Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Giới thiệu chung về ngành du lịch Việt Nam

1. Tổng quan về ngành du lịch Việt Nam

Ngày 09/07/1960,  Hội đồng Chính phủ đã  ban hành Nghị đinh số 26/CP thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương, đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam. Từ năm 1960 đến 1975, Du lịch ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nước, khách Du lịch vào nước ta theo các Nghị định thư. Quản lý nhà nước về Du lịch thuộc chức năng của Bộ Ngoại thương với một Phòng chuyên trách 4 người; năm 1969 chức năng này chuyển về Phủ Thủ tướng; sau đó chuyển sang Bộ Công an. Từ năm 1975 đến 2005, hoà vào khí thế chung của đất nước đã được thống nhất, ngành Du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quan, bảo toàn và phát triển các cơ sở Du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng; từng bước thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu. Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Du lịch. Giai đoạn từ 2005 đến nay, cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành Du lịch đã khởi sắc, vươn lên đôi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình. Sau 2 năm sáp nhập vào Bộ Văn hoá – Thông tin, rồi vào Bộ Thương mại, tháng 11 năm 1992 Tổng cục Du lịch được thành lập lại, là cơ quan thuộc Chính phủ. Tổng cục Du lịch đã nhanh chóng củng cố, ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, khắc phục khó khăn, vươn lên về mọi mặt để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố [26].

Những năm qua, ngành du lịch đã huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển, từng bước khẳng định vị trí là một ngành kinh tế quan trọng. Từ chỗ chưa có vị thế trên thị trường quốc tế, du lịch Việt Nam đã vươn lên, chủ động hội nhập thế giới, thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch nhiều mặt với các nước láng giềng, trong khu vực và trên thế giới bằng các hiệp định song phương, đa phương… Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

Hiệu quả kinh tế – xã hội của hoạt động du lịch ngày càng rõ nét, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và làm giàu cho xã hội. Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành và khối ngành dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân, đồng thời thay đổi diện mạo đô thị, nông thôn , đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhất là ở các trung tâm du lịch như Sa Pa (Lào Cai), Hạ Long (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Huế (Thừa Thiên-Huế), Hội An (Quảng Nam), Nha Trang (Khánh Hòa), Mũi Né (Phan Thiết), Bình Châu (Xuyên Mộc – Bà Rịa Vũng Tàu), một số địa phương đồng bằng sông Cửu Long…

Du lịch phát triển cũng tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển; khôi phục nhiều lễ hội và nghề thủ công truyền thống; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và nước ngoài, giao lưu văn hoá và nâng cao dân trí, phát triển nhân tố con người, đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.

Hoạt động du lịch đã tạo ra việc làm cho trên 334.000 lao động trực tiếp và khoảng 790.000 lao động gián tiếp cho nhiều tầng lớp dân cư, đặc biệt là thanh niên mới lập nghiệp và phụ nữ [31]. Thông qua du lịch, nhiều di tích, di sản đã được trùng tu, tôn tạo từ nguồn thu du lịch và các nguồn vốn xã hội được huy động, từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm giữ gìn, phát triển di sản văn hoá vật, truyền tải giá trị văn hoá đến các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế… tạo thêm sức hấp dẫn thu hút khách du lịch.

Toàn ngành đã chú trọng xây dựng phát triển nhiều loại hình du lịch, các tuyến du lịch mới cả đường bộ, đường sông, đường biển, nối các điểm du lịch, khu du lịch ở miền núi, cao nguyên, đồng bằng, vùng ven biển và hải đảo. Hình thành các loại hình du lịch mới, đặc thù như đi bộ, leo núi, lặn biển, hang động, du lịch đường bộ xuyên Việt bằng xe đạp, mô tô, caravan, du lịch đồng quê, về cội nguồn… Chú trọng khai thác giá trị nhân văn giàu bản sắc dân tộc, tổ chức các hội thi nấu ăn, thi hướng dẫn viên du lịch… để nâng cao chất lượng sản phẩm. Mỗi năm đều có chủ đề riêng, không tách rời các sự kiện lớn của dân tộc.

Việt Nam được đánh giá là điểm đến mang nhiều nét Á Đông hấp dẫn , thân thiện và khá an toàn . Theo kết quả khảo sát độc lập của công ty FreshMinds , khu vực châu Á là nơi thân thiện nhất trên thế giới để người nước ngoài đến sinh sống và làm việc , trong đó, Việt Nam, Thái Lan, Hồng Kông và Malaysia là 4 điểm đến hàng đầu [30]. Như vậy, từ những bước đi chập chững đầu tiên, Việt Nam đã không ngừng vươn lên và có triển vọng góp mặt trong top 10 quốc gia đứng đầu về du lịch của cả thế giới.

2. Thực trạng hoạt động của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua

Trải qua gần 50 năm phát triển, Du lịch Việt Nam đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, có tốc độ tăng trưởng khá trong thời gian vừa qua, kể cả trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh và khủng bố ở nhiều nơi trên thế hiới những năm gần đây.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2.1. Về khách du lịch Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

2.1.1 Số lượng khách du lịch

Lượng khách năm 2005 đạt một triệu, đã về trước kế hoạch 1 năm và vượt dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới 6 năm. Từ 2005 đến 2021 lượng khách du lịch luôn duy trì được mức tăng trưởng với 2 con số. Khách du lịch quốc tế tăng 17 lần từ 250.000 lượt (năm 2005) lên xấp xỉ 4,253 triệu lượt (năm 2008) và năm 2023, lượng khách quốc tế ước đạt 3.772.359 lượt, giảm 10,9% so với năm 2008. Khách du lịch nội địa ước tăng 20 lần, từ 1 triệu lượt năm 2005 lên khoảng 20,5 triệu lượt năm 2008, và đạt 25 triệu lượt năm 2023, tăng 25% so với năm 2008. Số lượng người Việt Nam đi du lịch nước ngoài ngày càng tăng, bình quân giai đoạn 2015 – 2023, trên 30.000 người/năm. Lượng khách qua các năm được thể hiện trong bảng 2.1.

Bảng 2.1: Số lượng khách du lịch hàng năm (nội địa, quốc tế)

Từ biểu đồ trên ta có thể thấy, mức tăng trưởng về lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong những năm gần đây chủ yếu theo chiều hướng đi lên. Ngoài sự sụt giảm nhẹ vào năm 1998 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Châu Á và vào năm 2003 một phần do ảnh hưởng của đại dịch SARS, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đều có mức tăng khả quan qua các năm. Đáng chú ý, năm 2021 lượng khách du lịch quốc tế lần đầu tiên vượt mức 4 triệu lượt và tiếp tục tăng nhẹ tới hết năm 2008, đạt trên 4,2 triệu khách. Đây là con số khá ấn tượng với một ngành du lịch được xem là còn non trẻ so với các nước trong khu vực và trên thế giới như Việt Nam. Tuy nhiên, do ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế toàn cầu lượng khách quốc tế bị ảnh hưởng, ước đạt 3.772.359 lượt, giảm 10,9% so với năm 2008. Nếu nhìn vào kế hoạch đề ra là đón 4,5 triệu lượt khách quốc tế và nhìn vào lượng khách quốc tế giảm so với năm trước thì năm 2023 là một năm không thành công của ngành du lịch. Tuy vậy, những con số này cũng cho thấy tỷ lệ giảm sút lượng khách đang được ngăn chặn và có nhiều khả năng tốc độ tăng trưởng lượng khách sẽ được khôi phục. Sáu tháng đầu năm, tỷ lệ giảm sút so với cùng kỳ năm 2008 là 19,6%, sang tháng 11 tỷ lệ đó rút xuống 12,4%. Lượng khách quốc tế đến nước ta trong tháng 11 đã đạt hơn 387 nghìn lượt người, tăng 70% so với tháng trước và đạt tốc độ tăng hơn 38% so với tốc độ tăng của tháng 11-2008. Trước những khó khăn chung của du lịch thế giới và các nước trong khu vực thì kết quả này thể hiện nỗ lực và cố gắng lớn của ngành du lịch Việt Nam trong việc triển khai các giải pháp khắc phục.

2.1.2. Cơ cấu khách du lịch Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

Bảng 2.2: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam 2008 – 2023

Cơ cấu khách đến theo mục đích biến động trái ngược nhau

Kết quả thống kê du khách quốc tế đến Việt Nam năm 2008 cho thấy số khách đến vì các mục đích khác nhau đã biến động không giống nhau, trong khi số khách đến thuần túy du lịch tăng nhẹ thì số khách đến vì mục đích công việc kết hợp du lịch tăng rất mạnh và ngược lại số khách đến với mục đích thăm thân kết hợp du lịch đã giảm xuống rõ rệt, cụ thể:

  • Số khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích thuần túy du lịch, nghỉ ngơi ước tính cả năm đạt hơn 2,6 triệu lượt người, chỉ tăng 1,2% so với năm 2021, tuy nhiên về tỷ trọng vẫn chiếm 61,6% trong tổng số khách quốc tế đến, cao hơn 0,3% so với năm 2021 và 3,4% so với bình quân 4 năm từ 2004 – Điều này cho thấy, mặc dù có nhiều khó khăn do kinh tế thế giới suy giảm, thu nhập và chi tiêu cá nhân thu hẹp, giá cả thị trường và giá các tour du lịch leo thang làm hạn chế rất nhiều nhu cầu đi du lịch thế giới, nhưng thị trường Việt Nam vẫn thu hút được một lượng khách khá lớn và đặc biệt là số khách đến thuần túy mục đích du lịch, nghỉ ngơi vẫn giữ vững và tăng.
  • Ước tính tổng số khách quốc tế đến vì mục đích công việc kết hợp du lịch cả năm nay đạt hơn 850 ngàn người, tăng 29,2% so với năm 2021 và chiếm 20,1% trong tổng số du khách quốc tế đến, cao hơn 4,5% và 4,3% so với 2021 và bình quân 4 năm trước đó.
  • Mặc dù số lượng khách đến vì mục đích công việc kết hợp du lịch có xu hướng giảm tốc khá mạnh trong những tháng cuối năm do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng nhìn chung số khách này vẫn tăng lên với tốc độ khá cao so với năm 2021 và nhiều năm trước. Kết quả này là do thị trường nước ta cho đến nay vẫn được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là một thị trường có tiềm năng và hấp dẫn. Cụ thể số dự án và vốn FDI đăng ký vào nước ta trong 11 tháng năm này đã tăng lên với tốc độ kỷ lục, đạt hơn một nghìn dự án với số vốn đăng ký hơn 59 tỷ USD, tăng gần 3 lần so với con số 20,3 tỷ USD của cả năm 2021.
  • Số du khách đến với mục đích thăm bạn bè, người thân kết hợp du lịch đã giảm mạnh, chỉ còn bằng 81,9%, đã giảm 18,1% so với cùng kỳ năm 2021 và tỷ trọng trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam từ chiếm 15,2% bình quân trong 4 năm 2004 – 2021 xuống chỉ còn 11,9%, đã giảm đi 3,3% trong năm nay. Điều này có thể lý giải là do cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế mang tính toàn cầu đã làm cho thu nhập và chi tiêu của nhiều Việt kiều bị thu hẹp và do đó làm cho nhiều người đã phải gác lại các cuộc hồi hương về nước thăm thân kết hợp du lịch trong năm này.

Khách từ thị trường gần tăng, thị trường xa giảm hoặc tăng thấp Cho đến nay, Việt Nam đã có khoảng 30 thị trường truyền thống thường xuyên có số lượng khách đến khá lớn và liên tục tăng cao. Đó là khách đến từ các thị trường láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia; từ thị trường khu vực ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Singapore; từ các thị trường Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan; từ các thị trường châu Âu như Pháp, Anh, Đức, Italia, Hà Lan, Thụy Điển, …; từ thị trường châu Mỹ như Hoa Kỳ, Canada và từ châu Đại Dương như Australia, Newzeland. Tuy nhiên, đến năm nay thì chỉ còn khách đến từ một số thị trường láng giềng và khu vực có vị trí địa lý gần với nước ta như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore và một ít thị trường khác thuộc châu Âu như Thụy Điển, Na Uy và Nga còn tăng khá cao; còn khách đến từ Mỹ và Australia tuy vẫn tăng nhưng tốc độ rất thấp và khách từ các thị trường còn lại đều cùng chung xu hướng giảm khá mạnh, đặc biệt là một số thị trường lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Campuchia, Pháp, Anh, Đức… Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

Các thị trường có lưu lượng khách đến hàng năm tương đối lớn và tăng cao, nhưng năm 2008 đã giảm khá mạnh là Nhật Bản, chỉ còn đạt hơn 390 ngàn lượt người, chiếm 9,2%, đã giảm 6,2%; Hàn Quốc hơn 450 ngàn, chiếm 10,7% và giảm 4%; Pháp hơn 180 ngàn lượt người, chiếm 4,3% và giảm 1,3% so với cùng năm 2021…

Quan sát cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam theo châu lục cho thấy, khách từ châu Á vẫn chiếm thị phần lớn nhất, ước tính cả năm đạt hơn 2,3 triệu lượt người, chiếm 55% thị phần và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2021; tiếp đến là khách đến từ châu Âu hơn 600 ngàn lượt người, chiếm 4,4% thị phần và giảm 2%, năm 2021 đạt gần 630 ngàn, chiếm 14,8% thị phần và tăng 31,7%; khách đến từ châu Mỹ hơn 500 ngàn lượt người, chiếm 11,9% thị phần và tăng 1,5%, năm 2021 đạt hơn 497 ngàn, chiếm 11,8% thị phần và tăng 8,4%; khách đến từ châu Đại Dương hơn 250 ngàn lượt người, chiếm 4,8% thị phần và tăng 2,8%, năm 2021 gần 245 ngàn, chiếm 5,8% và tăng 30,9%. Như vậy, nếu tính chung cho cả châu lục thì chỉ có du khách đến từ châu Âu năm 2008 giảm so với cùng kỳ năm trước, còn du khách đến từ các châu lục khác vẫn tăng, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đạt rất thấp so với nhiều năm trước.

Qua năm 2023, suy thoái kinh tế trầm trọng hơn và các nỗ lực kích cầu, phục hồi kinh tế đem lại các kết quả không mấy khả quan ảnh hưởng đến tổng lượng du khách quốc tế đến Việt Nam. Theo đó cơ cấu khách theo mục đích và thị trường đều giảm so với năm 2008.

2.1.3. Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch

Theo bảng thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), trung bình mỗi khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chi tiêu dưới mức 700 USD cho khoảng thời gian lưu trú từ 5-10 ngày [29]. Con số này quá thấp so với các nước lân cận khi mà du khách đến Thái Lan chi tiêu trên 1200 USD và đến Singapore chi tiêu trên 1500 USD (đã quy đổi ngang giá sức mua) cho khoảng thời gian lưu trú tương đương.

Chất lượng hạ tầng các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan thấp ảnh hưởng khá lớn tới cơ cấu chi tiêu của khách du lịch (Biểu đồ 2.2).

2.2. Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh du lịch Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

Bảng 2.3: Số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (7/2023)

Ngành du lịch Việt Nam trong những năm gần đây chứng kiến sự lớn mạnh về mặt quy mô. Hệ thống kinh doanh du lịch không ngừng được mở rộng với hàng nghìn doanh nghiệp.  Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của cả 6 thành phần kinh tế (nhà nuớc; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước; 100% vốn nước ngoài). Trước Đại hội Đảng lần thứ IX, trong kinh doanh lữ hành chỉ có doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được phép hoạt động, nay mở rộng cho cả doanh nghiệp tư nhân. Tính đến nay, cả nước đã có hơn 11.000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 758 doanh nghiệp lữ hành quốc tế; hơn 10 nghìn doanh nghiệp lữ hành nội địa

Số lượng cơ sở kinh doanh du lịch tư nhân, cổ phần và hợp tác xã chiếm tỷ trọng lớn, xu hướng phát triển mạnh. Ngoài ra, còn có hàng nghìn hộ tư nhân kinh doanh du lịch hoạt động ở hầu hết các địa phương trong cả nước.

Bảng 2.4: Khách sạn xếp hạng (tính đến tháng 6/2023)

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, tính đến tháng 6 năm 2023, cả nước có 10.800 cơ sở lưu trú với 213.200 buồng phục vụ kinh doanh du lịch, trong đó có 5.239 cơ sở đạt hạng chuẩn và số khách sạn 3-5 sao chiếm 31.188 tổng số buồng nêu trên (Bảng 2.4). Các cơ sở này đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu lưu trú của khách đồng thời phục vụ tổ chức các hội nghị, hội thảo và sự kiện văn hóa, thể thao quốc tế như Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, hội nghị cao cấp Á – Âu (ASEM 5), Hội nghị cấp cao APEC …

2.3. Doanh thu cuả ngành du lịch

Theo một báo cáo của Liên hợp quốc, “ngày nay, nguồn thu ngoại tệ xuất khẩu từ dịch vụ du lịch trên thế giới chỉ đứng thứ tư sau nhiên liệu, hóa chất và ngành ô-tô”. Năm 2008, doanh thu du lịch trên thế giới đạt 1.100 tỷ USD, tức là khoảng 3 tỷ USD mỗi ngày [3]. Còn tại Việt Nam, du lịch cũng mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội. Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân, mang lại thu nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà gián tiếp đối với các ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập cho các cộng đồng dân cư địa phương. Tốc độ tăng trưởng nhanh về thu nhập: năm 2005 thu nhập du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2004, con số đó đã là 26.000 tỷ đồng, gấp 20 lần và đến năm 2023 ước đạt 70.000 tỷ đồng, gấp trên 50 lần.

Biểu đồ 2.3 : Thu nhập ngành du lịch giai đoạn 2005 – 2023

2.4. Số vốn đầu tư của ngành du lịch Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ mang tính liên ngành, liên vùng. Do đó, sự phát triển của ngành du lịch gắn bó chặt chẽ với nhiều vùng miền và nhiều ngành kinh tế liên quan và hỗ trợ. Với chủ trương phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong những năm qua, với sự quan tâm, tạo điều kiện cải thiện môi trường pháp lý và hạ tầng cơ sở, ngành du lịch đã thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư cả trong và ngoài nước.

Toàn ngành và các địa phương, đặc biệt là ở các địa bàn trọng điểm du lịch, đã huy động các nguồn lực đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất luợng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Từ 2001 đến 2023, Chính phủ đã cấp 4.836 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch ở các khu du lịch trọng điểm, phối hợp với các ngành và địa phương chỉ đạo phát triển các vùng du lịch mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Chiến lược phát triển du lịch 2001 – 2010 đã xác định.

Bảng 2.5: Vốn ngân sách TW hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch

Cùng với đầu tư của Nhà nước và các thành phần kinh tế nội địa, ngành

Du lịch đã thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cụ thể, từ 22,8 triệu USD năm 2015 lên 9,126 tỷ USD năm 2008 (Bảng 2.7). Đây cũng được ghi nhận là năm có lượng vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản du lịch lớn kỷ lục với 3 dự án nằm trong nhóm 10 dự án thu hút vốn FDI lớn nhất trong năm.

Bảng 2.6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thời kỳ 2015 – 2023

Việc tăng cường mở rộng hợp tác, thu hút vốn đầu tư, tài trợ của quốc tế đã đạt được những thành quả đáng khích lệ. Đặc biệt ngành Du lịch đã tranh thủ được nhiều tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ tài trợ cho phát triển du lịch về quy hoạch, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hành chính, xây dựng văn bản quy phạm phát luật du lịch. Tổng cục Du lịch cũng đã chỉ đạo toàn Ngành tích cực tìm kiếm, khai thác nguồn đầu tư quốc tế. Các hoạt động xúc tiến du lịch trong và ngoài nước, bên cạnh việc quảng bá thu hút khách, đều ưu tiên đặc biệt kêu gọi đầu tư du lịch.

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bước đầu thực hiện đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặc 100% vốn. Tuy dự án đầu tư ra nước ngoài còn chưa nhiều, quy mô nhỏ nhưng đây là hướng đi đúng, hiệu quả và phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động trong bối cảnh kinh tế suy thoái toàn cầu. Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng chiến lược thu hút khách của Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Chiến lược thu hút khách du lịch của Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464