Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải tại khu công nghiệp Nomura Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua,Việt Nam đã và đang từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, quá trình này góp phần to lớn và mang lại nhiều thành công trong việc cải thiện đời sống và thúc đẩy kinh tế đất nước ngày một phát triển hơn. Việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tạo bước chuyển biến vượt bậc trong nền kinh tế của một đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu mà các KCN đóng góp thì cũng có rất nhiều vấn đề mà các KCN đang phải đối mặt, trong đó ô nhiễm môi trường là vấn đề đang được quan tâm. Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Hải Phòng là một trong những thành phố có thế mạnh về phát triển công nghiệp, do đó vấn đề bảo vệ môi trường tại các KCN đang được các cơ quan của thành phố chú ý để ngăn ngừa và hạn chế ô nhiễm đảm bảo cho sự phát triển xã hội. Đến nay Hải Phòng có 19 KCN, 39 cụm công nghiệp đã được quy hoạch và đã đi vào hoạt động, 1 khu kinh tế. Trong đó, khu công nghiệp Nomura là một trong những KCN lớn của thành phố được đầu tư hệ thống kỹ thuật hạ tầng, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Khu công nghiệp Nomura được rất nhiều các doanh nghiệp đầu tư nhà máy, công ty và hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN. Trong quá trình hoạt động KCN Nomura đã có những ảnh hưởng đến các thành phần môi trường trong và xung quanh KCN.

Từ những vấn đề cấp thiết và vô cùng thực tế trên em tiến hành tìm hiểu thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường khu công nghiệp Nomura tại Hải Phòng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Môi Trường

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm liên quan tới môi trường KCN Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Khái niệm KCN:

Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế thì:

“KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.”

KCN là thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh, được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo, hệ thống xử lý nước thải, hệ thống thương mại, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu chung cư.

KCN có thể được thành lập và khai thác bởi các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay liên doanh, gọi chung là Công ty phát triển hạ tầng KCN. Công ty này có quyền cho thuê đất cho các doanh nghiệp khác muốn đầu tư vào KCN và cung cấp dịch vụ khác phù hợp với nội dung của Giấy phép đầu tư / Giấy chứng nhận đầu tư, ấn định giá thuê và phí dịch vụ trong KCN.

Cụm công nghiệp là những khu công nghiệp quy mô nhỏ.

Chất thải rắn công nghiệp là CTR sinh ra trong quá trình sản xuất ở các nhà máy, xí nghiệp… và được chia thành hai loại: CTR không nguy hại và CTR nguy hại. Trong đó CTR nguy hại là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính gây hại khác.

Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp: Các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt của công nhân viên.

Khí thải công nghiệp là hỗn hợp các thành phần vật chất phát thải ra môi trường không khí từ ống khói, ống thải của các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Xử lý chất thải là dùng biện pháp kỹ thuật để xử lý chất thải và không làm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế.

Mục tiêu của xử lý chất thải là làm giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải như: các chất độc hại, không hợp vệ sinh, tận dụng vật liệu và năng lượng trong chất thải.

Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.

1.2 Đặc điểm Khu công nghiệp 

Mỗi nước khác nhau sẽ có các chính sách phát triển KCN khác nhau.

Căn cứ vào quy chế về KCN ta có thể rút ra các đặc điểm sau:

  • KCN có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, trong KCN không có dân cư sinh sống, KCN trên lãnh thổ nước nào thì do Chính phủ nước đó thành lập hoặc cho phép thành lập ( tạm gọi là Chính phủ nước sở tại).
  • Trong KCN có các doanh nghiệp KCN hoạt động là doanh nghiệp của nước sở tại, doanh nghiệp nước ngoài hoặc KCX.
  • Trong KCN thông thường các doanh nghiệp dược đầu tư trong các lĩnh vực sau:

Xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng.

Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu hoặc tiêu thụ trong thị trường nước đó.

Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp.

Doanh nghiệp KCN có những quyền chính sau:

  • Thuê đất trong KCN để xây dựng nhà xưởng và công trình kiến trúc phục vụ sản xuất kinh doanh.
  • Sử dụng có trả tiền các công trình cơ sở hạ tầng, các tiện nghi diện tích công cộng và các dịch vụ khác trong KCN.
  • Thuê các phương tiện vận tải và các dịch vụ khác ở ngoài KCN.

Doanh nghiệp KCN có những nghĩa vụ sau:

  • Tuân thủ pháp luật nước sở tại, quy chế điều lệ của KCN.
  • Đăng ký với BQL KCN về số lượng sản phẩm xuất khẩu hoặc tiêu thụ thị trường trong nước.
  • Thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước sở tại.
  • Thực hiện các quy định về an toàn lao động vệ sinh môi trường, kế toán và an ninh trật tự phù hợp với quy định của KCN.
  • Chính phủ nước sở tại luôn mong muốn và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp KCN xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN.

1.3 Tình hình Phát triển KCN Thế giới và Việt Nam

1.3.1  Tình hình phát triển KCN trên thế giới Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Phát triển kinh tế cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa toàn cầu kết hợp với sự gia tăng dân số đã làm cho lượng chất thải tạo thành ngày càng tăng. Trong đó, lượng chất thải được tạo ra nhiều nhất tại các nước phát triển, đặc biệt là chất thải tại các khu công nghiệp.

Anh là nước công nghiệp đầu tiên và là KCN được thành lập năm 1896 ở Manchester và sau đó là vùng công nghiệp Chicago (Mỹ), KCN Napoli (Ý) vào những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước. Đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX, các vùng công nghiệp và các KCN phát triển nhanh chóng và rộng khắp các nước công nghiệp như là một hiện tượng lan tỏa, tác động và ảnh hưởng. Vào thời kỳ này Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1.000 KCN, Pháp có 230 vùng công nghiệp, Canada có 21 vùng công nghiệp. Tiếp theo các nước công nghiệp đi trước, vào năm 60, 70 của thế kỷ trước, hàng loạt các KCN và KCX hình thành và phát triển nhanh chóng ở các nước công nghiệp hóa thế hệ sau như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan… Cũng trong thời kỳ này, ở các nước XHCN trước đây, Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc đang tiến hành xây dựng các xí nghiệp liên hợp, các cụm công nghiệp lớn, các trung tâm công nghiệp tập trung. Mặc dù có thể dưới những tên gọi khác nhau gắn với tính đăc thù của ngành sản xuất, nhưng chúng đều có những tính chất, đặc trưng chung của KCN.

Trong những năm mới phát triển, KCN được xem là mô hình quy hoạch công nghiệp. Khu công nghiệp được sử dụng như một công cụ phát triển kinh tế và mục đích kinh tế này ngày càng được chú trọng, đặc biệt là các nước đang phát triển. Vì vậy, ngày nay từ rất sớm một số nước đang phát triển ở Đông Nam Á cũng đã có số lượng KCN tăng lên đáng kể nhằm tạo bước đột phá trong nên kinh tế của họ. Hoạt động của các KCN một mặt mang lại lợi ích kinh tế, mặt khác lại phát sinh tác hại môi trường do hoạt động công nghiệp đã không được quan tâm đúng mức trong một thời gian dài.

Tại Thái Lan, KCN đầu tiên được thành lập năm 1972, đó là khu Bangchan rộng khoảng hơn 198 ha ở huyện Min Buri của Bangkok. Cùng năm, Ban quản lý các KCN Thái Lan (IEAT) được thành lập. Hiện nay, IEAT đang quản lý hoặc cùng quản lý 38 KCN đang hoạt động phân bố ở Bangkok và 14 tỉnh khác, với 400 nghìn lao động trong 3300 doanh nghiệp. Ngoài ra còn có các KCN do chính quyền địa phương và tư nhân phát triển.

Tại Malaysia, số lượng các KCN đang hoạt động tăng lên nhanh chóng từ con số 0 năm 1970 lên 105 năm 2002. Trong khi đó ở các vùng phát triển con số các KCN đã tăng lên từ con số 8 năm 1970 lên 188 năm 2002 và hầu như các KCN được đặt tại các trung tâm tăng trưởng quan trọng. Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Tại Indonesia, tính đến tháng 11/2007 có 225 KCN đang hoạt động với tổng diện tích 75.457 ha, hầu hết ở trên đảo Java. Số lượng các KCN ở Indonesia tăng mạnh từ năm 1990 đến khi khủng hoảng 1997 nổ ra. Từ năm 2003, khi hiệp định thương mại tự do ASEAN có hiệu lực, các KCN phát triển khá mạnh trở lại. Tuy nhiên, tỷ lệ thấp lấp đầy khá thấp, bình quân khoảng 42% vào năm 2006.

Vào đầu những năm 1990, các KCN đã được xây dựng tràn lan tại Trung Quốc. Đến cuối năm 1991, Trung Quốc chỉ có 117 KCN. Tuy nhiên, con số này đã lên đến 2.700 vào cuối năm 1992 và các khu này được phê duyệt từ các cấp khác nhau, từ cấp chính quyền trung ương, cấp tỉnh, thành phố, thị trấn cho đến cấp quận và nhiều khu thậm chí được xây dựng mà không có cấp chính quyền nào phê chuẩn Và trong những năm gần đây, trước chiến lược mới của Trung Quốc nhằm phát triển miền Tây nước này nhiều KCN mới chính thức được chính quyền Trung ương phê duyệt. Do vậy, số lượng các KCN lại có cơ hội bùng nổ lần nữa. Theo Bộ Tài nguyên và đất đai, trong số 3.837 KCN chỉ có 6% được phê duyệt bởi Quốc vụ viện và 26.6% được phê duyệt bởi chính quyền cấp tỉnh.

1.3.2 Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam 

Đối với Việt Nam, chủ trương xây dựng và phát triển KCN, KCX đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng lý luận chung, kinh nghiêm của các nước trong khu vực và xuất phát từ thực tiễn nước ta. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã tích cực thực hiện các đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế thông qua việc ban hành luật và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài với nhiều ưu đãi, khuyến khích. Cùng với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là các chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư về tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục hành chính. Sau hơn 25 năm ( từ 1991 – 2017) xây dựng và phát triển, kể từ khi KCX đầu tiên – KCX Tân Thuận được hình thành tại thành phố Hồ Chí Minh đến nay hệ thống các KCN, KCX đã có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước và có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước.

Theo báo cáo của Vụ quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2017, có 5 KCN được thành lập mới và quyết định chủ trương đầu tư với tổng diện tích 1.882,6 ha, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư của 1 KCN và đưa ra khỏi quy hoạch 1 KCN với tổng diện tích 501 ha. Năm 2017 có 328 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 96,3 nghìn ha, trong đó có 223 KCN đi vào hoạt động và có 105 KCN đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng. Tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 51%, riêng các KCN đi vào hoạt động tỷ lệ lấp đầy đạt gần 73%.

Về khu kinh tế ven biển, cả nước có 17 KKT được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước xấp xỉ 845 nghìn ha. Ngoài ra, KKT Ninh Cơ, tỉnh Nam Định có trong quy hoạch nhưng chưa được thành lập.

Năm 2017, các KCN, KKT thu hút được 817 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới và điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt gần 14 tỷ USD. Lũy kế đến hết năm 2017, các KCN, KKT thu hút được 8.012 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 168,3 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 59%. Về thu hút đầu tư trong nước, các KCN, KKT thu hút được 665 dự án đầu tư và điều chỉnh tăng vốn cho hơn 237 dự án với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 146.500 tỷ đồng. Lũy kế đến hết năm 2017, các KCN, KKT thu hút được 8.267 dự án với tổng mức đầu tư đạt 1.854.000 tỷ đồng, vốn thực hiện đạt khoảng 42,5%.

1.4 Hiện trạng môi trường KCN Việt Nam

1.4.1 Ô nhiễm nước do nước thải KCN Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất lớn Tốc độ gia tăng này cao hơn nhiều so với sự gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc.

Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng tổng Nitơ và tổng photpho) và kim loại nặng.

Bảng 1.1: Thành phần nước thải ngành công nghiệp trước xử lý

Bên cạnh tính phức tạp về thành phần các chất ô nhiễm thì nước thải của các KCN thường có lưu lượng lớn và có tải lượng các chất ô nhiễm cao. Điều này tạo ra áp lực rất lớn đến môi trường nước xung quanh các KCN bởi chất lượng nước đầu ra của các KCN phụ thuộc nhiều vào việc chúng có được xử lý hay không. Hiện nay, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%, rất nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này. Nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp. Nhiều nơi doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả. Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy chuẩn Việt Nam.

1.4.2 Ô nhiễm không khí do khí thải của các KCN  Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Thực tế nhiều cơ sở sản xuát trong các KCN đã lắp đặt hệ thống xử lý ô nhiễm khí trước khi xả thải ra môi trường, mặt khác do diện tích xây dựng nhà xưởng tương đối rộng, nằm trong KCN phần nhiều tách biệt với khu dân cư nên tình trạng khiếu kiện về gây ô nhiễm do khí thải tại các KCN chưa bức xúc như đối với vấn đề nước thải và chất thải rắn.

Các khí thải ô nhiễm phát sinh từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do hai nguồn: quá trình đốt nhiên liệu tạo năng lượng cho hoạt động sản xuất và sự rò rỉ chất ô nhiễm từ quá trình sản xuất. Tuy nhiên hiện nay các cơ sở sản xuất chủ yếu mới chỉ khống chế được các khí thải từ quá trình đốt nhiên liệu. Ô nhiễm không khí từ quá trình sản xuất và tác động gián tiếp từ khí thải hầu như vẫn chưa được kiểm soát, lan truyền ra ngoài khu vực sản xuất, có thể gây tác động đến sức khỏe người dân sống gần khu vực bị ảnh hưởng.

Tương tự như nước thải thì khí thải công nghiệp cũng có thành phần rất phức tạp. Mỗi một ngành sản xuất lại thải ra một loại khí thải khác nhau, do đó rất khó để có thể xác định thành phần và tính chất chung của khí thải cho các KCN. Chúng ta chỉ có thể xác định thành phần khí thải công nghiệp theo một số nhóm ngành sản xuất chính như sau:

Bảng 1.2: Phân loại nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm

Khối lượng khí thải thải ra ngoài môi trường phụ thuộc vào cơ sở sản xuất cũng như quy mô của các KCN. Hiện nay thì kinh tế trọng điểm phía Nam là nơi tập trung nhiều KCN nhất nên cũng thải ra lượng khí thải lớn nhất, tiếp đến là tới vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và ĐBSCL.

Có thể nói chất lượng không khí ở cac KCN ở nước ta hiện nay tương đối tốt. Tuy nhiên, vẫn con một số điểm cần phải quan tâm như sau:

  • Ô nhiễm bụi đang trở nên phổ biến ở khắp các KCN: tình trạng ô nhiễm bụi diễn ra rất phổ biến và đặc biệt nghiêm trọng vào mùa khô, nhất là đối với các KCN đang trong trong quá trình xây dựng. Hàm lượng bụi lơ lửng trong môi trường xung quanh của các KCN hầu hết đều vượt quá QCVN 05/2009/BTNMT.
  • Ô nhiễm các khí CO, SO2, NO2 còn diễn ra cục bộ ở một số các KCN, đặc biệt là các KCN cũ nơi tập trung các nhà máy có công nghệ sản xuất lạc hậu và không được đầu tư trang thiết bị để xử lý khí thải nên tình trạng ô nhiễm các khí CO, SO2 và NO2 vẫn diễn ra.

Bên cạnh các nguồn ô nhiễm do bụi và các loại chất khí thông thường như SO2,CO, NO2 chúng ta cũng cần phải quan tâm đến các chất khí ô nhiêm đặc thù của các ngành sản xuất riêng biệt. Đặc biệt là các chất khí ô nhiễm có mức độ độc hại cao như hơi axit, hơi kiềm, bụi kim loại, các khí VOC… Để kịp thời có các biện pháp quản lý và ứng phó.

1.4.3 Ô nhiễm do CTR công nghiệp 

Hoạt động của các KCN làm phát sinh một lượng lớn các CTR vào môi trường. Thành phần, khối lượng CTR của các KCN là không đồng nhất nó cũng phụ thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô, công suất của các KCN.

Một điều đáng quan tâm đối với CTR của KCN là chúng có tỷ lệ các chất nguy hại khá cao khoảng dưới 20% tuy nhiên cũng có một số ngành tỷ lệ chất thải nguy hại có thể cao hơn 20% như ngành công nghiệp điện tử. Do có chứa nhiều các chất nguy hại nên các CTR công nghiệp phải được phân loại và thu gom theo đúng thủ tục quy định. Chất thải rắn của các KCN cũng chứa tỷ lệ các chất có thể tái sử dụng cao như: hóa chất, kim loại… do đó nếu được phân loại tốt thì có thể tận dụng được một lượng lớn tài nguyên đồng thời làm giảm thiểu được lượng phát thải phát sinh phải đem đi xử lý. Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Hiện nay, tổng lượng CTR phát sinh trung bình của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn/ngày lên mức 30.000 tấn/ngày. Trong đó lượng CTR phát sinh từ các KCN chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng gia tăng liên tục trong thời gian qua, đặc biệt là tại các KCN thuộc vùng KTTĐ Bắc Bộ và vùng KTTĐ phía Nam và hầu các chất thải nguy hại đều được phát sinh từ các KCN. Theo công ty môi trường đô thị Hà Nội thì tổng số 2.700 tấn/tháng CTNH được thu gom thì có tới 2.100 tấn/tháng CTNH có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất công nghiệp ( dầu thải, dung môi, bùn thải, dung dịch tẩy rửa, bao bì hóa dầu, pin, thùng phi…) điều này cho thấy khả năng gây ô nhiễm của CTR công nghiệp là rất cao nếu chúng không được thu gom và thải bỏ đúng quy định.

Việc quản lý CTR và CTRNH ở các KCN hiện nay còn gặp nhiều vấn đề gây tác động xấu đến chất lượng môi trường:

  • Hầu hết các công ty, nhà máy đều ký kết hợp đồng thu gom, vận chuyển với các công ty môi trường đô thị địa phương, hoặc các doanh nghiệp có giấy phép hành nghề. Tuy nhiên việc cấp giấy phép hành nghề thu gom rác thải, cũng như năng lực thực hiện của nhiều doanh nghiệp thu gom này còn nhiều hạn chế dẫn đến việc rác thải công nghiệp chưa được thu gom, vận chuyển và xử lý đúng yêu cầu.
  • Vẫn còn nhiều doanh nghiệp không thực hiện xử lý chất thải nguy hại mà lại đổ lẫn với rác thải rắn thông thường hoặc đổ lén ra môi trường gây hậu quả nghiêm trọng.
  • Một số CTR như xỉ rất phổ biến trong các KCN, thành phần của xỉ rất phức tạp, đôi khi có chứa hàm lượng các chất nguy hại rất cao. Nhưng do chưa nhận thực rõ ràng được bản chất các thành phần có trong các loại xỉ nên việc quản lý xỉ còn buông lỏng chưa hợp lý đây là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm đất và ô nhiễm nước ngầm ở các khu vực tiếp nhận các lọai xỉ này.
  • Bùn thải phát sinh trong các quá trình xử lý nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung của các KCN, KCX hiện nay vẫn không được coi là CTRNH nên chúng chưa được xử lý đúng cách.
  • CTNH ở hầu hết các KCN đều chưa được quản lý chặt chẽ do các quy định liên quan chưa cụ thể. Nhiều doanh nghiệp chưa tiến hành phân loại, không có kho lưu trữ tạm thời theo quy định và chỉ có một phần CTNH được các đơn vị xử lý, còn lại thì rất nhiều CTNH vẫn được chôn lấp lẫn với rác thải thông thường, thậm chí đổ ngay ra khu vực nhà máy, khu vực lân cận gây ô nhiễm môi trường.

1.5 Quản lý môi trường khu công nghiệp  Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Có thể thấy Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp thích hợp và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích chính giữ hài hòa quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa nhu cầu của con người và chất lượng môi trường, giữa hiện tại và khả năng phát triển của trái đất.

QLMT là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích chủ thể QLMT lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và các khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành.

Theo một số tác giả, thuật ngữ về QLMT gồm hai nội dung chính: Quản lý Nhà nước về môi trường và Quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường.

Quản lý nhà nước về môi trường là một nội dung quản lý hành chính của nhà nước. Là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế – xã hội và BVMT.

Quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả hệ thống sản xuất ( hệ thống QLMT theo tiêu chuẩn ISO 14000) và bảo vệ sức khỏe người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất.

Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:

  • Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người.
  • Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do Hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vũng kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội.
  • Tăng cường công tác quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường.
  • Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư.

1.6 Tình hình phát triển các KCN trên địa bàn thành phố Hải Phòng 

Năm 1993, Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư cấp Giấy phép thành lập KCX Hải Phòng, BQL Khu chế Hải Phòng được thành lập theo quyết định số 358/TTg ngày 15/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện quản lý nhà nước đối với KCX Hải Phòng. Năm 1994, KCN Nomura ra đời, BQL các KCX được bổ sung nhiệm vụ quản lý các KCN và đổi thành BQL các KCX và Công nghiệp Hải Phòng ( Quyết định số 240/QĐ – TTg ngày 27/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ), năm 1997 thành lập KCN Đình Vũ giai đoạn 1, năm 2006 thành lập KCN Đồ Sơn – Hải Phòng ( thay thế KCX ). Tổng diện tích đất của 3 KCN là 467 ha với tổng vốn đầu tư gần 400 triệu USD. Các công ty xây dựng và kinh doanh hạ tầng của 3 KCN này đều là liên doanh của thành phố Hải Phòng với các Công ty nước ngoài. Năm 2008, KKT Đình Vũ – Cát Hải được thành lập, theo đó BQL các KCX và Công nghiệp Hải Phòng được tổ chức lại thành BQL KKT Hải Phòng ( Quyết định số 1329/QĐ – TTg ngày 19/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ).

Cho đến nay, Hải Phòng có 19 KCN được quy hoạch và thành lập, trong đó có một số KCN đang hoạt động khá hiệu quả, tỷ lệ lấp đầy cao. Về kết quả thu hút đầu tư: Tính đến cuối năm 2017, trong các KCN Hải Phòng đã thu hút được 285 doanh nghiệp, dự án đang hoạt động ( chưa kể một số dự án được cấp phép trước khi thành lập KKT ), trong đó có 199 dự án FDI với tổng vốn đăng ký trên 7 tỷ USD; 86 dự án DDI với tổng vốn đăng ký trên 25.000 tỷ đồng. Hải Phòng luôn đứng tốp đầu cả nước về thu hút vốn FDI vào các KCN nhiều năm liền. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN, số vốn đầu tư vào KCN Tràng Duệ (7.017,8 triệu USD), KCN Đình Vũ (1.962,28 USD), hiện tại số vốn lớn nhất là số vốn tại KCN Nomura, Đình Vũ đã thực hiện được nhiều nhất đạt trên 50,57% tổng số vốn đăng ký do 2 KCN này các doanh nghiệp đã thành lập và đi vào hoạt động sớm.

1.7 Giới thiệu về KCN Nomura 

1.7.1 Vị trí địa lý: Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Địa điểm: huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

Vị trí địa lý: nằm ngay cạnh quốc lộ 5 đi Hà Nội và cách trung tâm thành phố 13 km, cách cảng Hải Phòng 15 km, cách sân bay Cát Bi 20 km.

1.7.2 Thành lập KCN

Được thành lập vào ngày 23/12/1994, theo Giấy phép đầu tư số 1091/GP của Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư cho phép thành lập Công ty liên doanh (có tên là Công ty phát triển khu công nghiệp Nomura – Hải Phòng) để xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp có tên là Khu công nghiệp Nomura – Hải Phòng, trên diện tích 153 ha đất thuộc các xã: An Hưng, Tân Tiến, An Hồng, huyện An Hải (nay là huyện An Dương), thành phố Hải Phòng.

1.7.3 Cơ sở hạ tầng Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

Khu công nghiệp Nomura đã được chủ đầu tư triển khai lập Quy hoạch chi tiết (Bộ xây dựng phê duyệt tại Quyết định số 514BXD/KTQH ngày 30/9/1996) và xây dựng kết cấu hạ tầng kĩ thuật đồng bộ ngay sau khi được cấp Giấy phép đầu tư.

Hệ thống giao thông

Hệ thống đường nội bộ rộng 20m – 30m trải bê tông nhựa đáp ứng những phương tiện siêu trường siêu trọng.

Giao thông ngoại khu: đường bao phía Bắc và phía Nam thành phố được xây dựng mới theo tiêu chuẩn quốc tế đến các cảng, sân bay của Hải Phòng.

Hệ thống cấp nước

Khu công nghiệp lấy nước từ Nhà máy nước Vật Cách với công suất 13.500m3/ngày đêm đạt QCVN 01:2009/Bộ Y Tế.

Hệ thống thoát nước

Khu công nghiệp Nomura có hệ thống thoát nước mưa và thoát nước thải riêng biệt:

Thoát nước mưa thì nước trên bề mặt xả thẳng ra hệ thống tiếp nhận là sông Cấm.

Thoát nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp sau khi xử lý cục bộ, hệ thống này đấu nối vào nhà máy xử lý nước thải tập trung với công suất 10.800m3/ngày đêm.

Hệ thống cấp điện

KCN có nhà máy điện độc lập với công suất 50MW chất lượng điện ổn định.

Tình hình sử dụng đất

Tổng diện tích đất 153ha trong đó 123ha đất công nghiệp, 30 ha cho cơ sở hạ tầng và các tiện ích khác.

Tỷ lệ lấp đầy 100%, có 54 doanh nghiệp đang hoạt động trong đó có 48 doanh nghiệp đến từ Nhật Bản, còn lại là Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan,…

1.7.4 Loại hình sản xuất

Khu công nghiệp Nomura thu hút được 58 nhà đầu tư, hiện tại có 54 nhà đầu tư thứ cấp đi vào hoạt động với số vốn nhà đầu tư thứ cấp được thực hiện là 613,76 triệu USD với các ngành nghề: công nghệ cao, chế tạo máy, cơ khí chính xác, sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô, xe máy, sản xuất bao bì… Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY

===>>> Khoá luận: Thực trạng môi trường tại KCN Nomura Hải Phòng

One thought on “Khóa luận: Hiện trạng quản lý chất thải tại công nghiệp Nomura

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp bảo vệ môi trường tại KCN Nomura

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464