Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và các kiến nghị cải cách pháp luật để thúc đẩy sự phát triển loại hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Quá trình hình thành và phát triển Doanh nghiệp xã hội trên thế giới và tại Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Doanh nghiệp xã hội trên thế giới
Doanh nghiệp xã hội là khác biệt với các mô hình kinh doanh truyền thống, nhưng vẫn có nhiều điểm tương đồng với “người anh em” của mình. Tác giả Jean-Baptiste Say (1767-1832), một nhà kinh tế của Pháp, được xem như một doanh nhân xã hội -người từ một ý tưởng làm thay đổi hiệu quả đối với xã hội và cũng được xem như một người “chuyển nguồn lực kinh tế ra khỏi khu vực thấp hơn và vào một khu vực có hiệu suất cao hơn và năng suất cao hơn”. Các “doanh nhân xã hội” tìm kiếm sự biến đổi xã hội nói chung thông qua mô hình doanh nghiệp xã hội, chứ không phải là tìm kiếm lợi nhuận như các doanh nhân cổ điển thường tìm cách làm. Doanh nghiệp xã hội sử dụng nhiều nguồn lực để mang xã hội vào một trạng thái tốt hơn.
Khái niệm “doanh nghiệp xã hội” không phải là một ý tưởng mới lạ, nhưng từ những năm 2000, nó đã trở nên phổ biến trong xã hội và các nghiên cứu khoa học, đặc biệt là sau khi công bố “Sự nổi lên của các doanh nhân xã hội” của tác giả Charles Leadbeater. Mặc dù doanh nghiệp xã hội vẫn còn là một khái niệm khó định nghĩa, vì nó có thể được thể hiện trong nhiều hình thức.
Các khái niệm và thuật ngữ về doanh nghiệp xã hội đã được nhắc đến khoảng từ những năm 1960 và phổ biến trong thập niên 80 và 90 khi một số các doanh nhân xã hội đã làm việc trên doanh nghiệp xã hội của họ để giải quyết kịp thời vấn đề như một thiếu nguồn tài chính tự túc ở Bangladesh, hay việc giảm thiểu tác động môi trường của các sản phẩm làm sạch tại Hoa Kỳ.
Nước Anh là nơi doanh nghiệp xã hội ra đời sớm nhất và có phong trào doanh nghiệp xã hội phát triển nhất hiện nay. Theo kết quả nghiên cứu của MacDonald M. & Howarth C. (2008), mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665 khi Đại dịch (Great Plague) xảy ra, nhiều chủ xưởng công nghiệp và chủ các cơ sở thương mại rời khỏi thành phố, làm cho nhóm dân nghèo lao đông rơi vào tình trạng thất nghiệp tăng nhanh. Trong hoàn cảnh đó, Thomas Firmin đã thành lập một nhà máy sản xuất và dùng nguồn vốn tài chính cá nhân của ông để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, tạo và duy trì việc làm cho 1.700 công nhân. Thomas Firmin ngay từ đầu đã tuyên bố nhà máy của ông không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện.
Đến cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ thứ 19, các doanh nghiệp xã hội ở Anh phân chia thành hai nhóm chính: Nhóm các doanh nghiệp xã hội chia sẻ quyền và lợi ích chặt chẽ của doanh nghiệp mình với người lao động ( cho phép người lao động có nhiều quyền hơn trong việc ký kết họp đồng lao động, phân phối lợi nhuân thu được cho người lao động, chia sẻ quyền biểu quyết và điều hành doanh nghiệp cho người lao động, chia sẽ phúc lợi cho cộng đồng,..); Ngoài ra, còn một nhóm các doanh nghiệp xã hội thực hiện các mục tiêu xã hội thông qua việc đào tạo, dạy nghề cho người nghèo, cung cấp việc làm, cung cấp tín dụng vi mô (cho vay để mua công cụ sản xuất) .. theo cách “ cho cần câu chứ không chỉ cho con cá” nhằm mục đích thúc đẩy người được hỗ trợ tham gia lao động sản xuất và hạn chế tâm lý ỷ lại, lười biếng, trông chờ các khoản trợ cấp miễn phí.
Sang đầu thế kỷ thứ 20, sau cuộc đại suy thoái kinh tế, Nhà nước Anh can thiệp sâu hơn vào nền kinh tế và hình thành các mô hình phúc lợi nhà nước, chính vì vậy hoạt động của các doanh nghiệp xã hội tại Anh giai đoạn này có phần giảm sút. Đến khi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher lên nắm quyền vào năm 1979, ông đã chủ trương giảm bớt lại vai trò của Nhà nước. Quan điểm của ông là Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung cấp phúc lợi xã hội, mà tạo điều kiện cho tư nhân tham gia vào hoạt động này. Do đó doanh nghiệp xã hội phát triển khá mạnh mẽ trong giai đoạn này.
Ở Tây Âu, sự suy thoái kinh tế của những năm 1970 là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của khu vực doanh nghiệp xã hội đương đại. Suy thoái kinh tế dẫn đến tăng trưởng kinh tế giảm và thất nghiệp tăng cao. Trong bối cảnh này, do tỷ lệ thất nghiệp cao, các doanh nghiệp xã hội sớm nổi lên khắp khu vực đó để tìm cách giúp đỡ những người thất nghiệp trong xã hội có được việc làm. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Ở Đông Âu, sự xuất hiện doanh nghiệp xã hội ở Đông Âu, cũng giống như Mỹ và châu Phi, được mang lại bởi việc rút vai trò của nhà nước, trong trường hợp này do sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến tình trạng tương tự như ở Đông Âu như gây ra bởi sự suy thoái kinh tế của những năm 1970, với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường gây ra những biến lớn trong nền kinh tế và mức thất nghiệp cao, trong khi cũng đồng thời làm giảm vai trò của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội khác nhau.
Ngày nay, xu hướng cho thấy rằng các doanh nhân xã hội đã chuyển từ từ thiện truyền thống sang việc tìm ra giải pháp hiệu quả và bền vững hơn đến các vấn đề xã hội bằng cách sử dụng công cụ từ thế giới kinh doanh. Một trong những sáng kiến kinh doanh xã hội hiện đại sớm nhất là Oxfam hoặc Uỷ ban Oxford về cứu đói, được thành lập vào năm 1942 bởi một nhóm các nhà hoạt động xã hội, và đại học Oxford. Các hình thức hiện đại của các doanh nghiệp xã hội dựa trên các doanh nhân xã hội, bắt đầu với Michael Young,- giữa những năm 1950 và 1990 đã tạo ra hơn sáu mươi tổ chức mới trên toàn thế giới, bao gồm một loạt các trường học cho doanh nhân xã hội tại Anh. Jeff Skoll, là tổng giám đốc thống đầu tiên của eBay thành lập Skoll Foundation vào năm 1999 để giúp mọi người tiếp tục hoặc mở rộng công việc của họ để thay đổi xã hội ở các bộ phận khác nhau của thế giới. Trung tâm Skoll cho Doanh nghiệp xã hội tại Trường Kinh doanh Said tại Đại học Oxford hỗ trợ doanh nhân xã hội. Phần lớn các sáng kiến kinh doanh xã hội gần đây nổi lên từ các nước nghèo đói và có cuộc sống kém chất lượng cần có sự hỗ trợ và đồng thời cũng làm cho các sáng kiến kinh doanh xã hội hiệu quả hơn.
Thế kỷ XXI cũng chứng kiến sự gia tăng của các doanh nhân xã hội lớn nhằm khuyến khích việc học chừ tặng giày cho hàng triệu trẻ em, và mang khả năng nhìn đến những những người cần. Các khái niệm về doanh nghiệp xã hội thành tâm điểm chú ý vào năm 2006 khi Muhammad Yunus giải Nobel Hòa bình. Muhammad Yunus là người sáng lập của Ngân hàng Grameen, một tổ chức cung cấp các khoản vay tín dụng nhỏ để khuyến khích tăng trưởng kinh tế ở cấp cơ sở ở Bangladesh, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn phát triển tài chính tự túc, giải Nobel Yunus ‘đưa doanh nghiệp xã hội vào ý thức hiện đại. Kể từ khi nó thành lập vào năm 1983, các ngân hàng đã mang lại một thu nhập ròng hơn 10 triệu $.
Tại khu vực Đông Nam Á, chúng ta có thể xem xét điển hình là Thái Lan. Phong trào doanh nghiệp xã hội hiện đại của Thái Lan có thể bắt nguồn từ năm 1974 với việc thành lập Cabbages and Condoms, một nhà hàng ở Bangkok, sử dụng nguồn tiền thu được để tài trợ chương trình giáo dục sức khoẻ tình dục. Một người tiên phong khác là DoiTung, một dự án được khởi xướng từ năm 1989 bởi Quỹ Hoàng gia Mae Fah Luang để tạo công ăn việc làm và phát triển cộng đồng cho các cộng đồng người cao tuổi ở Doi Tung, miền Bắc Thái Lan. Vào thời điểm đó, khu vực này trong “Tam giác Vàng” bị tàn phá bởi nạn nghèo đói, trồng trọt và nghiện thuốc phiện, buôn bán vũ khí và người. Doanh nghiệp xã hội đã thúc đẩy việc làm, thu nhập và tái tạo cộng đồng trong khu vực bằng cách phát triển các dòng sản phẩm cà phê, hàng dệt, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ và du lịch chất lượng cao – và gần đây đã giành được hợp đồng cung cấp cho IKEA. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội, chính phủ Thái Lan đã hỗ trợ thành lập cơ quan quốc gia về doanh nghiệp xã hội năm 2010, Văn phòng Doanh nghiệp Xã hội Thái Lan (TSEO), và từ đó đã xây dựng Đạo luật Xúc tiến Doanh nghiệp Xã hội, Doanh nghiệp xã hội và ưu đãi thuế cho đầu tư xã hội. Thái Lan là nơi có các tổ chức trung gian như Change Fusion, Ashoka Thailand, NISE Corporation hoạt động như các nhà xây dựng năng lực để kích thích sự khởi đầu và tăng trưởng của doanh nghiệp xã hội.Ngoài ra, có sự quan tâm ngày càng tăng của các công ty để thành lập, đầu tư hoặc hỗ trợ doanh nghiệp xã hội . Một động lực chính của cách tiếp cận này là Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan, tạo ra động cơ khuyến khích các công ty chuyển đổi cách tiếp cận CSR của họ đối với Doanh nghiệp xã hội. Hơn nữa, chính phủ hiện nay khuyến khích các tập đoàn hợp tác tạo ra các doanh nghiệp xã hội thông qua hợp tác công tư. Hợp đồng PPP (public private partnership) là thỏa thuận hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ công, theo đó một phần hoặc toàn bộ công việc sẽ được chuyển giao cho khu vực tư nhân thực hiện với sự hỗ trợ của Nhà nước.
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.
Doanh nghiệp xã hội là loại hình doanh nghiệp đã tồn tại khá lâu trên thế giới, nhưng lại là khái niệm khá mới mẻ tại Việt Nam. Như vậy không có nghĩa là doanh nghiệp xã hội trước đây chưa từng xuất hiện tại Việt Nam, mà thực chất là có nhiều doanh nghiệp đã hoạt động như những “doanh nghiệp xã hội thực thụ” nhưng chưa được nhìn nhận một cách chính thống mà thôi.
Theo báo cáo “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam –Khái niệm, bối cảnh và chính sách” do viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP), Hội đồng AnhViệt Nam phát hành năm 2012, hình thức Doanh nghiệp xã hội đầu tiên tại Việt Nam chính là mô hình Hợp tác xã (HTX), đầu tiên là HTX Nhân đạo thành lập năm 1973-thuộc Hội người khuyết tật Hà Nội. Trước năm 1986, các tổ chức xã hội phi chính phủ (NGO) không được phép hoạt động tại Việt Nam nên hình thức HTX là hình thức tổ chức kinh tế xã hội duy nhất được thành lập để tạo việc làm cho các cá nhân hoặc nhóm cư dân (gọi chung xã viên HTX), hỗ trợ cho những đối tượng kém may mắn, chủ yếu là gia đình nghèo, người khuyết tật. Chủ yếu các HTX thời kỳ này hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp như: mây tre, đan thêu, may mặc.
Từ sau năm 1986, khi chính sách Đổi mới kinh tế được thực hiện, đã có nhiều khuôn khổ pháp lý cho phép sự tham gia của các thành phần kinh tế tư nhân trong và ngoài nước vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển cộng đồng thì các tổ chức, doanh nghiệp phát triển cộng đồng ngày càng nở rộ. Tuy nhiên, các tổ chức này chủ yếu hoạt động dưới hình thức các tổ chức phi chính phủ. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Nếu xem xét dưới góc độ “thực hiện chức năng xã hội” thì tại Việt Nam có hàng nghìn tổ chức đã và đang thực hiện chức năng cung cấp phúc lợi xã hội và các dịch vụ công cộng như bảo vệ môi trường, nguồn nước, cung cấp các dịch vụ công, tạo việc làm để xóa đói giảm nghèo, giáo dục và chăm sóc y tế, …thông qua các công ty dịch vụ công ích, các đơn vị sự nghiệp giáo dục, cơ sở y tế, văn hóa nghệ thuật ,…
Các tổ chức NGO hoạt động tại Việt Nam hiệu quả chủ yếu là các tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, nếu phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn vốn viện trợ bên ngoài, các tổ chức này sẽ có nguy cơ thiếu hụt nguồn vốn cho các hoạt động phát triển cộng đồng của mình. Thêm vào đó, việc huy động tài trợ vốn từ cộng đồng ở Việt Nam còn rất hạn chế. Nghiên cứu của Quĩ Châu Á (2011) cho thấy các doanh nghiệp và người dân tại Việt Nam đóng góp cho các quỹ từ thiện một nguồn tài chính khá lớn, tuy nhiên hoạt động từ thiện không có định hướng bền vững, có tính tự phát, qui mô và phạm vi hạn chế trong cộng đồng nhỏ. Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) cùng các đối tác như Hội đồng Anh (British Council)44, Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Xã hội Tia Sáng (Spark) đã tích cực tuyên truyền, giới thiệu doanh nghiệp xã hội nhẳm mục đích kêu gọi nguồn vốn hỗ trợ cho các tổ chức NGO và các dự án phát triển cộng đồng trong thời gian gần đây.
Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chỉ mới được chính thức Luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam tại Luật Doanh nghiệp 2014 tạo điều kiện cho doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam có tiền đề để phát triển thông qua việc được công nhận chính thức của xã hội. Các doanh nghiệp xã hội được chính thức công nhận cho thấy sự nhìn nhận của Chính phủ, các nhà làm luật với vai trò thúc đẩy các tác động xã hội tích cực dựa trên các mô hình kinh doanh bền vững của doanh nghiệp xã hội. Tiến thêm một bước nữa, Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh Nghiệp 2014 đã quy định chi tiết về phương thức đăng ký thành lập, cách thức huy động vốn, tiếp nhận viện trợ, tài trợ, quản lý Doanh nghiệp xã hội,vv…. Nghị định này cũng thể hiện rõ quan điểm của Chính phủ trong việc khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp xã hộI phát triển. Điều này đã cho thấy vai trò, tầm quan trọng của doanh nghiệp xã hội trong bối cảnh phát triển kinh tế- xã hội của nước ta hiện nay.
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp xã hội. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
2.2.1 Môi trường chính trị và pháp lý.
Một trong những điều kiện tiên quyết cho các doanh nghiệp xã hội ra đời và tồn tại đó là một môi trường chính trị và pháp lý thuận lợi. Chính phủ phải cho phép các doanh nghiệp xã hội tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội thì doanh nghiệp xã hội mới có cơ hội để hoạt động và phát triển.
Những vấn đề mà các doanh nghiệp xã hội và các doanh nhân xã hội tìm đến cũng thường các vấn đề xã hội cơ bản, đó cũng thường xuyên là các vấn đề rất được khu vực chính phủ tìm cách giải quyết. Tuy nhiên, một tồn tại rõ ràng là có sự mất cân bằng trong quan hệ quyền lực giữa nhà nước và khu vực doanh nghiệp xã hội – trong đó, nhà nước có các lựa chọn đầu tiên trong đó vấn đề mà nhà nước chọn để giải quyết, rồi mới tới các vấn đề sẵn sàng để lại cho khu vực tư nhân. Như vậy, đối với doanh nghiệp xã hội, để phát triển, nhà nước nhất thiết phải sẵn sàng tạo điều kiện cho các doanh nhân xã hội bước vào giải quyết vấn đề, hoặc chính phủ có thể đi xa hơn bằng cách tích cực thúc đẩy, hỗ trợ, và tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội như đã chứng minh ở châu Âu.
Môi trường pháp lý cũng là yếu tố cơ bản quan trọng trong việc xuất hiện các doanh nghiệp xã hội. Môi trường pháp lý cũng là một chỉ số thường được sử dụng cho các tiềm năng kinh doanh. Các báo cáo thường niên của “ Ease of Doing Business Survey” được tiến hành bởi các nhóm Ngân hàng Thế giới xếp hạng các nước dựa trên môi trường pháp lý của họ, có tính đến các chỉ số khác nhau của môi trường pháp luật địa phương theo tiêu chí “sự dễ dàng” để bắt đầu một doanh nghiệp, được cấp tín dụng, nộp thuế, thực thi hợp đồng và đóng cửa một doanh nghiệp. Cách tiếp cận như vậy cũng áp dụng cho bối cảnh của các doanh nghiệp xã hội, nơi mà môi trường pháp lý và quy định cần cho phép một cách dễ dàng thử nghiệm, thất bại, và cải tiến gia tăng của các doanh nghiệp xã hội. Do đó, môi trường pháp lý không nên quá ngột ngạt với quy định quá nhiều, giám sát, hoặc chính sách quá chặt chẽ, gây cản trở quá trình này. Môi trường pháp lý cũng có thể khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội như ví dụ ở nước Anh, nhưng môi trường đó phải được phải được công nhận rõ ràng trong Luật.
Không những là điều kiện để doanh nghiệp xã hội xuất hiện, môi trường pháp lý còn là nơi các chính sách từ môi trường thể chế và chính trị được hiện thực hóa thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm hỗ trợ sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp xã hội.
2.2.2 Môi trường xã hội và văn hóa Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Nhóm thứ hai ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp xã hội bao gồm hai điều kiện tiên quyết cho các doanh nhân xã hội xuất hiện với số lượng đủ lớn và hiệu quả là một môi trường xã hội và văn hóa thuận lợi. Doanh nhân xã hội xuất hiện dưới hai điều kiện tiên: sự hiện diện của các vấn đề kinh tế, xã hội nghiêm trọng mà họ muốn giải quyết, và đủ động lực nội bộ để có những bước tiến để giải quyết các vấn đề này. Luôn luôn có những cá nhân trong xã hội tập trung vào các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhau và có khả năng là các doanh nhân xã hội trong mọi xã hội. Vì vậy, một môi trường xã hội, tập trung sự chú ý rộng rãi về các vấn đề kinh tế, xã hội có nhiều khả năng dẫn đến sự xuất hiện của một khu vực doanh nghiệp xã hội.
Nếu như môi trường chính trị và pháp lý tạo ra các cơ hội cần thiết cho các doanh nghiệp xã hội có thể tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội, thì ở khía cạnh khác, một môi trường xã hội và văn hóa thuận lợi là cần thiết để tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các doanh nhân xã hội, những người sẽ có thể tận dụng những cơ hội do môi trường này cung cấp.
Doanh nghiệp xã hội được định hướng từ sức mạnh tinh thần xã hội của các doanh nhân xã hội, và một môi trường xã hội và văn hóa thuận lợi giúp nuôi dưỡng và cho phép các doanh nhân xã hội như vậy xuất hiện. Đầu tiên, phải có những định hướng tập trung và chú trọng vào những vấn đề kinh tế, xã hội cần giải quyết để thu hút sự chú ý của các doanh nhân xã hội tiềm năng. Sự chú trọng và nhấn mạnh đó phải được thể hiện để mọi người đều phải thừa nhận doanh nghiệp xã hội như là một giải pháp khả năng mở rộng để giải quyết vấn đề. Phải tồn tại một mức độ quan trọng đáng chú ý và nhấn mạnh vào các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhau trong xã hội để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ một khu vực đang phát triển xung quanh các doanh nghiệp xã hội, không chỉ các sáng kiến cá nhân của một vài cá nhân.
Môi trường văn hóa khác với môi trường xã hội ở chỗ, văn hóa khác nhau của dân cư bao gồm những thói quen, tập quán được ăn sâu và đã là một phần của cuộc sống hàng ngày của họ trong một thời gian dài như vậy và khó thay đổi trong một thời gian ngắn như môi trường xã hội. Đặc điểm quan trọng nhất của một môi trường văn hóa có ảnh hưởng đến sự xuất hiện của doanh nghiệp xã hội là sự hiện diện và sống động của một xã hội dân sự và các hoạt động để từ đó làm phát sinh, xuất hiện các vấn đề xã hội cần giải quyết.
2.2.3 Môi trường thể chế Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Nhóm thứ ba bao gồm các điều kiện tiên quyết cho các doanh nghiệp xã hội mở rộng và phát triển thành công – đó là môi trường thể chế. Doanh nhân xã hội, cũng như các doanh nhân thường xuyên trong thế giới kinh doanh, đòi hỏi cần có nhiều sự hỗ trợ của các tổ chức hỗ trợ trong việc thực hiện ý tưởng của họ từ khái niệm đến thực hiện thực tế và thành công cuối cùng.
Môi trường chính trị và pháp lý cung cấp các cơ hội và không gian cho các doanh nghiệp xã hội hiện diện. Môi trường xã hội và văn hóa cung cấp các điều kiện cần thiết để tạo điều kiện cho doanh nhân xã hội hiện diện. Nhưng để thúc đẩy sự phát triển từ giai đoạn xuất hiện với một trạng thái phát triển cao thì cần phải có môi trường thể chế tốt.
Môi trường thể chế đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ nhân rộng và phát triển của các doanh nghiệp xã hội. Điều này rõ ràng nhất trong ví dụ của Hoa Kỳ, nơi có hẳn một “một hệ sinh thái” hỗ trợ của các tổ chức khoa học và cơ sở tư nhân thành lập một loạt các biện pháp và các dịch vụ hỗ trợ khác nhau: từ nghiên cứu về quản lý phi lợi nhuận, hỗ trợ công việc của các học viên và cũng cung cấp sân chơi cho các mô hình và giải pháp sáng tạo mới, phát động các cuộc thi kế hoạch kinh doanh như là nền tảng để khai thác chuyên môn cũng như các nguồn tài chính. Các tổ chức hỗ trợ này đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của một khu vực xung quanh các doanh nghiệp xã hội, thông qua việc tạo ra kênh trung gian trong việc tiếp cận các nguồn lức tài chính hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội, đồng thời các chương trình liên quan đến doanh nghiệp xã hội tại các trường đại học cũng giúp các doanh nhân xã hội tiềm năng trang bị những kiến thức và mạng lưới kết nôi để củng cố và hỗ trợ sự phát triển của khu vực có liên quan. Như vậy, một môi trường thể chế sẽ bao gồm, và không giới hạn, các tổ chức phục vụ là các trung tâm đào tạo, tư vấn, chuyên gia tài chính, và các nhà nghiên cứu.
2.3 Thực trạng và khó khăn của Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Trước thời điểm Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, khái niệm về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam rất ít khi được bàn tới. Khi nhắc đến những tổ chức tương tự như mô hình doanh nghiệp xã hội, người ta nghĩ ngay đến một tổ chức hay quỹ từ thiện nào đó. Theo khảo sát của trung tâm CSIP Việt Nam năm 2012, chúng ta có khoảng hơn 200 Doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp thông thường nhưng mục tiêu hoạt động như những doanh nghiệp xã hội. Trong đó, 68% doanh nghiệp xã hội đang nỗ lực trong mục tiêu giảm nghèo đói và 48% có mục tiêu về môi trường. Tuy nhiên con số thực tế về số lượng doanh nghiệp xã hội có thể lớn hơn con số 200 đã thống kê phía trên.
Để phân tích thực trạng về Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, tác giả xin phép đưa ra ba ví dụ trực tiếp và giàn tiếp liên quan đến hoạt động của cá nhân. Với kinh nghiệm là thành viên điều hành của một tổ chức từ thiện (Uocmoxanh.org/ Uocmoxanh.vn – hiện nay do hoạt động từ thiện của tổ chức bị thu hẹp và website không được chăm sóc cẩn nên website đã ngừng hoạt động) , bản thân tác giả đã từng cùng các thành viên đồng hành viết các dự án, thành lập doanh nghiệp xã hội, tuy nhiên, do còn thiếu nhiều nguồn lực hộ trợ cũng như kinh nghiệm còn non trẻ nên gặp nhiều khó khăn thất bại.
- Ví dụ thứ nhất: Công ty TNHH Ước Mơ Xanh tại Đà Nẵng
Được thành lập từ nguồn tiền hỗ trợ của World bank thông qua phần tài trợ 10.000 USD của dự án : “Vì một Ước mơ xanh cho người khuyết tật” năm 2006 sau khi tham dự hoạt động “Ngày sáng tạo Việt Nam năm 2006”.
Sau khi có được nguồn tiền hộ trợ từ dự án, các thành viên của nhóm đã thành lập Công ty TNHH Ước Mơ Xanh. Ban đầu công ty tập trung vào việc nhận đào tạo việc làm cho các thanh niên khuyết tật tại khu vực Miền Trung, chủ yếu là dạy nghề photocopy, thiết kế đồ họa trên máy tính, dịch vụ in ấn. Với các bạn học viên khó khăn sẽ được bố trí hỗ trợ việc ăn ở, đi lại. Sau khi tốt nghiệp các bạn học viên sẽ được giới thiệu việc làm tại các cửa hàng/ trung tâm tin học trong khu vực thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, công ty còn có một cửa hàng photocopy và in ấn tạo việc làm cho một số bạn học viên của trung tâm.
Thời gian đầu công việc khá thuận lợi một phần do dịch vu photocopy và vi tính lúc đó còn chưa nở rộ, do dự án mới nhận được hỗ trợ lớn của World Bank và được nhiều báo chí khen ngợi, nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng trong khu vực. Thậm chí có thời điểm cùng một lúc trung tâm đào tạo số lượng học viên lên đến 200 bạn. Tuy nhiên, việc duy trì các lớp học, duy trì số lượng học viên, và tạo việc làm cho các học viên kể từ sau 2008 gặp nhiều khó khăn. Nguồn vốn tài trợ bị sử dụng gần hết mà không có vốn đầu tư thêm, doanh thu của cửa hàng photocopy ngày càng ít lại, người dẫn dắt công ty vì bận chuyện gia đình nên không còn dành nhiều thời gian cho công ty. Cho đến năm 2013 thì công ty gần như ngưng hoạt động.
Khi xem xét những lý do thất bại của công ty TNHH Ước Mơ Xanh, tác giả xin nêu ra một vài lý do bao gồm cả lý do liên quan đến chính sách pháp luật và các nguyên nhân về điều kiện kinh tế xã hội khác như sau:
Người đại diện quản lý công ty không có kinh nghiệm về quản lý tài chính doanh nghiệp. Ngay khi nhận được nguồn tiền hỗ trợ, công ty đã chi dùng quá nhiều vào việc mua sắm tài sản cố định ngay lúc khởi sự mà không xem xét rõ hiệu quả sử dụng tài sản. Việc mua sắm nhiều tài sản cố định dẫn đến nguồn vốn lưu động để phát triển kinh doanh bị thu hẹp.
Trong khi đó, doanh nghiệp không thể kêu gọi tiếp nhận vốn từ các tổ chức khác. Khi đi gặp các cơ quan ban ngành để xin các ưu đãi về vay vốn kinh doanh thì gặp rất nhiều khó khan do yêu cầu về giấy tờ, thủ tục….và hầu như không đáp ứng được.
Thị trường của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp do dịch vụ về photocopy, vi tính ngày càng có nhiều đơn vị tham gia vào thị trường. Trong khi đó, bản thân người dẫn dắt doanh nghiệp không phải là một “Saller” thực thụ, nên không định hướng phát triển các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách kịp thời. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Việc đào tạo nghề cho các học viên ngoài việc nhận được hỗ trợ của nhiều giảng viên, cá nhân khác ( giảng dạy không thù lao, hỗ trợ chỗ ăn ở cho các học viên,…) nhưng việc hỗ trợ này không có cam kết lâu dài, vì vậy, cuối cùng thì doanh nghiệp cũng phải chi dùng nguồn tiền tự có của mình để tài trợ cho các hoạt động này trong khi hoạt động kinh doanh không phát triển.
Mặc dù dịch vụ của doanh nghiệp là dịch vụ mang tính “nhân văn”, được nhiều người ủng hộ. Nhưng sự ủng hộ chỉ là thời gian đầu khi còn được nhiều báo chí viết và nhắc tới. Lâu dần, không ai còn nhớ nhiều về dự án nữa. Khi đã tham gia vào hoạt động kinh tế, để canh tranh và tồn tại thì sản phẩm dịch vụ vẫn phải tuân theo quy luật của thị trường. Sản phẩm của công ty tạo ra bởi các bạn học viên còn nhiều hạn chế, không đa dạng, giá thành cao, thậm chí xét về mặt dịch vụ sẽ thua kém nhiều đối thủ khác nên không cạnh tranh được với đối thủ.
- Ví dụ thứ hai : Công ty cổ phần Phú Hải Sơn – VinaEnter
Khởi nguồn từ cuộc thi ý tưởng kinh doanh sáng tạo của Trường đại học Bách Khoa Đà Nẵng. Với ý tưởng kinh doanh “bán vé xe khách qua mạng internet” – là dịch vụ khá mới mẻ tại Việt Nam vào năm 2007. Từ ý tưởng kinh doanh trên, tác giả đã nhận lời hỗ trợ bạn sinh viên khuyết tật Trần Văn Sơn viết hồ sơ dự án để tham gia cuộc thi- khi đó bản thân tác giả cũng đang là sinh viên ngành tài chính doanh nghiệp tại trường đại học Kinh tế, đồng thời chính tác giả cũng là người thuyết trình về dự án trước hội đồng giám khảo. Dự án sau đó đã lọt vào vòng chung kết và đạt giải nhất ý tưởng kinh doanh sáng tạo. Ngay sau đó, được sự hỗ trợ của các thành viên ban tổ chức và các tổ chức khác, bạn Trần Văn Sơn đã thành lập công ty cổ phần Phú Hải Sơn – với dịch vụ chính là tạo ra mang lưới kinh doanh vé xe khách qua mạng, nhằm hỗ trợ hành khách và nhà xe trong việc đặt mua và xuất vé nhằm giảm tải tình trạng xe dù, xe cóc, ép giá hành khách. Ban đầu, công ty theo đuổi mục tiêu là một doanh nghiệp phi lợi nhuận – như đúng bản chất của doanh nghiệp xã hội theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014. Tuy vậy, sau một thời gian kinh doanh, mảng dịch vu vé xe khách không đạt hiệu quả như kỳ vọng và ngày càng thu hẹp lại. Sau này, để duy trì hoạt động, công ty đã chuyển sang hướng đào tạo nghề liên quan đến công nghệ thông tin cho các học viên. Từ một mô hình kinh doanh hướng tới việc giải quyết vấn đề về “xe dù, bến cóc”, doanh nghiệp chuyển hẳn sang hướng kinh doanh về đào tạo. Từ năm 2014, Công ty CP Phú Hải Sơn đổi tên thành Công ty TNHH Giải pháp công nghệ VinaENTER chuyên dịch vụ đào tạo công nghệ thông tin (CNTT) và thiết kế phần mềm. Đương nhiên công ty VinaEnter không còn theo đuổi mục tiêu phi lợi nhuận.
Nguyên nhân thất bại của công ty Phú Hải Sơn không phải vấn đề về vốn hoạt động, mà chính là kinh nghiệm và tư duy điều hành doanh nghiệp còn thiếu và vội vàng. Mặc dù là giải pháp, ý tưởng tốt vì cho đến nay, một doanh nghiệp đi sau về ý tưởng này là “Vexere.cm” lại đang hoạt động rất hiệu quả và mang lại nhiều giá trị xã hội thiết thực.
Thêm vào đó, việc lựa chọn mục tiêu cam kết đi theo con đường doanh nghiệp xã hội, nhưng chưa hiểu hết bối cảnh, những trở ngại và phạm vi của mục tiêu. Đồng thời, tại thời điểm đó cũng không có cơ chế nào kiểm soát cam kết thực hiện mục tiêu xã hội của doanh nghiệp dẫn đến các nhà đầu tư sao nhãng với mục tiêu ban đầu.
Các doanh nhân trẻ với tấm lòng nhiệt huyết cao nhưng lại non trẻ về kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp, tư duy quản trị và định hướng thị trường còn yếu. Vào thời điểm năm 2008-2009, đa số những người sử dụng internet đều là các bạn trẻ, số lượng những người lớn tuổi và các bạn ở nông thôn chưa biết sử dụng internet là phổ biến nên khả năng tiếp cận dịch vụ rất hạn chế mặc dù là dịch vụ tốt. Tại thời điểm đó, việc thuyết phục các nhà xe thay đổi tư duy phục vụ và cách thức bán vé, đón khách cũng khó khăn hơn hiện tại. Ngược lại, hiện nay Smart Fone trở nên phổ biến, công nghệ thông tin có nhiều ứng dụng tương đối dễ dàng nên khả năng tiếp cận dịch vụ của khách hàng tăng lên rõ rệt.
- Ví dụ thứ ba: Dự án cà phê sách từ thiện Ylife Coffee. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Cuối năm 2007, các thành viên nhóm từ thiện Ước Mơ Xanh tại TP HCM nhận được một khoản viên trợ từ các thành viên ở nước ngoài. Sau đó đại diện các thành viên của nhóm ( bao gồm tác giả) đã cùng nhau quyết định dùng nguồn tiền này để thành lập Dự án cà phê sách từ thiện Ylife Coffee với số vốn được hỗ trợ và kêu gọi thêm vốn góp của hai thành viên khác. Quán Café YLife được khai trương tại địa chỉ 345/1 Nguyễn Đình Chiểu, P.5, Q.3- TPHCM, với suy nghĩ sao lại cứ đi xin mãi mà không tự kiếm ra tiền để làm từ thiện? Tuy nhiên, không lâu sau đó, các thành viên của Ước Mơ Xanh cùng thống nhất chuyển nhượng lại phần vốn góp cho hai thành viên còn lại và rút khỏi dự án vì nguyên nhân bất đồng trong quan điểm kinh doanh – một bên là cam kết phi lợi nhuận và hướng đến cộng đồng, trong khi hai thành viên còn lại mặc dù ban đầu cam kết cùng mục tiêu dự án nhưng sau đó lại thay đổi và mong muốn thu hồi vốn nhanh và không đồng tình với phương án kinh doanh và phân chia lợi nhuận như ban đầu.
- Ví dụ thứ tư : Quỹ hỗ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm CEP
Quỹ CEP hoạt động dưới hình thức một tổ chức tài chính vi mô theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Sự thành công của CEP được đóng góp bởi nhiều yếu tố, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất chính là mạng lưới khách hàng của CEP rộng khắp cả nước và có sự liên hệ mật thiết giữa các khách hàng- chính quyền địa phương và doanh nghiệp, đồng thời quỹ CEP có cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ trên xuống.
“Quỹ Trợ Vốn cho Người Lao Động Nghèo Tự Tạo Việc Làm” (gọi tắt là Quỹ CEP-Capital, Employment, Poor) trực thuộc Liên đoàn Lao động TPHCM được thành lập ngày 02/11/1991, theo quết định của Ủy ban Nhân dân Tp.HCM . Mục đích của Quỹ CEP là, hỗ trợ những khoản vay nhỏ giúp những người lao động nghèo tự tạo việc làm, tăng thu nhập. Quỹ CEP đã từng bước mở rộng quy mô cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho người lao động nghèo khu vực thành phố Hồ Chí Minh qua việc thành lập hệ thống các chi nhánh CEP tại các quận, huyện, góp phần hiệu quả vào chương trình xóa đói, giảm nghèo của thành phố.
Năm 2001, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia đã ký kết thỏa thuận “Mở rộng hoạt động tài chính vi mô của Quỹ CEP”, tạo thuận lợi cho việc thành lập thêm các chi nhánh, tăng cường năng lực tổ chức để mở rộng phạm vi phục vụ của Quỹ.
Hiện nay CEP đã có 34 chi nhánh hoạt động trong phạm vi các quận, huyện của TPHCM và các tỉnh lân cận như: Bến Tre, Bình Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Long An, Tây Ninh, Tiền Giang và Vĩnh Long.
Từ các ví dụ kể trên, và thực tiễn nghiên cứu về mô hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam trước đây, tác giả đúc kết lại một số khó khăn mà doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam thường gặp phải đó là: Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Thứ nhất, nhận thức về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam còn rất hạn chế. Đa số mọi người nhầm lẫn doanh nghiệp xã hội với một tổ chức từ thiện nào đó, chứ không nhìn nhận doanh nghiệp xã hội như một doanh nghiệp thông thường. Do đó, mọi người thường hoài nghi, thiếu sự tin tưởng về mục tiêu xã hội của doanh nghiệp xã hội. Hoặc có hiểu biết sai về doanh nghiệp xã hội- như là một tổ chức từ thiện nên sẽ cung cấp các sản phẩm dịch vụ miễn phí! Chính những yếu tố này làm mất đi cơ hội kinh doanh, cơ hội tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp xã hội, và đôi khi còn gặp khó khăn do các cơ quan thẩm quyền khi đơn vị cần hợp tác để hoạt động. Để minh họa cho nhận xét này một cách chắc chắn hơn, tác giả đã tiến hành khảo sát mức độ hiểu biết về doanh nghiệp xã hội tại thời điểm 2017 kể từ khi Luật doanh nghiệp 2014 ghi nhận sự tồn tại của loại hình doanh nghiệp xã hội trong Luật. Trong số những người được hỏi (hầu hết là trong độ tuổi từ 25-35 đang công tác trong nhiều lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, IT, và có cả các chủ doanh nghiệp xã hội,…) thì tỷ lệ người đã “nghe và hiểu rõ” về loại hình này chỉ 12%, đa số là “đã từng nghe nhưng không hiểu rõ” lên tới gần 61% số người được hỏi trả lời, còn lại là “chưa từng biết” về loại hình doanh nghiệp này. Việc Luật hóa doanh nghiệp xã hội trong Luật Doanh Nghiệp 2014 và chi tiết tại hướng dẫn thi hành Luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo nền tảng pháp lý vững chắc và đáng tin cậy để mọi người hiểu đúng, hiểu đủ cho loại hình doanh nghiệp này. Đồng thời, cũng từng bước hướng dẫn cách thức, thủ tục thành lập và các đặc điểm quan trọng khác biệt giữa doanh nghiệp xã hội và các doanh nghiệp khác để mọi người cùng hiểu rõ. Kết quả khảo sát cũng đã nhận được câu trả lời rằng chính bản thân các doanh nghiệp xã hội hiện tại cũng gặp khó khăn khi tiếp cận và giải thích hoạt động của doanh nghiệp cho khách hàng hiểu.
Thứ hai, đa số các cá nhân, tổ chức đều đang cảm thấy rằng thủ tục thành lập doanh nghiệp xã hội là “rất khó khăn”. Điều này do hệ lụy của trước đây khi chưa có Luật doanh nghiệp 2014, nếu thành lập doanh nghiệp xã hội đơn thuần như những công ty thông thường thì hầu như không được nhìn nhận như là một doanh nghiệp xã hội. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp xã hội lựa chọn các hình thức phi doanh nghiệp (theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005) thì thủ tục thành lập hết sức nhiêu khê. Có nhiều loại hình, tổ chức xã hội khác nhau, do các cơ quan quản lý khác nhau cấp phép. Thành lập một tổ chức xã hội có quy trình phức tạp về thủ tục, quy định về tiêu chuẩn hội đồng sáng lập, tiêu chuẩn hội đồng quản lý, số lượng thành viên, địa bàn hoạt động… mà không có nhiều đơn vị mới thành lập có thể đáp ứng. Tuy nhiên, việc này đã trở nên dễ dàng hơn khi có Luật Doanh nghiệp 2014. Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp xã hội là một doanh nghiệp tương đối nhanh gọn. Mặc dù vậy, cần phải tăng cường tuyên truyền để nâng cao hiểu biết của xã hội đối với Doanh Nghiệp xã hội, bởi có tới 50% cá nhân khi trả lời câu hỏi khảo sát lựa chọn câu trả lời: “Chưa hiểu rõ về thủ tục thành lập và vận hành doanh nghiệp xã hội”. Thậm chí có cá nhân đã thành lập một doanh nghiệp xã hội nhưng vẫn mong muốn được hỗ trợ kiến thức để hoạt động cho đúng Luật.
Thứ ba, là các khó khăn trong việc huy động vốn hoạt động và cơ chế quản lý tài chính của Doanh nghiệp xã hội. Mặc dù Luật Doanh Nghiệp 2014 đã quy định cho phép các Doanh nghiệp xã hội tiếp nhận viện trợ để bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh của mình. Tuy nhiên, nguồn vốn viện trợ này thường không thường xuyên, giống như “một món quà” ở một thời điểm nào đó mà doanh nghiệp không thể chủ động, không thể định hướng để quản trị và phát triển công ty. Ngoài ra, các tổ chức quỹ đầu tư khi cấp vốn cho Doanh nghiệp xã hội thường đưa ra các tiêu chuẩn khắt khe mà ít doanh nghiệp đáp ứng được như ví dụ về trường hợp, Quỹ đầu tư thiện doanh LGT Ventures Philanthropies (LGT VP) tới Việt Nam năm 2010 khảo sát và tìm kiếm cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, quy mô đầu tư từ 400,000 – 1,000,000 USD. Tuy nhiên sau hơn 1 năm tìm kiếm và khảo sát, tổ chức này không thể tìm kiếm được các đơn vị đủ tiêu chuẩn sẵn sàng đáp ứng ngay khoản đầu tư của họ. Vì thế, Quỹ này đã chuyển qua chiến lược hoạt động mới tại 04 nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, bằng việc triển khai chương trình thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội nhằm trợ các doanh nghiệp xã hội tiềm năng nâng cao năng lực, tổ chức để sẵn sàng cho việc kêu gọi và tiếp nhận các khoản đầu tư từ các nhà đầu tư xã hội.
Kết quả khảo sát thực tế cũng chỉ ra rằng, “nguời chủ doanh nghiệp phải có kinh tế vì lợi nhuận phần lớn phục vụ mục đích xã hội”. Một số lĩnh vực mà Nhà nước quy định sẽ nhận được ưu đãi đầu tư theo Luật đầu tư thì đa số chỉ những doanh nghiệp lớn mới có khả năng thực hiện và đáp ứng tiêu chuẩn về vốn, lao động,… Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam ở quy mô vừa và nhỏ, cần có một tổ chức hỗ trợ tài chính đặc thù ngoài nguồn vốn viện trợ nhận được, cụ thể là cần dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi tại ngân hàng thương mại để kịp thời bổ sung vốn kinh doanh. Việc vay vốn ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp xã hội mới thành lập rất khó khăn chứ chưa kể đến việc có khả năng vay nhưng lãi suất cho vay cao hơn khả năng sinh lợi của dự án do không có tài sản cố định ( nhà cửa, đất đai, xe,.. ) để thế chấp, không có dữ liệu lịch sử để chứng minh về khả năng tạo doanh thu, uy tín về tín dụng, …. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Đồng thời, cũng chưa có chính sách pháp luật khuyến khích các nhà đầu tư cá nhân đầu tư vốn vào doanh nghiệp xã hội chẳng hạn như: Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp xã hội có lợi nhuận và tuân thủ quy định về lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, hoặc giảm thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi nhuận được chia còn lại đối với nhà đầu tư vào doanh nghiệp xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng chưa có những quy định cụ thể về cơ chế quản lý và kiểm soát vốn đặc thù dành cho doanh nghiệp xã hội như pháp Luật Anh, Mỹ. Chẳng hạn quy định về “Asset lock” hay quy định về hạn chế phân phối lợi nhuân, chuyển nhượng tài sản của doanh nghiệp xã hội theo CICs Reg của Anh ,… sẽ hạn chế được tình trạng nhà đầu tư “không nhất quán” về mục tiêu tái đầu tư lợi nhuận.
Thứ tư, chính là các khó khăn trong việc vận hành doanh nghiệp xã hội, bao gồm việc cân đối lợi ích giữa mục tiêu xã hội và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông; Thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn cho hoạt động bởi đa số các doanh nghiệp xã hội hiện nay được thành lập bởi các cá nhân làm từ thiện, có mục tiêu xã hội rõ ràng và có ý chí cải thiện các vấn đề xã hội mà bản thân họ theo đuổi, nhưng họ lại ít khi là một doanh nhân thực thụ nên thiếu các tư duy,kỹ năng điều hành,quản trị và phát triển doanh nghiệp; Thiếu thị trường đầu ra cho sản phẩm, và sự cạnh tranh của thị trường như bất kỳ doanh nghiệp hoạt động thông thường nào.
2.4 Một số chính sách pháp luật quốc tế trong việc hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển doanh nghiệp xã hội
2.4.1 Chính sách pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp xã hội tại nước Anh.
Ở khía cạnh môi trường pháp lý và chính trị, nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của doanh nghiệp xã hội ở Anh, có thể thấy rằng sự thành công này đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân chính: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội của Anh thể hiện rất rõ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các tổ chức và cá nhân; Chính phủ Anh thực thi nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội phát triển. Tất cả các chủ thể kinh doanh, dù ở quy mô lớn hay nhỏ cũng luôn được quan tâm và khuyến khích thành lập và vận hành doanh nghiệp xã hội. Pháp luật Anh cũng cung cấp các mô hình pháp lý đa dạng và linh hoạt cho doanh nghiệp xã hội, tạo điều kiện tối đa cho các doanh nhân lựa chọn được mô hình phù hợp với mình để kinh doanh hiệu quả; Để đưa các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội vào thực tế, Chính phủ Anh đã nỗ lực tiến hành những hoạt động trợ giúp cho doanh nghiệp xã hội thông qua hệ thống các cơ quan hỗ trợ từ khâu đăng ký doanh nghiệp, tư vấn pháp lý thành lập doanh nghiệp xã hội, hỗ trợ thông tin về thuế, cho đến các chiến dịch truyền thông, quảng bá để cả xã hội biết và ủng hộ cho doanh nghiệp xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể xem chi tiết các hướng dẫn “step-by-step” để thành lập, quản lý, vận hành một doanh nghiệp xã hội chuyên nghiệp trên trang web điện tử chính phủ dành riêng cho loại hình doanh nghiệp này. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Từ những năm 1990, xu hướng và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp xã hội tại nước Anh ngày càng mạnh mẽ, các nghiên cứu chuyên sâu và các tổ chức trung gian hỗ trợ doanh nghiệp xã hội đã bắt đầu được thành lập như: Tổ chức Đối tác Doanh nghiệp xã hội Anh (1997), Doanh nghiệp xã hội London (1998). Các tổ chức này ban đầu được thành lập trên cơ sở hợp tác giữa các Hợp tác xã và các tổ chức hỗ trợ Hợp tác xã. Sau đó, các tổ chức này phát triển thành các tổ chức hỗ trợ phát triển kinh doanh cho các doanh nghiệp xã hội mới thành lập. Việc mở rộng chương trình đào tạo doanh nghiệp xã hội cũng được đưa vào trường đại học. Truyền thông về doanh nghiệp xã hội được chú trọng thông qua thành lập Tạp chí Doanh nghiệp xã hội. Hiện nay đã có hàng trăm tổ chức trung gian hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Anh.
Hiện tại, Liên minh Doanh nghiệp xã hội Anh (Social Enterprise Coalition) là tổ chức có ảnh hưởng nhất và có mạng lưới hoạt động rộng nhất trong lĩnh vực này. Liên minh Doanh nghiệp xã hội phối hợp cùng các tổ chức trung gian, nhà nước đưa ra các chương trình hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp xã hội và thúc đẩy tính bền vững cho các tổ chức từ thiện thông qua các hoạt động kinh doanh.
Năm 2002, chính phủ Anh đã tiên đưa ra Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội, thành lập bộ phận Doanh nghiệp xã hội (SEnU) trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp (DTI) để điều phối các hoạt động ở Anh và xứ Wales.
Năm 2006, SEnU trở thành một phần của Office of the Third Sector – thuộc Văn phòng Nội các (Cabinet office).
Năm 2010, Office of the Third Sector trở thành Văn phòng Xã hội Dân sự (Office for Civil Society) thuộc Văn phòng Nội các, chịu trách nhiệm cho các tổ chức tình nguyện, từ thiện và doanh nghiệp xã hội.
2.4.2 Chính sách pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Thái Lan là một trong những nước tiên phong trên lĩnh vực phát triển Doanh nghiệp xã hội. Điều này thể hiện trong Hiến pháp sửa đổi của Thái Lan (1997), thể hiện rõ sự khuyến khích tham gia phát triển kinh tế xã hội của các tổ chức xã hội dân sự và thúc đẩy các sáng kiến xã hội. Thái Lan coi việc thúc đẩy hỗ trợ doanh nghiệp xã hội là điều kiện để phát triển nền kinh tế sáng tạo và giảm thiểu tác động tiêu cực (trực tiếp hay gián tiếp) của doanh nghiệp truyền thống tới xã hội và môi trường. Năm 2009, Chính phủ thành lập Hội đồng phát triển doanh nghiệp xã hội Thái Lan do Thủ tướng làm Chủ tịch. Tiếp đó, Văn phòng doanh nghiệp xã hội Thái Lan (TSEO) được thành lập năm 2010 do Văn phòng Thủ tướng Chính phủ quản lý và hình thành Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp xã hội năm 2012. Thái Lan áp dụng cách tiếp cận chính sách từ trên xuống (top-down) để thúc đẩy sự phát triển củả doanh nghiệp xã hội.
Cũng giống như Việt Nam, Thái Lan không quy định mô hình pháp lý riêng biệt nào cho doanh nghiệp xã hội như tại Anh, Mỹ. Các doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan đăng ký thành lập và hoạt động theo quy định của Luật công ty. Những doanh nghiệp có đủ tiêu chuẩn là “doanh nghiệp xã hội” Theo Nghị định Hoàng gia về miễn thuế (số 621) B.E. 2559 đã được thông qua vào năm 2016, sẽ nhận được các ưu đãi về thuế và các chính sách hỗ trợ khác. Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội Thái Lan (2010 – 2014) đưa ra ba định hướng chính:
- Xây dựng sự hiểu biết về doanh nghiệp xã hôi tại Thái Lan;
- Nâng cao năng lực để phát triển hình thức và phạm vi tác động của doanh nghiệp xã hội;
- Phát triển và nâng cao phương thức tiếp cận nguồn vốn đầu tư và nguồn lực khác.
Văn phòng TSEO sẽ thông báo những ưu đãi đặc biệt nằm trong những lĩnh vực được khuyến khích do Văn phòng ủy ban khuyến khích đầu tư qui định cho các doanh nghiệp xã hội. Chính phủ Thái Lan cũng ban hành những quyền lợi ưu đãi dành cho các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động xã hội và có đóng góp vào Quỹ Khuyến khích doanh nghiệp xã hôi; Bộ Tài chính tổ chức các hoạt động hỗ trợ các Tổ chức tài chính phát triển cộng đồng (Community Development Financial Institution: CDFI). Bộ Công nghiệp chịu trách nhiệm phát triển các trung tâm đào tạo doanh nghiệp xã hội thông qua Văn phòng Khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ (trực thuộc Bộ Công nghiệp). Ngân hàng quốc gia Thái Lan cho các doanh nghiệp xã hội vay vốn tín dụng đặc biệt. Kêu gọi sự hợp tác của các tổ chức tín dụng nhằm tạo nguồn vốn tín dụng và hỗ trợ cho các doanh nghiệp xã hội….
Tóm lại, ở khía cạnh pháp luật, các doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan nếu đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định sẽ được nhận các ưu đãi về thuế, ưu đãi về vay vốn tín dụng theo quy định của các tổ chức tài chính và các ưu đã đặc biệt khác theo quy định của Ủy Ban khuyến khích đầu tư. Các chính sách này đã được công bố công khai, riêng biệt chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp xã hội mà các doanh nghiệp thông thường khác không có được. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
2.4.3 Chính sách pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp xã hội tại Hàn Quốc.
Các doanh nghiệp xã hội tại Hàn Quốc được thiết kế riêng mô hình hoạt động so với các doanh nghiệp thông thường khác.
Doanh nghiệp xã hội tại Hàn Quốc có thể hoạt động theo quy định của Luật Phát Triển Doanh nghiệp xã hội do Ủy Ban hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội thuộc Bộ Lao Động quy định. Theo đó, để được xem là doanh nghiệp xã hội được công nhận theo quy định của Luật này thì phải đảm bảo các tiêu chí:
Các tổ chức phải có hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ vì mục tiêu xã hội, thông qua tạo việc làm hoặc cung cấp dịch vụ xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân thuộc tầng lớp yếu thế, có thu nhập thấp,ít nhất 50% người hưởng dịch vụ hoặc lao động trong tổ chức là người thuộc thuộc tầng lớp yếu thế.
Các doanh nghiệp này phải có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật: Đối với loại hình doanh nghiệp hợp tác (Associative Corporation) theo Luật Dân sự, công ty theo quy định Luật Thương Mại, hoặc tổ chức tư nhân phi lợi nhuận, hợp tác xã tiêu dùng, đơn vị phúc lợi xã hội được đăng ký theo các luật liên quan.
Doanh nghiệp xã hội tại Hàn Quốc cũng có thể hoạt động theo Luật về hệ thống Sinh Kế Cơ Bản Quốc Gia – National Basic Livelihood System (NBLS). Các doanh nghiệp này sẽ cung cấp 7 gói hỗ trợ tài chính và phi tài chính cho các hộ gia đình nghèo nằm dưới chuẩn nghèo của Hàn Quốc ( thu nhập dưới 1200 USD/ gia đình 4 người). Các doanh nghiệp này chủ yếu trong lĩnh vực y tế, giáo dục và việc làm.
Trước đó, cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 gây ra tình trạng thất nghiệp ở Hàn Quốc, các dịch vụ phúc lợi xã hội của Chính phủ không thể đáp ứng hết các nhu cầu cơ bản của người dân, đòi hỏi Chính Phủ phải có giải pháp giải quyết cấp bách.
Trong thời điểm đó, các tổ chức xã hội dân sự tại Hàn Quốc đã phát huy vai trò của mình bằng cách hỗ trợ Chính phủ tạo ra nhiều việc làm mới, giải quyết các mục tiêu xã hội trong suốt giai đoạn từ năm 1998 – 2006. Bản thân chính phủ Hàn Quốc cũng đã nổ lực hỗ trợ, đồng hành cùng các tổ chức này để tìm kiếm giải pháp thông qua nhiều hành động cụ thể như: Tài trợ ngân sách nhà nước cho các tổ chức dân sự thông qua “Ủy ban Quốc gia về khắc phục tình trạng thất nghiệp (Năm 1998); Ban hành “Luật quốc gia đảm bảo an ninh sinh kế cơ bản” (Năm 2003); “Chương trình tạo việc làm xã hội “ từ năm 2003 đến năm 2006 ;
Đến năm 2007 “Luật phát triển Doanh nghiệp xã hội” ra đã ra đời nhằm hỗ trợ các hoạt động kinh doanh có mục đích giải quyết các vấn đề xã hội thông qua việc cung cấp việc làm và các sản phẩm dịch vụ cho các nhóm yếu thế. Quyền lợi của các doanh nghiệp xã hội được công nhận so với các doanh nghiệp khác chính là được tiếp cận các gói hỗ trợ tài trợ tài chính của Chính phủ trong quá trình khởi nghiệp; được trợ giúp tư vấn về quản lý, miễn thuế, ưu tiên khi đấu thầu các hợp đồng dịch vụ công ích.
2.5 Các kiến nghị pháp luật khuyến khích hỗ trợ các Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Như đã phân tích tại Phần 1.4 của Chương 1, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp xã hội: Chính trị, pháp luật, thể chế, môi trường văn hóa xã hội. Việt Nam với những điều kiện đặc thù rất cần thiết và phù hợp với mô hình doanh nghiệp xã hôi. Suy cho cùng, môi trường pháp luật chính là nơi các chính sách từ môi trường chính trị, môi trường thể chế được bày tỏ, thể hiện thành các quy tắc chung. Thêm vào đó, Chính Phủ Việt Nam cũng đã nhận thấy vai trò quan trọng của các doanh nghiệp xã hội trong việc góp phần giải quyết các vấn đề xã hội và thể hiện sự quan tâm đáng kể đến mô hình doanh nghiệp này thông qua việc công nhận sự tồn tại của nó trong Luật và xây dựng văn bản thi hành Luật hướng dẫn việc thi hành. Mặc dù vậy, do đây là mô hình khá mới mẻ tại Việt Nam nên chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm so với các quốc gia khác trong việc thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này. Các chính sách hỗ trợ phát triển cần phải chi tiết hơn, cụ thể hơn, đồng thời chặt chẽ hơn.
Tác giả cho rằng, quy định các đặc điểm nhận diện cơ bản về Doanh Nghiệp xã hội hiện nay đã có trong Luật Doanh Nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP đã tạo ra khung pháp lý cơ bản cho doanh nghiệp xã hội từ việc đăng ký thành lập, kêu gọi vốn, quản lý doanh nghiệp, hợp nhất-chia tách- giải thể doanh nghiệp, các chính sách ưu đãi về thuế, các ưu đãi về cơ sở hạ tầng, chính sách giao đất và thuê đất, ưu đãi thuế, ưu đãi tín dụng.
Hiên tại, các doanh nhân xã hội đã có thể linh hoạt lựa chọn hình thức pháp lý của doanh nghiệp mình tùy theo nhu cầu và khả năng về vốn và quản trị doanh nghiệp. Ngay cả các nước Anh, Mỹ, mặc dù các nước này đã thiết kế các mô hình đặc thù dành cho doanh nghiệp xã hội (CIC, L3C,..) nhưng các doanh nghiệp xã hội cũng không nhất thiết phải lựa chọn mô hình này mà có thể đăng ký doanh nghiệp như loại hình thông thường quy định theo Luật Công ty tương ứng. Còn các doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan và Hàn Quốc thì cũng giống như Việt Nam đã quy định, được thành lập tương ứng theo các loại hình doanh nghiệp của Luật công ty (Thái Lan) hay Luật Thương Mại (Hàn Quốc) và phải đáp ứng một số tiêu chí riêng biệt của doanh nghiệp xã hội theo các quy định pháp luật có liên quan.
Các quy định của Pháp luật Việt Nam hiện tại đã giúp doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam có một vị trí pháp lý quan trọng, nâng cao sự nhận diện của toàn xã hội của loại hình doanh nghiệp này. Tuy vậy không thể kỳ vọng trong thời gian ngắn công chúng có thể nhận diện rõ ràng về loại hình doanh nghiệp này như các loại hình doanh nghiệp truyền thống.
Thủ tục đăng ký doanh nghiệp xã hội đã hết sức đơn giản, nhanh gọn và đầy đủ biểu mẫu. Tuy vậy rất nhiều cá nhân, tổ chức vẫn còn mơ hồ và nhầm lẫn về doanh nghiệp xã hội với các quỹ từ thiện nên cho rằng thủ tục thành lập rườm rà phức tạp. Vần đề còn lại chỉ là từng bước tuyên truyền và nâng cao nhận thức của xã hội về loại hình doanh nghiệp này. Luật cũng đã quy định rõ chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Như đã phân tích xuyên suốt bài viết, ngoài môi trường pháp lý thì các tác nhân liên quan đến môi trường chính trị, thể chế cũng cần thuận tiện để hỗ trợ doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam phát triển như:
Cần thành lập một bộ phận/cơ quan hướng dẫn và thực hiện quản lý nhà nước, thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp xã hội riêng biệt tại cơ quan hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nói chung (chẳng hạn tại Cục Phát Triển Doanh Nghiệp thuộc Bộ Kế Hoạch Đầu Tư) . Cơ quan này thực hiện các hướng dẫn chi tiết “Step-by –Step” đối với việc thành lập, quản lý, biểu mẫu thực hiện các báo cáo của doanh nghiệp xã hội như cách làm của Anh. Tất cả mọi bước đều được hướng dẫn chi tiết trong từng ghi chú , từng vấn đề liên quan và công khai trên trang giao dịch trực tuyến. Đồng thời cơ quan này cũng chịu trách nhiệm về quản lý nhà nước, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội.
Hoặc cũng có thể thành lập một Tổ chức độc lập hỗ trợ doanh nghiệp xã hội trong cơ cấu của một Tổ chức chính trị- xã hội của Nhà nước để thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp xã hội như cách làm của Thái Tuy nhiên, hiệu quả hỗ trợ từ các tổ chức trung gian ở Việt Nam ít đem lại hiệu quả, bởi vì thường tạo ra khoảng trống về trách nhiệm, khiến tổ chức gặp khó khăn trong việc tập hợp nguồn lực của các bên liên quan, nhất là các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương. Cơ quan chuyên trách về doanh nghiệp xã hội nên thực hiện các chương trình hỗ trợ thông qua các tổ chức trung gian phát triển doanh nghiệp xã hội dưới hình thức đấu thầu cạnh tranh, thuê ngoài, ..và cơ quan này giữ vai trò giám sát, theo dõi và đánh giá. tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam. Việc sử dụng các tổ chức trung gian còn nhằm đạt hiệu quả cao hơn nhờ tính cạnh tranh, giảm xung đột lợi ích và hạn chế tham nhũng. Hiện ở Việt Nam có các tổ chức trung gian này ở Việt Nam là CSIP và Spark.
Nhà nước cần định hướng tập trung các lĩnh vực xã hội khuyến khích doanh nghiệp xã hội tham gia để nhận được ưu đãi theo các chương trình hành động theo từng giai đoạn, nâng cao sự hiểu biết của toàn xã hội đối với doanh nghiệp xã hội. Các chương trình, chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp xã hội cần
Để phát triển nguồn tài chính bền vững hỗ trợ doanh nghiệp xã hội, cần phải thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp xã hộ Quỹ sẽ được tài trợ bằng ngân sách Nhà nước trên cơ sở trích một tỷ lệ nhất định (ví dụ: 10%) từ các khoản thu Thuế tiêu thụ đặc biệt và nhận tài trợ từ các tổ chức, nhà đầu tư xã hội trong và ngoài nước.
Đối với bản thân các nhà đầu tư xác định tham gia vào mô hình doanh nghiệp xã hội cần trang bị cho mình đủ nguồn tài chính, kiến thức, kỹ năng tư duy quản trị, tư duy phát triển thị trường ….chứ không chỉ có trái tim và lòng nhiệt huyết, để đảm bảo có thể lèo lái con thuyền doanh nghiệp tồn tại và thực hiện sứ mệnh xã hội của mình.
Phần nội dung bài viết dưới đây tác giả tập trung vào các kiến nghị mà tác giả cho rằng cần bổ sung ở khía cạnh pháp luật nhằm hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Theo đó tác giả cho rằng không cần quy định về một mô hình pháp lý riêng biệt dành cho doanh nghiệp xã hội, nhưng cần có những quy định pháp luật, quy chế riêng đặc thù đối với loại hình doanh nghiệp này như cách mà Thái Lan, Hàn Quốc đã thực hiện Nội dung của quy chế bao gồm các quy chế về huy động, tiếp nhận vốn và kiểm soát vốn, quy chế về ưu đãi thuế, cách thức quản trị và báo cáo đối với các doanh nghiệp xã hội. Quan trong nhất là cần đưa ra những chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ cụ thể cho các doanh nghiệp xã hội, cũng như cách thức và trách nhiêm thực hiện các chính sách này.
2.5.1 Cụ thể hóa bằng các quy định của pháp luật liên quan đến ưu đãi về vốn đầu tư cho doanh nghiệp xã hội
Ý tưởng và các vấn đề xã hội thì nhiều nhưng khó khăn về vốn luôn là khó khăn chung của hầu hết các doanh nghiệp thông thường. Doanh nghiệp xã hội lại là loại hình doanh nghiệp đặc thù vừa kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận (mà chủ yếu để tái đầu tư) đồng thời thông qua hoạt động kinh doanh của mình giải quyết các mục tiêu xã hội mà doanh nghiệp đó theo đuổi. Thông thường các dự án xã hội có thời gian thu hồi vốn rất chậm, dễ làm nản lòng ngay cả những nhà đầu tư tâm huyết. Do đó, cần có nguồn tài chính vững và ổn định sẵn sàng để hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn.
Các quy định về huy động vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp xã hội chủ yếu vẫn tuân theo quy định của Luật Doanh Nghiệp theo loại hình tương ứng. Chỉ có điểm khác biệt đó là được phép nhận thêm vốn viện trợ của các cá nhân, tổ chức khác để bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh của mình. Hiện nay không có quy định cụ thể nào về việc ưu đãi vay vốn cho các doanh nghiệp xã hội ngoại trừ quy định về các ưu đãi đầu tư của các nhà đầu tư theo quy định tại Luật đầu tư . Tuy nhiên các dự án đáp ứng đủ tiêu chí ưu đãi đầu tư đều phải là các nhà đầu tư có nguồn vốn và quy mô dự án lớn thuộc danh mục các lĩnh vực nhận được ưu đãi. Hầu hết các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay đều ở quy mô vừa và nhỏ, nên khó có thể đáp ứng được các tiêu chí ưu đãi của Luật Đầu Tư. Do đó , cần có văn bản quy định rõ về các ưu đãi về vốn, cơ sở hạ tầng,… phù hợp với loại hình doanh nghiệp xã hội ở quy mô nhỏ để giúp các doanh nghiệp xã hội mới có cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn để thành lập và duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quy định rõ cơ quan nào sẽ hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn đã được công bố (chẳng hạn Quỹ phát triển doanh nghiệp xã hội, Ngân hàng phát triển Việt Nam –VIDB.
Quy định rõ về các mức hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các doanh nghiệp xã hội để mở rộng quy mô tác động xã hội đối với các doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn thông qua quy trình tuyển chọn, phân loại, theo dõi và đánh giá doanh nghiệp xã hội. Khoản hỗ trợ có thể là các khoản tài trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, nhưng có thời hạn nhất định (từ 3-5 năm) để tránh sự ỷ lại của doanh nghiệp. Việc hỗ trợ tài chính phải gắn liền với hiệu quả, kết quả cụ thể của các tác động xã hội. Ví dụ: hỗ trợ chi phí lương, tiền thuê nhà, … của người mỗi người khuyết tật tham gia làm việc trong doanh nghiệp.
Cũng cần quy định cụ thể hóa mức lãi suất vay vốn được ưu đãi trong từng thời kỳ, từng lĩnh vực cụ thể nếu doanh nghiệp xã hội đáp ứng được các tiêu chí nhất định khi thực hiện vay vốn tại các tổ chức tài chính tín dụng nằm trong hệ thống các cơ quan trung gian thúc đẩy doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam để các doanh nghiệp xã hội dễ dàng tìm kiếm cơ hội bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình.
2.5.2 Xây dựng quy chế kiểm soát tài chính riêng dành cho doanh nghiệp xã hội. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Bản thân các loại hình doanh nghiệp theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 đã có tương ứng một cơ chế kiểm soát vốn và sử dụng vốn tương ứng khá chặt chẽ theo các quy định của Luật Doanh Nghiệp, Luật Thuế, Luật chứng khoán Nhưng đối với
doanh nghiệp xã hội thì cần hơn thế nữa. Sẽ dễ dàng hơn cho các doanh nghiệp xã hội ứng xử khi có sẵn một bộ quy tắc hướng dẫn về tài chính riêng dành cho doanh nghiệp xã hội, thay vì doanh nghiệp phải tham chiếu rất nhiều chuẩn mực, quy tắc khác nhau nằm ở nhiều văn bản Luật khác nhau, và bộ phận thực hiện công việc chuyên môn này không cần phải quá cồng kềnh và tốn kém nhiều thời gian nhân sự để có thể hiểu biết đủ kiến thức để thực thi cho đúng.
Việc kiểm soát nguồn vốn và cách thức sử dụng nguồn vốn nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp xã hội giữ vững được việc thực hiện cam kết “mục tiêu xã hội” của mình, đồng thời cũng bảo vệ những nhà đầu tư có liên quan trong doanh nghiệp. Do đó, tác giả đề xuất cần quy định về một bộ quy chế các nguyên tác chung về cách thức kiểm soát, sử dụng, và báo cáo sử dụng nguồn vốn tương tự như hình thức “Asset Lock” của các CICs tại Anh. Trong đó quy định rõ về các hạn chế chuyển giao, phân phối tài sản, lãi suất vay tối đa, phân chia cổ tức tối đa, thanh toán giảm vốn của các doanh nghiệp xã hội nhằm tránh các tiêu cực trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp không đúng mục đích và đảm bảo việc thực hiện cam kết xã hội của doanh nghiệp.
Các cách thức kiểm soát của “Asset lock” đã được phân tích chi tiết tại Mục 2.4 của bài viết. Tuy nhiên, quy định về “Asset lock” này nên phân chia theo từng nhóm ngành nghề mà doanh nghiệp xã hội tham gia và tham chiếu phù hợp với quy chế quản lý tài chính của loại hình doanh nghiệp tương ứng. Chẳng hạn tùy theo ngành nghề kinh doanh mà biên độ lợi nhuận có thể thu được của doanh nghiệp xã hội sẽ có mức cao thấp khác nhau, hoặc thời gian thu hồi vốn khác nhau, do đó quy định về mức thanh toán chi trả cổ tức hoàn vốn cho các thành viên có thể khác nhau, cổ động góp vốn khác nhau và không vượt quá mức trần cho phép.
Về quy định thanh toán hoàn vốn cho thành viên, cổ đông thì hiện nay pháp luật cho phép việc thanh toán hoàn vốn khi công ty mua lại phần vốn góp/ vốn cổ phần chỉ nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Đối với loại hình công ty cổ phần thì chỉ được phép mua lại không quá 30%. Tuy nhiên nên quy định thêm mức thanh toán hoàn vốn tối đa để doanh nghiệp vẫn được hưởng các ưu đãi về thuế và các ưu đãi khác dành cho doanh nghiệp xã hội mà các doanh nghiệp này có thể thực hiện được sao cho vẫn đảm bảo nghĩa vụ thanh toán khi công ty thực hiện giao dịch này theo quy định của Luật doanh nghiệp. Nếu thanh toán vượt quá mức tối đa này thì doanh nghiệp sẽ bị mất các ưu đãi về thuế như cách quy định của Thái Lan. Quy định này nhằm khuyến khích các nhà đầu tư cân nhắc việc tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp hơn là việc rút vốn khỏi doanh nghiệp để đảm bảo tính ổn định lâu dài trong cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xã hội. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
2.5.3 Quy định cụ thể về chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp xã hội
Hiện nay, mặc dù Luật đã ghi nhận rõ ràng rằng các doanh nghiệp xã hội sẽ được nhận các chính sách ưu đãi trong chương trình khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội, trong đó có các ưu đãi về thuế. Tuy vậy vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể mức ưu đãi thuế dành riêng cho doanh nghiệp xã hội mà chỉ quy định về ưu đãi thuế trong trường hợp các doanh nghiệp được nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật Đầu Tư và các thông tư hướng dẫn thi hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:
Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm (điểm b Khoản 1 Điều 11 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015).
Được kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi thêm không quá 15 năm đối với dự án đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư (điểm c Khoản 2 Điều 11 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015).
Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo (Khoản 1 Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015). Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp đó phát sinh thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong 03 năm đầu, thì kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mới thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư dự án đầu tư mới phát sinh doanh thu (Khoản 2 Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015).
Được giảm thuế nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 21 Thông tư 78/2014/TT-BTC, ngày 18/06/2014 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, ngày 26/12/2913 Hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Để thu hút các nhà đầu tư vào doanh nghiệp xã hội các quy định trên “không có tính cạnh tranh, thúc đẩy nhà đầu tư”. Chúng ta có thể xem xét kinh nghiệm của Nghị định Nghị định Hoàng Gia số 621 về Thuế của Thái Lan, trong đó quy định rõ về việc nhà đầu tư vào doanh nghiệp xã hội được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 100% từ số vốn đầu tư vào doanh nghiệp xã hội, với điều kiện doanh nghiệp xã hội đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về doanh nghiệp xã hội nêu trên, ngoại trừ trường hợp trong kỳ kế toán doanh nghiệp xã hội chi trả cổ tức cho các cổ đông vượt quá 30% lợi nhuận sau thuế . Tại Anh, các cá nhân đầu tư vào các CIC có thể yêu cầu hoàn thuế đối với phần thuế thu nhập nhận được từ các CIC. Tóm lại, tác giả đề xuất chính sách miễn thuế đối với phần thu nhập nhận được từ vốn đầu tư của nhà đầu tư được khi đầu tư vào các doanh nghiệp xã hội.
Về chính sách thuế đối với bản thân các doanh nghiệp xã hội, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành chỉ có quy định: Miễn thuế đối với phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội khác để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của luật chuyên ngành về lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội khác; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng quy định miễn thuế đối phần thu nhập hình thành tài sản không chia của hợp tác xã thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã. Do đó tác giả đề xuất nên miễn thuế đối với phần lợi nhuận không chia của doanh nghiệp xã hội nếu doanh nghiệp đó đáp ứng đủ các tiêu chí về thực hiện cam kết xã hôi, đáp ứng đủ các tiêu chí về kiểm soát tài chính theo quy chế kiểm soát tài chính dành riêng cho doanh nghiệp như đã đề xuất phía trên để tái đầu tư vào doanh nghiệp.
- Tiểu kết chương 3
Tại chương 3, tác giả đã giải quyết câu hỏi nghiên cứu :chính sách pháp lý như thế nào để thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp? Để trả lời câu hỏi này tác giả đã phân tích thực trạng chung về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam thông qua các ví dụ của Doanh nghiệp xã hội do chính bản thân tác giả trải nghiệm và thông qua bảng điều tra : Mức độ nhận biết về doanh nghiệp xã hội. Từ thực trạng thực tế phân tích được, và thông qua việc tham khảo các chính sách pháp luật của Anh, Thái Lan, Hàn Quốc, tác giải đề xuất một số giải pháp để hỗ trợ loại hình doanh nghiệp ngày càng có nhiều cơ hội phát triển tại Việt Nam.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của Doanh nghiệp xã hội ở Anh, Thái Lan có thể thấy rằng sự thành công này đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân chính: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội của các quốc gia đó thể hiện rất rõ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các tổ chức và cá nhân. Tất cả các chủ thể kinh doanh, dù ở quy mô lớn hay nhỏ cũng luôn được quan tâm và khuyến khích thành lập, góp vốn và vận hành doanh nghiệp xã hội . Pháp luật cũng cung cấp các mô hình pháp lý đa dạng và linh hoạt cho doanh nghiệp xã hội, tạo điều kiện tối đa cho các doanh nhân lựa chọn được mô hình phù hợp với mình để kinh doanh hiệu quả; Chính phủ Anh, Thái Lan thực thi nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội phát triển. Để đưa các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội vào thực tế, Chính phủ các nước trên đã nỗ lực tiến hành những hoạt động trợ giúp cho doanh nghiệp xã hội thông qua hệ thống các cơ quan hỗ trợ từ đăng ký doanh nghiệp, tư vấn pháp lý thành lập , hỗ trợ thông tin về thuế, cho đến các chiến dịch truyền thông, quảng bá để cả xã hội biết và ủng hộ cho doanh nghiệp xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các chính sách hỗ trợ này được quy định một cách rõ ràng và riêng biệt chỉ dành riêng cho loại hình doanh nghiệp này.
Quay trở lại Việt Nam,có thể thấy Luật doanh nghiệp 2014 đã có nhiều cố gắng khi đưa ra một số mô hình pháp lý phổ biến cho doanh nghiệp xã hội như các doanh nghiệp hiện có tuy nhiên những quy định hiện tại về doanh nghiệp xã hội chưa thực sự thúc đẩy sự lựa chọn trở thành một doanh nghiệp xã hội của các doanh nhân xã hội do mục tiêu, thị trường, quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp này khác hẳn với các loại hình doanh nghiệp khác nên không thể cứng nhắc áp dụng quy định về quản lý, quản trị của các loại hình doanh nghiệp thông thường cho doanh nghiệp xã hội. Ngoài ra, mặc dù Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định rõ rằng doanh nghiệp xã hội được ưu đãi .. , nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể các ưu đãi riêng dành cho doanh nghiệp xã hội mà hiện nay chỉ có ưu đãi chung dành cho các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực đặc thù. Như vậy nếu doanh nghiệp xã hội cam kết và thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường thuộc các lĩnh vực này thì cũng sẽ nhận được các ưu đãi như những doanh nghiệp thông thường.
Với mục đích nghiên cứu của đề tài là tổng hợp và phân tích để đưa ra bức tranh tổng quan về các quy định, chính sách pháp lý tác động trực tiếp, gián tiếp đến loại hình Doanh nghiệp xã hội dưới góc độ là một doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam trên cơ sở so sánh với các quy định pháp luật của các quốc gia khác; Giải thích các nguyên nhân tại sao loại hình Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chưa phát triển ở khía cạnh pháp lý để đề xuất các giải pháp khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này tại Việt Nam. Đề tài đã đưa ra một số đóng góp sau:
Thứ nhất, làm rõ sự khác biệt giữa doanh nghiệp xã hội với doanh nghiệp thông thường và các tổ chức từ thiện. Để từ đó giải thích lý do vì sao nên chọn trở thành một doanh nghiệp xã hội thay vì là một tổ chức từ thiện, vì sao cần phải quản lý doanh nghiệp xã hội bằng pháp luật.
Thứ hai, làm rõ những quy định liên quan và khác biệt của doanh nghiệp xã hội thông qua việc so sánh từng quy định chi tiết về thành lập, chuyển đổi, huy động vốn, góp vốn, phân phối lợi nhuận,… của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, Anh, và Thái Lan.
Thứ ba, nêu ra được các vướng mắc thực tế mà các doanh nghiệp xã hội hiện tại đang gặp phải trong quá trình hoạt động để từ đó đề xuất ra các giải pháp khuyến khích hỗ trợ dưới góc độ pháp luật phù hợp.
Thứ tư, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị bổ sung các quy định của pháp luật nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xã hội và thúc đẩy loại hình doanh nghiệp này ngày càng phát triển ở Việt Nam.
Mặc dù vậy, do sự hạn chế về dung lượng của đề tài cũng như khả năng nghiên cứu, nên tác giả chỉ mới so sánh nghiên cứu được các quy định của pháp luật nước Anh, Thái Lan để so sánh với pháp luật Việt Nam trên tương quan các vấn đề điều chỉnh. Một số quốc gia khác như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore cũng có nhiều chính sách pháp luật hỗ trợ cho loại hình doanh nghiệp này nhưng tác giả chưa đi sâu nghiên cứu được. Đặc biệt, tác giả thực sự mong muốn nghiên cứu và so sánh với các quy định pháp luật của Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp xã hội do Trung Quốc là quốc gia có nhiều điều kiện tương đồng về văn hóa, thể chế chính trị,…. Tuy vậy do khả năng ngoại ngữ tiếng trung hạn chế của bản thân và nguồn tài liệu tiếng Anh về các quy định không có nhiều nên chưa thực hiện được mong muốn này. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
