Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Sự sụp đổ của ngân hàng Northern Rock và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA VÀ ĐỐI PHÓ VỚI RỦI RO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
1. Diễn biến hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 2007 đến nay
Diễn biến năm 2007
Song song với cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Mỹ và các nước Châu Âu, trong năm 2007, thị trường tài chính Việt Nam cũng bắt đầu xuất hiện khó khăn. Thị trường chứng khoán giảm mạnh và liên tục. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bắt đầu tăng cao – CPI sáu tháng đầu năm 2007 tăng 5,2%, gần bằng với mục tiêu 6% đặt ra trong cả năm. Việc tăng trưởng tín dụng cao cộng với việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục phải mua vào ngoại tệ từ đầu tư gián tiếp của nước ngoài – khoảng 9 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2007 – trong khi NHNN dường như đã không thành công trong việc thu hồi lại lượng VND gia tăng từ các hoạt động của mình đã gây sức ép khiến CPI tiếp tục tăng mạnh. Vì vậy, kể từ 28/05/2007, NHNN đã bắt đầu phát tín hiệu cho thấy sẽ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ mà khởi đầu là bằng quyết định tăng đột ngột tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên gấp đôi so với trước đó. Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Việc NHNN vẫn liên tục đẩy mạnh việc phát hành tín phiếu, chủ yếu để duy trì vị thế bán trên thị trường mở nhằm giảm cơ số tiền đã có ảnh hưởng khi vào giữa và cuối tháng 10/2007, một số ngân hàng bắt đầu thiếu hụt thanh khoản, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng (TTLNH) có lúc tăng lên 12%/năm, cao gấp đôi so với thời kỳ ổn định trước đó. Đến đầu tháng 12 năm 2007, lượng ngoại tệ từ kiều hối và đầu tư nước ngoài trở nên dồi dào, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá bình quân trên TTLNH, kết quả là tỷ giá của các ngân hàng thương mại (NHTM) liên tục điều chỉnh giảm và duy trì ở mức sàn trong biên độ cho phép, niêm yết tỷ giá mua bằng tỷ giá bán, tỷ giá trên thị trường tự do thấp hơn tỷ giá niêm yết của NHTM. Trong khi đó do lo ngại lạm phát, NHNN hầu như không đẩy mạnh mà thậm chí còn hạn chế mua ngoại tệ trên TTLNH đã khiến ngoại tệ trở nên dư thừa trên thị trường, một số NHTM tạm thời ngưng mua USD của các đại lý thu đổi ngoại tệ, số khác thì áp dụng việc thu phí khi mua ngoại tệ của cá nhân và tổ chức để lách quy định biên độ đã khiến cho cho tỷ giá giao dịch thực xuống rất thấp, tỷ giá trên thị trường tự do càng giảm nhanh, có lúc xuống dưới 16.000VND/USD. Ngoài vấn đề tỷ giá, có thể nói rằng, cho đến thời điểm giữa tháng 12 năm 2007, tình hình thị trường tiền tệ và hoạt động của các ngân hàng Việt Nam vẫn chưa có sự biến động đáng kể nào, vẫn chưa có biểu hiện nào cho thấy tác động lớn từ cuộc khủng hoảng trên thế giới.
Diễn biến trong năm 2008
Đầu năm 2008, lạm phát không giảm mà còn tăng vọt, lên tới 14%/năm trong tháng 1, đây là hậu quả của việc tăng cung tiền mua USD trong năm 2007. Do đó, NHNN đã thông báo điều chỉnh các lãi suất cơ bản, tái cấp vốn và chiết khấu vào cuối tháng 1/2008. Ngày 13/2, NHNN lại thông báo sẽ phát hành 20,3 nghìn tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc đối với 41 NHTM. Quyết định này đã gây ra cú sốc thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, vốn đã khá khó khăn từ cuối 2007. Do đã cho vay đến hết hạn mức nên các NHTM đã gặp phải nhiều khó khăn trong việc huy động tiền mặt trả cho tín phiếu, điều này khiến cho VNIBOR lại tăng vọt.
Vào tháng 2/2008, khi NHNN áp đặt bán 20 nghìn tỷ đồng tín phiếu thì các ngân hàng chỉ có mấy tuần để thu khối lượng tiền rất lớn này, trong khi lượng tiền mặt đang có trong hệ thống ngân hàng không còn nhiều. Hệ quả tức thời của việc này là các ngân hàng, do không huy động kịp vốn nên phải vay nóng trên thị trường liên ngân hàng để tránh mất thanh khoản, đẩy lãi suất VNIBOR lên rất cao. Điều này đã gây nhiều thiệt hại cho các ngân hàng vì vừa phải vay lãi suất cao để mua tín phiếu lãi suất thấp, vừa không đủ tiền để cho vay theo kế hoạch.
Không những thế, cú sốc này còn có phản ứng ngược rất tiêu cực với NHNN: để giữ cho hệ thống ngân hàng không lâm vào tình trạng mất thanh khoản, NHNN lại phải bơm tiền ra liên tục, ngược hẳn với ý định thu tiền về ban đầu. Chỉ trong một tuần, NHNN đã phải bơm 33 nghìn tỉ đồng vay ngắn hạn vào hệ thống liên ngân hàng, gấp 1,5 lần số lượng tiền định rút về qua tín phiếu bắt buộc.
Chừng nào mà các ngân hàng chưa thu đủ 20 nghìn tỉ đồng từ người dân để mua tín phiếu NHNN, thì tình trạng thiếu thanh khoản vẫn còn. Mỗi khi lượng tiền cho vay ngắn hạn của NHNN đáo hạn thì tình trạng thiếu thanh khoản sẽ lại diễn ra, và NHNN vẫn phải bơm tiền đều đặn vài ngày hay một tuần một lần để các NHTM đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Đồng thời, tình trạng khan hiếm tiền đồng và lãi suất tiền gửi VND liên ngân hàng tăng lên một cách chóng mặt đã đẩy các NHTM vào cuộc chạy đua lãi suất làm mặt bằng lãi suất huy động tăng dần lên từ 12% lên tới 18,6%/năm. Trong khi đó, NHNN đã hai lần tăng lãi suất cơ bản lên 12%/năm và 14%/năm, chỉ đạo các NHTM tuân thủ một cách nghiêm ngặt quy định không áp dụng lãi suất kinh doanh vượt quá 150% lãi suất cơ bản và không được thu phí đối với hoạt động cho vay.
NHNN với tư cách là cơ quan giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng lẽ ra phải sớm nhận ra khả năng xuất hiện chuỗi dây chuyền nói trên để có hành động can thiệp trước khi nó xảy ra. Nhưng có lẽ vì quá chú trọng vào mục tiêu giảm nhanh, giảm mạnh cơ số tiền và cung tiền để chống lạm phát nên NHNN đã chưa quan tâm đúng mức đến khả năng xuất hiện các tác động qua lại giữa các công cụ chính sách tiền tệ cả về mặt tâm lý lẫn mặt kỹ thuật trong bối cảnh đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam, từ đó đã để xảy ra những cú sốc lớn trong quá trình triển khai.
Biểu đồ 5: Biến động các mức lãi suất chủ yếu năm 2008
Diễn biến đầu năm 2009
Buớc sang năm 2009, để đối phó với khủng hoảng tài chính và nguy cơ về khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã ban hành hai gói kích cầu có tác động mạnh đến chính sách tín dụng của các NHTM. Gói kích cầu đầu tiên trị giá 1 tỷ USD, theo đó hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng cho các dự án phát triển ưu tiên (cơ sở hạ tầng: 50% giá trị gói kích cầu; nông nghiệp và nông thôn: 25%; phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp: 5%; doanh nghiệp vừa và nhỏ: 20%); mức hỗ trợ lãi suất là 4%. Sau đó áp dụng hỗ trợ với cả các doanh nghiệp Nhà nước. Còn gói kích cầu mở rộng có tác động đến chính sách cho vay của NHTM ở chỗ khoản vay của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh là 30.000 tỷ đồng; và hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng là 20 – 30.000 tỷ đồng lấy từ nguồn dự trữ Nhà nước. Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
NHNN cũng có một loạt điều chỉnh tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTM. Riêng về lãi suất, trước hết là điều hành sao cho đáp ứng được yêu cầu, chỉ đạo của Chính phủ nhưng phải phù hợp với lợi ích của cả khách hàng và ngân hàng. Do đó, từ 1/3/2009, NHNN vẫn quyết định mức lãi suất cơ bản bằng VND là 7%/năm, bằng với tháng 2/2009. NHNN cũng đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 9%/năm xuống còn 3,6%/năm đối với tiền gửi VND; lãi suất tín phiếu NHNN bắt buộc từ 13%/năm xuống còn 4,5%/năm; giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng từ 6% xuống 3%, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên từ 2% xuống 1%.
Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu NHNN vẫn tiếp tục giảm lãi suất cơ bản, thì các ngân hàng cũng sẽ hạ lãi suất huy động. Điều này gây tâm lý lo lắng cho một số ngân hàng vì hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi VND và USD không còn lớn nữa (khoảng 4-6%/năm) trong khi đó tỷ giá giữa VND và USD đang có xu hướng tăng. Cho nên nếu mức chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa VND và USD tiếp tục bị thu hẹp, cộng với sự biến động bất thường của giá USD trên thị trường, có thể khiến nhiều người gửi tiền chuyển từ VND sang USD gây áp lực tỷ giá và khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý cân đối vốn.
Những phân tích trên cho thấy, Việt Nam chưa có dấu hiệu rõ ràng và chưa xảy ra khủng hoảng tiền tệ lẫn khủng hoảng tài chính mà chỉ mới xuất hiện những khó khăn tạm thời trong thanh khoản của các NHTM mà chủ yếu vẫn là các ngân hàng nhỏ. Thị trường tiền tệ nóng lên chỉ trong thời gian ngắn do chênh lệch cung cầu chứ không phải do việc mất niềm tin dẫn đến giữ tiền mặt và không giao dịch khiến cho TTLNH đóng băng. Đối với thị trường bất động sản, ước tính dư nợ trong lĩnh vực này vào khoảng 150.000 tỷ đồng, vẫn trong mức kiểm soát được so với tổng dư nợ. Hơn nữa, các đối tượng tham gia trên thị trường bất động sản chủ yếu là các công ty bất động sản, các doanh nghiệp lớn và bộ phận dân chúng có thu nhập cao với tỷ lệ dân chúng tham gia vào thị trường này không rộng lớn như ở Mỹ, Anh. Thị trường bất động sản không rơi vào đổ vỡ và Việt Nam hoàn toàn không cho phép sử dụng tài sản thế chấp để phát hành các MBS. Do vậy, hiểm nguy mà Việt Nam phải đối mặt từ thị trường tín dụng trong nước và sự mất an toàn của hệ thống ngân hàng không giống như ở Mỹ và các nước phát triển khác, mặc dù trong thời gian tới, chắc chắn chúng ta vẫn tiếp tục chịu những ảnh hưởng không nhỏ từ cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2. Những hạn chế trong công tác quản lý rủi ro của các ngân hàng Việt Nam Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Đương nhiên ngành tài chính và ngân hàng Việt Nam không thể được an toàn trước những rủi ro toàn cầu. Trong khi phần lớn các ngân hàng không có nguy cơ hứng chịu rủi ro trực tiếp từ các khoản vay và vay cầm cố ở Mỹ thì Việt Nam hiện vẫn chịu những áp lực ngày càng tăng lên của tỷ giá hối đoái cũng như những chính sách thắt chặt chung đối với việc tiếp cận nguồn tín dụng trong khi nguồn vốn đầu tư FDI đang giảm nhẹ và nguồn tín dụng ngày càng khó vay. Cả hai yếu tố này đều rất quan trọng đối với hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp xuất khẩu vốn đang dựa nhiều vào ngành tài chính và ngân hàng trong nước.
Các ngân hàng trong nước chắc chắn đã bắt đầu nghĩ đến hoặc xem xét lại các tiêu chí cho vay của họ (chính sách xếp hạng tín dụng) cũng như khung cơ bản trích lập dự phòng (xếp hạng nợ xấu tiềm tàng). Tuy nhiên, quan niệm quản lý rủi ro này vẫn chỉ đang xuất hiện rất chậm chạp trong ngành tài chính và ngân hàng ở nước ta. Và trên thực tế thì vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong công tác quản lý rủi ro của các NHTM ở Việt Nam.
Quản lý rủi ro tín dụng
Chưa có nhiều ngân hàng xây dựng chiến lược tín dụng tổng thể và kế hoạch khả thi để thực hiện chiến lược này, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển nguồn lực và ưu tiên đầu tư chiều sâu để tạo vị thế cạnh tranh cho từng ngân hàng. Các ngân hàng chưa xác định được chính xác mức độ rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng do một số hạn chế như phân loại nợ theo tiêu chí định lượng là chủ yếu, dẫn tới tỷ lệ nợ xấu chưa phản ánh đúng chất lượng tín dụng thực tế; hệ thống thông tin quản trị còn yếu, chưa hỗ trợ việc phân tích chất lượng tín dụng; chưa lượng hoá được rủi ro tín dụng của các đối tác thanh toán; chưa đánh giá thường xuyên năng lực của cán bộ tín dụng và mức độ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Hệ thống xếp hạng tín dụng là cốt lõi của hệ thống quản lý rủi ro tín dụng, nhưng chưa có nhiều ngân hàng xây dựng được hệ thống này để hỗ trợ việc thẩm định, áp dụng chính sách khách hàng, giám sát khách hàng, phân loại nợ trên cơ sở kết hợp phân tích yếu tố định tính và định lượng theo thông lệ quốc tế. Chức năng kiểm tra tín dụng độc lập chưa được phát huy và sử dụng hiệu quả.
Quản lý rủi ro thanh khoản
Các chiến lược quản lý thanh khoản của hầu hết các ngân hàng đều rất bao quát. Các ngân hàng chưa có công cụ phù hợp để lượng hoá rủi ro, báo cáo phục vụ quản lý thanh khoản chủ yếu là ngắn hạn (thường dưới 2 tuần), thiếu các báo cáo phân tích dài hạn để phục vụ mục tiêu huy động và sử dụng nguồn vốn hiệu quả. Mặc dù cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro thanh khoản đã được xây dựng, nhưng việc vận hành nó chưa hiệu quả. Các công cụ như phân tích và quản trị độ lệch thời gian, tình huống, rủi ro tập trung, ảnh hưởng của các cam kết cho vay chưa giải ngân… chưa được áp dụng phổ biến và thiếu linh hoạt. Rất ít ngân hàng xây dựng kế hoạch (giả định) đối phó tình trạng khủng hoảng thanh khoản, nếu có xây dựng thì cũng chưa được luyện tập và cập nhật thường xuyên, liên tục. Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Quản lý rủi ro ngoại hối
Hầu hết các ngân hàng trong nước chưa xây dựng được chiến lược quản lý rủi ro ngoại hối. Trình độ và kinh nghiệm quản lý rủi ro ngoại hối còn hạn chế, hệ thống thông tin quản lý chưa hỗ trợ được việc lập báo cáo phục vụ quản lý rủi ro ngoại hối. Các bước kiểm soát và chính sách quản lý nội bộ còn khá sơ sài, chủ yếu là theo hướng tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Quản lý rủi ro lãi suất
Các ngân hàng chưa xây dựng được chính sách lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro và hoạt động của ngân hàng, chính sách lãi suất hiện nay của các ngân hàng rất dễ bị dẫn dắt bởi các yếu tố thị trường; chưa lượng hoá được rủi ro lãi suất cho cơ cấu tài sản nợ – có hiện tại của ngân hàng. Hệ thống thông tin quản lý chưa hỗ trợ được việc lập báo cáo phục vụ quản lý rủi ro lãi suất. Hầu hết các ngân hàng đều chưa có các công cụ nhằm phân tích độ nhạy của lãi suất để xác định ảnh hưởng của việc thay đổi lãi suất đối với kết quả hoạt động kinh doanh khi thị trường thay đổi.
Về tuân thủ một số quy định liên quan của Ngân hàng nhà nước
Về tuân thủ Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng: Chỉ có một số ít các ngân hàng triển khai áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và thực hiện phân loại nợ theo Điều 7
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. Hầu hết các ngân hàng phân loại nợ theo phương pháp định lượng nên không phản ánh rủi ro thực tế của danh mục tín dụng.
Về tuân thủ Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng: Việc xác định nhóm các khách hàng có liên quan hầu như chưa thể thực hiện và chưa có công cụ để thực hiện. Hầu hết các ngân hàng đều không phản ánh chính xác báo cáo phân tích thang đáo hạn trong 7 ngày làm việc tiếp theo; thường sử dụng số liệu chưa kiểm toán để báo cáo Ngân hàng Nhà nước và không báo cáo lại sau khi đã có số liệu kiểm toán. Một số ngân hàng còn sử dụng số liệu ước tính để tính toán tài sản có rủi ro thay vì số liệu thống kê thực tế.
Về tuân thủ Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/4/2007 ban hành chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng: hầu hết hệ thống thông tin hiện tại của các ngân hàng không hỗ trợ việc lập thuyết minh về rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản trong việc lập báo cáo tài chính của ngân hàng.
3. Thực trạng hoạt động giám sát tài chính ở Việt Nam Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Những nguyên nhân căn bản của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã dần lộ rõ, trong đó nổi lên một số vấn đề hệ trọng về mặt quản lý, điều hành các định chế tài chính, công cụ tài chính. Cụ thể như mở rộng lĩnh vực hoạt động của các định chế tài chính một cách thái quá; thiếu kiểm soát sự hình thành và phát triển của các công cụ tài chính (điển hình là công cụ bảo hiểm, chứng khoán hóa các khoản nợ dưới chuẩn); bật đèn xanh cho các hoạt động đầu cơ thuần túy, duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ thị trường chứng khoán, dung túng cho các hoạt động bảo hiểm niềm tin… Câu hỏi đặt ra là: vậy hệ thống tài chính của Việt Nam đang được giám sát như thế nào?
Hiện nay, thị trường tài chính Việt Nam đã đầy đủ cả ba bộ phận là thị trường tín dụng – ngân hàng, thị trường bảo hiểm và thị trường chứng khoán. Vì vậy, giám sát thị trường tài chính Việt Nam bao hàm hoạt động giám sát của cả 3 thị trường này. Giám sát ngân hàng được thực hiện trong quá trình hình thành và vận động các nguồn tín dụng, trong quá trình đầu tư xây dựng, kiểm tra việc tuân thủ các kỷ luật tài chính của các định chế ngân hàng. Điểm nhạy cảm nhất của hệ thống ngân hàng là rủi ro hệ thống, một ngân hàng lâm vào tình trạng nguy hiểm có thể làm rối loạn, kéo theo sự sụp đổ của các ngân hàng khác cũng như toàn bộ hệ thống. Vì vậy việc quản lý, giám sát hệ thống tài chính – ngân hàng cần nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan quản lý nhà nước.
Giám sát thị trường tài chính ở Việt Nam được thực hiện theo mô hình phân tán: các tổ chức tín dụng do NHNN, Bộ Tài chính và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) có trách nhiệm thanh tra, giám sát; lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán chịu sự kiểm tra, giám sát của Bộ Tài chính. Ngoài ra, các doanh nhiệp nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm, các công ty chứng khoán trực thuộc NHTM nhà nước thì chịu sự giám sát của cơ quan Kiểm toán Nhà nước. Tại Bộ Tài chính và NHNN, công tác giám sát được thực hiện bởi nhiều vụ, cục. Điều này đồng nghĩa với việc mô hình tổ chức, cơ chế giám sát của Việt Nam là phân tán nhưng rất chồng chéo, làm giảm hiệu quả công tác giám sát, gây khó khăn cho các định chế tài chính. Mặt khác, cơ chế giám sát vẫn còn nhiều bất cập: phương pháp giám sát hiện đại về hình thức song nội dung giám sát bị hạn chế do các chỉ tiêu giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu của chuẩn mực quốc tế; đội ngũ cán bộ mỏng và khả năng phân tích, đánh giá cũng như dự báo còn nhiều hạn chế; giám sát từ xa chưa gắn chặt với phân tích, xử lý thông tin; công khai tài chính còn xa với chuẩn mực quốc tế; hệ thống thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu giám sát; kiểm toán nội bộ chưa phát huy được vai trò, trong nhiều trường hợp chỉ là hình thức để hợp lý hóa; việc giám sát các lĩnh vực mới (rửa tiền, thanh toán điện tử…) chưa được thực hiện; sự phối hợp đồng bộ giữa ba bộ phận giám sát (từ xa, tại chỗ và xử phạt) chưa đạt được sự đồng bộ, đặc biệt là chưa đảm bảo được sự độc lập của cơ quan giám sát. Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Ngoài ra, tháng 3-2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia (NFSC) với nhiều chức năng và nhiệm vụ quan trọng như: điều phối hoạt động giám sát thị trường tài chính quốc gia, kiến nghị cơ chế giám sát, giám sát chuyên ngành; giám sát chung thị trường tài chính, giám sát điều kiện được cấp phép; phân tích, dự báo, cảnh báo mức độ an toàn hệ thống và nguy cơ rủi ro đối với thị trường tài chính quốc gia… Với chừng đó chức năng, nhiệm vụ, NFSC đã được giao trọng trách vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ, định hướng hoạt động và chuẩn hóa các quy tắc, các công cụ giám sát tài chính cho các cơ quan giám sát chuyên ngành. Tuy nhiên, đến thời điểm này, hoạt động của cơ quan này vẫn chưa thực sự khởi sắc, ngoài việc tổ chức một số hội thảo và đối thoại giữa chính phủ, các cơ quan chức năng và các trí thức, học giả.
4. Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong hệ thống giám sát tài chính
Xuất phát từ mục tiêu hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và góp phần đảm bảo an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng, hoạt động giám sát của DIV hiện nay được thực hiện thông qua hai hình thức là giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Giám sát từ xa là thông qua các báo cáo của các tổ chức tham gia BHTG nộp, các nguồn thông tin mà DIV có được từ NHNN và các cơ quan giám sát khác để phân tích, đánh giá việc tuân thủ các quy định về BHTG, về an toàn hoạt động ngân hàng, từ đó đưa ra các kiến nghị yêu cầu tổ chức tham gia BHTG chỉnh sửa cũng như cảnh báo về rủi ro để tổ chức tham gia BHTG phòng ngừa. Kiểm tra tại chỗ luôn phải căn cứ vào kết quả của hoạt động giám sát nhằm xác định mức độ vi phạm để yêu cầu tổ chức tham gia BHTG chỉnh sửa. Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến hết năm 2008, DIV đã thực hiện giám sát từ xa 100% tổ chức tham gia BHTG bao gồm 76 NHTM, 10 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 1007 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và quỹ tín dụng nhân dân trung ương. Cùng với hoạt động giám sát từ xa, DIV cũng đã thực hiện nhiều cuộc kiểm tra tại chỗ, trong đó tập trung chủ yếu vào kiểm tra các tổ chức tham gia BHTG là quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, các NHTM nhà nước còn các NHTM cổ phần thì mới chỉ kiểm tra việc chấp hành quy định về BHTG. Qua hoạt động giám sát từ xa và điều tra tại chỗ, DIV không chỉ đưa ra các kiến nghị và cảnh báo giúp tổ chức tham gia BHTG chỉnh sửa và phòng ngừa mà còn tư vấn để các tổ chức được BHTG hoạt động hiệu quả hơn. Những kết quả giám sát mà DIV đạt được trong thời gian qua có thể khái quát trên một số mặt sau đây:
- Hoạt động giám sát ngày càng được nâng cao về chất lượng bằng việc áp dụng các chỉ tiêu giám sát theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế về phân tích rủi ro. Báo cáo giám sát của DIV đã thực sự giúp cho các cơ quan hữu quan trong việc quản lý rủi ro đối với hoạt động của hệ thống tài chính – ngân hàng.
- DIV đã xây dựng được quy trình giám sát từ xa và hệ thống thông tin khách hàng phục vụ cho hoạt động giám sát. Đến nay, DIV đã triển khai việc tuyên truyền chỉ tiêu báo cáo điện tử và quy trình thu nhận thông tin báo cáo nội bộ theo quy định về thông tin báo cáo giữa các tổ chức tham gia BHTG và DIV, qua đó đã xây dựng được hệ thống thông tin khách hàng một cách chủ động, đảm bảo nguyên tắc bảo mật thông tin, thuận lợi cho khách hàng. Ngoài các thông tin, báo cáo nhận từ tổ chức tham gia BHTG và tiếp nhận từ NHNN, Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC), DIV còn thu thập thông tin khách hàng từ các tổ chức định mức tín nhiệm và các nguồn thông tin khác làm cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro khách hàng để có báo cáo giám sát được đầy đủ và toàn diện.
- Phương pháp giám sát đã được cải tiến trên cơ sở nghiên cứu các phương pháp giám sát theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện thực hiện ở Việt Nam. Hiện DIV đang tiến tới thực hiện giám sát rủi ro là chủ yếu để đưa ra các cảnh báo sớm giúp các tổ chức tham gia BHTG có biện pháp phòng ngừa một cách hiệu quả. Đối với hoạt động kiểm tra tại chỗ, DIV không thực hiện kiểm tra dàn trải mà tập trung kiểm tra các đơn vị yếu kém theo kết quả của hoạt động giám sát từ xa, điều này vừa tiết kiệm chi phí mà không bị chồng chéo với hoạt động thanh tra của NHNN.
- Đội ngũ cán bộ giám sát đã ngày càng trưởng thành hơn về khả năng phân tích, đánh giá hoạt động ngân hàng, không chỉ đưa ra những kiến nghị, cảnh báo xác đáng về vi phạm của tổ chức tham gia BHTG mà còn dự báo được xu hướng biến động của các tổ chức này. Qua đó đã góp phần nâng cao vị thế và vai trò của DIV đối với các Bộ, ngành và tổ chức tham gia BHTG.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Hệ thống tài chính – ngân hàng ở Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển theo hướng mở cửa và hội nhập với thị trường trên thế giới. Mặc dù trong giai đoạn vừa qua, các ngân hàng Việt Nam đã không phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng song bài học từ sự sụp đổ của Northern Rock cũng như các ngân hàng lớn ở Mỹ vẫn có ý nghĩa hết sức to lớn. Vì vậy, trên cơ sở những bài học kinh nghiệm đã phân tích ở trên kết hợp với việc vận dụng tình hình thực tế ở Việt Nam, khóa luận sẽ đề cập sau đây một vài kiến nghị đối với các ngân hàng Việt Nam cũng như các cơ quan quản lý nhà nước:
1. Nâng cao công tác quản lý rủi ro tại các ngân hàng
1.1. Về phía các ngân hàng thương mại
Để hạn chế những tác động tiêu cực từ những biến động của hệ thống tài chính ngân hàng trên thế giới tới trong nước thì hệ thống tài chính ngân hàng của nước ta phải đủ mạnh. Thế nhưng thực tế, hệ thống ngân hàng thương mại trong nước vẫn chưa phản ứng kịp với những tác động trái chiều mà hội nhập nền kinh tế mang lại. Biểu hiện là chỉ với một số quyết định của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian vừa qua trong việc kiềm chế lạm phát đã khiến nhiều ngân hàng gặp khó khăn: thiếu tiền đồng và nổ ra cuộc chạy đua tăng lãi suất bất thường để huy động vốn. Nếu như các ngân hàng có sẵn các phương án đối phó với từng tình huống, trong đó có việc NHNN thắt chặt tín dụng để kiềm chế lạm phát thì tình trạng vừa nêu đã không diễn ra một cách thái quá, khiến Ngân hàng Nhà nước phải khống chế mức lãi suất trần. Do đó, vấn đề cần được các ngân hàng ưu tiên hiện nay là đẩy nhanh quá trình áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về nghiệp vụ tài chính ngân hàng trong công tác quản lý rủi ro; nâng cao hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Thực hiện đúng hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn an toàn vốn gọi tắt là Basel II, trong đó đưa ra được quy trình đánh giá mức vốn an toàn tương ứng với cơ cấu rủi ro của ngân hàng và một chiến lược để duy trì mức vốn của mỗi ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Các tổ chức tài chính, ngân hàng cần linh hoạt hơn nữa các chiến lược phát triển kinh doanh trong bối cảnh nền kinh tế thế giới biến đổi ngày càng nhanh với chu kỳ kinh doanh ngày càng ngắn lại như hiện nay. Và để đảm bảo được sự an toàn trong kinh doanh, mỗi tổ chức cần có kế hoạch cụ thể về quản lý rủi ro ngay từ thời điểm lên kế hoạch kinh doanh, định hướng chiến lược. Chỉ có những cơ chế phòng ngừa từ xa thì mới có thể ngăn chặn hiệu quả những rủi ro có thể xảy ra.
Mô hình quản lý rủi ro hiện đại cần phải dựa trên ba hàng phòng thủ: những nhân viên từ các cơ sở của ngân hàng như “một nền tảng”, bộ phận quản lý rủi ro và cuối cùng là bộ phận kiểm soát nội bộ. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng cần đẩy mạnh phát triển bộ phận quản lý rủi ro, thay vì để xảy ra thua lỗ mới bàn tính những biện pháp chống đỡ. Bộ phận này phải hoạt động độc lập và song hành với quá trình kinh doanh của mỗi tổ chức, có trách nhiệm theo dõi, giám sát, và thường xuyên kiểm tra các hồ sơ tín dụng, từ đó xếp thành nhóm khách hàng có nguy cơ rủi ro cao và đưa ra các biện pháp loại bỏ dần những khách hàng này.
Để có một bộ phận quản lý rủi ro đủ mạnh, điều quan trọng nhất là ban lãnh đạo cấp cao của ngân hàng phải giúp những thành viên trong bộ phận này hiểu rõ họ đang làm công việc gì, với mục đích gì. Từ đó họ sẽ có những hành động, quyết định đúng đắn thông qua các công cụ phân tích cụ thể. Công cụ ở đây là những dữ liệu mà mỗi đơn vị tích tụ trong quá trình kinh doanh nhiều năm, từ đó rà soát xem đâu là những chỗ dễ xảy ra lỗ hổng, và cần có những biện pháp gì để lấp lỗ hổng tiềm tàng đó. Nếu chúng ta không biết đang đứng ở đâu thì sẽ khó có thể làm được gì.
Các ngân hàng cũng cần tập trung vào việc đưa ra các đánh giá định tính hơn là phương pháp định lượng khi đánh giá các rủi ro gắn liền với từng quyết định kinh doanh chiến lược quan trọng. Bởi ngày nay các sản phẩm của ngành ngân hàng trở nên quá phức tạp đến nỗi tự thân các phương pháp định lượng không đủ để xử lý đúng đắn một đánh giá rủi ro trong khi thị trường ngày càng trở nên bất ổn và khó đoán trước.
1.2. Về phía NHNN Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Việc triển khai quản lý rủi ro là trách nhiệm của ban quản lý các ngân hàng chứ không thuộc về NHNN hay các nhà quản lý nhà nước, song NHNN cũng cần phải nhìn lại vấn đề này. NHNN nên chú trọng vào việc làm rõ các chính sách và quy định về xếp hạng tín dụng, trích lập dự phòng có chất lượng và báo cáo về nợ xấu để cải thiện khả năng quản lý rủi ro của các NHTM.
Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần có một quy định chung về quản trị ngân hàng cho hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam, trong đó bổ sung thêm uỷ ban đề cử, uỷ ban lương thưởng trong cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng; quy định bắt buộc về sự tham gia và mức độ tham gia của các thành viên độc lập, không có quan hệ kinh tế với ngân hàng trong các uỷ ban thuộc Hội đồng quản trị; nâng cao vai trò và trách nhiệm của Hội đồng quản trị, Ban điều hành tổ chức tín dụng đối với Ngân hàng Nhà nước trong trường hợp tổ chức tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Thứ hai, cần phải có lộ trình để trong thời gian tới, tất cả các NHTM Việt Nam phải áp dụng phân loại nợ theo Điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. Khuyến khích các ngân hàng áp dụng tính dự phòng rủi ro theo phương pháp chiết khấu dòng tiền cho mục đích quản trị nội bộ và theo dõi song song với phương pháp tính tỷ lệ cố định như hiện nay; về lâu dài, nên áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền theo thông lệ quốc tế.
Thứ ba, về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng: cần phải có quy định áp dụng riêng cho hoạt động hợp nhất (ngân hàng và toàn bộ các pháp nhân trực thuộc) và hoạt động của riêng ngân hàng. Xem xét lại tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn vì tỷ lệ này không phát huy tác dụng trong thời gian qua; cách xác định tỷ lệ này cũng chưa phù hợp (việc xác định cho vay trung và dài hạn dựa vào thời gian gốc ban đầu của khoản cho vay, trong khi thời gian vay của nhiều khoản vay trung, dài hạn chỉ còn lại dưới 12 tháng); để duy trì tỷ lệ này, nhiều ngân hàng đã phải cơ cấu lại tài sản và công nợ của mình bằng cách vay dài hạn từ tổ chức tín dụng nước ngoài và gửi lại chính tổ chức tín dụng đó dưới hình thức tiền gửi ngắn hạn. Nên bổ sung thêm tỷ lệ tài sản thanh toán tối thiểu trên tổng tài sản và áp dụng linh hoạt theo điều kiện thị trường; bổ sung vào giới hạn góp vốn mua cổ phần tỷ lệ biểu quyết của tổ chức tín dụng trong tổ chức kinh tế khác và khống chế mức góp vốn tối đa của tổ chức tín dụng vào một tổ chức kinh tế.
2. Xây dựng hệ thống giám sát tài chính quốc gia hiệu quả
Việc thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường tài chính và dịch vụ ngân hàng làm cho môi trường cạnh tranh trên thị trường tài chính nước ta ngày càng trở nên gay gắt, rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG vì thế cũng tăng lên. Trong bối cảnh đó, cũng như kinh nghiệm từ những vụ sụp đổ của các ngân hàng lớn trên thế giới thời gian qua cho thấy cơ quan giám sát đóng một vai trò rất quan trọng để thị trường tài chính hoạt động ổn định và phát triển bền vững, bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền và nhà đầu tư. Để cải thiện hệ thống giám sát ở Việt Nam thì cần phải làm được những điều sau đây: Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Thứ nhất, cần tăng cường năng lực của NFSC, Chính phủ cần cung cấp đủ nguồn lực để cho cơ quan này có thể hoàn thành trách nhiệm của mình. Trước hết, với nhiệm vụ được giao, NFSC có thể khẩn trương triển khai một số công việc cụ thể: (i) rà soát hệ thống tài chính, đưa ra khuyến nghị chính sách về việc thành lập thêm các định chế tài chính mới, đặc biệt là ngân hàng và công ty chứng khoán; (ii) kiểm tra, phân tích và đánh giá các sản phẩm dịch vụ đang được cung cấp hiện nay để nhận diện rủi ro, đặc biệt là việc triển khai cung ứng các công cụ tài chính của các định chế tài chính (như repo, tiết kiệm linh hoạt, tiết kiệm bảo đảm…); (iii) xem xét và đánh giá khách quan về việc thực hiện phân loại nợ và trích lập đủ dự phòng đối với các tổ chức tín dụng (hoạt động chiếm tới trên 50% tổng tài sản và hàm chứa rất nhiều rủi ro); (iv) kiểm tra khoản mục đầu tư giấy tờ có giá, chú trọng phân tích giao dịch giữa ngân hàng và công ty chứng khoán, đặc biệt là công ty chứng khoán có vốn của ngân hàng và ngược lại. Trên cơ sở một số nhiệm vụ cụ thể này, NFSC sẽ dần trưởng thành và hoàn thiện vai trò, vị trí và chức năng cũng như hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu, phương pháp giám sát của mình. Có như vậy NFSC mới có thể phát huy được vai trò của cơ quan giám sát tài chính quốc gia, tiến tới thực hiện chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong điều phối hoạt động giám sát thị trường tài chính quốc gia, giúp Thủ tướng Chính phủ giám sát chung thị trường này như ý tưởng khi quyết định thành lập.
Thứ hai, xây dựng Luật Giám sát, Luật BHTG đồng bộ với Luật NHNN, Luật các TCTD, Luật kinh doanh chứng khoán, Luật kinh doanh bảo hiểm để hoạt động giám sát được thực thi theo luật; đồng thời để giám sát hiệu quả hoạt động của các định chế tài chính thì DIV cần có vai trò độc lập với các cơ quan quản lý Nhà nước.
Thứ ba, xây dựng hệ thống tiêu chí giám sát đảm bảo cho hoạt động giám sát tài chính, ngân hàng có hiệu quả và thống nhất; xây dựng hệ thống cảnh báo và hệ thống thông tin quản lý để kịp thời chấn chỉnh hoạt động của các định chế tài chính.
Thứ tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo đủ mạnh để hỗ trợ toàn diện hoạt động giám sát, đặc biệt là phần mềm giám sát phân tích số liệu, đánh giá hoạt động của các định chế tài chính phục vụ cho việc cảnh báo sớm của các cơ quan giám sát; xây dựng kho dữ liệu để các cơ quan giám sát khai thác chung nhằm đảm bảo thống nhất và không gây phiền hà cho các cơ quan chịu sự giám sát.
Thứ năm, tăng cường cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan giám sát về phân công nhiệm vụ giám sát theo từng lĩnh vực, chuyên ngành; việc trao đổi, cung cấp thông tin, sử dụng kết quả của các cơ quan giám sát; công tác đào tạo cán bộ nghiệp vụ… nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót trong việc giám sát hoạt động tài chính – ngân hàng.
3. Nâng cao vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Tổ chức BHTG có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính ngân hàng, tạo niềm tin cho công chúng và xử lý đổ vỡ. Tuy nhiên, trên thực tế thì vị trí và vai trò của DIV trong cơ cấu giám sát tài chính quốc gia chưa thật rõ ràng. Vì vậy, theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Việt Nam cần phải xác định đúng đắn hơn nữa vai trò của tổ chức này.
3.1. Mô hình tổ chức của DIV
Việt Nam, theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 9/11/1999 về thành lập DIV, Quyết định số 88/2001/QĐ-TTg ngày 05/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, viên chức DIV thì DIV là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, là tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Chính phủ. Tổ chức này hiện đang hoạt động theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng và đã thu được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, do quy định không rõ ràng và thiếu khung pháp lý nên hoạt động của DIV còn nhiều bất cập. Do đó để hoạt động hiệu quả thì DIV cần được xây dựng theo mô hình Tổng công ty trực thuộc Chính phủ, thiết kế theo mô hình giảm thiểu rủi ro có đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng. Mô hình giảm thiểu rủi ro sẽ là mô hình tối ưu đối với các quốc gia có tổ chức BHTG, bởi mô hình này hoạt động trên nguyên tắc: chi phí thấp nhất; chia sẻ thiệt hại công bằng; thực hiện tốt các mục tiêu chính sách công của BHTG, như: bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền; giám sát rủi ro góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính- ngân hàng và đặc biệt là tổ chức BHTG chủ động trong việc tham gia tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
3.2. Hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm là một nội dung rất quan trọng, được người gửi tiền quan tâm. Mức chi trả tối đa cao hay thấp sẽ có tác động đến tâm lý của người gửi. Với người gửi tiền, ngoài việc quan tâm đến lãi suất cao hay thấp, thì vấn đề quan trọng là phải bảo đảm an toàn tiền gửi của họ. Hiện nay, Nghị định 109/2005/NĐ-CP quy định hạn mức chi trả tối đa tiền gửi được bảo hiểm là 50 triệu đồng, sau một thời gian thực hiện, mức quy định này đang trở nên bất cập, thấp so với sự tăng lên về quy mô tiền gửi, đặc biệt là khối lượng vốn huy động của các TCTD đã tăng lên rất lớn, mỗi năm tăng bình quân 35%, hơn nữa, nền kinh tế thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang lạm phát ở mức cao, do đó với mức chi trả tối đa tiền gửi được bảo hiểm như hiện nay chưa thực sự khuyến khích người gửi tiền. Vì vậy, cần nâng hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm tối đa cho người gửi tiền (cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp) tại một tổ chức tham gia BHTG cao hơn mức đang áp dụng, phải phù hợp với từng thời kỳ và nên giao cho Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của DIV và ý kiến của Ngân hàng nhà nước (NHNN) để hạn chế việc điều chỉnh Luật.
3.3. Hỗ trợ tài chính trong trường hợp khẩn cấp
Hỗ trợ tài chính của DIV đối với các tổ chức tham gia BHTG là cần thiết, nhưng không phải trong mọi trường hợp mà phải là trong trường hợp thiếu khả năng chi trả khẩn cấp do xảy ra các sự cố bất thường dẫn đến người gửi tiền đến rút tiền ồ ạt nhằm ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ ngân hàng như: sự cố Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng nông thôn Ninh Bình, Ngân hàng Phương Nam trước đây. Do Nghị định 89 và Nghị định 109 chưa quy định nhiệm vụ cho DIV thực hiện việc hỗ trợ tài chính trong trường hợp khẩn cấp nên các sự cố xảy ra tại các ngân hàng này thời gian vừa qua đều do NHNN trực tiếp xử lý. DIV không phải là NHTW nên không thể thực hiện cho vay tái cấp vốn đối với các ngân hàng trong điều kiện bình thường như Nghị định 89 đã quy định. Nội dung hỗ trợ tài chính trong trường hợp khẩn cấp cần được quy định tại Luật BHTG và giao cho DIV thực hiện để phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ mà Luật NHNN đã quy định.
Nội dung của hỗ trợ tài chính khẩn cấp cần phải bao gồm: đối tượng được hỗ trợ là các tổ chức tham gia BHTG trong trường hợp xảy ra thiếu khả năng chi trả khẩn cấp. Hình thức hỗ trợ: DIV cho vay có cầm cố, thế chấp; mua lại các giấy tờ có giá, bảo lãnh để vay ngân hàng khác; lãi suất cho vay; thời hạn cho vay (ngắn hạn); phí bảo lãnh; tổ chức tham gia BHTG trả nợ ngay sau khi đã phục hồi khả năng chi trả. Để hỗ trợ tài chính trong trường hợp khẩn cấp, cần phải thiết lập kênh thông tin nóng giữa tổ chức tham gia BHTG với DIV, giữa DIV với NHNN để xử lý trong trường hợp khẩn cấp.
3.4. Tiếp nhận, xử lý các tổ chức tham gia BHTG phá sản, giải thể Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
Vấn đề xử lý ngân hàng đổ vỡ là một nội dung rất quan trọng. Tuy nhiên, hiện tại ở nước ta chưa có văn bản pháp luật nào quy định về xử lý ngân hàng đổ vỡ do phá sản hoặc giải thể theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Luật phá sản quy định trình tự, thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, nhưng đối với trình tự, thủ tục phá sản, giải thể, thanh lý các ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc thù thì phải có quy định riêng, không thể áp dụng như đối với các loại hình doanh nghiệp khác được. Thực tế nước ta, những năm qua đã xảy ra việc giải thể, thanh lý một số NHTM cổ phần, Quỹ tín dụng cơ sở, tuy đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng khi thực hiện còn lúng túng, chưa bài bản, qua nhiều năm vẫn chưa làm thủ tục thanh lý được hết các tổ chức đã giải thể. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là chưa có quy định về trình tự thủ tục phá sản, giải thể, thanh lý các TCTD và cũng chưa có một tổ chức chuyên trách về vấn đề này.
Xuất phát từ thực trạng trên, chính phủ cần giao vấn đề tiếp nhận và xử lý ngân hàng phá sản, giải thể và thanh lý ngân hàng phá sản, giải thể cho DIV thực hiện, thay vì Ngân hàng Nhà nước hiện nay vẫn làm. Như vậy sẽ tạo ra khung pháp lý để quản lý hoạt động ngân hàng đảm bảo được an toàn, chủ động và đúng pháp luật.
Nhìn chung, để phòng ngừa và đối phó với các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, đảm bảo cho hệ thống tài chính – ngân hàng phát triển một cách lành mạnh, chúng ta cần lường trước mọi tình huống xấu có thể xảy ra. Cần có những kịch bản đánh giá hết rủi ro có thể xảy ra. Tuy nhiên dù có dự liệu được tình hình và đề ra một giỏ các quy tắc để quản lý rủi ro thì cũng không nên thỏa mãn. Bởi đề ra quy tắc là một chuyện nhưng vấn đề thực hiện thế nào mới là yếu tố quan trọng. Điều này còn phụ thuộc vào từng ngân hàng, từng đất nước và từng khu vực khác nhau.
KẾT LUẬN
Dư chấn cuộc khủng hoảng của Northern Rock chưa kịp lắng xuống thì thế giới lại phải chao đảo trước sự sụp đổ của một loạt các định chế tài chính lớn dưới sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính. Đây thật sự là cuộc khủng hoảng có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất kể từ cuộc đại suy thoái 1929-1930. Mặc dù hệ thống tài chính chưa hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế nhưng Việt Nam cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng nhất định. Nhưng ở một góc nhìn khác, cuộc khủng hoảng lại có ý nghĩa tích cực với Việt Nam khi cần nhìn lại mình để rút ra những bài học bổ ích về ổn định và phát triển lành mạnh hệ thống tài chính – ngân hàng. Sau khi nghiên cứu sự sụp đổ của ngân hàng Northern Rock cũng như một số các ngân hàng lớn ở Mỹ, có thể rút ra một số bài học đối với Việt Nam như sau:
Thứ nhất, đó là bài học về nâng cao vai trò của quản lý rủi ro tại các ngân hàng. Theo đuổi những tốc độ tăng trưởng kỷ lục, những khoản lợi nhuận lớn cũng đồng nghĩa với việc các ngân hàng ồ ạt đầu tư vào những sản phẩm tiềm ẩn rủi ro lớn. Nhưng việc chạy theo lợi nhuận này sẽ không phải là nguyên nhân gây đổ vỡ nếu các ngân hàng có một khung quản lý rủi ro vững chắc. Để đối phó với cuộc khủng hoảng, đã đến lúc các ngân hàng cần phải tiến hành một cuộc cải tổ cho toàn bộ hệ thống quản lý rủi ro chứ không chỉ tập trung vào những vấn đề đơn lẻ.
Thứ hai là việc xây dựng một hệ thống giám sát tài chính hiệu quả. Chính sự yếu kém của các cơ quan giám sát đã khiến cho các ngân hàng có thể tự do hạ thấp các chuẩn mực cho vay, chứng khoán hóa các tài sản thế chấp một cách tràn lan và cuối cùng là chịu cảnh thua lỗ nặng nề khi thị trường đi xuống. Vì vậy, một cơ chế giám sát thị trường tài chính thận trọng và hiệu quả sẽ có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định của hệ thống.
Thứ ba là bài học về nâng cao vai trò của tổ chức BHTG. Bởi nhiều khi sự đổ vỡ của ngân hàng lại bắt nguồn từ tâm lý hoảng loạn thái quá của dân chúng. Để xây dựng và củng cố được niềm tin cho công chúng thì cần phải sử dụng tốt một công cụ kiểm soát là bảo hiểm tiền gửi. Tổ chức BHTG cần phát huy tốt vai trò của mình để tạo được niềm tin cho công chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng và tham gia ngăn chặn, xử lý những rủi ro nhằm hạn chế những đổ vỡ mang tính dây chuyền. Khóa luận: Giải pháp bài học cho sự sụp đổ NH Northern Rock
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Bài học sự sụp đổ của ngân hàng Northern Rock

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng sự sụp đổ của ngân hàng Northern Rock