Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành một thành tố quan trọng trong bức tranh kinh tế chung của cả nước. Sự phát triển của du lịch không chỉ góp phần cải thiện tình hình kinh tế – xã hội, nâng cao thu nhập, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động mà còn thúc đẩy các ngành khác phát triển, tạo thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành du lịch càng được Đảng và Nhà nước chú trọng phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, mở rộng quy mô hoạt động theo chủ trương đã nêu ra từ đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX là “phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” [13]. Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Tuy đạt được những thành tựu đáng khích lệ về tốc độ tăng trưởng du lịch trong một thời gian ngắn (chủ yếu từ năm 2005 trở lại đây) nhưng hội nhập quốc tế bên cạnh việc mở ra những cơ hội phát triển mới cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức với ngành du lịch Việt Nam. Bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay đã ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế nước ta nói chung và ngành du lịch nói riêng. Ngành công nghiệp không khói đóng góp vào GDP hơn 70 nghìn tỷ đồng và tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động này có dấu hiệu chững lại. Để vực lại tốc độ tăng trưởng nhanh và tiếp tục phát triển bền vững, cạnh tranh được với những ngành du lịch phát triển trong khu vực và trên thế giới, vấn đề đặt ra đối với ngành du lịch Việt Nam là phải xác lập được cho mình chiến lược thu hút khách du lịch một cách hiệu quả. Chỉ bằng cách đó, ngành du lịch Việt Nam mới có thể phát triển trong dài hạn và bắt kịp tốc độ phát triển của các quốc gia có ngành du lịch tiến bộ hơn trong khu vực, từng bước đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước.

Ngành du lịch Việt Nam tuy đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ nhưng phát triển vẫn chưa tương xứng với tài nguyên sẵn có. Tại sao khách du lịch chưa thấy Việt Nam thực sự là một điểm đến hấp dẫn? Do cơ sở hạ tầng, nhân lực ngành còn hạn chế hay do sản phẩm du lịch chưa phong phú, độc đáo…? Và đâu là hướng đi đúng đắn cho ngành trước tình hình kinh tế hiện nay. Những câu hỏi cấp thiết này chính là nguyên nhân để em chọn đề tài “Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

  • Tìm hiểu cơ sở lý luận về chiến lược thu hút khách du lịch.
  • Phân tích và đánh giá thực trạng các chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam giúp ngành du lịch phát triển bền vững trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam trong đó tập trung vào các thành phần của chiến lược Marketing-mix dịch vụ du lịch của ngành du lịch.

Thời gian: Nghiên cứu sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

Khóa luận sử dụng phương pháp quan sát thực tế, phân tích thống kê, tổng hợp so sánh để đưa ra các đánh giá, nhận định.

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về chiến lược thu hút khách du lịch trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu

Chương 2: Phân tích chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu

Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU

1. Khái quát chung về chiến lược thu hút khách du lịch trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

1.1 Chiến lược thu hút khách du lịch

Chiến lược trong kinh doanh đã trở thành một yếu tố chủ chốt đóng góp vào sự thành công của các doanh nghiệp, các ngành kinh tế. Khái niệm chiến lược được định nghĩa như sau.

Theo tập đoàn tư vấn Boston: “Chiến lược kinh doanh là những xác định sự phân bổ nguồn lực sẵn có với mục đích làm thay đổi thế cân bằng cạnh tranh & chuyển lợi thế về phía mình” [9].

Còn theo Michael Porter – giáo sư chiến lược hàng đầu của Havard thì: “Chiến lược kinh doanh để đương đầu với cạnh tranh là sự kết hợp giữa những mục tiêu cần đạt tới và những phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để đạt tới mục tiêu” [9].

Có thể chia chiến lược theo các cấp độ:

  • Tầm nhìn chiến lược (Vision)
  • Sứ mệnh chiến lược (Mission)
  • Mục tiêu chiến lược (Objective/Goal) Chia chiến lược theo thời gian:
  • Chiến lược ngắn hạn (2-3 năm thường là chiến lược chức năng)
  • Chiến lược trung hạn (5-10 năm, là các chiến lược khá quan trọng bao gồm nhiều hoạt động, dự án)
  • Chiến lược dài hạn (từ 10 năm trở đi, chiến lược trở thành một định hướng, dự báo cho doanh nghiệp trong tương lai)
  • Chiến lược bộ phận (chiến lược cho bộ phận của ngành)
  • Chiến lược tổng thể (chiến lược cho toàn ngành)

Tới thập kỷ 60 của thế kỷ 20, thuật ngữ chiến lược được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh nói chung và Marketing nói riêng. Chiến lược thu hút khách du lịch cũng nằm trong số đó.

Như vậy, chiến lược thu hút khách du lịch là một chiến lược tổng thể cho toàn ngành và các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong ngành. Trong khuôn khổ bài khóa luận này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chiến lược thu hút du khách thông qua các chiến lược marketing – mix du lịch áp dụng cho ngành.

2. Bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

2.1. Nguyên nhân

Có thể nói, bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do các nguyên nhân cơ bản:

Một là, sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, của các khoản cho vay thế chấp nhà đất hay còn gọi là tín dụng dưới chuẩn.

Quá trình sụp đổ (từ 2021) diễn ra nhanh hơn quá trình hưng thịnh (2015 – 2006). Cho đến tháng 8/2008, chỉ số giá nhà ở Mỹ đã xuống gần mức âm 20% và vẫn còn xuống thấp. Trong khi đó, các ngân hàng lại cho vay mua nhà hết sức dễ dãi cùng sự đánh giá tín nhiệm thiếu trách nhiệm của nhiều tổ chức đánh giá khiến người vay không trả được lãi và môt phần gốc đến hạn, dẫn đến đổ vỡ.

Hai là, sự đổ vỡ của hệ thống tín dụng.

Tại đỉnh điểm, tổng dư nợ thế chấp nhà đất ở Mỹ vào khoảng 11 nghìn tỷ USD còn tổng mức dư nợ tín dụng là gần 3,5 lần GDP tức khoảng 48 nghìn tỷ USD. Nợ thế chấp chỉ chiếm khoảng 23% tổng dư nợ nhưng đã tăng gấp đôi từ năm 2001 đến năm 2021.

Ba là, khuyết tật của hệ thống ngân hàng – tài chính.

Có thể thấy đây là nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng tín dụng và khủng hoảng cho vay thế chấp. Sự quản lý lỏng lẻo, không theo kịp các hoạt động của tất cả các tổ chức tài chính – ngân hàng đã tạo điều kiện cho các tổ chức này lạm dụng các sản phẩm phái sinh mới một cách thái quá dẫn đến những hậu quả khôn lường.

2.2. Diễn biến

Bong bóng nhà đất ở Mỹ giai đoạn 2019 – 2006 với những khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh dẫn đến sự thất bại trong kinh doanh nhà đất năm 2021. Đã có 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản, gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006.

Tất cả góp phần đẩy Mỹ và thế giới vào cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Sau khi các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính thế giới báo cáo thua lỗ đến 435 tỷ USD vào tháng 7 thì Mỹ phải chi hàng trăm tỷ USD để tiếp quản hai tập đoàn Fannie Mae và Freddie Mac, chính phủ tiếp quản ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhất nước Mỹ, FED cung cấp 30 tỷ USD để trợ giúp các khoản lỗ của Bear Steams và cho AIG, tập đoàn bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ, vay 85 tỷ USD để tránh phá sản. Sauk hi Lehnam Borthers tuyên bố phá sản vào 15/9 thì cả 3 loại chỉ số Down Jones, NASDAD và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001… Mỹ đã phải chi lần lượt 700 và 800 tỷ USD cho các gói hỗ trợ kinh tế và thừa nhận đã suy thoái kinh tế từ cuối năm 2021.

Anh, sau khi ngân hàng Braford & Bingley sụp đổ đã cho 88 tỷ USD để cứu hệ thống ngân hàng nước này. Nhật và 15 nước châu Âu thừa nhận đã lâm vào suy thoái. Trung Quốc chi gần 600 tỷ USD kích thích kinh tế còn IMF cũng phải bơm tiền hỗ trợ hàng loạt nền kinh tế.

2.3. Tác động Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

2.3.1. Đối với thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu này là cuộc khủng hoảng sâu rộng nhất kể từ sau Đại suy thoái 1929 – 1933 và để lại những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế thế giới. Bắt đầu từ Mỹ, cuộc khủng hoảng đã lan nhanh sang châu Âu, châu Á và nhiều nơi khác trên thế giới. Theo số liệu công bố ngày 28/1/2023 của IMF tại hội nghị thường niên lần thứ 39 của WEF, năm 2008 các định chế tài chính toàn cầu đã thiệt hại tới 2,2 nghìn tỷ USD do cuộc khủng hoảng tài chính gây ra. Hầu hết các nước phát triển đều có mức tăng trưởng âm trong năm 2023, các nước OECD được cảnh báo về 3 hiểm họa là suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng và nguy cơ giảm phát. Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát tăng cao và nguy cơ khủng hoảng tài chính lại đang rình rập các nước đang phát triển.

Tại các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, hậu quả nặng nề là tín dụng bị thu hẹp, lãi suất liên ngân hàng tăng, nguy cơ suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, mức tiêu dùng giảm, sản xuất sa sút. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) dự báo trong hoàn cảnh kinh tế thế giới phục hồi tốt nhất sẽ vẫn có thêm 18 triệu người thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu là 6,1%.

Bảng 1.1: Tỷ lệ thất nghiệp năm 2023 ở một số nước

Chỉ số chứng khoán Mỹ sụt giảm đã gây tác động dây chuyền, kéo theo chỉ số chứng khoán của các nước châu Á và châu Âu sụt giảm. Niềm tin vào thị trường tài chính lung lay và “bong bóng” bất động sản toàn cầu có nguy cơ bị xì hơi. Khi thị trường tín dụng đóng băng, màu đỏ tràn ngập trên mọi thị trường chứng khoán. Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Mức tăng trưởng về trao đổi thương mại quốc tế năm 2008 chỉ đạt 4,5%, thấp hơn nhiều so với 8,5% năm 2006 và 5,5% năm 2021. Trong khi đó, giá hàng hóa thế giới lại biến động cực mạnh, tăng và giảm rất nhanh.

2.3.2. Đối với Việt Nam

Gia nhập WTO, hội nhập vào kinh tế thế giới đồng nghĩa với việc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu tác động tới Việt Nam là không thể tránh khỏi.

Lạm phát đã chậm lại do sự sụt giảm về giá trên rất nhiều mặt trong tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2023. Nó đòi hỏi những chính sách thích hợp để vừa kích cầu đầu tư và tiêu dùng để kiềm chế giảm phát cũng như đề phòng nguy cơ lạm phát trở lại.

Khủng hoảng tài chính tác động đến lĩnh vực xuất – nhập khẩu khiến thâm hụt thương mại gia tăng. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đồng loạt giảm giá mạnh, đặc biệt là ở các mặt hàng dầu thô, nông – thủy sản… Lượng đơn đặt hàng từ đối tác nước ngoài của nhiều ngành hàng bị hủy bỏ hoặc sụt giảm trong hai tháng cuối năm 2008. Tiêu biểu là dệt may giảm 20 -30% về số lượng đơn hàng và giá, thủy sản giảm 30% đơn hàng và giá…Trong khi đó, nước ta vẫn nhập siêu đến 17,5 tỷ USD trong cả năm 2008.

Khủng hoảng tài chính cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý người dân, lo ngại đồng USD mất giá và rút USD khỏi hệ thống ngân hàng hoặc bán USD lấy tiền Việt gửi vào khiến cơ cấu tài sản của các ngân hàng rơi vào thế bất lợi.

Ngoài ra, khủng hoảng lan rộng cũng ảnh hưởng đáng kể đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Vốn FDI giảm, thậm chí vốn đã cam kết thực hiện trễ hơn do tới khoảng 80% vốn của các nhà đầu tư vào Việt Nam là nguồn vốn đi vay.

3. Dịch vụ du lịch và ngành du lịch Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Trước khi tìm hiểu về chiến lược thu hút khách du lịch, chúng ta cần nắm được những hiểu biết cơ bản nhất về dịch vụ du lịch cũng như ngành du lịch – một ngành kinh tế dịch vụ có nhiều đặc thù.

3.1. Khái niệm về dịch vụ du lịch

Về khái niệm dịch vụ du lịch, nhiều học giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau đi từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.

Theo Giáo trình Kinh tế du lịch, dịch vụ du lịch là “kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch” [20,25].

Luật Du lịch Việt Nam (2019) thì định nghĩa: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Còn dịch vụ du lịch là “việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [17]. Đây được coi là định nghĩa khá đầy đủ và toàn diện về khái niệm dịch vụ du lịch.

3.2. Phân loại dịch vụ du lịch Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Xét theo hình thái vật chất

Dịch vụ du lịch được phân thành 2 loại: dịch vụ du lịch hàng hóa (thức ăn, quà lưu niệm, vận chuyển…) và dịch vụ du lịch phi hàng hóa (hướng dẫn, thăm quan, tổ chức trò chơi, tư vấn tiêu dùng…). Trong dịch vụ phi hàng hóa, dịch vụ du lịch được hiểu theo nghĩa thuần túy, không có hình thái vật chất. Dịch vụ du lịch thuần túy thường chiếm từ 2/3 đến 3/4 sản phẩmdịch vụ du lịch.

Xét theo cơ cấu tiêu dùng

Dịch vụ du lịch chia làm 2 loại: Dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung.

  • Dịch vụ du lịch cơ bản: Bao gồm các dịch vụ ăn uống, lưu trú và vận chuyển. Đó là những nhu cầu cơ bản, không thể thiếu được với khách hàng trong thời gian du lịch
  • Dịch vụ du lịch bổ sung: Bao gồm các dịch vụ thăm quan, giải trí, mua sắm hàng hóa. Đó là những nhu cầu phải có nhưng không thật cần thiết lắm so với loại hình du lịch trên.

Quan hệ tỷ lệ giữa 2 loại này rất quan trọng để phân tích chi tiêu của khách, chuẩn bị phục vụ của ngành du lịch, đặc biệt là để phân biệt hiệu quả tỷ trọng giữa dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung. Tỷ trọng này càng nhỏ thì hiệu quả tổng hợp của kinh doanh du lịch ngày càng cao. Tức là tỷ lệ nhu yếu phẩm ngày càng nhỏ, khách du lịch ngày càng giàu, du lịch càng phát triển và kinh doanh càng nhiều lãi.

Xét theo tính chất tham gia vào dịch vụ du lịch

Dịch vụ du lịch chia ra làm dịch vụ trực tiếp và dịch vụ gián tiếp:

  • Dịch vụ trực tiếp: Là dịch vụ du lịch do đơn vị kinh doanh du lịch trực tiếp làm, ví dụ như dịch vụ tại các nhà hàng, khu nghỉ biển, bể tắm hơi…
  • Dịch vụ gián tiếp: Là dịch vụ du lịch không do đơn vị kinh doanh du lịch trực tiếp làm mà chỉ thực hiện chức năng môi giới. Đơn vị thực hiện dịch vụ gián tiếp thường là các đại lý du lịch. Tuy không trực tiếp phục vụ khách hàng nhưng đại lý du lịch đóng vai trò rất quan trọng như: nghiên cứu thị trường du lịch, chức hình thành các sản phẩm du lịch, tuyên truyền, quảng cáo các loại hình du lịch đã hình thành, xác định hiệu quả của tuyên truyền, quảng cáo… Trong các công ty du lịch, trung tâm điều hành hướng dẫn du lịch thực hiện nhiệm vụ dịch vụ gián tiếp này.

Xét theo nội dung

Dịch vụ du lịch phải thỏa mãn bốn yêu cầu của khách là đi lại, nghỉ ngơi – vui chơi, ăn uống và làm việc. Tương ứng bốn yêu cầu này là bốn loại dịch vụ phục vụ khách hàng. Đây là cách phân loại quan trọng nhất, xuất phát từ bản chất của hoạt động du lịch. Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp sử dụng sản phẩm của những ngành khác, nhằm đáp ứng nhu cầu tổng hợp của khách du lịch.

3.3. Đặc thù của ngành du lịch và dịch vụ du lịch Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ. Ngành du lịch được định nghĩa theo nghĩa rộng là khu vực kinh tế bao gồm tất cả các ngành phục vụ khách du lịch. Do đó, ngành kinh doanh này được định nghĩa gắn liền với thị trường riêng biệt của nó và bao gồm tất cả các hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch và những nguồn thu từ khách du lịch.

Là một ngành kinh tế dịch vụ, ngành du lịch cũng có những đặc điểm chung như những ngành dịch vụ khác:

Tính vô hình

Về cơ bản, sản phẩm du lịch không phải là sản phẩm cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể. Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm vô hình, không thể nhận biết bằng thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác. Do đó, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch không hề đơn giản vì thường mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ thuộc vào khách du lịch. Chất lượng của sản phẩm du lịch được xác định dựa vào chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch.

Tính không đồng nhất

Sản phẩm du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động bao gồm nguồn cung cấp, dịch vụ (cung), người mua dịch vụ (du khách), và cả yếu tố thời gian ở thời điểm mua bán dịch vụ du lịch. Dịch vụ du lịch có tính phi tiêu chuẩn hóa cao nên muốn có dịch vụ tốt cần phải có sự thực hiện tốt của cả hai phía người cung cấp và khách hàng cũng như các nguồn cung khác.

Tính không thể tách rời

Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, do vậy cung cầu dịch vụ không thể tách rời nhau. Thêm vào đó, phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian. Do đó, vấn đề đặt ra là phải tạo ra được sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng. Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Ngoài những đặc điểm chung của ngành dịch vụ, ngành du lịch còn có những nét đặc thù:

Sản phẩm du lịch được tạo ra thường gắn với yếu tố tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa. Sản phẩm du lịch là dạng sản phẩm không dịch chuyển được. Khách du lịch muốn thỏa mãn nhu cầu của mình phải thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch tại địa điểm du lịch. Chính vì vậy, muốn tiêu thụ sản phẩm du lịch, bài toán đặt ra cho cá nhân kinh doanh du lịch là phải tìm cách thu hút khách du lịch tới địa bàn du lịch của mình.

Hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính thời vụ: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với nhóm sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (với gói du lịch cuối tuần), và trong năm (với sản phẩm của một số loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch leo núi…). Tính mùa vụ trong sản phẩm du lịch gây ra không ít khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của các nhà kinh doanh du lịch.

3.4. Vai trò của chiến lược thu hút khách du lịch thông qua marketing dịch vụ du lịch

Để thu hút khách du lịch thành công, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch không chỉ cần có vốn, công nghệ mà còn cần hiểu rõ thị trường, nhu cầu và mong muốn của khách du lịch. Và chiến lược thu hút thông qua marketing dịch vụ du lịch chính là chìa khóa để các doanh nghiệp có thể mở cánh cửa này.

Thứ nhất, marketing dịch vụ du lịch chỉ đạo, dẫn dắt và phối hợp các hoạt động của các doanh nghiệp du lịch . Từ đó các bên có hoạt động đồng bộ nâng cao hiệu quả chung cho cả ngành.

Thứ hai, marketing dịch vụ du lịch cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Thông qua việc nghiên cứu thị trường, marketing sẽ xác định rõ cung cấp dịch vụ cho ai và như thế nào, nhu cầu của khách hàng biến đổi ra sao…Nhờ đó, dịch vụ của dịch vụ của doanh nghiệp kinh doanh du lịch luôn thích ứng với nhu cầu thị trường, có thể thỏa mãn được yêu cầu của khách du lịch ngày càng cao, thu hút khách du lịch nhiều hơn ở cả trong và ngoài nước.

Thứ ba, thông qua việc lập các chiến lược marketing dịch vụ du lịch sẽ thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và đổi mới dịch vụ thích ứng với sự biến động của thị trường, từ đó giúp các doanh nghiệp du lịch có hướng phát triển đúng đồng thời thực hiện các hoạt động kinh doanh thu hút được nhiều khách hàng mang lại hiệu quả cao.

Thứ tư, chiến lược thu hút thông qua marketing dịch vụ du lịch giúp tăng khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời có những thay đổi phù hợp với biến động suy thoái kinh tế toàn cầu trong giai đoạn hiện nay.

Với những vai trò như trên, chiến lược thu hút khách du lịch bằng marketing dịch vụ du lịch đã trở thành một tổng hợp các phương pháp quảng bá du lịch ngày càng hoàn thiện phục vụ đầu tư và phát triển ngành công nghiệp nhiều tiềm năng này.

II. Quy trình xây dựng chiến lược thu hút khách du lịch Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

1. Nghiên cứu môi trường kinh doanh

Khi xây dựng bất cứ một kế hoạch chiến lược nào thì cũng phải dựa trên nền tảng môi trường chiến lược. Chiến lược thu hút khách du lịch qua các kế hoạch marketing dịch vụ du lịch phải xem xét tổng thể các yếu tố bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch. Môi trường marketing dịch vụ du lịch luôn biến đổi không ngừng và không phụ thuộc vào chí chủ quan của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp thành công là những bên có khả năng dự báo tốt và phản ứng nhanh trước biến động của môi trường marketing.

Theo Philip Kotler, môi trường marketing bao gồm: môi trường vi mô và môi trường vĩ mô.

Môi trường vi mô

Môi trường vi mô là bối cảnh thuộc nội bộ doanh nghiệp, các nhà cung cấp, các trung gian marketing, khách hàng…Bối cảnh nội bộ của doanh nghiệp chứa đựng những yếu tố chủ quan mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được. Khi nghiên cứu môi trường vi mô, chúng ta cần chú ý xem xét chức năng và hoạt động của tất cả các phòng ban trong doanh nghiệp, năng lực và xu hướng phát triển của các nhà cung cấp, đặc điểm của các trung gian marketing – những cá nhân, tổ chức giúp công ty du lịch tìm kiếm khách hàng và cung cấp dịch vụ.

Môi trường vĩ mô

Trong kinh doanh, cạnh tranh là điều khó tránh khỏi. Các công ty du lịch cũng vậy, để thành công họ cần thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu các đối thủ sẽ giúp các công ty biết được quy mô và vị trí của mình trên thị trường để từ đó đưa ra được các chiến lược marketing phù hợp.

Khi nghiên cứu môi trường kinh tế cần cần chú ý các chỉ số: tổng sản phẩm quốc nội, tổng sản phẩm quốc dân, thói quen chi tiêu, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tình hình lạm phát, thất nghiệp, suy thoái hay tăng trưởng của quốc gia, khu vực hay toàn cầu. Đây là những yếu tố ảnh hưởng đên quyết định du lịch của du khách.

Môi trường tự nhiên được nghiên cứu tập trung nghiên cứu khía cạnh bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên.

Môi trường chính trị được cấu thành bởi luật pháp, các cơ quan chính phủ và các tổ chức có khả năng gây ảnh hưởng đối với các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Muốn thâm nhập và kinh doanh dịch vụ thành công ở thị trường một nước, việc nghiên cứu chính sách pháp luật và những tác động của chính sách đó đến kinh doanh dịch vụ là rất cần thiết. Từ đó doanh nghiệp du lịch có thể nắm được các xu hướng chính trị để đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp.

Nghiên cứu môi trường văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch. Văn hóa là phạm trù để chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng dân cư tạo lập như các di sản, tập quán, tôn giáo, cấu trúc xã hội…Mỗi nền văn hóa có những hệ thống giá trị khác nhau , bản thân một nền văn hóa ở thời kỳ lịch sử khác nhau cũng có những giá trị khác nhau. Hiểu rõ được các yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra được các chiến lược marketing phù hợp cho dịch vụ của mình.

2. Nghiên cứu thị trường, phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị dịch vụ du lịch. Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Trong quá trình xây dựng chiến lược thu hút khách du lịch thông qua marketing dịch vụ du lịch, hoạt động nghiên cứu thị trường đóng vai trò rất quan trọng. Theo quan điểm của Philip Kotler: “thị trường là tập hợp những người mua thực sự hay những người mua tiềm tàng đối với một sản phẩm” [16].

Trong ngành du lịch, khách du lịch chính là “người mua” và “sản phẩm” chính là các dịch vụ du lịch. Do đó, các kết quả nghiên cứu thị trường sẽ là cơ sở để đề ra các chiến lược sau này. Để có được các kết quả này cần tập trung phân tích các nội dung như dung lượng thị trường, đối thủ cạnh tranh và thị phần của họ, nghiên cứu thái độ, tập tính khách hàng trên thị trường đối với dịch vụ du lịch, lựa chọn các tiêu thức phân đoạn thị trường, xác định nhu cầu của khách hàng nhằm xác định thị trường mục tiêu.

2.1. Nghiên cứu nhu cầu thị trường dịch vụ du lịch

Để ước tính cầu hiện tại của thị trường, chúng ta cần xác định 3 nội dung chính: tổng cầu trên thị trường, cầu của thị trường theo vùng, doanh số thực tế của ngành và thị phần của doanh nghiệp.

Tổng cầu của thị trường đối với một sản phẩm dịch vụ du lịch là tổng số dịch vụ được mua bởi một nhóm khách hàng xác định, tại một khu vực địa lý xác định, trong một khoảng thời gian xác định, dưới một môi trường marketing xác định với những nỗ lực marketing nhất định của ngành. Cầu của thị trường được tính toán dựa trên quy mô dân số, thu nhập của các hộ gia đình, chi phí cho du lịch của các hộ qua một số năm gần nhất…

Ngoài ra, để biết được doanh thu của ngành, doanh nghiệp cần xác định các đối thủ cạnh tranh và ước tính doanh thu của họ hoặc dựa trên số liệu báo cáo của ngành du lịch, để từ đó đánh giá hoạt động của doanh nghiệp mình so với toàn ngành du lịch, thấy được chỗ đứng và thị phần của mình trên thị trường. Ước tính cầu của thị trường, thấy được khả năng đáp ứng cầu thị trường, các doanh nghiệp sẽ lập ra các kế hoạch marketing phù hợp.

2.2. Phân đoạn thị trường Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Nhu cầu của người tiêu dùng là vô cùng đa dạng, một công ty khó có thể thỏa mãn nhu cầu của từng người. Do đó phải chia khách hàng thành từng nhóm có chung yêu cầu về mặt này hay mặt khác. Từ đó công ty sẽ tập trung vào một phần của thị trường mà họ có khả năng phục vụ tốt nhất. Phân đoạn thị trường chính là cơ sở để xây dựng chiến lược thị trường cho doanh nghiệp. Tương tự như thế, các chiến lược thu hút khách du lịch sẽ phù hợp

Các tiêu chí phân đoạn thị trường du lịch có thể là: vùng địa lí (nông thôn, thành thị…), đặc điểm nhân khẩu (độ tuổi, giới tính, thu nhập…), mục đích chuyến đi (du lịch công vụ hay du lịch nghỉ ngơi…), sản phẩm dịch vụ (tour trọn gói hay tour mở, khách sạn cao cấp hay bình dân…)…

Các tiêu chí trên có thể được kết hợp với nhau cho ra rất nhiều phương án thị trường khác nhau. Từ đó các chiến lược thu hút đề ra sau này sẽ bám sát theo từng mảng thị trường để cho hiệu quả cao nhất.

2.3. Lựa chọn thị trường mục tiêu

Xác định thị trường mục tiêu là việc đánh giá, so sánh các đoạn thị trường để lựa chọn một hoặc nhiều thị trường có tiềm năng phát triển nhất và phù hợp với khả năng của doanh nghiệp. Đối với mỗi thị trường mục tiêu, công ty sẽ xây dựng các chiến lược marketing cụ thể. Từ đó có thể xác định được chi phí cho việc theo đuổi thị trường mục tiêu, so sánh với doanh thu, lợi nhuận có thể đem lại và tính được chỉ số về giá trị của từng thị trường mục tiêu. Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Các doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược marketing cho thị trường mục tiêu bằng cách sử dụng ba chiến lược chiếm lĩnh thị trường mục tiêu là marketing không phân biệt, marketing có phân biệt và marketing tập trung.

  • Marketing không phân biệt: doanh nghiệp cung cấp một sản phẩm du lịch cho tất cả các đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn.
  • Marketing có phân biệt: doanh nghiệp lựa chọn một số đoạn thị trường mục tiêu và cung cấp dịch vụ khác nhau tại các thị trường mục tiêu đó.
  • Marketing tập trung: doanh nghiệp chỉ cung cấp một sản phẩm dịch vụ cho một đoạn thị trường mục tiêu.

Trên mỗi thị trường mục tiêu của mình, doanh nghiệp đều gặp phải sự cạnh tranh của các đối thủ khác. Họ có thể là những công ty cung cấp sản phẩm dịch vụ du lịch cùng loại hoặc các sản phẩm du lịch thay thế khác. Do vậy, việc định vị sản phẩm dịch vụ du lịch là bước quan trọng tiếp theo.

2.4. Định vị dịch vụ du lịch

Định vị dịch vụ du lịch là việc tạo ra một chỗ đứng, một vị trí cho sản phẩm dịch vụ đó trong tâm trí khách hàng trên thị trường mục tiêu thông qua các nỗ lực marketing. Có 5 bước để định vị dịch vụ du lịch có hiệu quả trên thị trường: [15]

Đầu tiên là chuẩn bị tài liệu: doanh nghiệp cần xác định những lợi ích quan trọng nhất đem lại cho khách hàng khi tiêu dùng dịch vụ du lịch.

Bước thứ hai là quyết định về hình ảnh mong muốn tạo ra trong tâm trí khách hàng tại các thị trường du lịch mục tiêu đã chọn. Đây chính là bước xác định sản phẩm tạo ra như thế nào, chất lượng ra sao cho khách hàng mục tiêu.

Bước thứ ba là khác biệt hóa. Các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh để từ đó xây dựng những nét khác biệt cho sản phẩm dịch vụ du lịch cho riêng mình.

Bước thứ tư là thiết kế. Đây chính là quá trình đưa ra những khác biệt của sản phẩm dịch vụ du lịch. Doanh nghiệp cũng cần lựa chọn việc truyền tải những sự khác biệt này bằng những công cụ marketing phù hợp để cho hiệu quả cao nhất.

Bước cuối cùng là thực hiện. Công đoạn này chính là lúc doanh nghiệp thực hiện những gì đã hứa với khách hàng.

3. Xây dựng chiến lược marketing – mix thu hút khách du lịch Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Sau khi xác định được thị trường mục tiêu, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược thu hút khách du lịch thông qua chiến lược marketing cụ thể. Nói cách khác đây là các quyết định về sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến, con người, cơ sở vật chất, quy trình phục vụ và quan hệ đối tác. Đây chính là việc xây dựng chiến lược marketing – mix linh hoạt theo những thay đổi của thị trường mục tiêu.

3.1. Sản phẩm dịch vụ du lịch (Product)

Trong chiến lược marketing của doanh nghiệp dịch vụ, chiến lược sản phẩm có vị trí rất quan trọng. Chiến lược sản phẩm dịch vụ du lịch là tổng thể các định hướng, nguyên tắc và biện pháp thực hiện việc xác lập một hay nhiều dịch vụ cho phù hợp với từng đoạn thị trường ở những thời kỳ khác nhau. Dịch vụ cung ứng cho khách hàng thường bao gồm hai bộ phận: dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung. Dịch vụ cơ bản được đánh giá căn cứ vào mức độ và khả năng thỏa mãn nhu cầu hay lợi ích của khách hàng mua dịch vụ. Những dịch vụ bổ trợ thường có tác dụng làm tăng thêm giá trị của dịch vụ cơ bản và tăng mức độ hoàn chỉnh của dịch vụ cung ứng. Các quyết định về dịch vụ cung ứng có vai trò quan trọng nhất vì nó liên quan đến lợi ích cuối cùng và cơ bản mà khách hàng muốn tìm thấy ở doanh nghiệp đó.

Trong chiến lược sản phẩm dịch vụ du lịch, phân tích ba cấp độ của sản phẩm là vấn đề quan trọng bao gồm: cấp độ lợi ích, cấp vật chất và cấp bổ sung [15].

Cấp lợi ích là cấp độ quan trọng nhất, quyết định việc mua dịch vụ du lịch của du khách. Lợi ích trong dịch vụ du lịch tồn tại dưới dạng vô hình. Đó có thể là sự thư thái, bầu không khí ấm cúng thân thiện hoặc sự hài lòng trước cách phục vụ chuyên nghiệp…

Cấp vật chất bao gồm các phương tiện tạo ra dịch vụ phục vụ du khách. Đó là hệ thống phòng ốc, điểm vui chơi, tham quan du lịch, phương tiện vận chuyển, hàng lưu niệm…cấp độ này tồn tại hữu hình nên dễ nhận biết.

Cấp bổ sung bao gồm các hoạt động hỗ trợ như: bảo vệ an toàn cho khách, thu đổi ngoại tệ, khám chữa bệnh, địa chỉ, điện thoại, chỉ dẫn …

Ba cấp độ trên là sự thống nhất hữu cơ, tạo ra một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh. Người làm du lịch phải hiểu rõ cả ba cấp độ trên, đặc biệt tập trung vào cấp độ lợi ích. Từ đó, tất cả các hoạt động thiết kế tour, quảng cáo, tuyên truyền phải tập trung vào cấp độ lợi ích.

3.2. Định giá dịch vụ du lịch (Price)

Chiến lược giá có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh. Định giá đúng không chỉ giúp các doanh nghiệp du lịch thu hút được nhiều khách, đạt được mục tiêu lợi nhuận mà còn hạn chế được cạnh tranh. Đây cũng là một công cụ quan trọng để phân biệt các tầng lớp du khách đối với dịch vụ. Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Giá cả là hình ảnh về chất lượng cung ứng, chỉ tiêu quan trọng trong quá trình lựa chọn và tiêu dùng dịch vụ vì giá cả có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức của người tiêu dùng về chất lượng dịch vụ. Quan hệ giá cả với chất lượng dịch vụ phụ thuộc đồng thời vào chủ quan của khách hàng và chất lượng phục vụ của người cung cấp. Do vậy, việc định giá dịch vụ du lịch phải dựa trên những hiểu biết sâu sắc ba vấn đề quan trọng: chi phí, cạnh tranh và nhận thức khách hàng.

Có 9 chiến lược định giá được đưa ra trong mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng dịch vụ (xem bảng 1.2)

Bảng 1.2: Các chiến lược định giá

Các doanh nghiệp áp dụng các chiến lược giá 4, 7, 8 chỉ đạt được lợi nhuận trước mắt, về lâu dài sẽ dẫn đến sự bất mãn của du khách.

Định giá theo 2, 3, 6 là những doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh lâu dài. Lợi nhuận trước mắt có thể ít, song họ hướng đến việc thu phục được lượng khách lớn trong tương lau. Định giá như vậy sẽ gây được cảm tình của du khách và là xu hướng phát triển tất yếu của kinh doanh du lịch hiện nay, khi mà cạnh tranh trong nước và khu vực càng trở nên gay gắt.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn áp dụng chiến lược giá thất, giá trọn gói, tăng giá và định giá tâm lý …

Chiến lược giá thấp thường được áp dụng khi đưa một sản phẩm dịch vụ mới ra thị trường hoặc trong cạnh tranh là chiến lược phá giá. Cách này thu hút được khách du lịch ở mức trung bình và thấp, nhưng lại không có tác dụng với những du khách có thu nhập cao.

Chiến lược giá trọn gói là chiến lược bán cả cụm sản phẩm dịch vụ với cơ cấu cho trước, tạo sự yên tâm tối thiểu cho quá trình sử dụng dịch vụ của khách (nhất là khách lạ, có thu nhập trung bình).

Chiến lược tăng giá được sử dụng có mức độ trong một thời gian ngắn tại những thị trường có độ co giãn của nhu cầu thấp.

Như vậy, chính sách định giá phải hết sức linh hoạt, phải bám sát thị trường để xử lý phù hợp với tâm lý, phản ánh của khách hàng. Đó chính là nghệ thuật trong kinh doanh.

3.3. Phân phối dịch vụ du lịch (Place) Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Do đặc tính không thể chia tắc của dịch vụ, trước đây khâu phân phối trong dịch vụ du lịch ít được chú ý. Tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế và do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường dịch vụ, chính sách phân phối ngày càng giữ vị trí quan trọng trong chiến lược marketing hỗn hợp. Ở đây, chính sách phân phối được thể hiện thông qua việc lựa chọn kênh phân phối của doanh nghiệp.

Như các ngành kinh tế khác, lĩnh vực du lịch cũng có các kênh phân phối: không cấp (marketing trực tiếp), một cấp (có một trung gian giữa người cung cấp dịch vụ đến khách hàng), hai cấp (có hai trung gian giữa người cung cấp dịch vụ đến khách hàng), ba cấp (có ba trung gian giữa người cung cấp dịch vụ với khách hàng)… [16]

Các trung gian bao gồm các công ty du lịch, hãng môi giới, đại lý quảng cáo, các đại lý du lịch làm trung gian cho các hãng hàng không…

Như vậy, tùy theo loại hình dịch vụ du lịch cung ứng và mục tiêu của mình, doanh nghiệp có thể lựa chọn sử dụng một hay nhiều trung gian khác nhau.

3.4. Xúc tiến dịch vụ du lịch (Promotion)

Chiến lược xúc tiến dịch vụ du lịch nhằm thúc đẩy việc bán sản phẩm du lịch, tạo được lòng tin của khách hàng. Thông qua các hoạt động tuyên truyền quảng bá, nhóm khách hàng mục tiêu sẽ được tiếp cận những lợi ích và ưu thế về dịch vụ du lịch.

Hoạt động tuyên truyền quảng bá dịch vụ du lịch thực hiện bốn chức năng cơ bản: thu hút du khách, thuyết phục du khách, củng cố lòng tin của du khách và góp phần xây dựng, nâng cao hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong mắt du khách.

Quảng cáo phải tuân thủ các nguyên tắc: tiêu biểu, đặc trưng, định hướng, gợi mở, thường xuyên, trung thực và đem lại hiệu quả thiết thực.

3.5. Con người (People) Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Du lịch là một ngành liên quan đến con người. Đó là công việc của con người (nhân viên) cung cấp dịch vụ cho con người (khách hàng). Việc tuyển chọn nguồn nhân lực cho ngành du lịch đóng vai trò hết sức then chốt.

Dưới góc độ marketing, nhân viên góp phần quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm dịch vụ du lịch. Để có thể cung cấp một sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, từng cá nhân phải: phục vụ nhiệt tình tất cả các đối tượng khách hàng, quan tâm, nắm bắt nhu cầu, xử lý kịp thời các vấn đề khó khăn của khách với sự thân thiện, hiếu khách để lại ấn tượng tốt đẹp cho du khách.

Để phát huy vai trò của con người trong chiến lược marketing, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch cần thực hiện hai chính sách:

  • Chính sách quản lý nhân viên phục vụ: doanh nghiệp cần xác định phong cách cho nhân viên phục vụ, đào tạo kỹ năng nghiệp vụ trong kinh doanh dịch vụ du lịch và kỹ năng giao tiếp, quan hệ công chúng, giám sát hoạt động của các nhân viên này.
  • Chính sách quản lý sự tham gia của khách hàng: khách hàng luôn đóng vai trò quan trọng đồng thời cũng là đích hướng tới của quá trình dịch vụ. Khách hàng là người quyết định trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch. Chính sách quản lý sự tham gia của khách hàng nhằm vào hai mục đích: mang lại sự thỏa mãn, hài lòng về dịch vụ du lịch cho khách hàng và tăng năng suất, hiệu quả kinh doanh cho công ty du lịch.

3.6. Quy trình phục vụ (Process)

Quy trình phục vụ là việc tổ chức, sắp xếp các hoạt động, các yếu tố của quá trình cung cấp dịch vụ theo một trình tự nhất định nhằm tạo thuận lợi và thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng dịch vụ. Mỗi dịch vụ đều được cung cấp theo những quy trình nhất định, bởi bất kỳ sản phẩm nào cũng là sản phẩm hoặc kết quả của một quá trình tương tác giữa người tiêu dùng với người cung cấp dịch vụ. Yêu cầu của quy trình phục vụ là phải mang tính liên kết, đồng bộ, thống nhất giữa các giai đoạn của quá trình.

Phục vụ làm khác biệt doanh nghiệp với nhau, chỉ ra sự thành công hay thất bại giữa các doanh nghiệp du lịch. Do vậy, các tiêu chuẩn phải thống nhất đồng bộ với khả năng tài chính, mức độ phục vụ phải thích hợp với những chỉ số tài chính cho phép. Quy trình phục vụ được các doanh nghiệp sử dụng như chiến lược cạnh tranh chính nhằm tạo ra sự khác biệt giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, chứng minh sự hơn trội của mình trong lòng du khách.

3.7. Cơ sở vật chất (Physical Evidence) Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Cơ sở vật chất là yếu tố không thể thiếu trong sản xuất dịch vụ. Cơ sở vật chất cũng là căn cứ hữu hình để du khách đánh giá chất lượng của dịch vụ và năng lực phục vụ của doanh nghiêp đó, có tác động nhất định đến quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng tiềm năng. Trụ sở công ty du lịch, logo, biển hiệu, sách quảng cáo, hướng dẫn, loại ô tô công ty sử dụng, hạng khách sạn du khách được nghỉ … thường gây cho khách hàng ấn tượng về chất lượng dịch vụ cung ứng. Cơ sở vật chất ở đây bao gồm tổng thể không gian, môi trường, trang thiết bị phục vụ cần thiết để tạo nên dịch vụ du lịch.

Cơ sở vật chất có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch bởi nó góp phần tạo ra ấn tượng tốt và sự hài lòng của du khách, nâng cao uy tín của doanh nghiệp cũng như lượng khách hàng trung thành. Chính vì vậy, trong chiến lược marketing hỗn hợp cần chú trọng chính sách xây dựng và quản lý cơ sở vật chất.

3.8. Quan hệ đối tác (Partnership)

Quan hệ đối tác là những nỗ lực hợp tác marketing giữa các tổ chức lữ hàng khách sạn và các nhà hàng bổ trợ. Quan hệ đối tác được hình thành do tính phụ thuộc lẫn nhau của nhiều doanh nghiệp trong việc thỏa mãn nhu cầu của du khách. Tính bổ trợ này có thể có cả khía cạnh tích cực và tiêu cực. Bởi lẽ sự thỏa mãn của khách hàng thường phụ thuộc vào những hoạt động của những doanh nghiệp khác mà chúng ta không trực tiếp quản lý. Mối quan hệ với các doanh nghiệp bổ trợ cần được theo dõi và quản lý thận trọng. Điều đó có lợi nhất cho các đơn vị cung ứng để duy trì mối quan hệ tốt với các trung gian du lịch (các đại lý lữ hành, công ty du lịch bán buôn …) và các doanh nghiệp vận chuyển (ô tô, tàu thủy …). Khi các doanh nghiệp trong ngành cộng tác hiệu quả thì kết quả mang lại sẽ rất tốt, ngược lại nếu cộng tác không tốt, khách hàng ít được thỏa mãn hơn và như vậy các doanh nghiệp khó nhận được kết quả kinh doanh tốt.

4. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả thu được và điều chỉnh chiến lược cho phù hợp Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Các kế hoạch chiến lược với các mục tiêu và nội dung triển khai cụ thể sau khi được xây dựng sẽ đưa vào thực hiện. Để tiến hành kế hoạch một cách hiệu quả cần lập thời gian biểu và lịch trình hoạt động, xây dựng ngân sách thực hiện chiến lược một cách cụ thể.

Kiểm tra kế hoạch là việc đánh giá các tình huống thực sự diễn ra trên thị trường, so sánh các kết quả đạt được trên thực tế và kết quả mà doanh nghiệp mong muốn trong kế hoạch của mình, từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp. Do vậy, kiểm tra là một yêu cầu bắt buộc trong tổng thể chiến lược.

Sự thành công của một chiến lược được đánh giá thông qua mức độ đạt được các mục tiêu đề ra. Ở đây, nó được tính bằng tiền, lượng du khách, số lượng người biết đến dịch vụ du lịch.

Sau khi tiến hành thực hiện, kiểm tra, đánh giá chiến lược đã đề ra doanh nghiệp sẽ biết được những thành tựu cũng như những điểm hạn chế của chiến lược đó. Căn cứ vào những đổi mới của môi trường kinh doanh, những biến động của thị trường, doanh nghiệp sẽ lập ra được một chiến lược mới phù hợp với mục tiêu trong giai đoạn mới.

Tóm lại, chiến lược thu hút khách du lịch thông qua marketing dịch vụ du lịch là một loạt phương pháp và kỹ thuật nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách và đem lại lợi nhuận cho các công ty du lịch, góp phần phát triển ngành du lịch Việt Nam. Quy trình của chiến lược thu hút khách du lịch bao gồm tổng hợp các bước từ nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược cho đến tổ chức thực hiện chiến lược và kiểm tra, đánh giá. Đây là hoạt động không thể thiếu đối với sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay. Vậy thực trạng của hoạt động này hiện nay ra sao, Việt Nam đã có những chính sách chiến lược thu hút du khách như thế nào… chúng ta sẽ cùng nghiên cứu ở chương II của đề tài. Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp phát triển ngành du lịch của Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464