh nghiệp hiện tại mà không cần phải chuyển đổi. Chỉ khi nào,pháp luật quy định doanh nghiệp xã hội như một loại hình doanh nghiệp mới thì các tổ chức này mới phải chuyển đổi, đăng ký lại.

1.2.3 Chuyển từ Doanh nghiệp xã hội sang loại hình doanh nghiệp khác Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Pháp luật Anh không có quy định cho phép một CIC chuyển đổi thành doanh nghiệp thông thường, ngoại trừ quy định chuyển đổi CICs thành một tổ chức xã hội (Charity or Societies). Mục 6A của CICs Reg 2005 cho phép một CIC chuyển đổi thành một tổ chức xã hội, nhưng chỉ trong các hình thức của một tổ chức xã hội vì lợi ích cộng đồng – trong đó hạn chế về việc sử dụng tài sản của mình theo quy định của “Community Benefit Societies (Restriction on Use of Assets) Regulations 2006” . Một CIC không thể chuyển đổi thành một hợp tác xã (Co-operative society).

Để chuyển đổi, một nghị quyết đặc biệt phải được thông qua bởi ba phần tư số phiếu ủng hộ. Bản sao của nghị quyết này phải được nộp cho cơ quan đăng ký của công ty, những người sẽ chuyển cho CIC Regulator. Các nghị quyết đặc biệt phải được kèm theo một bản sao của các quy tắc của tổ chức xã hội mới và một tuyên bố của một thành viên có thẩm quyền của công ty khẳng định rằng, theo ý kiến của họ, khi quy định mới có hiệu lực, công ty sẽ trở thành một tổ chức xã hội vì lợi ích cộng đồng. Thêm vào đó, để được chuyển đổi, các CICs phải đủ điều kiện để chấm dứt là một CIC theo quy định của Companies (Audit, Investigations and Community Enterprise) Act 2004 (UK) như: công ty hiện tại không bị điều tra bởi các kiểm toán viên, Giám Đốc công ty do “CIC Regulator” chỉ định, tài sản của công ty không bị nắm giữ bởi các tổ chức nắm giữ tài sản khác,.vv. CIC Regulator phải thông báo quyết định của mình cho công ty. Nếu CIC Regulator cho rằng công ty có đủ điều kiện chấm dứt là một CIC, thì thông báo này phải được gửi đến Cơ quan tài chính (FCA), cùng với một bản sao của các nghị quyết đặc biệt để chuyển đổi, và các quy tắc của tổ chức xã hội trong đó có những điều khoản hạn chế về việc sử dụng tài sản. Cuối cùng, một giấy chứng nhận do các FCA xác nhận về việc tổ chức xã hội đã được đăng ký, cùng với một bản sao của quyết định của CIC Regulator, phải được nộp cho cơ quan đăng ký của công ty để việc chuyển đổi có hiệu lực.

Tại Thái Lan, theo quy định của Luật Doanh Thu (the Revenue Code (dividends, share of profits, or income from capital reduction) , không cho phép thay đổi hình thức hoạt động kinh doanh từ doanh nghiệp xã hội sang loại hình kinh doanh khác trước thời điểm kết thúc mười kỳ kế toán, bắt đầu từ kỳ kế toán khi doanh nghiệp được chấp nhận trở thành doanh nghiệp xã hội;

Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện tại được đăng ký thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp, vì vậy, việc chuyển đổi doanh nghiệp thực hiện tương tự như các hình thức Doanh nghiệp tương ứng được đăng ký theo quy định của pháp luật. Theo đó Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

  • Doanh nghiệp xã hội có thể được chia, tách thành các doanh nghiệp xã hội theo hình thức doanh nghiệp tương ứng.
  • Các doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp xã hội hợp nhất thành doanh nghiệp xã hội.
  • Sáp nhập doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp xã hội vào môt doanh nghiệp xã hội.

1.2.4 Huy động vốn của Doanh nghiệp xã hội.

Tại nước Anh, đối với CICs là loại “Limited by Guarantee” – thường viết tắt là “CLGs” thì không có vốn cổ phần và cổ đông. Các thành viên sẽ đưa ra một đảm bảo danh nghĩa để trang trải các khoản nợ của công ty khi có phát sinh. Các CLGs thường huy động vốn thông qua khoản viện trợ hoặc tài trợ, chứ không phải từ các cổ đông.

Đối với CICs là “Limited by share”, chi tiết về các quy định và các yêu cầu liên quan đến cổ phiếu và vốn cổ phần theo quy định của cơ quan đăng ký doanh nghiệp. Vốn cổ phần của CICs có thể là cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi. Các CICs phải có ít nhất 50.000 Euro vốn cổ phần phổ thông, trong đó, phải có ít nhất 25% giá trị danh nghĩa của vốn cổ phần này phải được thanh toán trước khi công ty được cấp giấy chứng nhận thành lập . Số cổ phần chưa thanh toán còn lại sẽ tiếp tục được yêu cầu thanh toán, và các cổ đông có số cổ phần này vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn đăng ký góp của mình.

Cũng như pháp luật Việt Nam, các cổ đông phổ thông của CICs phải luôn nhận thức được mọi rủi ro trong kinh doanh đối với phần vốn góp của mình, giá trị của cổ phiếu phổ thông sẽ được thanh toán sau cùng nếu công ty hoạt động không hiệu quả, bị giải thể, hoặc phá sản. Ngoài các cổ phiếu phổ thông, các CICs “Limited by share” có thể phát hành cổ phiếu ưu đãi . Các cổ phiếu ưu đãi thường quy định mức trả cổ tức cố định hàng năm sẽ phải thanh toán cho cổ đông. Tuy nhiên việc thanh toán này chỉ được thực hiện nếu công ty có lợi nhuận để phân phối. Sau một khoảng thời gian nhất định, các cổ phiếu ưu đãi này sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông. Các chi tiết của quyền này (bao gồm mức cổ tức cố định, thời gian chuyển đổi,v.v.. phải được quy định rõ trong điều lệ công ty và việc chuyển đổi, thanh toán không làm ảnh hưởng đến “Aset Lock” và không được trái với các quy định về phân chia cổ tức của CICs. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Tại Thái Lan, chưa có mô hình đặc biệt dành cho loại hình Doanh nghiệp xã hội như của anh Vương Quốc Anh (CICs – Reg) và của Mỹ (L3C); do đó, doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan áp dụng kết hợp luật điều chỉnh về quản lý các doanh nghiệp thông thường theo hình thức doanh nghiệp tương ứng và luật quản lý các tổ chức và quỹ nhân đạo để áp dụng đối với doanh nghiệp xã hội. Về nguổn vốn cho các doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan, ngoài nguồn vốn tự có của các sáng lập viên góp vốn khi đăng ký doanh nghiệp, các doanh nghiệp tại Thái Lan có thể kêu gọi và tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, viện trợ của các tổ chức tài chính hỗ trợ cộng đồng tại Thái Lan. Chính Phủ Thái Lan hỗ trợ các Tổ chức tài chính phát triển cộng đồng (Community Development Financial Institution) của Bộ Tài chính bằng việc nâng cao năng lực cho các quỹ tín dụng địa phương trong việc liên kết với Ngân hàng quốc gia Thái Lan để phát triển quỹ tín dụng cơ sở hiện có, với mục đích nâng cao năng lực cho quỹ và chuyển đổi những quỹ này thành quỹ tín dụng vì sự phát triển của địa phương. Ngoài ra, các doanh nghiệp xã hội cũng có thể vay vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại thông qua chương trình hỗ trợ doanh nghiệp xã hội của Ngân hàng quốc gia Thái Lan.

Chính Phủ Thái Lan có chính sách miễn thuế cho các công ty đầu tư vào doanh nghiệp xã hội, theo đó, các công ty này được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 100% số vốn đầu tư vào doanh nghiệp xã hội, với điều kiện doanh nghiệp xã hội đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về doanh nghiệp xã hội nêu trên, ngoại trừ trường hợp trong kỳ kế toán doanh nghiệp xã hội chi trả cổ tức cho các cổ đông vượt quá 30% lợi nhuận sau thuế. Việc không đáp ứng các điều trên sẽ dẫn đến việc mất ưu đãi miễn thuế cho các nhà đầu tư. Tương tự, nếu một nhà đầu tư chuyển nhượng cổ phần trong doanh nghiệp xã hội trước khi giải thể, nhà đầu tư sẽ bị mất miễn thuế. Các công ty và liên danh hợp pháp tặng tiền hoặc tài sản cho doanh nghiệp xã hội có thể được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp lên đến 2% lợi nhuận thuần của doanh nghiệp, với điều kiện doanh nghiệp xã hội đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp xã hội có thể chi trả cổ tức, hoặc thanh toán giảm vốn cho cổ đông vượt quá 30% lợi nhuận. Khi xem xét mức trần 2%, các khoản đóng góp này cho các doanh nghiệp xã hội phải được bao gồm cùng với các khoản đóng góp từ thiện có chất lượng khác. Việc không đáp ứng các điều trên sẽ dẫn đến việc mất miễn thuế cho các nhà đầu tư

Theo quy định của Pháp luật Việt Nam, tùy theo loại hình tương ứng khi đăng ký doanh nghiệp mà các doanh nghiệp xã hội có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau. Đối với loại hình công ty TNHH, có thể huy động vốn từ vốn góp của các thành viên ngay từ khi đăng ký thành lập. Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp có thể vay vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng. Việc tăng giảm vốn góp của các thành viên tuân thủ theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014. Đối với loại hình công ty cổ phần thì ngoài vốn góp của cổ đông sáng lập, công ty có thể huy động thêm vốn thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp.

Sự khác biệt cơ bản giữa doanh nghiệp xã hội với các loại hình doanh nghiệp truyền thống khác là doanh nghiệp xã hội có thể tiếp nhận các khoản tài trợ bằng tài sản, nguồn vốn tài chính, kỹ thuât từ các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Doanh nghiệp xã hội cũng được nhận viện trợ phi chính phủ từ nước ngoài để phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường. Mặc dù vậy, kết quả điều tra cấu trúc tài sản của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam của trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng CSIP năm 2015 cho thấy, phần lớn nguồn vốn của doanh nghiệp xã hội là vốn tự có (20,3%), vốn tích lũy từ các hoạt động sản xuất kinh doanh (45,4%), vốn từ tài trợ (5,3%), vốn vay khác chỉ chiếm 28,8%. Trình tự và thủ tục tiếp nhận vốn viện trợ được tiến hành theo quy định tại Điều 3 Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp.

1.2.5 Sử dụng vốn Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Tại Anh, tổ chức từ thiện đã đăng ký và các CICs đều phải có một tập hợp các điều khoản hạn chế phân phối tài sản – “Asset Lock”.Để thành lập và hoạt động phải có tài sản “Asset Lock”. Đây là tính năng, yêu cầu cơ bản nhằm đảm bảo cho hoạt động của CICs và nguồn tài sản này bị hạn chế dùng để trả lại hoặc thanh toán cho các thành viên. “Asset lock” có xu hướng bao gồm các tài sản trong quá trình hoạt động và giải thể các tổ chức bị hạn chế phân phối vì lợi ích cá nhân hoặc sử dụng cho bất cứ điều gì khác ngoài mục đích từ thiện hoặc cộng đồng của tổ chức. “Asset Lock” được thiết kế để đảm bảo rằng tài sản của CIC (bao gồm bất kỳ lợi nhuận hoặc các khoản gia tăng khác được tạo ra bởi các hoạt động của của CIC ) được sử dụng vì lợi ích của cộng đồng. Aset lock không được dùng để thanh toán cổ tức hoặc hoàn vốn cho các thành viên góp vốn trừ một vài ngoại lệ rất hạn chế. Một tài sản của CICs không thể được trả lại cho các thành viên của, trừ khi bản thân thành viên chính là một “cơ quan tài khóa” . Tuy nhiên, “Asset Lock” có thể dùng để thế chấp để có được một nguồn tiền kinh doanh cho doanh nghiệp. Các quy định về hạn chế chuyển nhượng“Asset Lock” không áp dụng đối với lợi nhuận, tài sản, phân phối cho các “cơ quan tài khóa” quy định thực hiện vì lợi ích của cộng đồng..

Việc chuyển giao tài sản phải đáp ứng một số yêu cầu:

  • Được tính toán theo giá thị trường để phản ánh đúng giá trị của tài sản chuyển
  • Được chuyển giao cho một cơ quan, tổ chức vì cộng đồng theo quy định tại điều lệ của CICs
  • Việc chuyển giao phải phù hợp với các quy định trong Điều lệ công ty hoặc phải phục vụ cho lợi ích cộng đồng.

Các CICs có thể sử dụng nguồn vốn của mình để hoạt động kinh doanh thông thường và phản ánh các chi phí theo quy định của các chuẩn mực tài chính kế toán tương ứng miễn là đảm bảo tuân thủ các điều kiện của “Asset Lock” và điều lệ công ty. CIC có quyền vay giống như bất kỳ công ty khác và trả lãi suất thương mại bình thường cho người cho vay. Tuy nhiên, riêng đối với chi việc trả lãi suất vay đối với các khoản vay dạng như cổ phiếu -vốn cổ phần ( chẳng hạn trả lãi cho trái phiếu của công ty), nhà làm luật tại Anh cho rằng mức lãi suất vay này nếu như quá cao sẽ phá vỡ cổ tức của cổ phiếu. Do vậy, các khoản chi trả lãi vay này bị khống chế mức trần chi trả. Tổng mức lãi suất chi trả này được tính theo tỷ lệ phần trăm trên số tiền trung bình của bất kỳ khoản vay nào. Tỷ lệ này có hiệu lực tại ngày thỏa thuận thanh toán lãi suất đã được thực hiện, hoặc, đối với nợ hiện tại tại ngày công ty trở thành CIC. Tỷ lệ nợ đặc biệt được ấn định trong suốt thời hạn của khoản nợ đó và sẽ không thay đổi nếu tỷ giá thay đổi. Chính phủ Anh cũng đã điều chỉnh mức trần lãi suất vay chi trả trong từng thời kỳ như bảng bên dưới.

Các khoản lãi vay bị khống chế mức trần: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

  • Từ 01/10/2014 đến hiện tại: 20 % của số tiền tổng dư nợ trung bình của CIC, hoặc tổng số dư nợ theo trái phiếu do CIC phát hành trong khoảng thời gian 12 tháng ngay trước ngày tính lãi của khoản nợ hoặc khoản nợ đó đến hạn (Biểu 4 của Quy chế CIC năm 2005)
  • Từ 06/04/ 2010 đến 30/09/2014: 10% của số tiền tổng dư nợ trung bình của CIC, hoặc tổng số dư nợ theo trái phiếu do CIC phát hành trong khoảng thời gian 12 tháng ngay trước ngày tính lãi của khoản nợ hoặc khoản nợ đó đến hạn (Biểu 4 của Quy chế CIC năm 2005)
  • Từ 01/07/2005 đến 05/04/2010 : Cao hơn 5% so với Lãi suất cho vay cơ bản của Ngân hàng Anh của số tiền tổng dư nợ trung bình của CIC, hoặc tổng số dư nợ theo trái phiếu do CIC phát hành trong khoảng thời gian 12 tháng ngay trước ngày tính lãi của khoản nợ hoặc khoản nợ đó đến hạn (Biểu 4 của Quy chế CIC năm 2005)

Tại Thái Lan, đối với việc sử dụng vốn, Chính phủ Thái Lan đưa ra các nguyên tắc chính về tài sản đối với doanh nghiệp xã hội tại Nghị định Hoàng gia về miễn thuế (số 621) B.E. 2559 đã được thông qua vào năm 2016. Theo đó:

Các doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan không được phép chuyển nhượng tài sản đã được sử dụng vào kinh doanh, trừ trường hợp chuyển nhượng tài sản theo quy định của Tổng giám đốc;

Không thanh toán cổ tức hoặc thanh toán giảm vốn cho cổ đông hoặc đối tác khác trừ một số trường hợp theo điều lệ công ty quy định và mức thanh toán này không vượt quá 30% lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Để đảm bảo tính minh bạch, các doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan cũng không được ký kết bất kỳ thỏa thuận nào về việc trả thù lao với các cổ đông hoặc thành viên công ty, và không phải trả thù lao cho các cổ đông hoặc thành viên, kể cả những người có liên quan của cổ đông hoặc các đối tác, trừ trường hợp khác do công ty quy định. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Khi ngừng hoạt động: Nếu doanh nghiệp xã hội ngừng hoạt động và thanh toán hết mọi khoản nợ, phần tài sản còn lại ngoài phần vốn đầu tư ban đầu, lợi nhuận tích lũy được sẽ được sử dụng theo mong muốn của chủ doanh nghiệp, nhưng có một phần tài sản được trích chia cho Quỹ Khuyến khích doanh nghiệp xã hội.

Việt Nam cho đến hiện nay vẫn chưa có các quy định pháp luật riêng biệt về vấn đề sử dụng vốn của các doanh nghiệp xã hội. Do đó, các doanh nghiệp xã hội thực hiện quản lý và sử dụng vốn theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật kế toán và thuế tương ứng với loại hình doanh nghiệp của mình. Tuy nhiên cần lưu ý một số trường hợp riêng trong vấn đề sử dụng và xử lý vốn/ tài sản của Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam như sau:

Trường hợp doanh nghiệp xã hội chấm dứt Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội và môi trường, toàn bộ số dư tài sản và nguồn tài chính còn lại của các khoản viện trợ, tài trợ đã được nhận phải được chuyển trả lại cho cá nhân, tổ chức đã viện trợ, tài trợ hoặc chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác hoặc tổ chức xã hội khác có mục tiêu xã hội tương tự.

Sau khi xử lý số dư của các khoản tài trợ, viện trợ theo quy định, đồng thời thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản liên quan thì Doanh nghiệp xã hội mới được chấm dứt Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường.

1.2.6 Mua lại, chuyển nhượng và giảm vốn

Theo quy định của Luật công ty Anh 2006 tại phần 686, 691 và điều 24 của CICs Reg , một công ty có thể mua lại cổ phần của mình đã phát hành, nhưng phải phù hợp với điều lệ ban đầu của công ty. Riêng với loại hình CICs, việc mua lại cổ phần phải đảm bảo các điều khoản của “Asset lock”, theo đó việc mua lại không vượt quá giá trị thanh toán của cổ phần được phép. Số tiền thanh toán không được vượt quá giá trị thanh toán của cổ phần, nghĩa là số tiền của giá trị danh nghĩa được thanh toán cùng với phí bảo hiểm trả cho công ty. Luật Công ty Anh 2006 có các quy tắc chi tiết (khác với các công ty nhà nước và tư nhân) đối với các khoản tiền có thể được dùng để mua lại đối với các CICs. Khi cổ phần đã được mua lại sẽ bị huỷ bỏ và vốn cổ phần đã phát hành được giảm xuống theo giá trị danh nghĩa. Các CICs của Anh cũng có thể giảm vốn cổ phần trong trường hợp có cổ phần đã phát hành nhưng không được thanh toán theo quy định tại điều 25 của CIC Reg.

CICs Reg không quy định cụ thể về trường hợp chuyển nhượng vốn cổ phần. Tuy nhiên, các cổ đông của doanh nghiệp xã hội tại Anh sẽ căn cứ vào Luật Công ty Anh để thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần của mình nhưng phải đảm bảo bên nhận chuyển nhượng cam kết tiếp tục thực hiện các mục tiêu xã hội và các cam kết tuân thủ của công ty trước đó.

Các doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan bị hạn chế việc chuyển nhượng vốn cho cho đối tác khác, bị hạn chế việc mua lại ( thanh toán giảm vốn) cho các cổ đông và đối tác khác. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng, mua lại vẫn có thể tiến hành và trong trường hợp thanh toán giảm vốn vượt mức 30% giá trị lợi nhuận ròng hoặc cổ đông hoặc đối tác chuyển nhượng phần vốn góp trước khi doanh nghiệp xã hội đó giải thể, doanh nghiệp xã hội đó sẽ mất quyền ưu đãi thuế theo quy định Nghị định Hoàng Gia số 621 về Thuế. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư của doanh nghiệp xã hội chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần của mình cho tổ chức, cá nhân khác nếu:

Bên nhận chuyển nhượng cam kết tiếp tục thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký của doanh nghiệp.

Cổ phần của cổ đông sáng lập theo quy định tại Khoản 3 Điều 119 Luật Doanh nghiệp chỉ được chuyển nhượng trong thời hạn Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường đối với Cổ đông đã ký tên trong Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường.

Nếu doanh nghiệp xã hội không duy trì mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký, không duy trì mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nội dung Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, thì doanh nghiệp phải hoàn lại toàn bộ các khoản ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ dành riêng cho doanh nghiệp xã hội. Đồng thời, chủ doanh nghiệp và các thành viên, thành viên hội đồng quản trị đối với doanh nghiệp xã hội là công ty cổ phần đã ký tên trong Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn lại các ưu đãi, tài trợ mà doanh nghiệp đã nhận, bồi thường các thiệt hại phát sinh xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp xã hội vi phạm nội dung này.

Đối với việc mua lại phần vốn góp, mua lại vốn cổ phần của cổ động trong công ty của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam thì theo tuân thủ quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014. Theo đó việc thanh toán khi công ty mua lại phần vốn góp/ vốn cổ phần chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Đối với loại hình công ty cổ phần thì chỉ được phép mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán

1.2.7 Phân phối lợi nhuận Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Giống như bất kỳ công ty khác, CICs chỉ có thể trả cổ tức từ lợi nhuận có thể phân phối theo luật công ty và các quy tắc kế toán liên quan. Nếu một CIC muốn trả cổ tức cho các nhà đầu tư tư nhân mà không phải là cơ quan tài khóa được định nghĩa phía trên, nó phải áp dụng các quy định tại Phụ lục 3 của CIC Reg 2005. Điều này có thể làm cho CICS không hấp dẫn đối với một số nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận cao trong kinh doanh. Kể từ khi thành lập vào năm 2004, CICs đã phải chịu đựng tình trạng khó khăn về tài chính và tỷ lệ thất bại cao. Năm 2013, Văn phòng Điều tiết Các Công ty Lợi ích Cộng đồng ở Anh dự kiến giải thể gần 1.000 công ty lợi ích cộng đồng (CICs). Hầu hết sẽ được giao dịch ít hơn ba năm và nhiều ý kiến cho rằng việc thiếu nguồn vốn đầu tư là lý do để thất bại. Do trước đây các CICs bị hạn chế mức chi trả cổ tức, do đó không hấp dẫn nhà đầu tư góp vốn kinh doanh cho loại hình doanh nghiệp này.

Trước đây mức chi trả cổ tức tối đa của các CICs là mức lãi suất cao hơn 5% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Anh công bố, sau đó điều chỉnh lên mức mức tối đa 20% giá trị cổ phiếu đã được thanh toán. Năm 2014, chính phủ Anh đã gỡ bỏ điều khoản về mức cổ tức tối đa. Tuy nhiên cần lưu ý ra, mức cổ tức tối đa cho mỗi cổ phần không bị hạn chế nhưng tổng mức thanh toán cổ tức không vượt quá 35% lợi nhuận sau thuế của CICs theo quy định:

Tại Thái Lan, trước đây Thái Lan quy định việc chi trả lợi nhuận hoặc các lợi ích khác cho các cổ đông không được vượt quá 20% giá trị lợi nhuận ròng hàng năm, nhằm bảo đảm doanh nghiệp không hướng tới việc tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông, mà hướng tới việc đem phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư cho các hoạt động có mục tiêu xã hội tương tự. Tuy nhiên, theo quy định mới của Nghị định Hoàng Gia số 621 về Thuế, mức trần chi trả này đã tăng lên 30%. Các doanh nghiệp có mức chi trả tối đa vượt quá 30% giá trị lợi nhuận ròng hàng năm sẽ bị loại khỏi chương trình miễn giảm thuế dành cho doanh nghiệp xã hội.

Tại Việt Nam,không có quy định mức chi trả cổ tức tối đa, song gián tiếp quy định phần lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư là 51% ổng lợi nhuận hằng năm. Có thể thấy, với quy định này, nhà làm luật Việt Nam kỳ vọng sẽ thu hút thêm được nhiều nhà đầu tư hơn cùng tham gia vào việc góp vốn thành lập và điều hành doanh nghiệp xã hội.

1.2.8 Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp xã hội

Theo mục 53 của Companies (Audit, Investigations and Community Enterprise) Act 2004 , CIC chỉ được phép ngừng hoạt động bằng cách giải thể, hoặc chuyển sang tổ chức từ thiện. Điều này có nghĩa là một khi một công ty đã trở thành CIC nó không thể chuyển đổi sang một công ty thông thường khác. Trong trường hợp giải thể, bất kỳ tài sản nào mà CIC sở hữu sau khi thanh toán tất cả các khoản nợ và nợ của nó sẽ được chuyển sang một “cơ quan tài khóa khác” (có thể đã được quy định trong điều lệ công ty hoặc được Cơ quan quản lý CIC chấp thuận) . Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Việc giải thể một doanh nghiệp tại Thái Lan cũng phải tuân thủ quy định về giải quyết tài sản khi doanh nghiệp ngừng hoạt động. Như phía trên đã nêu: Nếu doanh nghiệp xã hội ngừng hoạt động và thanh toán hết mọi khoản nợ, phần tài sản còn lại ngoài phần vốn đầu tư ban đầu, lợi nhuận tích lũy được sẽ được sử dụng theo mong muốn của chủ doanh nghiệp, nhưng có một phần tài sản được trích chia cho Quỹ Khuyến khích doanh nghiệp xã hội.

Theo quy định của pháp luật Viêt Nam, khi giải thể doanh nghiệp xã hội, số dư tài sản hoặc tài chính còn lại đối với nguồn tài sản, tài chính mà doanh nghiệp xã hội đã nhận viện trợ phải được trả lại cho cá nhân, tổ chức đã viện trợ, tài trợ hoặc chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác, tổ chức xã hội khác có mục tiêu xã hội tương tự. Hồ sơ, trình tự, thủ tục chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể đối với doanh nghiệp xã hội thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Việc xử lý số dư tài sản hoặc tài chính của nguồn viện trợ, tài trợ đã nhận, phải có biên bản thỏa thuận với cá nhân, tổ chức liên quan về việc xử lý số dư tài sản hoặc tài chính đối với nguồn viện trợ, tài trợ mà doanh nghiệp xã hội đã nhận trong hồ sơ giải thể.

Pháp luật Việt Nam cũng quy định trường hợp Doanh nghiệp xã hội chấm dứt Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường trong các trường hợp tại Điều 8, Nghị Định 96/2015 /NĐ-CP, bao gồm các nguyên nhân như: Hết thời hạn cam kết thực hiện; Vấn đề xã hội cam kết thực hiện trong mục tiêu xã hội đã thay đổi; Không thực hiện cam kết hoặc thực hiện không đầy đủ các nội dung đã cam kết; không thực hiện đúng mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư;…

Doanh nghiệp chỉ được chấm dứt thực hiện cam kết sau khi xử lý số dư của các khoản tài trợ, viện trợ theo quy định, đồng thời thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản liên quan. Doanh nghiệp xã hội phải gửi văn bản thông báo với Cơ quan đăng ký doanh nghiệp về việc chấm dứt Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định chấm dứt. Các tài liệu gồm: Quyết định về chấm dứt Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp phải được thông qua theo tỷ lệ biểu quyết theo điều lệ doanh nghiệp và quy định của Luật Doanh nghiệp; Bản sao biên bản họp biểu quyết; hoặc Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc chấm dứt thực hiện nội dung cam kết thực hiện trong mục tiêu xã hội có nêu rõ lý do chấm dứt. Biên bản thỏa thuận với cá nhân, tổ chức liên quan về việc xử lý số dư tài sản, nguồn tài chính còn lại của các khoản viện trợ, tài trợ mà doanh nghiệp xã hội đã nhận.

Các doanh nghiệp xã hội cũng được phép phá sản theo quy định của pháp luật. Phá sản các doanh nghiệp xã hội tại Anh, Thái Lan, Việt Nam đều tham chiếu theo các quy định của Luật Phá Sản của từng quốc gia. Trình tự, thủ tục tiến hành phá sản được hướng dẫn chi tiết theo các quy định pháp luật liên quan.

  • Tiểu kết chương 1

Tại chương 1, tác giả phân tích các đặc điểm của doanh nghiệp xã hội nhằm làm rõ những đặc thù khác biệt của doanh nghiệp xã hội so với các loại hình doanh nghiệp khác. Chương 1 cũng chỉ ra lý do vì sao nên chọn trở thành một doanh nghiệp xã hội và việc cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với loại hình doanh nghiệp này.

Tại chương 1, tác giả cũng đã thực hiện phân tích so sánh pháp luật của Anh, Thái Lan và Việt Nam tương ứng với mỗi vấn đề liên quan đến thành lập,chuyển đổi, điều hành và quản lý doanh nghiệp xã hội dưới góc độ pháp luật để nhận thấy sự khác biệt trong các tư duy pháp luật của từng quốc gia. Từ những phân tích đó, là tiền đề, cơ sở để đề xuất các chính sách pháp lý nhằm hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp xã hội trong chương 2 Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464