Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản tỉnh Cà Mau và kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội và con người tỉnh Cà Mau có ảnh hưởng đến tạo việc làm
2.1.1. Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Cà Mau
2.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, thuộc khu vực Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, được tái lập ngày 01/01/1997. Đơn vị hành chính: bao gồm 08 huyện, 01 thành phố như: Ngọc Hiển, Năm Căn, Cái Nước, Phú Tân, Thới Bình, Trần Văn Thời, U Minh, Đầm Dơi, thành phố Cà Mau; 101 xã, phường, thị trấn. Lãnh thổ gồm 2 phần: phần đất liền và vùng biển chủ quyền.
Phần đất liền: Diện tích 5.294,87 km2, xếp thứ 2 và bằng 12,97% diện tích khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bằng 1,58% diện tích cả nước. Trong đó, diện tích đất nuôi trồng thủy sản trên 266.735 ha, đất trồng lúa 129.204 ha, đất lâm nghiệp 103.723 ha.
Nằm ở 8034’ đến 9033’ vĩ độ Bắc và 104043’ đến 105025 kinh độ Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 370 km, cách thành phố Cần Thơ 180 km về phía nam. Theo đường chim bay, từ bắc tới nam dài 100 km.
Phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông và đông nam giáp biển Đông và phía tây giáp Vịnh Thái Lan. Cà Mau nằm trên bán đảo, có vị trí địa lý khá đặc biệt, với ba mặt tiếp giáp biển. Mũi Cà Mau là nơi duy nhất trên đất liền có thể ngắm được mặt trời mọc lên từ mặt biển Đông vào buổi sáng và lặn xuống mặt biển Tây vào buổi chiều. Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á nên rất thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực.
Vùng biển: Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam do tỉnh Cà Mau quản lý có diện tích 71.000 km2. Trong đó, có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Buông và Hòn Đá Bạc.
Cà Mau giàu tài nguyên về rừng và biển. Bờ biển Cà Mau dài 254 km chạy từ phía biển Đông sang vịnh Thái Lan, bờ biển thấp, nền đất yếu và bằng phẳng. Diện tích vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000 km, độ sâu trung bình từ 30 đến 35 mét; trong lòng biển có nhiều loài tôm, cá… có giá trị kinh tế cao. Biển Cà Mau có vị trí trung tâm đường biển trong vùng Đông Nam Á và sát với đường biển quốc tế, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Do có vị trí địa lý thuận tiện, tài nguyên thiên nhiên phong phú, những đặc thù về sinh thái rừng, biển, khí hậu thuận lợi… tạo cho Cà Mau có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế thủy sản, nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến xuất khẩu, dịch vụ, du lịch, khai thác khí đốt và dầu khí.
2.1.1.2. Đặc điểm kinh tế
Năm 2016, kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, kinh tế trong nước đang ở quá trình phục hồi, thêm vào đó, biến đổi khí hậu (BĐKH), hạn hán nghiêm trọng, nước mặn xâm nhập sâu ở ĐBSCL… đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của người dân và tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Cà Mau.
Tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết, quyết tâm phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế của tỉnh từng bước phục hồi và duy trì được tốc độ tăng trưởng khá.
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2016 đạt hơn 35.373 tỷ đồng, tăng 5,15%; thu nhập bình quân đầu người đạt 37,7 triệu đồng (so với mức 35,36 triệu đồng năm 2015); cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng hướng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 10.165 tỷ đồng; thu ngân sách đạt khoảng 4.300 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 1 tỷ USD.
Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh được lãnh đạo tỉnh tăng cường chỉ đạo và bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực, tạo được niềm tin và ủng hộ của người dân và doanh nghiệp đối với những nỗ lực của các cấp chính quyền. Trong năm 2016 có 469 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.572 tỷ đồng; đã thu hút được 36 dự án đầu tư với tổng số vốn gần 7.000 tỷ đồng.
Hiện nay, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản hàng năm của toàn tỉnh đạt trên 441 nghìn tấn, trong đó sản lượng tôm chiếm tỷ trọng 34%. Đây là yếu tố thuận lợi đảm bảo nguồn liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu của tỉnh. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Ngoài thế mạnh về thuỷ sản, Cà Mau còn có tiềm năng về tài nguyên rừng, khoáng sản và tiềm năng phát triển nông nghiệp. Diện tích rừng của Cà Mau khoảng 110.000 ha, chủ yếu là rừng đước và rừng tràm. Về khoáng sản, vùng biển Cà Mau có tiềm năng lớn về khí đốt, trữ lượng khoảng 170 tỷ m3, là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp sử dụng khí tự nhiên như: điện, đạm và một số ngành sử dụng khí thấp áp khác.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, ngoài cây lúa với diện tích khoảng 130.000 ha, Cà Mau còn có khả năng phát triển một số loài cây trồng khác phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, môi trường và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm… tạo vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, lương thực, thực phẩm.
2.1.1.3. Đặc điểm xã hội
Tính đến đầu năm 2017, dân số tỉnh Cà Mau có 1.223.191 người, với 613.042 nam và 610.149 nữ; tổng số 290.846 hộ. Trong đó: Ở thành thị, có 69.015 hộ, với 276.385 người. Ở nông thôn, có 221.831 hộ, với 946.806 người. Tỷ lệ sinh 14,55%0. Tỷ lệ chết 4,95%0. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,96%. Mức giảm tỷ lệ sinh 0,02%.
Đến đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh Cà Mau, người Kinh chiếm đại đa số, với khoảng 1.180.000 người, chiếm trên 96% dân số và sinh sống hầu hết ở các nơi trong tỉnh. Tiếp theo là người Khmer khoảng 33.439 người, chiếm 2,73% dân số, sống tập trung tại các ngôi chùa ở cả thành thị và nông thôn, tạo thành các xóm người Khmer, sinh sống bằng nghề trồng lúa, rau màu, chăn nuôi, khai thác thủy sản, mua bán nhỏ. Người Hoa có 9.418 người, chiếm 0,76% dân số, chủ yếu sống ở khu vực thành thị, sinh sống bằng nghề mua bán. Còn lại là các dân tộc khác như: Mường, Thái, Tày, Nùng, Giao, Gia rai, Ê đê, Chăm, Chu ru, Si la, người nước ngoài. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ngày càng được mở rộng, tất cả các huyện, thành phố đều có trung tâm dạy nghề, nhiều doanh nghiệp cơ sở sản xuất đã tích cực tham gia truyền nghề, bồi dưỡng nghề cho người lao động.
Những năm gần đây, tỉnh Cà Mau đã đầu tư, triển khai nhiều chương trình, dự án về đào tạo nghề và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Năm 2016, đã giải quyết việc làm cho 40.359 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo (không kể truyền nghề) chiếm 37,7%. Cơ cấu sử dụng lao động 100%.
Hiện nay, số lao động làm việc trong tỉnh giảm do tình hình sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp tại địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Công tác phối hợp dạy nghề gắn với giải quyết việc làm giữa cơ sở dạy nghề với chính quyền địa phương và doanh nghiệp còn hạn chế nên một số lao động sau học nghề chưa tìm được việc làm phù họp tại địa phương. Mặc dù kết quả giải quyết việc làm có tăng so cùng kỳ, nhưng lao động mất việc làm, đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp khoảng 4.783 người, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu lao động theo ngành chủ yếu vẫn là nông nghiệp và thủy sản. Trình độ học vấn, ngành nghề, trình độ đào tạo, đạt mức trung bình của vùng. Tạp quán, kinh nghiệm canh tác và kỹ năng nghề nghiệp của lao động Cà Mau được tích lũy qua nhiều thế hệ thuộc loại khá so với các tỉnh khác, nhất là kỹ năng lao động nghề nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, trồng lúa.
Công tác giáo dục – đào tạo của tỉnh luôn được sự quan tâm chỉ đạo đặc biệt của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương. Cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục – đào tạo được đầu tư nâng cấp và mở rộng, chất lượng giáo dục – đào tạo học sinh theo ngành học, bậc học đều có chuyển biến tích cực; tình trạng học sinh bỏ học do giao thông đi lại khó khăn đã được khắc phục, ngoài ra, tỉnh đã ban hành đề án xây dựng 1.588 cầu giao thông nông thôn và hỗ trợ tiền đò cho học sinh nghèo nông thôn từ đó đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh nói riêng.
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân những năm gần đây có bước phát triển tích cực, cơ sở vật chất phục vụ công tác khám, chữa bệnh được các cấp quan tâm đầu tư nâng cấp và mở rộng. Tỉnh đã xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động Bệnh viện đa khoa tỉnh, với quy mô 500 giường, góp phần hạn chế tình trạng quá tải và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh của cho nhân dân. Bệnh viện sản nhi tỉnh được thành lập và đi vào hoạt động đã góp phần tích cực chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, đến nay 100% xã phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh có trạm y tế; 100% xã, phường, thị trấn có bác sĩ; 100% trạm y tế có nữ hộ sinh trung học và y sĩ sản nhi; 100% ấp, khóm có nhân viên y tế hoạt động…Đến cuối năm 2016, trên địa bàn tỉnh có bình quân 11,5 bác sĩ, dược sĩ đại học/vạn dân và có 26,2 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 81,5%. Đến đầu năm 2017, tỉnh Cà Mau có 100% xã, phường, thị trấn đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 – 2020.
2.1.2. Ngành thủy sản tỉnh Cà Mau Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Thủy sản luôn khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội tỉnh nhà. Tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động và đang phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, sản phẩm thủy sản có sức cạnh tranh cao trên thị trường để tiếp tục phát triển nhanh, ổn định và bền vững.
Cà Mau có gần 10 cửa biển lớn nhỏ là nơi tập trung của các tàu đánh bắt thủy sản trong và ngoài nước, trong đó có 3 cửa tập trung đông nhất là Cửa Sông Đốc, Cửa Khánh Hội và Cửa Rạch Gốc với hơn 5.000 phương tiện đánh bắt lớn nhỏ. Với đủ loại phương tiện đánh bắt gần và xa bờ thêm vào đó là kinh nghiệm đánh bắt hàng chục năm của ngư dân và công nghệ đánh bắt hiện đại nên sản lượng khai thác ngày một tăng lên.
So với cả nước, thì Cà Mau có lợi thế phát triển nghề đánh bắt. Với ba mặt giáp biển cùng chiều dài bờ biển là 254km, bao bọc từ tây sang đông, Cà Mau có diện tích mặt nước trải rộng từ các bãi bồi ven biển đến các khu rừng ngập nước. Là một trong bốn ngư trường trọng điểm của cả nước, ngư trường Cà Mau có trữ lượng lớn và đa dạng các nguồn hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua, mực, cá chai, cá mú.. Trong các đối tượng khai thác chính thì sản lượng cá tăng trưởng ổn định, các loại thủy sản khác diễn biến tăng giảm thiếu ổn định
Trong đó những sản phẩm chính có giá trị kinh tế cao là Tôm, cá làm chả là hai mặt hàng chủ yếu cho xuất khẩu còn cá làm bột, mực và bạch tuộc một phần xuất khẩu và một phần bán cho các tỉnh khác và còn lại là các loại cá và cá tạp khác chủ yếu bán cho các tỉnh khác và phục vụ cho nhu cầu địa phương. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản năm 2016 ước đạt 480.000 tấn (kế hoạch 530.000 tấn), bằng 90,6% kế hoạch, giảm 4% so với năm 2015. Trong đó, sản lượng tôm ước đạt 156.000 tấn, bằng 83,6% kế hoạch, giảm 3,3% so với năm 2015.
Sản xuất thủy sản đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh nhà, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất cho nông dân ở các vùng ven biển và nông thôn, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, góp phần đem lại cho tỉnh mỗi năm hàng trăm triệu đô la, đưa Cà Mau trở thành tỉnh có kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất nước, đem lại nguồn thu ngoại tệ cho nước nhà.
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 297.200 ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm khoảng 266.000 ha. Đến cuối tháng 11/2016, diện tích nuôi tôm công nghiệp đạt 9.587 ha (kế hoạch đến cuối năm 2016 đạt 11.000 ha), tăng 3,3% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích đang thả nuôi chiếm 40% (có 175 ha nuôi ứng dụng quy trình công nghệ cao); diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến đạt 90.552 ha (kế hoạch đến cuối năm 2016 đạt 90.000 ha), tăng 16% so cùng kỳ, năng suất bình quân đạt trên 500 kg/ha/năm; tôm nuôi quảng canh truyền thống phát triển ổn định, diện tích đang nuôi đạt 95% diện tích, năng suất bình quân từ 250 – 300 kg/ha/năm; nuôi xen canh giữa tôm quảng canh truyền thống với cua, sò huyết khá hiệu quả.
Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt đạt 19.803 ha. Trong đó, chủ yếu là cá lóc, cá rô, cá bổi… Đây là những loài thủy sản truyền thống của địa phương. Tập trung nhiều ở các huyện: Trần Văn Thời, U Minh, Cái Nước và thành phố Cà Mau.
Ngoài ra, phong trào nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh theo quy mô trang trại, hộ gia đình và đã đem lại kết quả cao. Chủng loại nuôi thủy sản rất đa dạng như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, cua biển, hàu lồng, sò huyết, nghêu, vọp, ốc len, cá chình, bống tượng, ba ba, cá nước ngọt…
Cà Mau có 3 mặt giáp biển, với 254 km bờ biển, có ngư trường rộng trên 100.000 km2, có nhiều nguồn lợi thủy sản nên nghề khai thác thủy sản trên biển rất phát triển. Tỉnh Cà Mau có 4.563 phương tiện khai thác biển, với tổng công suất 581.099 CV. Trong đó, có 3.256 phương tiện có công suất từ 20 CV trở lên. Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản có nhiều tiến bộ, các nghề, các phương thức khai thác gây sát hại nguồn lợi thủy sản từng bước được kiểm soát và hạn chế; công tác đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy phép hoạt động tàu cá được triển khai khá đồng bộ; việc tái tạo nguồn lợi như: thả tôm, cá giống ra biển được tiến hành theo định kỳ. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Để khai thác có hiệu quả nguồn lợi thủy sản, tỉnh Cà Mau đã đầu tư nhiều tàu thuyền và được trang bị các thiết bị hiện đại như máy định vị, tầm ngư… Cơ sở hạ tầng cho nghề khai thác biển được tỉnh tập trung đầu tư xây dựng như Cảng cá Cà Mau, Cảng cá sông Ông Đốc, Cảng cá Hòn Khoai và nhiều khu neo đậu đậu, trú bão cho các tàu thuyền.
Để phát triển ngành thủy sản theo hướng hội nhập quốc tế, nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để đổi mới công nghệ, mua sắm thiết bị và nâng cấp nhà xưởng. Tổng công suất thiết kế đạt trên 150.000 tấn thành phẩm/năm. Hiện nay, công nghệ chế biến thủy sản ở Cà Mau đã ngang tầm với nhiều quốc gia trên thế giới. Các mặt hàng chế biến ngày đa dạng, phong phú, chất lượng không ngừng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu của nhiều thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Úc và EU… Năm 2016, Cà Mau có 34 nhà máy chế biến thủy sản, công suất 150.000 tấn thành phẩm/năm, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt gần 01 tỷ USD, chiếm 33% kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước, giải quyết việc làm cho 300.000 người.
Tiến độ thực hiện Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản: Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt 85 tàu đủ điều kiện đóng mới và nâng cấp 04 tàu, các ngân hàng đã ký hợp đồng cho vay đóng mới 23 tàu và nâng cấp 02 tàu; đã giải ngân 161,056/210,265 tỷ đồng; đang đóng 11 tàu, đã hạ thủy và đưa vào hoạt động 14 tàu. Hỗ trợ phí bảo hiểm cho 7.018 thuyền viên, với 2,1 tỷ đồng; hỗ trợ phí bảo hiểm thân tàu, ngư lưới cụ 139 tàu, với 4,387 tỷ đồng; thực hiện chính sách hỗ trợ vận chuyển hàng hóa cho 107 trường hợp (58 tàu), với 4,32 tỷ đồng.
Hiện nay, tỉnh Cà Mau đang thực hiện nhiều chính sách thu hút các nhà đầu tư thực hiện các dự án chế biến thủy sản, thu mua nguyên liệu, sản xuất chả cá, cá khô, nước mắm, đóng mới, sửa chữa tàu thuyền và cung cấp các dịch vụ hậu cần nghề cá.
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết việc làm trong ngành thủy sản ở Cà Mau Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
2.2.1. Thực trạng lao động và đào tạo lao động trong ngành thủy sản Cà Mau
Cà Mau là một trong số 28 tỉnh, thành trong cả nước có biển, với hệ sinh thái biển đa dạng, tài nguyên biển phong phú bao gồm cả ở vùng bờ, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, hải đảo, vị trí địa lý vùng biển, đã tạo cho Cà Mau nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế biển và giao lưu quốc tế. Lực lượng lao động phục vụ phát triển kinh tế biển trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Cà Mau khá dồi dào. Lực lượng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động là 1.104.040 người, số lao động đang làm việc là 1.064.643 người, thì trong đó có đến 807.138 người có việc làm trong các doanh nghiệp kinh tế biển, trong đó có nhiều doanh nghiệp liên quan đến hội nhập quốc tế và doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực kinh tế biển.
Lực lượng lao động phục vụ phát triển ngành thủy sản trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Cà Mau khá dồi dào. Lực lượng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động là 1.104.040 người, số lao động đang làm việc là 1.064.643 người, thì trong đó có đến 807.138 người có việc làm trong các doanh nghiệp kinh tế biển, trong đó có nhiều doanh nghiệp liên quan đến hội nhập quốc tế và doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực kinh tế biển.
Nguồn cung lao động phục vụ nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp thủy sản trong điều kiện hội nhập quốc tế của tỉnh hiện nay khá lớn, nhưng số lao động đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển biển trong hội nhập quốc tế còn rất ít, do thiếu kỹ năng, tay nghề, chất lượng đào tạo, dạy nghề của một số cơ sở đào tạo trong tỉnh còn thấp,…chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế biển biển gắn với hội nhập quốc tế, nhất là kỹ năng quan hệ quốc tế.
Toàn tỉnh Cà Mau hiện có 8.858 doanh nghiệp, nhưng trong đó đã có đến 6.289 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thủy sản, chiếm khoảng 70,9% số doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn tỉnh. Trong đó, có nhiều doanh nghiệp ngành thủy sản có tham gia xuất nhập khẩu và hợp tác quốc tế như: thuỷ sản, du lịch biển, vận tải biển, vật liệu xây dựng… Tính đến nay, các sản phẩm thủy sản của Cà Mau đã xuất khẩu qua 43 nước trên thế giới và thu hút 35 dự án ODA, FDI của các nhà đầu tư thuộc 18 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1,3 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm kinh tế biển ước đạt 400 triệu USD. Giai đoạn 2011-2016 tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản của Cà Mau đạt 11,4%/năm (Giá CĐ 1994). Tỷ trọng GDP kinh tế biển chiếm 75,6% GDP toàn tỉnh; chuyển dịch kinh tế theo hướng dịch vụ – công nghiệp, xây dựng – nông nghiệp gắn với mở cửa, hội nhập quốc tế. GDP bình quân đầu người trong kinh tế biển năm 2016 đạt 3.154 USD/người tăng gần 2 lần so với năm 2010. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Giai đoạn 2011 – 2016, Cà Mau đã có nhiều cố gắng đầu tư xây mới, nâng cấp các trường học, cơ sở đào tạo, dạy nghề. Toàn tỉnh hiện có 694 cơ sở giáo dục và đào tạo, tăng 20 cơ sở so với năm 2010, trong đó có: 136 trường mầm non, 514 trường phổ thông, 5 trường cao đẳng, 4 trường trung cấp nghề, 4 trường nghiệp vụ, 15 trung tâm bồi dưỡng chính trị, 14 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trường chính trị tỉnh và 3 trường Cao Đẳng (Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Cà Mau, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Cà Mau, Trường Cao Đẳng Y Tế Cà Mau). Trong đó, lực lượng lao động phục vụ cho phát triển ngành thủy sản trong điều kiện hội nhập quốc tế được ưu tiên đào tạo.
Đến nay, tỷ lệ người dân biết đọc biết viết ở khu vực ven biển và hải đảo của Cà Mau so với dân số đạt 95,21% tăng 1% so với năm 2010; người dân trong độ tuổi học hết tiểu học so với dân số đạt 99,7%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông bình quân hàng năm trong giai đoạn 2011-2016 là 98,95%, tăng 25% so giai đoạn trước, tổng số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông tính luỹ kế từ năm 2006 đến năm 2016 là 90.576 người và tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào đại học, cao đẳng là 37,66%.
Năm 2016, nguồn nhân lực ngành thủy sản của tỉnh được đào tạo 419.711 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh lên 45% đáp ứng tốt yêu cầu lao động trong kinh tế biển và hội nhập quốc tế. Nguồn nhân lực được đào tạo trình độ từ đại học trở lên có trên 36.000 người, chiếm khoảng 2,05% dân số. Nguồn nhân lực khoa học công nghệ của tỉnh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Đến nay, toàn tỉnh có 27.150 người có khả năng tham gia nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển trong điều kiện hội nhập quốc tế. Qua khảo sát tình hình nguồn nhân lực trong các ngành, lĩnh vực kinh tế biển cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Nguồn nhân lực trong ngành thủy sản gồm khai thác và nuôi trồng thuỷ sản chiếm 36,3% trong cơ cấu lực lượng lao động kinh tế biển, với 121.807 người, lao động qua đào tạo chiến tỷ lệ rất thấp, chỉ khoảng 15%, chủ yếu ở trình độ trung cấp và sơ cấp, tỷ lệ đào tạo nghề hải sản có trình độ từ đại học trở lên chỉ chiếm 2,2%. Lực lượng lao động ngành hải sản tham gia làm việc trong 1.238 doanh nghiệp, phần lớn là doanh nghiệp tư nhân khai thác hải sản, trong đó có 188 doanh nghiệp sản xuất giống thuỷ sản và 25 doanh nghiệp nuôi tôm công nghiệp với quy mô lớn. Lực lượng lao động ngành hải sản của tỉnh chủ yếu cung cấp nguyên liệu thuỷ sản cho chế biến xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, tạo ra mức thu nhập 8.805,3 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), chiếm 12,2% trong cơ cấu GDP của tỉnh.
Từ sự phân tích trên cho thấy thu nhập của lực lượng lao ngành thủy sản có tỷ trọng đóng góp lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tổng thu nhập do lực lượng lao động ngành thủy sản tạo ra đạt 54.546,51 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), chiếm tỷ lệ 75,6% GDP của toàn tỉnh, cho thấy nguồn nhân lực phục vụ kinh tế biển có vai trò rất quan trong nền kinh tế – xã hội của tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, đến nay số lượng, cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ ngành thủy sản của tỉnh chỉ mới đáp ứng được yêu cầu trước mắt, chất lượng chưa cao, năng suất lao động thấp, thiếu nguồn nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển ở trình độ cao, nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập với các nước trong khu vực ASEAN và quốc tế khi triển khai thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành thủy sản ở Cà Mau hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, do điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo, dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ y tế ở một số cơ sở đào tạo và khám chữa bệnh chưa đáp ứng yêu cầu, một số nơi xuống cấp chưa được đầu tư sửa chữa; thiếu giáo viên có trình độ chuyên môn dạy nghề kinh tế biển, và dạy nghề kinh tế biển ở một số cơ sở đào tạo còn hạn chế,… đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành thủy sản của tỉnh. Mặt khác, điểm xuất phát về mặt bằng dân trí của tỉnh thấp, là tỉnh có địa bàn rộng, dân cư sống phân tán khắp vùng biển và hải đảo, khó tập trung cho đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và giải quyết việc làm; có vị trí cách xa các trung tâm kinh tế lớn, giao thông không thuận lợi; ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục-đào tạo, dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ còn nhiều khó khăn. Chất lượng nguồn nhân lực biển tuy có nâng lên, song vẫn còn thấp so với cả nước và các nước trong khu vực ASEAN, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển ngành thủy sản trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.
Kết quả khảo sát gần đây cho thấy: Không ít nhà máy, cơ sở chế biến Nông, Lâm, Thuỷ sản có hơn 60% số người lao động không có chuyên môn kỹ thuật. Riêng các cơ sở chế biến thuộc khối dân doanh của các ngành Chế biến Thuỷ sản có đến khoảng 80% số lao động không được đào tạo, mà chỉ học các lớp bồi dưỡng ngắn ngày do các cơ sở đào tạo hoặc doanh nghiệp tự tổ chức. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Về phía những người sử dụng lao động: Có từ 30% – 55% số chủ cơ sở chế biến thủy sản là không có chuyên môn kỹ thuật và 40% – 75% hiểu biết chưa đầy đủ về pháp luật.
Tuy nhiên, số lượng người theo học khối ngành nông-lâm-ngư nghiệp lại chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ có 4% so với tỷ lệ 43% ở khối ngành kinh tế-dịch vụ-quản lý và 25% ở khối ngành công nghiệp-xây dựng.
Việc cải tiến chương trình đào tạo định hướng nghề nghiệp, mang nhiều tính ứng dụng là một nhu cầu của Khoa và cũng là nhu cầu của thế giới nghề nghiệp. Với việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, việc cải tiến chương trình theo hướng ứng dụng sẽ được hỗ trợ tốt từ các cơ sở thực tập tại Trường cũng như tại các cơ sở sản xuất kinh doanh của các cựu sinh viên Khoa Thủy sản.
Lực lượng lao động có bằng cấp trong khai thác hải sản hiện nay thiếu trầm trọng ở nhiều tỉnh ven biển có nghề cá phát triển. Với xu hướng tất yếu, tàu khai thác ngày càng lớn, trang bị hiện đại, nhất là tàu vỏ thép và vật liệu mới, rất cần lao động được đào tạo bài bản để vận hành, điều khiển hiệu quả. Thế nhưng, nơi duy nhất đào tạo và cung cấp đội ngũ này là Trường ĐH Nha Trang đã không còn đào tạo kỹ sư khai thác thủy sản. Đây đang là vấn đề gây băn khoăn với những ai quan tâm đến nghề cá.
Nhà nước đã khuyến khích, hỗ trợ ngư dân đóng tàu vỏ thép, tàu vật liệu mới mà lại để thiếu hụt kỹ sư khai thác thủy sản là bất cập lớn. Hơn hết, khai thác hải sản cần phải đi vào chiều sâu, cần những kỹ thuật hiện đại. Trong khi nguồn lợi hải sản ở các vùng biển xa có dấu hiệu suy giảm, lại càng rất cần những kỹ sư khai thác thủy sản để đánh bắt, bảo vệ nguồn lợi hiệu quả.
Việc tổ chức các lớp đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng gặp khó khăn vì nhiều nguyên nhân. Người lao động chỉ mong bám biển quanh năm chứ không muốn đi học, họ cho rằng nghề này không cần nhiều đến sách vở. Nhiều khi đến lớp, ngư dân học tập theo kiểu đối phó, mong có bằng cấp hơn là học để thu nạp kiến thức, làm phong phú hơn thực tiễn sản xuất. Trong khi đó, theo phản ánh của ngư dân, việc đào tạo nặng về lý thuyết, quá khô cứng và thiếu thực hành nên ngư dân không mặn mà.
2.2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật lao động trong ngành thủy sản (bổ sung Luật việc làm) Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Phần lớn người lao động làm việc trong các lĩnh vực nuôi thủy sản, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần của tỉnh Cà Mau có trình độ học vấn thấp, lao động giản đơn là chủ yếu. Lao động làm việc theo thời vụ, việc thuê lao động theo thoả thuận không ký kết hợp đồng. Riêng trong lĩnh vực chế biến thủy sản, do việc cung ứng nguồn nguyên liệu chưa đầy đủ nên chưa tạo việc làm thường xuyên cho công nhân, lao động làm việc trong lĩnh vực này chủ yếu là làm thủ công (trong chế biến mực khô, cá khô các loại…).
Do làm việc theo thời vụ, chỉ thoả thuận giữa người thuê lao động và người lao động không quí hợp đồng nên các quyền lợi chính đáng của người lao động như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các quy định về đảm bảo an toàn lao động trong thời gian qua của ngành thủy sản ở tỉnh Cà Mau ít được quan tâm, mặc dù Nhà nước đã có quy định thành luật.
Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, người lao động nhận tiền công theo thoả thuận, sau mỗi chuyến đi biển về chủ tàu thông báo và trả tiền cho người lao động theo ngày công làm việc, người lao động chỉ nhận được số tiền theo ngày công của mình, họ không biết được sau khi trừ các khoản chi phí người chủ tàu thu được lời là bao nhiêu, vì đa phần chủ tàu thường là người cung cấp trực tiếp hậu cần cho từng chuyến đi biển, nên họ kê bao nhiêu người lao động biết bấy nhiêu.
Trong lĩnh vực chế biến thủy sản người lao động cũng chỉ biết nhận tiền công được trả theo sự thoả thuận miệng giữa chủ và lao động, không có hợp đồng lao động nên giờ giấc, công việc tuỳ theo quy định của chủ, người lao động làm việc khi có đủ nguyên liệu khi không có nguyên liệu người lao động thất nghiệp, do đó lao động làm trong lĩnh vực này thường không ổn định.
Nhìn chung vì người lao động có trình độ học vấn thấp, đa phần là lao động giản đơn nên ít am hiểu về chính sách, pháp luật, do đó họ khó bảo vệ được lợi ích chính đáng của mình. Mặt khác, do lao động phổ thông hiện nay ở tỉnh Cà Mau quá lớn, nên người lao động cần có việc làm dù người lao động biết mình bị thiệt thòi cũng vẫn phải chấp nhận. Mặc dù thời gian gần đây các ngành chức năng đã quan tâm đến người lao động, hình thành các tổ chức công đoàn trong khu vực KTTN nhưng vẫn chưa đảm bảo được quyền lợi của người lao động. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Do đặc tính của nền kinh tế và thị trường lao động, doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau như nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản thường có rất ít lao động. Chính vì thế họ thường tận dụng lao động là người trong gia đình hoặc bạn bè để giải quyết việc làm, “lấy công làm lãi”. Nhưng khi phát sinh quan hệ lao động, thì đơn vị kinh tế này phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật lao động như những doanh nghiệp lớn sử dụng hàng nghìn lao động. Trong nhiều trường hợp, những quy định của pháp luật lao động tạo gánh nặng pháp lý và tài chính đối với doanh nghiệp trong ngành thủy sản. Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau thường chấp nhận vi phạm một số quy định của pháp luật lao động, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, trong tuyển dụng lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động cao tuổi
Mặc dù khoản 1 Điều 154 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định nghĩa vụ của NSDLĐ đối với lao động nữ: “Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng” nhưng NSDLĐ rất ngại tuyển dụng lao động nữ, bởi vì, khi tuyển dụng lao động nữ, NSDLĐ phải thực hiện các nghĩa vụ như: Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc; giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ… doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau kinh doanh với quy mô nhỏ, vốn ít, lao động ít, do vậy, lao động nữ không được ưu tiên khi tuyển dụng. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Đối với NLĐ chưa thành niên, khoản 2 Điều 162 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Khi sử dụng người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu”. Chủ doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau hầu như không thực hiện quy định này vì tốn thời gian và chi phí, cơ quan thanh tra lao động cũng không đủ người để kiểm tra việc thi hành của doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau.
Đối với NLĐ cao tuổi, khoản 1 Điều 167 Bộ luật Lao động năm 2012 cho phép NSDLĐ khi có nhu cầu có thể thỏa thuận với người lao động cao tuổi có đủ sức khỏe kéo dài thời hạn hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới. Tuy nhiên, khi tuyển dụng người lao động cao tuổi, NSDLĐ phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần cho người lao động cao tuổi… Tuy nhiên, doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau nếu có sử dụng lao động cao tuổi trong một số công việc như bảo vệ, chuyên gia thì cũng không tổ chức khám sức khỏe cho những người lao động này.
Trong giao kết hợp đồng, khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động” và hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản trừ hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng (Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2012).
Theo quy định này, chủ doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau cũng phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với vợ, chồng, bố, mẹ, con, cháu, bạn bè nếu họ là NLĐ. Hầu hết những doanh nghiệp gia đình kinh doanh dịch vụ ăn uống, sửa chữa xe máy, sản xuất nhỏ… đều sử dụng hình thức giao kết hợp bằng miệng, không làm văn bản. Chủ doanh nghiệp cho con, cháu, họ hàng vào làm việc, những người lao động này cũng không quan tâm đến việc phải có hợp đồng lao động bằng văn bản mặc dù thời gian làm việc của họ có thể kéo dài nhiều năm.
- Thứ hai, trong quá trình sử dụng lao động
Về quy định hàng năm, NSDLĐ phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề… Trên thực tế, hầu như chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới thực hiện quy định này vì tạo gánh nặng chi phí tài chính, chi phí thời gian và không căn cứ nhu cầu khám sức khỏe của người lao động. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Về việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động, rất nhiều doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau chỉ cần vài nhân viên nhưng theo quy định này hàng năm người sử dụng lao động phải dành kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho họ kể cả trong trường hợp họ không có nhu cầu học tập và hàng năm NSDLĐ phải báo cáo kết quả lên cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh. Đa số NLĐ làm việc trong doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau là lao động giản đơn, chân tay nên họ không có nhu cầu đào tạo. Chủ doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau cũng không dành kinh phí, không có kế hoạch đào tạo cho NLĐ và hàng năm không làm báo cáo gửi lên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
- Thứ ba, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể, công đoàn, đại diện và các tổ chức xã hội
Các quy định về thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể đa phần không phù hợp với doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau. Mục đích của thương lượng tập thể là để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể; giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Điều 66 Bộ luật Lao động năm 2012). Tuy nhiên, trong doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau, NSDLĐ và NLĐ có thể trao đổi trực tiếp những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động nên việc thương lượng tập thể cũng không cần thiết, đặc biệt là trong doanh nghiệp gia đình. Mặt khác, bên tập thể lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp thường là tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và quy định này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có tổ chức công đoàn, còn tại các doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau do chỉ có một vài lao động nên hầu như không thành lập tổ chức công đoàn. Thông thường, chủ doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau quyết định mọi vấn đề liên quan đến mức lương, đến định mức lao động, đến tiền thưởng, kể cả việc kỷ luật mà không cần mời đại diện của Liên đoàn lao động cấp huyện tham gia.
Về tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội khác trong doanh nghiệp, nếu theo các quy định pháp luật, doanh nghiệp gia đình có từ 3 người lao động là đảng viên chính thức trở lên là đủ điều kiện thành lập chi bộ Đảng, có từ 5 đoàn viên công đoàn là đủ điều kiện thành lập tổ chức công đoàn và phải thành lập tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp. Ví dụ: Chồng là giám đốc công ty kiêm bí thư chi bộ, vợ là chủ tịch công đoàn, bố/mẹ/con/cháu/bạn bè là đảng viên trong chi bộ, đoàn viên công đoàn. Tuy nhiên, điều này rất ít tồn tại ở các doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau trong điều kiện hiện nay
- Thứ tư, thực hiện các quy định về tiền lương và bảo hiểm xã hội
Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Trong các doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau, tiền lương do NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận tùy thuộc vào khả năng tài chính của chủ doanh nghiệp, vị trí việc làm và năng lực của NLĐ, hầu như các doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau không quan tâm đến mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Trên thực tế, rất ít doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau thực hiện xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương, định mức lao động, vì đây là một công việc rất phức tạp, tốn kém, mất nhiều thời gian, công sức và vì tại các doanh nghiệp khối tư nhân tiền lương phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, khoản 1 Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế”. Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, NLĐ hàng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất (Điều 85); NSDLĐ hàng tháng đóng 18% trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động (Điều 86). Trên thực tế, cả NSDLĐ và NLĐ trong doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau đều không muốn đóng bảo hiểm xã hội. NLĐ thì muốn nhận đủ lương, không muốn bị trích lại 8% để NSDLĐ đóng bảo hiểm xã hội. NLĐ thường chỉ nhìn lợi ích trước mắt mà chưa quan tâm đến lợi ích lâu dài, nên dễ dàng chấp nhận một mức lương phù hợp mà không yêu cầu NSDLĐ nộp bảo hiểm xã hội cho mình. NSDLĐ không muốn nộp bảo hiểm cho NLĐ vì mức nộp 18% là quá cao. Ngoài các vi phạm nêu trên, doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau còn không thực hiện đầy đủ các quy định về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất, an toàn vệ sinh lao động.
Việc các doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau không thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật lao động do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ hệ thống pháp luật và nguyên nhân từ doanh nghiệp. Một số quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội không phù hợp với quy mô của doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau, đặc biệt là doanh nghiệp trong ngành thủy sản theo dạng gia đình. Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau không có khả năng tài chính thực hiện các quy định của pháp luật lao động, không muốn mất thời gian, chi phí cho việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động hoặc do thiếu hiểu biết về pháp luật lao động và pháp luật có liên quan đến lao động. Đa số doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau được thành lập từ hộ kinh doanh, nên chủ doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau và NLĐ đều thiếu hiểu biết pháp luật lao động. Họ thường chỉ quan tâm đến việc làm, tiền lương, thuế, lợi nhuận mà không có ý thức tìm hiểu pháp luật lao động và pháp luật có liên quan đến lao động nên vi phạm pháp luật mà không biết là đang vi phạm.
Tóm lại, mặc dù doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau là chủ thể chiếm số đông trong nền kinh tế và trong quan hệ lao động ở tỉnh Cà Mau, nhưng pháp luật lao động hiện nay chưa cung cấp đủ sự hỗ trợ cần thiết cho doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau. Để tồn tại, những doanh nghiệp này chấp nhận bị xử lý vi phạm khi có các đoàn thanh tra, kiểm tra. Mặc dù vậy, nhưng hầu hết các chủ doanh nghiệp trong ngành thủy sản ở Cà Mau đều mong muốn Nhà nước giảm bớt gánh nặng pháp lý và gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp và mong muốn pháp luật lao động có những quy định phù hợp để họ tự giác tuân thủ.
2.3. Đánh giá chung thực trạng hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thủy sản Cà Mau Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
2.3.1. Về thành tựu
Cà Mau là tỉnh có vị trí rất quan trọng trong chiến lược biển Việt Nam, là địa phương rất giàu tiềm năng phát triển kinh tế biển gắn với giao lưu, hội nhập quốc tế. Nguồn nhân lực phục vụ ngành thủy sản luôn đóng vai trò trung tâm đối với sự phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh. Do đó, việc phát triển nguồn nhân lực ngành thủy sản có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về ngành thủy sản đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế của tỉnh Cà Mau hết sức cấp bách hiện nay. Những năm qua, công tác phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành thủy sản trong điều kiện hội nhập quốc tế của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng lên tỷ lệ lao động kinh tế biển qua đào tạo lên 45%, trong đó có 36.000 người được đào tạo có trình độ từ đại học trở lên và từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển trong điều kiện hội nhập quốc tế của tỉnh. Tuy nhiên, đến nay số lượng, cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ ngành thủy sản của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Công tác đào tạo nguồn nhân lực ngành thủy sản gặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn về kinh tế biển, cơ sở vật chất – kỹ thuật yếu kém, trình độ dân trí thấp, cư trú phân tán.
Nhờ có sự thay đổi nhận thức đối với lao động trong ngành thủy sản Cà Mau,sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Bộ Thuỷ sản, trong thời gian qua sự nghiệp giáo dục và đào tạo của ngành Thuỷ sản nói chung và đào tạo lao động trong ngành thủy sản Cà Mau nói riêng đã đạt được những thành tích đáng kể.
Thứ nhất, Hệ thống Giáo dục phổ thông và đào tạo nghề ngày càng được mở rộng, nhờ đó trình độ dân trí được nâng cao tạo nền tảng vững chắc cho sự tiếp tục đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ tay nghề. Công tác Giáo dục, đào tạo nhân lực được quan tâm tới tất cả kỹ năng, trình độ và đạo đức công dân, đạo đức nghề nghiệp.
Thứ hai, Về cơ bản ngành đã đảm bảo được yêu cầu đào tạo nghề ngắn hạn; các ngành nghề đào tạo đa dạng, phong phú, bước đầu phù hợp với yêu cầu của CNH, HĐH. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Thứ ba, Công tác xã hội hoá giáo dục đào tạo nghề đã được triển khai và có hiệu quả. Việc khôi phục và phát triển các ngành nghề, làng nghề được nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm hơn trước.
Thứ tư, Ngành Thuỷ sản tỉnh Cà Mau đã có nhiều cố gắng để giải quyết vấn đề lao động và việc làm. Trong thời gian qua. Ngành Thuỷ sản tỉnh Cà Mau đã thu hút và tạo việc làm cho nhiều lao động, tăng thêm thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn lên hơn 70% và góp một phần rất quan trọng trong việc tăng tổng sản phẩm của tỉnh, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng nông nhàn ở nông thôn.
2.3.2. Những hạn chế
Một là, Mạng lưới đào tạo, nhất là đào tạo nghề của ngành còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu cho công tác đào tạo nhân lực cả về số lượng và chất lượng cơ cấu vùng. So với yêu cầu CNH, HĐH và mục tiêu đào tạo NNL tới 2020 thì ngành Thuỷ sản tỉnh Cà Mau chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo lao động có trình độ cao, điều này thể hiện trong số lao động được qua đào tạo thì lao động có chuyên môn kỹ thuật không bằng còn nhiều, số công nhân kỹ thuật cũng còn hạn chế. Việc khôi phục nghề cũ, phát triển nghề mới tuy có sự phát triển, số lớp và số người được học nghề ngày càng tăng song chưa thể đáp ứng được yêu cầu khai thác tiềm năng của ngành. Trong lực lượng lao động của ngành chủ yếu vẫn là lực lượng lao động phổ thông, lao động kỹ thuật tuy đã được nâng lên nhưng mới chỉ có hơn 20%.
Hai là, lao động qua đào tạo hàng năm chủ yếu vẫn là đào tạo ngắn hạn cho các nghề thủ công nghiệp ở nông thôn giải quyết việc làm trước mắt. Do đó những lao động qua đào tạo ở ngành thuỷ sản gặp rất nhiều khó khăn khi xin việc làm tại các doanh nghiệp và tham gia dự tuyển lao động xuất khẩu.Việc nuôi dưỡng nhân tài chưa được quan tâm từ phía chính quyền địa phương và các cơ sở tuyển dụng nhân lực. Ở ngành thuỷ sản hiếm thấy sự đài thọ đối với học sinh giỏi cấp quốc gia, học sinh đỗ cao vào các trường Đại học có chuyên ngành phù hợp với xu hướng phát triển và khai thác tiềm năng của ngành.
Ba là, Mức độ toàn dụng lao động ở ngành thuỷ sản còn thấp, sự phân bố lao động chưa hợp lý, hiệu quả khai thác sử dụng lao động chưa cao.
Những hạn chế này đã cản trở nhịp độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH của ngành trong thời gian qua.
2.3.3. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Nhận thức về việc làm, về nghề nghiệp chưa có sự thay đổi vượt bậc trong nhân dân trong địa bàn tỉnh Cà Mau. Phần đông cho rằng phải có bằng đại học mới có việc làm và có việc làm cho thu nhập cao. Đối với những người không có khả năng vào được các trường cao đẳng, đại học thì chỉ cần giải quyết lợi ích trước mắt là có việc làm ngay nên chỉ theo học nghề ngắn hạn.
Trình độ cơ sở vật chất, qui mô số lượng trường và trình độ giáo viên trong các trường dạy nghề không đồng đều, số giáo viên giỏi và có trình độ cao còn ít. Hệ thống các trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề tuy đã có nhiều cố gắng nhưng hiệu quả chưa cao. Danh mục các ngành nghề đào tạo chưa nhiều và còn lạc hậu.
Ngân sách còn hạn hẹp và thu nhập của dân cư thấp nên nguồn tài chính giành cho đào tạo nghề và nuôi dưỡng nhân tài chưa tương xứng. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển ngành nghề còn chậm do đó số việc làm tạo ra chưa nhiều. Ngành thuỷ sản chưa có chính sách tuyển dụng hấp dẫn, cuốn hút lao động nhất là lao động chất lượng cao và số sinh viên là con em của ngành sau khi tốt nghiệp các trường đại học về công tác tại ngành.
Ngành thuỷ sản nói riêng và nước ta nói chung vẫn còn chậm trễ trong đổi mới cơ chế tuyển dụng lao động nên không kích thích được việc đào tạo lại để có thể nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Sự bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo, trình độ học vấn và nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất xã hội. Trong thực tế điều này chỉ có thể giải quyết được thông qua việc đào tạo lại, phổ cập nghề cho người lao động bởi nhân lực được đào tạo ở ngành thuỷ sản chủ yếu là ngắn hạn.
2.4. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thời gian tới Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
2.4.1 Tình trạng vừa thừa vừa thiếu, bất hợp lý về cơ cấu trình độ đào tạo của lực lượng lao động
Để đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành thuỷ sản trong nước nói chung và Cà Mau nói riêng cần phải quan tâm giải quyết các vấn đề sau:
Nguồn nhân lực ở ngành thuỷ sản đang đứng trước tình hình là thừa lao động, thiếu việc làm, số lượng cung về lao động giản đơn rất lớn trong khi cầu về lao động lành nghề, lao động có hàm lượng trí tuệ cao nhưng khả năng đáp ứng lại rất hạn chế gây nên sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động trên thị trường. Nguồn lao động lớn lại tăng nhanh trong khi tốc độ phát triển kinh tế ở ngành Thuỷ sản còn chậm, chưa có khả năng mở rộng tái sản xuất để thu hút lao động. Cơ cấu ngành nghề còn đang trong quá trình chuyển dịch và lại diễn ra chậm chạp nên sự phát triển nghề về cơ bản đã giúp giải quyết việc làm hàng năm, song vẫn còn thấp hơn so với yêu cầu phải giải quyết. Sự phát triển của quan hệ cung – cầu về lao động như thế dẫn đến sức ép về giải quyết việc làm ngày càng cao.
Cùng với các ngành khác trong cả nước, ngành Thuỷ sản tiến hành CNH, HĐH trong cơ cấu mở với xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá ngày càng tăng, để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực đòi hỏi việc đào tạo NNL phải đáp ứng được yêu cầu cao cả về số lượng và chất lượng. Nhờ đó có thể sản xuất được các hàng hoá có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường khu vực và quốc tế đồng thời tạo được sức cạnh tranh của lao động xuất khẩu thuỷ sản trên thị trường khu vực như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia; Nhật bản tiến tới tiếp cận các thị trường mới – thị trường cao cấp ở châu Âu, châu Phi, đặc biệt là thị trường Anh. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho ngành hiện nay là muốn đạt mục tiêu xuất khẩu lao động để khai thác lợi thế của nguồn lực con người cần phải tăng cường đầu tư và nâng cao chất lượng đào tạo NNL, đạt ở trình độ chuẩn so với khu vực và thế giới (kể cả lao động giúp việc gia đình và lao động chuyên môn kỹ thuật ). Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
Đào tạo NNL ngành Thuỷ sản cũng đang đứng trước yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng CNH,HĐH, nhưng hiện nay cơ cấu lao động theo ngành và cơ cấu lao động được đào tạo còn bất hợp lý. Ngành thuỷ sản mới có hơn 20% trong tổng số lao động được đào tạo nhưng chủ yếu mới đào tạo được lao động ở trình độ bán lành nghề chứ chưa phải đào tạo lao động dài hạn trình độ cao để phục vụ cho công nghệ Ta biết rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động là nội dung cơ bản của CNH, HĐH, chỉ khi nào phá vỡ được cấu trúc cũ xây dựng cấu trúc mới một cách toàn diện cả về cơ cấu lao động được đào tạo mới được xem là hoàn thành nhiệm vụ của CNH, HĐH. Vì vậy để khắc phục tình trạng bất hợp lý về cơ cấu lao động đáp ứng được yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu lao động, Thuỷ sản cần phải thực hiện một cuộc cách mạng trong đào tạo và dụng NNL.
2.4.2. Tiềm năng nhân lực còn bị lãng phí, phân bổ sử dụng chưa hợp lý và hiệu quả sử dụng chưa cao trong khi yêu cầu khai thác sử dụng rất lớn
Quá trình đổi mới ở ngành Thuỷ sản trong thời gian qua nhìn chung đã có những cố gắng trong việc khai thác sử dụng, phát huy tiềm năng nhân lực ngày một đầy đủ và có hiệu quả hơn vào các mục tiêu KT-XH của ngành. Nhưng xem xét một cách cụ thể và toàn diện trong thực tế việc sử dụng NNL ở ngành vẫn còn hạn chế.
- Ngành vẫn chưa sử dụng hết tiềm năng nhân lực của mình (điều này đã nêu trong thực trạng ).
Đối với lao động được đào tạo, ngành Thuỷ sản cũng chưa khai thác sử dụng được hiệu quả của nó, điều này được thể hiện ở chỗ sử dụng nhân lực có trình độ chuyên môn không đúng với ngành nghề được đào tạo hoặc dưới khả năng được đào tạo.
Các doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học vào làm những công việc của công nhân, cách sử dụng này vừa không đạt hiệu quả cao lại gây lãng phí trong đào tạo NNL
Như vậy vấn đề đặt ra ở Ngành Thuỷ sản làm thế nào để thu hút được nhiều lao động và sử dụng lao động có hiệu quả cao, nhất là lao động qua đào tạo trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản