Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Nền kinh tế thị trường và vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường
2.1.1. Kinh tế thị trường và vấn đề sở hữu.
Trong nền kinh tế thế giới tồn tại các mô hình kinh tế thị trường: kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường hỗn hợp. Cơ chế thị trường là một cơ chế kinh tế hiện thực được xác lâp một cách vững chắc trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới. Dù không là một cơ chế hoàn hảo, song cho đến nay nó vẫn chứng tỏ là một cơ chế phân bố nguồn lực và là một cơ chế phát triển kinh tế lớn nhất. Một quốc gia dựa trên nền tảng thị trường để phát triển kinh tế có thể không chắc thành công, nhưng một quốc gia không dựa trên thị trường chắc chắn sẽ thất bại trong dài hạn[22]. Và trong mỗi quốc gia lại có những biến thể khác nhau xuất phát từ quan niệm, trình độ phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nền sản xuất xã hội mới thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp, mới có sản phẩm dư thừa để trao đổi. Một trong những điều kiện để xuất hiện trao đổi là tính chất tư nhân của sản xuất, tức là những người sản xuất độc lập với nhau, sản xuất cái gì, sản xuất thế nào, cho ai là việc riêng của từng “người sản xuất”. “Người sản xuất” cần được hiểu theo nghĩa rộng. “Người sản xuất” có thể là cá nhân, hợp tác xã, công ty tư nhân, doanh nghiệp nhà nước… Điều quan trọng nhất chính là những “người” này độc lập với nhau.
Kinh tế thị trường là phương tiện tốt nhất tạo lập cơ sở kinh tế, sức mạnh kinh tế cho sự phát triển hiện đại của mỗi quốc gia. Kinh tế thị trường càng hiện đại và được vận hành có hiệu quả thì cơ sở kinh tế, sức mạnh kinh tế do nó tạo ra càng có điều kiện gia tăng mạnh mẽ thế và lực. Kết luận này là đúng cho mọi quốc gia. Việt Nam không thể là một trường hợp ngoại lệ. Vì vậy, khái niệm “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mới chính thức được xác định từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001). Sau Đại hội VI, Đại hội VII (năm 1991) xác định xây dựng “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội VIII (năm 1996) chủ trương xây dựng “nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Việc coi kinh tế thị trường là một sản phẩm của văn minh nhân loại ngày càng phát triển với trình độ cao, nên Đảng Cộng sản Việt Nam khi xác định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn coi trọng yếu tố “mở”, cập nhật, tiếp thu tinh hoa, tiến bộ từ nền kinh tế thị trường ở nhiều nước trên thế giới là hoàn toàn đúng đắn. Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2006) đã tiếp tục làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế ở nước ta, thể hiện ở bốn tiêu chí là:
- Về mục đích phát triển: Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
- Về phương hướng phát triển: Phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức, nhiều thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế
- Về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Đồng thời để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển còn thực hiện phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác.
- Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiếp tục hoàn thiện, phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề sở hữu vào điều kiện cụ thể của đất nước, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp có nền kinh tế phát triển chậm, trở thành nước có sự phát triển năng động trong khu vực với tốc độ tăng trưởng hàng năm tương đối cao.
Sở hữu, như mọi người đều biết, là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng [21]. Vì vậy, trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tại Đại hội III Đảng ta đã đề ra chủ trương cải tạo hệ thống các quan hệ sản xuất cũ thành quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, với 2 hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Trong thời gian này, chúng ta đã tập trung chú trọng, tạo mọi điều kiện để phát triển các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, cải tạo, hạn chế để đi đến xoá bỏ dần các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã giải quyết khá tốt các nhu cầu dân sinh vốn khá yếu kém ở các nước chậm phát triển như ở nước ta; giúp cho việc huy động sức người, sức của cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi, đáng lẽ phải tập trung huy động mọi nguồn lực, mọi khả năng của các thành phần kinh tế để phát triển, nhưng chúng ta lại thực hiện một cách giáo điều, duy ý chí công cuộc cải tạo mà thực chất là xoá bỏ các thành phần được coi là phi xã hội chủ nghĩa nhằm thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước.
Với vấn đề sở hữu trong cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến và đánh đổ đế quốc xâm lược đúng là vấn đề cơ bản. Thêm vào đó, việc xây dựng một chế độ tiến bộ làm cơ sở nhằm thủ tiêu mọi áp bức bóc lột, tạo lập sự bình đẳng, hữu nghị giữa các dân tộc là mục đích của sự phát triển xã hội. Song mặt khác, bản thân các hình thức sở hữu lại là hình thức biểu hiện và bị quy định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó có nghĩa là, nếu các hình thức sở hữu mà phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; còn trong trường hợp ngược lại, nó không những không có tác dụng thúc đẩy, mà còn cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Với ý nghĩa đó, sở hữu lại là phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất. Điều này, đặc biệt quan trọng đối với những nước chưa trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa thực hiện quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam. Trên thực tế, do lúc đầu Đảng nhận thức về vấn đề sở hữu theo quan điểm của C. Mác chưa đầy đủ, khi cho rằng, quan hệ sản xuất phải đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Do vậy, một hệ quả tất yếu đã xảy ra là các quan hệ sở hữu, các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ngoài nhà nước và ngoài tập thể bị đối xử như là những vật cản cần phải xoá bỏ và cải tạo để đảm bảo sự đi lên và sự thành công của chủ nghĩa xã hội. Chính vì nhận thức chưa đúng như vậy, chúng ta đã nóng vội và có phần duy ý chí khi xóa bỏ mọi hình thức sở hữu khác và chỉ chấp nhận hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Chúng ta cũng không tuân theo quy luật kinh tế khách quan là lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, muốn cho sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cho nên, một mặt, không được nóng vội xóa bỏ hay xác lập hình thức sở hữu nào đó một cách chủ quan; mặt khác, vẫn phải luôn luôn quan tâm giải quyết từng bước quan hệ sản xuất, trong đó có quan hệ sở hữu, sao cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới và lợi ích của người lao động để giảm dần sự bất bình đẳng trong xã hội.
Trong nền kinh tế cũng sẽ bao hàm nhiều hình thức sở hữu như các nền kinh tế thị trường khác. Tuy nhiên, cơ cấu các hình thức sở hữu ở nước ta và vị trí của mỗi hình thức sở hữu trong cơ cấu đó sẽ có những khác biệt với các nước khác. Đối với nước ta hiện nay, thực hiện việc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là một mô thức mới, gặp nhiều khó khăn thì việc đòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện một hệ thống lý luận khoa học sắc bén, trong đó có lý luận về vấn đề sở hữu là tất yếu khách quan. Nó không chỉ là kim chỉ nam cho hành động kinh tế của đất nước, mà còn góp phần giải quyết, tháo gỡ vướng mắc, khắc phục sai lầm lệch lạc của thực tiễn quản lý điều hành phát sinh vì sự hoàn thiện của vấn đề sở hữu xã hội chủ nghĩa, từ đây tạo ra cái nền vật chất pháp lý cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phấn đấu cho mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Việc thực hiện một nền kinh tế thị trường với các loại hình sở hữu khác nhau là chiến lược lâu dài và tối ưu làm cho nền kinh tế của đất nước trở nên năng động. Qua đó, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân lao động và là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả việc xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Song, cũng cần phải nói thêm rằng, đối với con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, từ nhận thức đến vận dụng lý luận về sở hữu của chủ nghĩa Mác- Lênin vào tình hình cụ thể Việt Nam cần phải có sự tìm tòi, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.1.2. Kết quả đạt được trong quá trình đổi mới của Đảng về vấn đề sở hữu. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Sau hơn 30 năm đổi mới về vấn đề sở hữu, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã hình thành và từng bước hoàn thiện, thay cho thể chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Thể chế kinh tế mới đã đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tích cực, thúc đẩy tăng trường kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục được khủng hoảng kinh tế- xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thời kỳ đầu khi Việt Nam mới giành được độc lập hoàn toàn, thống nhất hai miền Bắc- Nam thì trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn trung thành và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước. Song cũng có lúc chúng ta phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm, trong đó có vấn đề sở hữu. Đó là nhận thức cho rằng, có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. Sau một thời gian dài duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã đến lúc chúng ta cần một sự chuyển đổi để phát triển kinh tế. Đảng đã có bước ngoặt trong đổi mới tư duy về vấn đề sở hữu là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thành tựu nổi bật nhất trong bước khởi đầu đổi mới là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Qua quá trình phát triển nhận thức tư duy, đường lối những quan niệm, tư tưởng của Đảng và Nhà nước ngày một hoàn chỉnh.
Bắt đầu từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta không ngừng thay đổi chủ trương, chính sách theo hướng khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế đó phát triển. Chẳng hạn, trong “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000” Đảng đã khẳng định: “Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp… Mọi đơn vị kinh tế không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật.” [13; Tr. 8] Những tư tưởng trên đây đã được Đại hội IX của Đảng tiếp tục hoàn thiện và phát triển trong chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế đó, “các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị truờng định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh…”[16; Tr. 95- 96]. Cơ chế thị trường với những ưu thế không thể chối cãi là một sự lựa chọn hợp lý và cần thiết. Cơ chế quản lý cũ cồng kềnh, kém năng lực đã không còn phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế. Những căn bệnh đặc trưng của cơ chế cũ như bảo thủ, trì trệ, kém năng lực hình thành nên bộ máy quản lý thiếu chuyên môn nghiệp vụ nhưng lại có thái độ quan liêu, cửa quyền cần phải được thay đổi. Việc xoá bỏ hoàn toàn không dễ dàng, không thể hoàn thành trong một sớm một chiều nhưng đó là việc cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển. Cùng với cơ chế cũ cũng là sự bất cập khi nhà nước can thiệp quá sâu vào sản xuất kinh doanh, điều hành không tuân theo các quy luật kinh tế mà theo cảm tính dẫn đến sự thất bại trong thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra. Chuyển sang cơ chế mới sẽ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển theo đúng những quy luật kinh tế khách quan.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tham khảo kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới và từ thực tiễn phát triển Việt Nam, Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong Đại hội VII (6-1991), văn kiện đã nêu rõ cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Đây là lần đầu tiên Đảng đề cập đến cơ chế thị trường với tư cách là cơ chế vận hành nền kinh tế và đây là bước phát triển mới về tư duy lý luận, một sự vận dụng độc lập, sáng tạo của Đảng ta. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu to lớn. Đại hội IX của Đảngđưa ra khái niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là “Một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường dựa trên cơ sở và chịu sự chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”[16; Tr. 36]. Trong nền kinh tế đó, các thế mạnh của “thị trường” được sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”, còn tính “định hướng xã hội chủ nghĩa” được hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục đích cuối cùng là “dân giàu, nước mạnh, tiên tiến hiện đại trong xã hội do dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức bất công, tạ điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”[45; Tr. 23]. Đảng xây dựng quan điểm mới kinh tế thị trường là thành tựu chung của nhân loại, hoàn toàn không mâu thuẫn với chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế. Đây là kết quả của quá trình 30 năm đổi mới tư duy và thực tiễn ở nước ta, được đúc kết lại trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá và rút ra các bài học lớn tại các kỳ Đại hội Đảng.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang thực hiện là nền kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế vận hành nền kinh tế đó chính là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy, quan niệm đổi mới của Đảng đã thay đổi một số nhận thức như: Một là, kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Hai là, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ba là, có thể và cần thiết sự dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nếu biết vận dụng cơ chế thị trường một cách đúng đắn thì có thể mang lại nhiều lợi ích cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [34; Tr. 178].
Trải qua nhiều năm thực hiện đổi mới, tư duy về kinh tế thị trường của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang từng bước được tạo lập và phát triển. Đảng và Nhà nước đã hai lần sửa đổi và ban hành Hiến pháp, sửa đổi và ban hành trên 150 bộ luật và luật, trên 70 pháp lệnh. Gần đây nhất, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 2013, luật Đất đai (sửa đổi), luật Đầu tư công cùng nhiều luật quan trọng khác để từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Những văn bản quy phạm pháp luật này về cơ bản đã tạo hành lang pháp lý hình thành và thúc đẩy việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những chính sách, điều luật giúp Việt Nam dần hình thành đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, vận hành cơ bản thông suốt, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Đồng thời, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Các yếu tố nền tảng cơ bản của kinh tế thị trường dần được hình thành và được nhiều nước thừa nhận. Cho đến nay đã có gần 50 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam [36; Tr.2]. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Trên thực tế cho thấy, ở một nền kinh tế cần có nhiều hình thức sở hữu chứ không đơn thuần chỉ có hai hình thức sở hữu trước đây. Trong quá trình phân tích sự vận động của các nền kinh tế đã từng nói tồn tại trong lịch sử đã chỉ ra rằng rất hiếm khi nền kinh tế chỉ có một thành phần kinh tế duy nhất. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái cũ bị tiêu diệt nhưng chưa tiêu diệt hết, cái mới đang nảy sinh nhưng còn yếu ớt. Tại Đại hội VI, khi đề ra đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta chủ trương đa dạng hoá các loại hình sở hữu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước tiến quan trọng về tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn. Đảng không chỉ thừa nhận sự tồn tại như một tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ, mà còn nhận thấy sự cần thiết phải có chính sách đúng đắn nhằm sử dụng và phát triển các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân nhằm thực hiện những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Các loại hình thức kinh tế này rất đa dạng, không cùng chung quyền lợi nên việc theo dõi, kiểm tra và kết hợp các loại hình này trong cùng một.
Thực tiễn cho thấy, sự phát triển đa dạng và đóng góp ngày càng lớn cho phát triển kinh tế- xã hội của các thành phần kinh tế những năm qua, đặc biệt trong năm năm 2001- 2005 chính là thắng lợi đầy sức thuyết phục của đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần. Từ chỗ chỉ có hai thành phần kinh tế là nhà nước và tập thể với hai hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh là doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã kiểu cũ. Đến nay, nền kinh tế nước ta đã bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với nhiều loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh rất đa dạng, phong phú cả về quy mô, trình độ lẫn quan hệ sản xuất. Kết quả của đa dạng hoá sở hữu là số lượng chủ sở hữu tăng lên đặc biệt là chủ sở hữu thuộc kinh tế tư nhân gồm tiểu chủ, cá thể, tư bản tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài thúc đẩy quá trình khai thác và huy động nguồn lực về vốn, lao động, tài nguyên, trí tuệ, tay nghề… vào kinh doanh, tạo ra nhiều giá trị mới cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, gia tăng xuất khẩu, tạo việc làm, cải thiện đời sồng và đóng góp ngân sách… Mỗi thành phần kinh tế và loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh thích ứng với những đối tượng, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, cùng phát triển và đều góp phần đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực trong nước cũng như ngoài nước làm nên một nền kinh tế Việt Nam sống động, có tốc độ tăng trưởng cao, xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật.
Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần không phải là “thụt lùi” không làm “mất chủ nghĩa xã hội” như một số người lầm tưởng mà chính là một chủ trương lớn để khai thác, phát huy mọi tiềm năng của toàn xã hội cũng như tranh thủ các nước và các tổ chức quốc tế. Với những đặc điểm xã hội như ở nước ta hiện nay, việc thực hiện một mô hình kinh tế mà trong đó có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập với nhau, cùng tồn tại là một phương án tối ưu có khả năng thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động. Điều này không hề mâu thuẫn với lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin về sở hữu vì C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng: “Sở hữu tư nhân là hình thức giao tiếp cần thiết ở một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Hình thức giao tiếp đó không thể bị xóa bỏ và là điều kiện cần thiết cho sự sản xuất ra đời sống vật chất trực tiếp, chừng nào chưa tạo ra được những lực lượng sản xuất, mà đối với chúng sở hữu tư nhân trở thành xiềng xích hoặc trở ngại.”[1; Tr. 485- 486] Cơ sở lý luận của việc xác lập tính đa dạng các hình thức sở hữu thể hiện ở luận điểm của C. Mác và Ph. Ănghen cho rằng các hình thức sở hữu đựơc xác lập bởi trình độ xã hội hoá sản xuất. Vì vậy, chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa dạng hoá sở hữu là một thành tựu lớn cả về lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới.
Bên cạnh đó, nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã và đang đi vào cuộc sống. Các doanh nghiệp, doanh nhân được tự chủ sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh. Quản lý nhà nước về kinh tế được đổi mới từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Kinh tế thị trường luôn có tác động hai mặt đến sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung và đến đạo đức nói riêng. Do vậy, để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, đồng thời thông qua các quan hệ kinh tế mà xây dựng những chuẩn mực đạo đức mới, phù hợp, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường thì trước hết, cần phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là, muốn định hướng các giá trị đạo đức thì trước tiên phải định hướng ngay trong cơ sở kinh tế- xã hội đã sản sinh ra nó.
2.2. Những hình thức sở hữu cơ bản trong quá trình đổi mới Việt Nam hiện nay. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Khi mới bước vào con đường xây dựng đất nước, chính vì nhận thức chưa đúng, nên chúng ta đã nóng vội và có phần duy ý chí khi xóa bỏ mọi hình thức sở hữu khác và chỉ chấp nhận hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Chúng ta cũng không tuân theo quy luật kinh tế khách quan là lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, muốn cho sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Việt Nam chỉ có kinh tế kế hoạch hoá tập trung với vai trò tuyệt đối của nhà nước trong quản lý kinh tế mà thực chất là Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động sản xuất, kinh tế, từ Trung ương tới địa phương, bằng phương thức mệnh lệnh hành chính. Đó là nền kinh tế hiện vật và bao cấp, đi liền với phương thức phân phối bình quân, không thể hiện tính khách quan của quy luật giá trị, quy luật thị trường. Trên thực tế, Nhà nước độc quyền sản xuất- kinh doanh. Trong quan hệ sở hữu thì chỉ có sở hữu nhà nước (đại diện cho sở hữu xã hội) và sở hữu tập thể. Không có kinh tế tư nhân, không có thị trường và càng không có cạnh tranh. Vì vậy, đất nước thời kỳ đầu đã rơi vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng kinh tế nặng nề.
Cùng với sự vận động của thực tiễn và sự phát triển của nhận thức, lý luận về phát triển nền kinh tế Đảng nhận thấy hướng đi trước đây không còn hiệu quả, gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới về vấn đề sở hữu, quan trọng là phải xây dựng nền kinh tế nhiều loại hình sở hữu theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình này được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X, XI và XII. Từ đó, Đảng vận dụng cơ sở lý luận vào vấn đề sở hữu nên đã thừa nhận tính đa dạng, khách quan của các loại hình sở hữu và hình thức sở hữu sẽ mở ra cho chúng ta sự nhận thức mới về sự phong phú trong sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế. Các loại hình sở hữu, các thành phần kinh tế đều được xem là bộ phận hợp thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chính sách cụ thể đối với các loại hình sở hữu và các thành phần kinh tế trở nên thông thoáng hơn và ngày càng được hoàn thiện. Quan điểm về hình thức sở hữu, thành phần sở hữu trong thời kỳ quá độ đã thay đổi căn bản và đến nay đã được xác lập, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ có hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể mà đa dạng hóa các hình thức sở hữu và thành phần sở hữu. Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung gồm có 4 hình thức sở hữu chính: Sở hữu nhà nước; Sở hữu tập thể; Sở hữu tư nhân và Sở hữu hỗn hợp. Việc quy định các hình thức sở hữu cụ thể sẽ giúp chúng ta có điều kiện quy định các phương thức tồn tại, vận động của sở hữu gắn liền với các chủ sở hữu cụ thể cùng với các chế độ pháp lý có tính đặc thù của từng hình thức sở hữu đó. Do đó cần phải có sự phân loại các hình thức sở hữu một cách hợp lý và khoa học hơn. Tất cả các loại hình sở hữu này đều là những phương tiện để đạt tới mục tiêu là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như đã được xác định trong các đại hội gần đây của Đảng.
Nước ta đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới, của chính sách đa dạng hóa hình thức sở hữu do Đảng khởi xướng và lãnh đạo toàn dân thực hiện. Trong nền kinh tế nhiều thành phần mỗi hình thức nói trên có địa vị và vai trò khác nhau. Địa vị của chúng phụ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất. Thừa nhận đa dạng hoá các loại hình sở hữu không đồng nghĩa với sự chấp nhận chế độ người áp bức bóc lột con người. Việc xây dựng nền kinh tế thị trường không thể tách rời việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất. Tuy nhiên kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính vì vậy việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu mang nét độc đoá riêng. Sự hình thành và phát triển một cách đa dạng các hình thức sở hữu cho phép giải phóng được các năng lực sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân.
Theo chúng tôi, đó là cơ sở lý luận quan trọng cho sự thay đổi quan niệm về sở hữu ở Việt Nam. Đây là cơ sở lý luận cho việc xây dựng con đường, bước đi thích hợp nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, củng cố vai trò chủ đạo của sở hữu nhà nước.
2.2.1. Sở hữu nhà nước Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Khi bàn đến vấn đề sở hữu nhà nước, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chưa thống nhất và sử dụng nhiều tên gọi khác nhau nhưng gần nghĩa nhau: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu chung, sở hữu công cộng, sở hữu xã hội. Tại Đại hội X của Đảng đã khẳng định lại vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”[17; Tr. 83]. Đồng thời với khẳng định vai trò to lớn của kinh tế nhà nước, Đại hội cũng tuyên bố rõ ràng rằng: “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”[17; Tr. 83]. Đảng cam kết chỉ đạo Nhà nước thi hành các chính sách kinh tế không phân biệt đối xử với các hình thức sở hữu. Đây là một bước tiến mới về quan điểm kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta. Hơn nữa, Đảng chủ trương đưa hệ thống doanh nghiệp nhà nước ra hoạt động trong môi trường công khai, minh bạch và cạnh tranh thực sự, xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, buộc doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động hiệu quả mới được tồn tại.
Việt Nam, cho đến nay các học giả tương đối thống nhất ý kiến về quan niệm sở hữu cho rằng có sự khác nhau giữa sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước, nhưng ở nước ta trong thời kỳ hiện nay chỉ nên sử dụng sở hữu nhà nước là đủ. Chỉ khi nào đạt đến chủ nghĩa xã hội phát triển hoặc chủ nghĩa cộng sản mới nên áp dụng hình thức sở hữu toàn dân. Trong thời kỳ bao cấp trước đây chúng ta đã đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy, có thời gian dài người ta bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước, chỉ quan tâm đặc biệt tới hình thức sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Và cũng bởi vì sở hữu toàn dân gắn kết với sự phát triển của kinh tế quốc doanh. Vì vậy, mà chúng ta đã ra sức quốc doanh hoá nền kinh tế với niềm tin cho rằng có như vậy mới có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn.
Trước hết, ta hiểu sở hữu nhà nước là hình thức sở hữu mà chủ sở hữu là nhà nước và đối là các tạo được pháp luật hiện hành thừa nhận thuộc chủ quyền của quốc gia, của nhà nước [10; Tr.42]. Ngoài ra, sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu của toàn dân mà Nhà nước được giao quyền đại diện chủ sở hữu. Nhà nước của ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhà nước được nhân dân giao phó trách nhiệm quản lý, sử dụng toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu toàn dân để đầu tư có hiệu quả cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của đất nước dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Hình thức sở hữu nhà nước, xét về tổng thể mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu nhà nước ở nước ta, có lẽ thể hiện chủ yếu ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực của doanh nghiệp nhà nước. Để làm rõ vai trò sở hữu nhà nước, cần đặt nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu quan niệm sở hữu nhà nước theo nghĩa rộng, bao gồm cả khía cạnh đại diện cho sở hữu toàn dân, thì vai trò của sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là rất lớn, thể hiện ở chỗ:
- Sở hữu nhà nước là nòng cốt trong việc thực hiện quản lý nhà nước, tạo lập các quan hệ sản xuất mới. Thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội bảo đảm sự phát triển bền vững.
- Là đại diện cho sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước tồn tại trên các lĩnh vực được Hiến pháp quy định như sở hữu đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển và tiềm lực quốc gia. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
- Sở hữu nhà nước có vai trò hướng dẫn, mở đường, công cụ điều tiết nền kinh tế. Như vậy, sở hữu nhà nước thể hiện tiềm lực nhà nước, là một trong những công cụ quan trọng điều tiết nền kinh tế và được sử dụng linh hoạt trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khác với các hình thức sở hữu khác, sở hữu nhà nước có chủ thể đặc biệt, không phải là công dân, các đoàn thể, các tổ chức xã hội… mà còn là chủ sở hữu nắm giữ tư liệu phổ biến và quan trọng nhất trong xã hội. Nhà nước là chủ thể thực hiện quyền lực trong quản lý xã hội. Chủ thể của sở hữu nhà nước dù tổ chức theo mô hình có nhiều cấp. Hơn nữa quyền quản lý thường được thực hiện bởi một bộ máy làm việc theo chế độ công chức, cơ chế quy trách nhiệm cá nhân và mục tiêu và kiểm soát thường không rõ ràng. Nhà nước còn ban hành hệ thống các văn bản pháp luật, trong đó nhà nước tự định các quyền trong sở hữu của mình, đồng thời định đoạt các quyền và nghĩa vụ cho các chủ sở hữu khác. Vì vậy, nhà nước là một chủ thể đặc biệt. Nhà nước thực hiện quyền lực trên nguyên tắc đại diện cho nhân dân, nắm giữ những tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Chủ sở hữu thực hiện quyền của mình thông qua các cơ quan, cá nhân, tổ chức và người đại diện theo quy định của pháp luật. Hơn nữa quyền quản lý thường được thực hiện bởi một bộ máy làm việc theo chế độ công chức, cơ chế quy trách nhiệm cá nhân và động cơ đạt mục tiêu hiệu quả và áp lực kiểm soát thường không rõ ràng. Quyền chuyển nhượng thường bị hạn chế, thể hiện một số quyền như thừa kế, tặng, biếu… không thể thực hiện được vì pháp luật không cho phép.
Đối tượng sở hữu nhà nước bao gồm hai nhóm: Nhóm thứ nhất mang tính chất gần như đương nhiên, không thể phân chia cho các chủ thể phi nhà nước như vùng trời, vùng biển, tài nguyên trong lòng đất hoặc các đối tượng mới xuất hiện gần đây như tên miền trên mạng Internet… Chính nhóm này quy định sự cần thiết khách quan của sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Nhóm thứ hai bao gồm các đối tượng vừa có thể thuộc sở hữu nhà nước vừa có thể thuộc các chủ thể sở hữu khác.
Các thành phần kinh tế thuộc sở hữu nhà nước gồm doanh nghiệp nhà nước, các tài sản thuộc sở hữu nhà nước như đất đai, tài nguyên, khoáng sản, kết cấu hạ tầng, các nguồn dự trữ, ngân sách, các quỹ quốc gia và kể cả phần vốn mà nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức do nhà nước đầu tư vốn thành phần và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do nhà nước giao. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể đầu tư vốn vào các doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật và ngoại giao, quốc phòng, an ninh để các doanh nghiệp cơ quan này thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt ra thì phần vốn đó cũng thuộc sở hữu nhà nước. Ngoài những tài sản trên thì các tài sản khác do pháp luật quy định cũng có thể thuộc sở hữu nhà nước, các di tích lịch sử văn hóa mà nhà nước có quyền sở hữu, di sản thừa kế không có người thừa kế…
Như vậy, sở hữu nhà nước là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự tồn tại của nhà nước, bất kể nhà nước đó thuộc thể chế chính trị xã hội nào. Hiện nay, nhà nước nắm trong tay lực lượng vật chất to lớn, lực lượng vật chất này cùng với pháp luật, kế hoạch, chính sách sẽ tạo cho nhà nước một sức mạnh to lớn để chi phối, hướng dẫn, điều tiết sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, khi nhà nước nắm trong tay một khối lượng sở hữu khổng lồ thì chính những bất lợi của sở hữu nhà nước bắt nguồn từ đặc điểm của chủ thể tập thể có xu hướng làm giảm tính hiệu quả của khu vực này, kéo theo sự sụt giảm hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Nên có xu hướng nhà nước rút khỏi những ngành cạnh tranh. Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một giải pháp mang tính chất như những chiếc “van” an toàn để bảo đảm tính hiệu quả không những cho các doanh nghiệp nhà nước, mà còn cho cả nền kinh tế [9]. Thực hiện chủ trương cổ phần hóa và đổi mới, sắp xếp lại nên khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục xu hướng giảm dần quy mô và tỷ lệ đóng góp ở tất cả các chỉ tiêu trong giai đoạn 2011- 2016. Cụ thể tỷ lệ số doanh nghiệp nhà nước giảm từ 1,01% năm 2011 xuống còn 0,53% năm 2016; số lao động giảm từ 14,7% xuống 9,2%; vốn sản xuất kinh doanh từ 32,7% xuống 28,4%; doanh thu thuần từ 26,5% xuống 16,7%; lợi nhuận trước thuế từ 43,3% xuống 27,7%; thuế và đóng góp cho ngân sách nhà nước từ 35,0% xuống 32,2% [37]. Vì vậy, việc xác định đúng đắn vai trò chủ đạo của sở hữu nhà nước có ý nghĩa to lớn, mang tính quyết định đối với sự phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta.
Quan điểm của Đảng ta về sở hữu nhà nước vừa là sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, vừa phát triển lên một mức cao hơn và giải thích rõ hơn các nội dung liên quan đến sở hữu nhà nước như mối quan hệ của nó với các hình thức sở hữu khác, cấu thành của kinh tế nhà nước, vai trò và nội dung chủ đạo của sở hữu nhà nước, phương thức hoạt động của sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường hội nhập… Những điểm phát triển này tạo cơ sở lý luận và nhận thức đúng đắn cho các đảng viên, nhất là các đảng viên giữ vai trò lãnh đạo, quản lý trong bộ máy nhà nước. Song, có thể nhận thấy, thực tiễn vận hành kinh tế nhà nước sẽ còn đặt ra nhiều yêu cầu đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn chỉnh về lý luận.
2.2.2. Sở hữu tập thể Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, sở hữu tập thể phát huy mọi tiềm năng về vật chất, sức lao động của người lao động. Do đó, để sở hữu tập thể thực sự phát huy sức mạnh đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế cũng như đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì cần có một cơ chế rõ ràng. Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi (theo quy định tại điều 208 Bộ luật Dân sự 2005).
Chủ thể của sở hữu tập thể chính là các hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành, hể khác do Luật hợp tác xã ghi nhận: tổ chức kinh tế tự chủ, do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức manh của tập thể và của từng xã viên .nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Mỗi hợp tác xã là một chủ thể riêng biệt, là một chủ sở hữu đối với tài sản riêng của mình. Nhà nước và pháp luật tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài sản của hợp tác xã. Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của hợp tác xã, bảo đảm quyền bình đẳng của hợp tác xã trong sản xuất, kinh doanh, không can thiệp vào việc quản lý và hoạt động hợp pháp của hợp tác xã; ngoài ra nhà nước ban hành các văn bản pháp luật và chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã; thông qua hoạt động của hợp tác xã để thực hiện các chính sách giúp đỡ, hỗ trợ xã viên xoá đói, giảm nghèo, thực hiện bình đẳng, công bằng và tiến bộ xã hội. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Đối tượng của sở hữu tập thể bao gồm các tư liệu sản xuất, công cụ lao động, vốn góp của xã viên, các loại quỹ do hợp tác xã lập ra,… đối tượng được lập nên từ tài sản đóng góp của các thành viên, nguồn lợi thu được trong quá trình hợp tác xã hoạt động, vốn góp từ nhà nước,… Mỗi hợp tác xã đều có quyền sở hữu đối với mỗi tư liệu sản xuất, công cụ lao động phục vụ cho nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của hợp tác xã. Ngoài các tư liệu sản xuất chính, nếu các hợp tác xã có phát triển thêm các ngành nghề phụ để tăng thu nhập cho xã viên, thì hợp tác xã cũng có quyền sở hữu đối vối các tư liệu sản xuất dùng vào việc phát triển ngành nghề phụ đó.
Trước đây, ở nước ta hình thức sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dưới hình thức hợp tác xã (gồm cả hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của đối tượng sở hữu đều là của chung, mà các xã viên là chủ sở hữu. Sở hữu tập thể cũng biển hiện ở các hình thức sở hữu như sở hữu tổ hợp tác, sở hữu hợp tác xã, sở hữu công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Hợp tác xã không phải là một hình thức sở hữu riêng có, đặc trưng cho chủ nghĩa xã hội mà nó đã xuất hiện trong đời sống kinh tế- xã hội nhiều trăm năm và đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Hợp tác xã luôn là một tổ chức kinh tế tiến bộ, ngày càng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, kinh nghiệm của các nước và thực tiễn nước ta trong nhiều năm qua thì hợp tác xã là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, tồn tại khách quan và luôn có vị trí quan trọng nhất là đối với những nước có nền kinh tế lạc hậu. Lênin đã khẳng định chế độ của những xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá, các nhu cầu về kinh tế, về vốn thì từ chỗ xác định mô hình hợp tác xã tập trung cao độ về tư liệu sản xuất, quản lý như với xí nghiệp quốc doanh, phân phối theo công điểm, đã dần có những quy định để đổi mới phù hợp hơn với nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi. Chủ trương phát triển nhiều hình thức hợp tác đa dạng, phù hợp với trình độ phát triển ở các ngành nghề, khu vực và trình độ khác nhau, xã viên góp sức lao động, góp cổ phần, hợp tác xã hoạt động như doanh nghiệp; đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, xóa bỏ tư tưởng bao cấp, trông chờ, ỷ lại vào nhà nước. Tính đến thời điểm 01/01/2017 cả nước có 13,6 nghìn hợp tác xã, giảm 0,1%, trong đó số lượng hợp tác xã hoạt động trong khu vực công nghiệp và xây dựng giảm mạnh nhất tới 20,1% (665 hợp tác xã), ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 79 hợp tác xã (1,1%), số hợp tác xã hoạt động trong khu vực dịch vụ lại tăng mạnh với 726 hợp tác xã (22,2%) so với thời điểm 01/01/2012 [37]. Vì vậy, sở hữu tập thể là sở hữu chung của một đơn vị do các thành viên cùng góp công sức xây dựng và vốn là của cá nhân nhưng góp cổ phần để sử dụng chung đơn vị dưới các hình thức tổ chức hợp tác xã.
Hiện nay vẫn tồn tại quan niệm cho rằng sở hữu tập thể là sở hữu của những người sản xuất nhỏ trong các tổ chức hợp tác. Chính nhận thức không đầy đủ về sở hữu tập thể là một trong các yếu tố cản trở sự phát triển của kinh tế tập thể và của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua. Quan niệm này không những trái với quan niệm về “tập thể” theo đúng ngữ nghĩa của nó, mà còn thể hiện nhận thức chưa thấu đáo quan điểm của Đảng về sở hữu tập thể trong các tổ chức kinh tế liên kết- hợp tác. Trong các Nghị quyết của Đảng, bên cạnh việc nhấn mạnh thành lập các hợp tác xã để tập hợp những người sản xuất nhỏ cá thể, mở rộng phân công và hợp tác lao động, phát triển sức sản xuất, còn nói đến việc thu hút các chủ thể khác tham gia vào hợp tác xã. Các chủ thể này có thể là những thể nhân (cán bộ, công nhân viên), có thể là pháp nhân kinh tế khác không cùng địa bàn lãnh thổ (các doanh nghiệp). Các chủ thể góp vốn này có thể tham gia hoặc không tham gia lao động trực tiếp ở hợp tác xã. Vậy nên, chủ thể sở hữu không phải là cá nhân cụ thể mà là một tập hợp, tập thể của những người sử dụng và chủ sở hữu có thể xuất hiện dưới dạng một hay một nhóm người được uỷ quyền, thể hiện những lợi ích của tập thể những người sở hữu hoặc dưới dạng pháp nhân thống nhất. Nhà nước tạo điều kiện để sở hữu tập thể của các hợp tác xã phát triển ổn định trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, trồng rừng, làm muối, ngư nghiệp… Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tất cả nhân dân tham gia vào sở hữu tập thể phù hợp với trình độ, khả năng nghề nghiệp của từng cá nhân công dân nhằm phát huy tiềm năng và sức mạnh của tập thể.
2.2.3. Sở hữu tư nhân Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Với lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ thấp kém, con người không thể chống nổi sức mạnh của tự nhiên nên phải cố kết với nhau trong lao động chung và kết quả lao động thuộc về cộng đồng công xã. Lúc này chưa có chế độ sở hữu tư nhân và cũng chưa có sản xuất hàng hóa và nền kinh tế hàng hóa. Với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, sở hữu tư nhân xuất hiện và làm nảy sinh hiện tượng người bóc lột người xã hội phân chia thành giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Sở hữu tư nhân là cơ sở kinh tế của quan hệ xã hội dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, chế độ tư hữu sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của từng cá nhân công dân về tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng và những tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu về vật chất và tinh thần của công dân.
Sở hữu tư nhân là sở hữu của lao động cá thể, tư bản tư nhân trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải. Ở mỗi mức độ sở hữu có chứa đựng nội dung của quy mô kinh tế rất khác nhau. Đồng thời nó chi phối toàn bộ các quan hệ về lao động, kinh tế, quan hệ dân sự trong suốt quá trình nó tồn tại và phát triển. Thừa nhận và bảo vệ sự tồn tại và phát triển của sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất là một bước phát triển trong chế độ kinh tế nước ta. Khi mà việc tồn tại nhiều hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất còn là khách quan, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nước ta trong giai đoạn hiện nay mà chủ trương xoá bỏ tư hữu, phát triển sở hữu toàn dân thuần khiết, nhất là các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa này chưa đủ sức giải quyết mọi vấn đề kinh tế- xã hội thì chẳng những kiềm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất mà sở hữu toàn dân cũng bị suy vong vì cung cách quản lý hành chính mệnh lệnh, độc quyền. Thừa nhận và bảo vệ sở hữu tư nhân là nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất, hỗ trợ, bổ sung cho kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trái lại, phải tôn trọng nó, bởi vì chính sở hữu tư nhân chứa trong nó động lực cá nhân mạnh mẽ nhất, có tác dụng kích thích to lớn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người. Bên cạnh đó, cũng cần thừa nhận một sự thật là, động lực cá nhân dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân và lợi ích cá nhân là một thuộc tính bản năng của con người sẽ còn tồn tại lâu dài. Nếu biết sử dụng động lực này cho thật tốt thì sẽ rất có lợi cho công cuộc phát triển kinh tế nói riêng và cho sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung.
Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau sở hữu tư nhân được ghi nhận là một hình thức sở hữu bình đẳng giống như bất cứ một hình thức sở hữu nào khác. Hình thức sở hữu tư nhân đóng vai trò to lớn trong đời sống kinh tế của đất nước. Điều 211 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.” Như vậy, mặc dù là sở hữu của cá nhân đối với với tài sản nhưng dựa trên tính chất về vốn và cách thức sản xuất, sử dụng lao động mà sở hữu tư nhân tồn tại nhiều hình thức sở hữu được chia thành: sở hữu cá thể (vốn ít, tổ chức sản xuất kiểu tự cung tự cấp), sở hữu tiểu chủ (cá nhân bắt đầu biết cách tổ chức sản xuất, đã biết thuê nhân công lao động…), sở hữu tư bản tư nhân (vốn lớn, tổ chức sản xuất ở trình độ cao…).
Sở hữu của cá nhân là một hình thức sở hữu phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Sự định hướng phát triển cho sở hữu tư nhân là nhằm ngăn chặn mặt tiêu cực có ảnh hưởng xấu đến mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sở hữu tư nhân được phát triển, được thừa nhận và được bảo hộ ở nước ta nhưng không phải là hình thức sở hữu cơ bản nhất trong xã hội. Bởi vì, sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân vẫn là những hình thức sở hữu chủ đạo, nền tảng và quyết định tới sự phát triển kinh tế của nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế quốc doanh ngày càng được củng cố và phát triển theo các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của nhà nước trong từng giai đoạn và nó vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Do đó, sự tồn tại và phát triển của sở hữu tư nhân trong điều kiện thời kỳ quá độ lên sản xuất xã hội chủ nghĩa là cần thiết có ảnh hưởng tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta [31; Tr. 45]. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Chủ thể của sở hữu tư nhân đó chính là cá nhân, bất cứ cá nhân công dân nào không phân biệt các mức độ năng lực dân sự dều có thể là chủ sở hữu của sở hữu tư nhân miễn là những người này có tài sản dựa trên các căn cứ pháp lý do pháp luật quy định. Nhưng không phải cá nhân nào cũng thực hiện được mà phụ thuộc vào nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Do đó, trong một số trường hợp nếu cá nhân không thể trực tiếp thực hiện được các quyền năng của quyền sở hữu thì quyền năng này được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện; hay trong một số trường hợp cá nhân muốn thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu phải được sự đồng ý của người đại diện.
Đối tượng của sở hữu tư nhân bao gồm :
- Các thu nhập hợp pháp: Là tiền hoặc hiện vật có được do kết quả lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp đem lại. Ngoài ra thu nhập hợp pháp còn được hiểu là những khoản thu nhập có được từ việc được tặng cho tài sản thừa kế tài sản… Thu nhập được cho là hợp pháp khi cá nhân thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước, các cá nhân và tổ chức khác.
- Của cải để dành: Đây là những khoản tiền hoặc hiện vật do thu nhập hợp pháp của cá nhân mà có những chi tiêu sử dụng không hết. Cá nhân có thể để dành dưới dạng tích trữ gửi ngân hàng, cho vay,…
- Nhà ở: Nhà ở là tư liệu sinh hoạt nhằm thỏa mãn nhu cầu cần thiết của cá nhân, pháp luật bảo hộ quyền sở hữu nhà ở của cá nhân. Cá nhân có quyền sở hữu đối với nhà ở trên nhiều căn cứ khác nhau như xây nhà ở, mua nhà ở, được tặng cho, thừa kế nhà ở…
Ưu thế rõ rệt của sở hữu tư nhân so với sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước còn là ở chỗ, hai loại sở hữu này dễ dẫn đến tình trạng giảm động lực, dễ trở nên vô chủ khi điều hành và kiểm soát kém, trong khi đó thì sở hữu tư nhân của các cá nhân, cả trong kinh tế cá thể lẫn khi đưa vào sử dụng chung, đều được giám sát tốt hơn và khả năng làm chủ cũng cao hơn, hiệu quả hơn. Cần khẳng định rằng, trong điều kiện nước ta hiện nay, thừa nhận sở hữu tư nhân, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân hoàn toàn không mâu thuẫn với định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đóng góp phần lớn trong tỷ trọng kinh tế như chiếm khoảng 40% GDP. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp của kinh tế tư nhân cho thấy xu thế đóng góp ngày càng tăng trong tỷ trọng GDP, từ 6,9% năm 2010 lên khoảng 8,2% năm 2017. Mặc dù vậy, tỷ trọng của khu vực này không có nhiều thay đổi trong khi tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong GDP liên tục giảm, từ 35,6% năm 2005 xuống còn 27,1% năm 2017 và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ khoảng hơn 15% năm 2005 lên khoảng 18,5% năm 2017. [43]
Đặc biệt là sở hữu tư nhân, từ chỗ bị kỳ thị, hạn chế và nhiều cấm đoán, đến nay đã có những đổi mới căn bản, xác định rõ phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân. Phát triển kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, khẳng định chủ trương phát triển mạnh mẽ, không hạn chế ngành nghề, lĩnh vực mà luật pháp không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để sở hữu tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh liên kết với nhau, với sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước. Tuy nhiên cần phải thấy mặt trái luôn luôn tiềm ẩn của sở hữu tư nhân là sự chiếm hữu lợi ích kinh tế. Để ngăn ngừa tình trạng này cần phải phát huy ưu thế của các loại hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa, tăng cường quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, vừa tạo điều kiện cho các loại hình sở hữu phát triển vừa bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, nhất là pháp luật kinh tế, xử lý nghiêm mọi hành vi trái pháp luật.
2.2.4. Sở hữu hỗn hợp Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta có dự kiến phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức. Điều 16 Hiến pháp 1992 khẳng định phát triển thành phần kinh tế này. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, sở hữu hỗn hợp được coi là một hình thức sở hữu độc lập. Tuy nhiên, trên thực tế, hình thức sở hữu hỗn hợp và hình thức sở hữu chung trong Bộ luật dân sự năm 1995 chỉ khác nhau về chủ thể thực hiện quyền sở hữu, còn tài sản và việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu này vẫn tuân theo quy định của việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu chung. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 đã sửa đổi nội dung quy định về sở hữu hỗn hợp của Bộ luật dân sự năm 1995 thành một điều luật để điều chỉnh việc thực hiện quyền sở hữu chung hỗn hợp như là một trong những trường hợp đặc biệt trong việc thực hiện quyền sở hữu tài sản đối với hình thức sở hữu chung mà thôi.
Sở hữu hỗn hợp là hình thức sở hữu cơ chế tham gia của nhiều loại chủ thể khác nhau về tính chất. Có thể nói đây là loại hình kinh tế chung gian, có tính chất đan xem giữa thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Thực chất đây là các xí nghiệp (hoặc công ty) cổ phần. Đó là các hình thức tổ chức kinh tế không thuộc hẳn vào một thành phần kinh tế nào. Hiện nay, chúng ta còn phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước hay hình thức tư bản nhà nước làm phương tiện và cứu cách để phát triển. Bởi vì chủ nghĩa tư bản nhà nước theo Lênin là một hình thức phổ biến trong thời kỳ quá độ và sự tồn tại của nó là cần thiết. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mỗi hình thức sở hữu nói trên có vị trí và vai trò riêng của chúng. Địa vị lịch sử của chúng phụ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ quản lý, vào tiến trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt trong thời gian này, nhà nước ta tiến hành cổ phần hoá đa dạng hoá sở hữu mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài hoặc doanh nghiệp không thuộc loại nhà nước độc quyền lắm giữ, ngay cả các doanh nghiệp của Tổng công ty 90, Tổng công ty 91. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Sở hữu hỗn hợp chiếm ưu thế phổ biến là kết quả xã hội hóa sản xuất và xã hội hóa sở hữu ở trình độ cao do yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, cách mạng khoa học và công nghệ, quy mô sản xuất- kinh doanh và trình độ quản lý,… Hình thức sở hữu này ngày càng phát triển và từng bước vượt qua biên giới của một quốc gia cụ thể gắn liền với sự ra đời và phát triển mạnh của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia đang đóng vai trò “đầu rồng”, chi phối mạng sản xuất và mạng phân phối toàn cầu và khu vực.
Cụ thể hơn, chế độ sở hữu này được hình thành từ sự liên kết giữa các chủ thể sở hữu tư nhân với sở hữu nhà nước gắn với việc thành lập một tổ chức kinh doanh (một pháp nhân kinh tế mới). Song trong thực tế, không chỉ có liên kết giữa các chủ thể của hai chế độ sở hữu khác nhau với nhau, mà còn diễn ra giữa các chủ thể kinh tế trong cùng một chế độ sở hữu (các chủ thể kinh tế nhà nước với nhau, các chủ thể tư nhân với nhau). Trong tổ chức kinh doanh mới được hình thành từ liên kết kinh doanh, mỗi chủ thể sở hữu vẫn giữ quyền sở hữu với phần tài sản đã đóng góp và chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với phân tài sản ấy, những người đóng góp ủy quyền sử dụng các tài sản cho những người do họ cử ra. Hình thức sở hữu hỗn hợp được biểu hiện cụ thể bằng các hình thức sở hữu như sở hữu doanh nghiệp liên doanh, hợp doanh với nước ngoài, sở hữu công ty cổ phần, sở hữu đa quốc gia, xuyên quốc gia đó là những hình thức đa dạng của sở hữu tư bản nhà nước.
Áp dụng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Việt Nam hiện đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì vấn đề đặt ra là, trong khi tiếp tục xây dựng và phát triển sở hữu toàn dân, làm cho nó thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, cần tiếp tục khai thác những mặt mạnh của sở hữu tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân lao động. Đó cũng chính là đòi hỏi khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nói cách khác, việc cho phép tồn tại và phát triển nhiều loại hình sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân không những là tất yếu mà còn cần thiết cho việc phát triển của lực lượng sản xuất. Sự tồn tại của sở hữu tư nhân sẽ là rất lâu dài và nếu như thời kỳ quá độ, như một số nước khẳng định, có thể kéo dài hàng trăm năm thì sự tồn tại của sở hữu tư nhân cũng không thể ngắn hơn thời gian đó. Bên cạnh đó, phải tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã; đẩy mạnh liên kết và hợp tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ về tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường, tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ.
Có thể khẳng định rằng, việc thực hiện một nền kinh tế nhiều thành phần với các loại hình sở hữu khác nhau là chiến lược lâu dài và tối ưu để làm cho nền kinh tế trở nên năng động nhằm phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân lao động và là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả của việc xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, như Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định. Từ đây, Đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tạo cơ chế để mọi thành phần kinh tế gắn với các hình thức sở hữu khác nhau được phát triển một cách thực sự bình đẳng trước pháp luật. Sự thành công tiếp theo của công cuộc đổi mới phần nhiều phụ thuộc vào những chủ trương và giải pháp cho việc sử dụng một cách tối ưu các loại hình sở hữu, cả sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể lẫn sở hữu tư nhân. Xét đến cùng, mọi chủ trương, chính sách phải hướng đến thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
2.3. Một số hạn chế và vấn đề đặt ra. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Trong quá trình hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã bước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị- xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa- xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao [37].
Từ những thành tựu to lớn trên tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới. Ta thấy, qua các tư tưởng đổi mới Đảng đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu lý luận phát triển của nhân loại, bám sát tình hình thực tiễn thế giới và trong nước, từng bước tổng kết thực tiễn nhằm khái quát lý luận, các tư tưởng về phát triển kinh tế thị trường cũng như những trải nghiệm trong quản lý đất nước và kinh nghiệm của các quốc gia vào điều kiện của Việt Nam của các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và các tầng lớn nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, khắc phục những quan điểm ấu trĩ, giáo điều, rập khuôn máy móc, phiến diện cực đoan, duy ý chí, hẹp hòi và bảo thủ. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mạnh dạn tìm tòi, sáng tạo và hình thành về cơ bản khung lý luận tổng quát về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều đó được thể hiện trước hết và trên hết ở lĩnh vực kinh tế, mà trọng điểm là xây dựng nền kinh tế thị trường vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng đặc điểm của Việt Nam, vừa tương thích với nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa ngày càng rộng hơn, sâu hơn. Sau đó, nhận thức mới cho thấy độ rộng và chiều sâu ngày càng gia tăng trong phương pháp tiếp cận để đạt đến mục tiêu đổi mới vấn đề sở hữu trong các lĩnh vực, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đồng thời, đây là chiến thắng của “cái mới” trong cuộc đấu tranh gay go và phức tạp trên mặt trận nhận thức về đổi mới phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi tư tưởng. Bên cạnh những thành công đạt được quan trọng trong nhận thức mới về sự phát triển, vẫn còn những khía cạnh cần quan tâm để những kết quả đạt được của nhận thức mới tiếp tục vận động đúng với bản chất của nó, xác định và nêu được những phương hướng mang tính quy luật xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bao gồm: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm ngày càng vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về mọi mặt tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức và nhân cách đảng viên. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần phải thừa nhận những yếu kém trong tổ chức quản lý nền kinh tế dẫn đến ảnh hưởng xấu đối với sự tăng trưởng kinh tế, cũng như tạo ra nhiều kẽ hở dẫn đến sự dung dưỡng, phát sinh những hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức truyền thống. Đến lượt nó, những hành vi này lại tác động tiêu cực trở lại đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Chẳng hạn, do thiếu những quy định cụ thể hoặc do sự phối hợp không tốt giữa các cơ quan chức năng nên vẫn có rất nhiều kẽ hở dẫn đến tình trạng tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, hàng nhái,… Tình trạng này không những gây nên những tác hại lớn đối với sự phát triển kinh tế, mà còn góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, làm băng hoại lối sống, đạo đức truyền thống của dân tộc. Kinh tế nhà nước trong những năm vừa qua chưa thực sự làm tốt vai trò chủ đạo của mình, kinh doanh kém hiệu quả, năng lực quản lý chưa cao đã dẫn đến những thất thoát không nhỏ. Cơ chế “xin cho” vẫn còn tồn tại, tạo thuận lợi cho những hành vi tham nhũng, cửa quyền, độc đoán làm mất lòng tin của nhân dân. Hệ thống pháp luật tuy đã và đang được xây dựng nhưng vẫn chưa kịp thời, chưa đồng bộ và đặc biệt là việc thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng còn nhiều lúng túng, tạo điều kiện cho một số kẻ cơ hội lợi dụng pháp luật để nhũng nhiễu nhân dân, gây sự bất bình trong dân chúng. Kinh tế thị trường luôn có tác động hai mặt đến sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung và đến đạo đức nói riêng. Điều đó thực sự gây bất lợi đối với việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức. Thiết nghĩ, nếu nhà nước đưa ra được những biện pháp phù hợp, đồng bộ và thực thi pháp luật một cách nghiêm minh thì không những những hành vi phạm pháp bị ngăn chặn, mà còn cả những hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức cũng bị đẩy lùi; đồng thời xây dựng được một xã hội phát triển về kinh tế, vững mạnh về chính trị và lành mạnh về đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, cần thấy rằng, nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, trong đó các yếu tố thị trường còn ở mức sơ khai, chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa đạt đến trình độ thuần thục, hoàn thiện của thị trường văn minh. Nó vừa bao gồm những yếu tố của cơ chế quản lý cũ từ thời bao cấp chưa bị xóa bỏ hẳn, vừa có những yếu tố của cơ chế thị trường mới hình thành đang trong quá trình hoàn thiện, vừa mang định hướng xã hội chủ nghĩa [34].
Những hạn chế trên xuất phát từ các nguyên nhân:
- Việc xây đựng thể chế kinh tể thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề hoàn toàn mới chưa có tiền lệ trong lịch sử. Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều hạn chế do công tác lý luận chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn, vấn đề này đã được Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu”.
- Năng lực thể chế hóa và quản lý, tổ chức thực hiện của Nhà nước còn chậm, nhất là trong việc giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.
- Vai trò tham gia hoạch định chính sách, thực hiện và giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp còn yếu.
Những vấn đề đặt ra của vấn đề sở hữu ở nước ta hiện nay:
Ở thời kỳ sản xuất nông nghiệp, phần lớn giá trị của nông sản là do lao động cơ bắp của người nông dân tạo ra. Đến thời đại công nghiệp các cuộc cách mạng công nghệ nổ ra thì máy móc đã dần dần thay thế lao động cơ bắp trong tỷ lệ giá trị hàng hoá. Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Vì vậy, tình hình kinh tế thế giới chuyển mình mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển. Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đưa khoa học tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trí thức hay trí tuệ con người trở thành nguồn tài nguyên quý giá và quan trọng nhất. Những thành quả do con người tạo ra thông qua các hoạt động lao động, văn hoá sáng tạo được thừa nhận là tài sản thì được gọi là tài sản trí tuệ.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế- xã hội của các quốc gia. Nếu thời đại của C. Mác và của Lênin là thời đại của cách mạng công nghiệp, thì thời đại ngày nay khoa học công nghệ đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trình độ công nghệ và tốc độ đổi mới công nghệ trở thành nhân tố quyết định sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh trên thị trường không những của từng doanh nghiệp mà cả của quốc gia. Nói đơn giản nhất đó là việc đặt vé máy bay, gọi xe taxi, đặt phòng khác sạn hay là thanh toán trực tuyến… bây giờ đã trở nên quá đơn giản và dễ dàng. Những tiện ích Internet của hiện nay sau 10 năm tới có thể sẽ trở thành lạc hậu. Các bạn có thể thấy được rõ ràng Uber hay Grab là nhưng công ty taxi lớn nhất thế giới mặc dù không có một chiếc xe nào, hay Airbnb là một công ty khách sạn lớn nhất thế giới cho dù họ không có nổi 1 phòng khách sạn nào cả… Đây chỉ là những thứ cơ bản nhất và là những biểu hiện đầu tiên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mà thôi. Các tư liệu sản xuất dần đã dần thay đổi từ một xã hội công nghiệp tư liệu là hầm mỏ, nhà máy thì bây giờ tư liệu là máy tính, công nghệ số ảo. Thật khó có thể tưởng tượng là trong 10 năm tới nền công nghiệp sẽ diễn ra như thế nào? Có thể lúc đó chúng ta sẽ mua thức ăn, đồ uống, làm việc online và điện thoại Smartphone sẽ trở thành vật bất ly thân… và tất cả những dịch vụ không kết nối được với điện thoại, internet thì sẽ sớm bị loại bỏ. Do đó, đầu tư phát triển khoa học công nghệ được các doanh nghiệp và các chính phủ hết sức quan tâm. Trong thời đại ngày nay, thời đại chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, sở hữu trí tuệ được đánh giá giữ vị trí còn quan trọng hơn là sở hữu về vốn tài chính và tài nguyên. Không còn sự phân định rạch ròi ranh giới của một số yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất do sự phát triển có tính chất giao thoa giữa chúng. Chẳng hạn, tổ chức quản lý quá trình sản xuất không thuần túy chỉ là một bộ phận cấu thành quan hệ sản xuất, mà còn là một bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, nó là chất kết dính giữa các yếu tố vật chất và yếu tố con người trong lực lượng sản xuất, chi phối trực tiếp tính hiệu quả của quá trình sản xuất. Khoa học công nghệ cũng làm thay đổi vai trò của các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Con người dẫu vẫn là yếu tố quyết định của quá trình sản xuất, nhưng lao động quản lý, chỉ đạo ở cả tầm vĩ mô và vĩ mô ngày càng giữ vị trí quan trọng hơn so với lao động trực tiếp sản xuất.
Học thuyết C. Mác về hình thái kinh tế- xã hội đã được thực tiễn khắc nghiệt kiểm nghiệm. Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cùng những thiếu sót nghiêm trọng về mọi mặt của các nước tuyên bố theo con đường xã hội chủ nghĩa cũng không thể coi là bằng chứng bác bỏ tính khoa học của học thuyết C. Mác. Tất cả những gì đã diễn ra chỉ chứng tỏ rằng, chưa có ở đâu trên trái đất này có đủ những điều kiện cần thiết cho sự ra đời của xã hội mới- xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Những lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa cộng sản: dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, không có áp bức bóc lột, thế giới đại đồng… vẫn là những mơ ước ngàn năm và vẫn là mục đích đấu tranh của thế giới văn minh ngày nay. Với những ý nghĩa đó, có thể nói rằng, không phải thời đại chúng ta đã bỏ qua học thuyết C. Mác mà chính học thuyết C. Mác đã vượt qua ngay cả thời đại chúng ta. Điều đó không có nghĩa là mọi luận điểm mà học thuyết C. Mác nêu ra đều đúng. Nếu chỉ xét học thuyết C. Mác trong phạm trù hình thái kinh tế- xã hội ta đã thấy rằng: cho đến nay chưa ai có thể phủ nhận sự phân tích về tiến trình lịch sử. Nhưng qua sự phân tích quan điểm về sở hữu giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, sự vận dụng của Đảng vào vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, trong thời đại ngày nay, sức sống của chủ nghĩa Mác- Lênin vẫn là bất diệt. Song, cũng cần phải nói thêm rằng, đối với con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, nếu như việc nhận thức chủ nghĩa Mác- Lênin cần phải có sự tìm tòi, thì việc vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin không thể thiếu sự sáng tạo. Do những hạn chế thời đại của mình, Mác và những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin chưa bao giờ luận chứng được rõ ràng, cụ thể lực lượng sản xuất mà xã hội mới- xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cần phải thiết lập. Với những loại công cụ sản xuất nào? Máy móc và hệ thống máy móc nào? Kiểu tổ chức sản xuất xã hội mới về chất nào sẽ được xây dựng lên? Đấy vẫn là câu hỏi lớn đặt trước nhân loại chúng ta ngày nay. Khi lực lượng sản xuất, tư liệu sản xuất phát triển quá nhanh hàng ngày hàng giờ thì yêu cầu đòi hỏi mỗi quốc gia phải tiếp thu, học hỏi và vận dụng thực tiễn để tránh tình trạng lạc hậu so với thế giới. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Mặc dù sở hữu nhà nước có vai trò to lớn trong chiến tranh và phát triển kinh tế- xã hội nhưng cơ chế cũ là rào cản cho tăng trưởng kinh tế cần có sự đổi mới về nhận thức và tư duy. Thực tế ở những nơi trong cơ cấu sở hữu có nhiều sở hữu nhà nước thì việc phát triển kinh tế- xã hội gặp nhiều khó khăn. Hiệu quả của sở hữu nhà nước phụ thuộc trực tiếp vào hiệu quả sử dụng các đối tượng sở hữu vì có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất nhưng việc sử dụng các đối tượng thuộc sở hữu nhà nước lại được giao cho một cơ quan cụ thể hoặc các doanh nghiệp, tập đoàn hoặc các tổng công ty nhà nước… Hiệu quả thấp của doanh nghiệp nhà nước là nguyên nhân phát sinh nhiều tiêu cực, lãng phí, thất thoát lớn tài sản của Nhà nước. Từ đó, làm xuất hiện tình trạng tham nhũng và lạm dụng quyền sở hữu của nhà nước để tạo vị thế độc quyền thị trường, sử dụng hiệu quả không cao các đối tượng sở hữu thậm chí biến sở hữu nhà nước thành sở hữu của những người có quyền sử dụng. Vì vậy, nhà nước phải thắt chặt quản lý và điều chỉnh lại tỷ trọng các hình thức sở hữu.
Sở hữu tập thể thường được thể hiện thông qua vai trò của các hợp tác xã sản xuất, hợp tác xã kinh doanh, dịch vụ,… trong đó xã viên đóng vai trò chủ sở hữu. Trong thời kỳ bao cấp trước đây, kinh tế hợp tác xã cũng đã phát huy những giá trị tích cực phục vụ cho công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, khi chuyển sang thời kỳ hòa bình, người dân lao động trong hợp tác xã chưa thấy được lợi ích thiết thân của việc tham gia hợp tác xã nên tỏ ra không mặn mà với mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Làm thế nào để xây dựng được những hợp tác xã kiểu mới hoạt động có hiệu quả trong cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước? Đó là vấn đề được các học giả quan tâm nghiên cứu và tìm giải pháp khắc phục.
Sở hữu tư nhân gần đây được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và cũng đã có những đề tài nghiên cứu sâu sắc. Đồng thời, cũng chỉ ra rằng, trong các chế độ trước đây đều quan tâm đến sở hữu tư nhân, từ việc theo đuổi mục đích của cá nhân mà họ đã đóng góp vào lợi ích chung của xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, sở hữu tư nhân đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nhà nước vẫn cần phải có những giải pháp cụ thể để phát huy vai trò của hình thức sở hữu này hơn nữa.
Sở hữu hỗn hợp có thể mạnh hơn so với các hình thức sở hữu khác ở chỗ nó kết hợp sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế. Vì vậy, nó có khả năng tập hợp mọi nguồn lực khác nhau cho việc phát triển sản xuất, kinh doanh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sở hữu hỗn hợp ngoài việc phát huy được vai trò của các thành phần kinh tế khi kết hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh, còn giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài hoặc khuyến khích các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong sản xuất, kinh doanh. Đó là hình thức sở hữu cần được khuyến khích phát triển hơn nữa. Nhưng với hình thức sở hữu này đang ngày càng phát triển, từng bước vượt qua biên giới của một quốc gia và gắn liền với sự phát triển mạnh của các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia thì vấn đề quản lý nó ra sao mà không làm kìm hãm sự phát triển là câu hỏi cần được giải quyết?
Việt Nam hiện đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì vấn đề đặt ra là, trong khi tiếp tục xây dựng và phát triển sở hữu toàn dân, làm cho nó thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, cần tiếp tục khai thác những mặt mạnh của sở hữu tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân lao động. Đó cũng chính là đòi hỏi khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nói cách khác, việc cho phép tồn tại và phát triển nhiều loại hình sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân không những là tất yếu mà còn cần thiết cho việc phát triển của lực lượng sản xuất. Sự tồn tại của sở hữu tư nhân sẽ là rất lâu dài và nếu như thời kỳ quá độ, như một số nước khẳng định, có thể kéo dài hàng trăm năm thì sự tồn tại của sở hữu tư nhân cũng không thể ngắn hơn thời gian đó. Song mặt khác, bản thân các hình thức sở hữu lại là hình thức biểu hiện và bị quy định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó có nghĩa là, nếu các hình thức sở hữu mà phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; còn trong trường hợp ngược lại, nó không những không có tác dụng thúc đẩy, mà còn cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Với ý nghĩa đó, sở hữu lại là phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất. Điều này, theo chúng tôi, đặc biệt quan trọng đối với những nước chưa trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa thực hiện quá độ rút ngắn đi lên chủ nghĩa xã hội tiêu biểu là Việt Nam.
Tiểu kết Chương 2 Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Cùng với quá trình tổng kết kinh nghiệm và phát triển sáng tạo lý luận về đổi mới vấn đề sở hữu, chúng ta đã bước đầu có những kết quả và thành tựu nhất định như hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dần thay thế cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường và đa đang hóa các hình thức sở hữu. Từ đây, chúng ta nêu ra những vấn đề đặt ra mang tính quy luật của quá trình đổi mới vấn đề sở hữu ở Việt Nam.
Sở hữu có một vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, xét cho cùng nó là động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế và là vấn đề có tính bản chất của sự hình thành chế độ xã hội mới. C. Mác viết: “Tất cả các cuộc cách mạng gọi là những cuộc cách mạng chính trị, từ cuộc cách mạng đầu tiên đến cuộc cách mạng cuối cùng, đều được tiến hành để bảo vệ sở hữu thuộc một loại nào đó”[7; Tr. 173]. Từ các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân đến nay, hình thành 4 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đã tạo nên sự phong phú các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh, mang đến sức sống mới cho nền kinh tế. Quá trình đa dạng hóa hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đã góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất. Đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng cho sự hình thành và phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp, phát huy tối ưu các tiềm năng, thế mạnh của các chủ sở hữu và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển. Do đó, tạo nên sự cạnh tranh trong nền kinh tế và đó là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.
KẾT LUẬN
Lý luận của C. Mác là một hệ thống mở, cần phải được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Trong vấn đề sở hữu là một phạm trù của kinh tế chính trị, có vị trí đặc biệt quan trọng trong học thuyết của chủ nghĩa Mác- Lênin và quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước. Sở hữu cũng là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố cấu thành của quan hệ sản xuất. Sở hữu cũng là một phạm trù rất trừu tượng, phức tạp và rộng lớn, cho đến nay vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau, vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng nó đòi hỏi phải có vốn kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm thực tế phong phú mới có thể giải quyết được một cách đầy đủ và đúng đắn. Vậy việc nhận thức và vận dụng vấn đề sở hữu trong thực tiễn của Đảng có liên quan đến sự thành bại của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là quá trình đổi mới tư duy của đảng về xác lập đường lối phát triển kinh tế, là sự tổng kết thực tiễn. Đường lối và chính sách đổi mới từ đại hội VI của đảng đã đặt cơ sở, nền tảng ban đầu cho giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta. Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, trong đó có đổi mới tư duy về kinh tế, khâu đột phá cho đổi mới các lĩnh vực tiếp theo. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại VN
Qua phân tích sở hữu chúng ta thấy sở hữu đem lại nội dung cho các quan hệ giá trị và thị trường. Do đó nó bộc lộ mối quan hệ giữa sở hữu và thị trường. Sở hữu chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện thị trường, nhờ thế hình thành cơ chế tác động giữa chúng. Đó là cơ chế thực hiện các lợi ích kinh tế của sở hữu và cơ chế cạnh tranh giữa các hình thức sở hữu. Nhận thức được tầm quan trọng nói trên, từ lâu và nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay ở nước ta, việc nghiên cứu vấn đề sở hữu và vận dụng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã thu hút được sự chú ý đông đảo các nhà nghiên cứu và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, một mặt do sở hữu là một vấn đề phức tạp, trên phương diện lý luận, nhiều lĩnh vực vẫn chưa được làm sáng rõ; mặt khác, thực tiễn quá trình biến đổi sở hữu nước ta thời gian qua đã và đang đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi phải làm rõ về mặt cơ sở lý luận: quá trình chuyển biến từ sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng đã và đang diễn ra thường xuyên và phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong quá trình thực hiện đề tài, khóa luận đã cố gắng làm rõ một số nội dung cơ bản sau đây: Một là, hệ thống hóa những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về vị trí, vai trò của sở hữu. Hai là, Đảng và Nhà nước dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về sở hữu vận dụng vào quá trình đổi mới về vấn đề sở hữu ở nước ta giai đoạn trước và sau đổi mới. Ba là, đưa ra một số kết quả đạt được trong quá trình đổi mới vấn đề sở hữu. Qua đó rút ra những thành công và hạn chế đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nhằm hoàn thiện quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Sau hơn 30 năm đổi mới, nước ta có bước ngoặc trong chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Góp phần to lớn trong cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Nền kinh tế sở hữu nhiều hình thức và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được hình thành tạo ra động lực và điều kiện thuận lợi giải phóng sức sản xuất, khái thác tiềm năng cho phát triển kinh tế- xã hội. Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã đi và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vự và thế giới. Đường lối đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển…
Chế độ sở hữu nhiều hình thức và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được hình thành tạo ra động lực và điều kiện thuận lợi giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng cho phát triển kinh tế- xã hội. Quản lý nhà nước về kinh tế được đổi mới từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực. Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh góp phần đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, tạo ra tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã từng bước hình thành và phát triển; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được quan tâm xây dựng và từng bước hoàn thiện. Thực lực của nền kinh tế tăng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì hợp lý. Việt Nam được đánh giá là nhóm quốc gia có mức tăng trưởng khá cao trên thế giới. Những kết quả đó là thành tựu nổi bật trong thực hiện các chủ trương, giải pháp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, sự nỗ lực của các thành phần kinh tế. Kết quả đó còn là sự đoàn kết, đồng lòng, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hiện nay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và phát triển, không ít tiêu chí đang xây dựng và hoàn thiện, đang dần tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Do vậy, cần đẩy mạnh quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cụ thể, cần tập trung, tiếp tục hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; thể chế cho cải thiện môi trường đầu tư; thể chế cho phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, cần hoàn thiện thể chế trong quá trình trao đổi, phân phối vừa bảo đảm tính ngang giá, vừa tạo động lực và nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh. Khóa luận: Giải pháp về vấn đề sở hữu kinh tế thị trường tại
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam