Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Từ Hoàng Việt Luật Lệ đến Dân Luật Bắc Kì 1931 – Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản của người phụ nữ Việt Nam thời cận đại dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quyền về hôn nhân

Quyền hôn nhân của người phụ nữ Việt Nam trong Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931 có nhiều điểm tiến bộ so với Hoàng Việt Luật Lệ. Điều này được thể hiện ở các điểm sau:

2.1.1. Quyền đính ước và kết hôn

Thứ nhất, việc kết hôn giữa người con trai và người con gái trong cả Hoàng Việt Luật Lệ và Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931 đều phải có sự đồng ý của gia đình nhà trai và nhà gái. Tuy nhiên, trong bộ Dân Luật Bắc Kì 1931 người phụ nữ được hưởng một phần quyền tự quyết cho hôn ước và hôn nhân của mình (“ Kết hôn tất phải có hai bên nam nữ bằng lòng nhau mới được – Điều 76). Bộ DLBK 1931 có quy định cụ thể về độ tuổi kết hôn cụ thể về độ tuổi kết hôn cụ thể của nam và nữ (“Phàm con trai chưa đầy mười tám tuổi và con gái chưa đầy mười lăm tuổi thì không được kết hôn”- Điều 73). Bộ luật này cũng tính đến trường hợp bắt đắc dĩ ( “có duyên cớ đích đáng”) kết hôn trước tuổi nhưng trường hợp này phải có sự chấp nhận của quan tỉnh và không được dưới mười lăm tuổi đối với con trai và dưới mười hai tuổi đối với con gái.

HVLL quy định việc hôn nhân (được quy định tại quyển 7: “Hộ luật hôn nhân”) hoàn toàn là sự sắp đặt, đồng ý của cha mẹ. Tuy Luật này cũng đã có đề cập đến vấn đề nam và nữ không mong muốn kết hôn nhưng chỉ dừng lại ở việc yêu cầu công khai định hôn ở hai gia đình. Điều này cho thấy phụ nữ thời nhà Nguyễn ( và cả nam giới) đều không được lựa chọn đối tượng kết hôn của mình. Luật này quy định còn trai, con gái phải đến tuổi quy định mới được kết hôn nhưng không có quy định cụ thể.

Thứ hai, đối tượng phụ nữ được phép kết hôn được mở rộng hơn so với thời nhà Nguyễn. Theo HVLL, có rất nhiều trường hợp phụ nữ không được phép kết hôn, cụ thể là: phụ nữ đã có chồng và chồng còn sống; phụ nữ cùng họ đồng tông với đối tượng kết hôn; con gái chưa mãn tang cha mẹ; vợ cả chưa mãn tang chồng; con gái riêng của mẹ không được lấy bộ dượng; chị và em gái con của dì họ, con nhà họ mẹ không được lấy con trai của mẹ; chị và em gái con của cô họ, bác gái họ của bố không được lấy con trai của bố; cô họ của dì ruột, của dì họ không được lấy cháu trai; dì họ và dì họ xa không được lấy cháu trai; chị em gái không được lấy anh trai cùng cha khác mẹ; con gái của chị họ bên ngoại không được lấy con của họ hàng bên ngoại có hệ để tang; người phụ nữ ( bao gồm cả phụ nữ chưa chồng, phụ nữ đã lấy chồng nhưng bị đuổi đi, phụ nữ đã cải giá) không được lấy người con quan hệ để tang trong tông tộc; vợ bé của bố, của ông, của chú bác (bất luận bị đuổi đi hay cải giá) đều không được lấy con riêng của chồng, cháu, cháu họ; chị dâu, em dâu sau khi chồng mất cũng không được lấy anh chồng, em chồng; phụ nữ trong phủ, châu, huyện không được lấy quan phủ, châu, huyện khi quan đang trong nhiệm sở; phụ nữ không được phép kết hôn với tăng đạo; con gái nhà lương thiện không được phép lấy nộ bộc của nhà khác;….

( Hoàng Việt Luật Lệ, quyển 7- Hộ Luật Hôn Nhân ). Có thể thấy, những trường hợp phụ nữ bị cấm kết hôn như trên, có một số là hợp lý để đảm bảo sự phát triển về dòng giống về mặt sinh học, song cũng có một số trường hợp khá vô lý như không cho phụ nữ nhà lành kết hôn với nô bộc, cấm quan không được kết hôn với người trong phủ, châu, huyện khi quan đang trong nhiệm sở. Sở dĩ như vậy, bởi vì những điều luật này được đưa ra nhằm bảo vệ chế độ phân tầng giai cấp khắc nghiệt của chế độ phong kiến. Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Đến thời cận đại, DLBK 1931 cũng đưa ra khá nhiều đối tượng phụ nữ không được phép kết hôn: phụ nữ chưa đủ mười lăm tuổi và không được sự đồng ý của cha mẹ; phụ nữ đang có chồng; có quan hệ huyết thống trực hệ ( bất kể là con chính, con hoang, hay con nuôi); có quan hệ huyết thống bàng hệ – “ Anh chị em đồng phụ, đồng mẫu hay không cũng thế, hoặc lấy lãn nhau, hoặc lấy anh chị em nuôi; chị dâu, em dâu với em chồng, anh chồng; chú bác, cậu với cháu gái, cô dì với cháu trai; bác gái hay thím với cháu chồng; anh em với chị em con chú con bác, con cậu, con cô, con dì cả hai bên nội ngoại, anh em, chị em cháu chú cháu bác, cháu cô về bên nội; an hem họ với chị em đồng tông.” ( Điều 74). Tuy nhiên, có thể thấy rằng phạm vi đối tượng không được kết hôn trong DLBK 1931 đã thu hẹp so với Hoàng Việt Luật Lệ, cụ thể như sau:

  • Xóa bỏ sự cách biệt về giai cấp, tầng lớp xã hội trong kết hôn: không còn cấm đoán hôn nhân giữa quan lại và thường dân nơi nhiệm sở, giữa người lương thiện với nô bộc.
  • Giảm bỏ tình trạng đình chỉ quyền kết hôn cho người phụ nữ.

Chú trọng đảm bảo giống nòi về mặt sinh học song vẫn tạo điều kiện hết mức cho hạnh phúc: Thời nhà Nguyễn, nam nữ chỉ cần nằm trong gia phả của dòng họ, bất kể bên nội, bên ngoại, họ hàng xã hay gần, có quan hệ huyết thống hay không đều bị cấm kết hôn. Tuy nhiên đến thời Pháp thuộc, trên cơ sở kế thừa bộ luật dân sự Pháp và các nghiên cứu về sinh học ở thời điểm bấy giờ, các nhà làm luật đã quy định giới hạn về số đời bị dấm kết hôn. Mặt sinh học cũng được chú trọng khi quy định về độ tuổi được phép kết hôn.

Như vậy, đối với phụ nữ ( và nam giới) được phép kết hôn trong Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931 đã có sự mở rộng so với Hoàng Việt Luật Lệ. Điều này đã đem lại cho mỗi cá nhân quyền lợi và cơ hội lớn hơn trong việc tìm kiếm hạnh phúc. Ở Bắc Kỳ – nơi bộ DLBK 1931 có hiệu lực, cách biệt về tầng lớp – giai cấp trong xã hội dần được xóa bỏ.

2.1.2. Quyền li hôn Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Theo HVLL, trên quan điểm luân lý Nho giáo và sự tương đồng với Đại Thanh Luật Lệ của nhà Thanh người phụ nữ phải có nghĩa vụ theo chồng, người chồng có thể bỏ vợ chứ vợ không được tự đoạn tuyệt với chồng. Chính vì vậy, thay vì được quyết định cuộc hôn nhân của mình, những trường hợp người phụ nữ có thể đề nghị và nhận được phán quyết cho phép ly hôn và cải giá khá éo le.

Thứ nhất, trường hợp người chồng dung túng và ép buộc thê thiếp thông dâm với người khác. Hoàng Việt Luật Lệ quy định rất cụ thể: “Phàm tội dung túng và ép buộc thê thiếp thông dâm với người khác thì cả chồng lẫn gian phu, gian phụ đều phạt mỗi người 90 trượng. Ép buộc thê thiếp và con gái nuôi thông dâm với người khác thì người chồng và cha nuôi đều xử phạt 100 trượng, gian phu xử phạt 80 trượng. Đàn bà và con gái không phải chịu tội, trả về gia đình”. Luật pháp đã bảo vệ người phụ nữ trong trường hợp bị người chồng ép buộc thông dâm với người khác, giúp người phụ nữ thoát khỏi những đày đọa về mặt tinh thần trong cuộc hôn nhân.

Thứ hai, trường hợp người chồng bỏ trốn ba năm không về. “Chồng bỏ trốn ba năm không về thì cho phép trình báo lên quan ty chiếu theo luật lệ cho cải giá cũng không bắt truy hồi tiền sính lễ”. Việc không bắt truy hồi tiền sính lễ như một cách bồi thường về mặt vật chất và an ủi về mặt tinh thần đối với người phụ nữ.

Thứ ba, trường hợp người chồng đánh vợ đến mức bị thương. Trong tương quan so sánh giữa tội chồng đánh vợ với tội vợ đánh chồng thì thông thường người vợ đánh chồng sẽ bị xử tội nặng hơn so với người chồng đánh vợ. Tuy nhiên, luật pháp nhà Nguyễn cũng có ưu tiên cho người phụ nữ trong trường hợp bị người chồng đánh trọng thương. “Hoàng Việt luật lệ” quy định: “Người chồng đánh vợ không đến mức chiết thương thì không bắt tội. Từ chiết thương trở lên thì xử nhẹ hơn đối với dân thường hai mức (cần có vợ tự tố cáo mới bắt tội).

Trước hết phải thẩm vấn vợ chồng, nếu như thuận tình xin ly dị thì xử cho ly dị. Nếu không thuận tình ly dị thì khám nghiệm tội (đánh chiết thương đáng bị xử) mà cho chuộc (vẫn cho đoàn tụ)”. Như vậy, nếu người chồng đánh người vợ bị thương trở lên là một trong những điều kiện để người vợ đề nghị việc ly hôn. Tất nhiên, việc ly hôn hay không ly hôn là căn cứ vào nguyện vọng của người vợ và người chồng cũng có quyền đồng ý hoặc không đồng ý.

Thứ tư, trường hợp người chồng cầm cố vợ, con. Điều luật thứ 95 “Điển cố thê nữ” (Cầm cố vợ hoặc con gái) lại quy định: “Phàm nhận tiền của mà đem thê thiếp cầm cố (lập giao ước đưa cho) (tính theo ngày cho thuê) cho người khác làm thê thiếp, thì (người chồng đó) bị xử phạt 80 trượng. Kẻ cầm cố con gái (nếu là cha) bị xử phạt 60 trượng, phụ nữ thì không bị bắt tội. Nếu như mạo nhận thê thiếp là chị em gái rồi đem gả cho người khác thì bị xử phạt 100 trượng, bọn thê thiếp đó cũng bị xử phạt 80 trượng. Nếu biết rõ mà cứ cầm cố cưới xin, thì đều bị xử tội như thế và bắt phải ly dị (con gái trả về với cha mẹ, thê thiếp thì đưa về họ bản tông). Tiền của lễ lạt đưa sung công. Nếu không biết thì không bắt tội, cho phép thu hồi của sính lễ (nhưng vẫn bắt ly dị)”. Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Thứ năm, không có tội bị bố mẹ chồng đánh trọng thương. Điều luật “Ẩu tổ phụ mẫu phụ mẫu” (Đánh ông bà, cha mẹ) quy định: “Ông bà, bố mẹ … nếu không có lí do mà đánh con dâu, cháu gái, … đến tàn tật, phạt 80 trượng. Tật nặng tăng thêm một bậc, cho về với gia đình” .

Tuy có quy định về việc người phụ nữ được phép li hôn, nhưng việc người vợ không có quyền tự quyết dẫn đến xảy ra trường hợp người phụ nữ muốn li hôn nhưng người chồng không muốn, dẫn đến việc phản bội chồng và bỏ trốn, tự cải giá dẫn đến phải nhận các hình phạt trượng và bị chồng gả bán, thậm chí là bị xử giảo (treo cổ).

Đến thời cận đại, tình hình đã có sự cải thiện. Cả người vợ và người chồng có thể quyết định ly hôn bằng việc cùng nộp đơn lên tòa án ( Điều 117), hơn thế nữa người vợ có thể đệ đơn ly hôn mà không cần đến sự đồng ý của người chồng. Người phụ nữ còn có thể căn cứ vào nhiều tình hình thực tế khác mà quyết định ly hôn để đảm bảo quyền lợi của mình: “(1)Vì chồng không làm nghĩa vụ đã cam đoan khi kết hôn là phải tùy theo kế sinh nhai mà nuôi nấng vợ con; (2) Chồng bỏ nhà mà đi quá hai năm không có cớ gì chính đáng và không lo liệu việc nuôi nâng vợ con; (3) vì không có cớ gì chính đáng mà chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mình; (4)vì làm trái trật tự trong thê đẳng; (5)vì bên nọ hà khắc, hành hạ, chửi rủa thậm tệ với bên kia hoặc tổ phụ bên kia; (6)vì một bên can án trọng tội; (7)vì một bên vô hạnh làm nhơ nhuốc đến nổi bên nguyên đơn không thể ở chung được nữa; (8)vì điên cuồng công nhiên ai cũng biết hoặc vì câu lưu suốt đời trong một bệnh viện.” ( Điều 119, Điều 120).

Trong số các trường hợp được nêu trên, có một số đã thấp thoáng xuất hiện trong các trường hợp xử lý li hôn hoặc hủy hủy bỏ hôn ước trong Hoàng Việt Luật Lệ. Nhưng trong Hoàng Việt Luật Lệ thì việc ly hôn không phụ thuộc vào ý chí tự quyết của người phụ nữ mà là các đối tượng khác. Ví dụ: Trường hợp (8) trước đây do gia đình xem xét để quyết định lập hôn ước và kết hôn cho người con trai và người con gái hay không; trường hợp (5) chỉ dành quyền quyết định ly hôn cho người chồng trong khi nếu người vợ có hành vi như vậy phải bị phạt trượng, còn chồng đánh vợ nếu muốn ly hôn vẫn phải được sự đồng ý của người chồng,… Đến thời cận đại, mà cụ thể ở đây là Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931 sự bất bình đẳng này đã được giảm đi rất nhiều.

Ở thời nhà Nguyễn, phụ nữ mặc nhiên phải chấp nhận bị cưỡng ép ly hôn từ một phía là người chồng mà không có quyền phản kháng để bảo vệ vị trí và quyền lợi của mình trong gia đình. Người chồng có thể quyết định bỏ vợ khi khi: không có con; dâm dật; không phụng dưỡng cha mẹ chồng; chua ngoa lắm điều; trộm cắp; ghen ghét đố kỵ; có ác tật. Tuy có ba điều mà HVLL quy định người chồng không được tự ý bỏ vợ đó là đã để tang cha mẹ chồng, trước nghèo hèn sau giàu sang và sau khi lấy chồng không thể về ( Hoàng Việt Luật lệ, quyển 7). Xét ở khía cạnh đạo đức, các lỗi dâm dật, trộm cắp,… thể hiện sự thiếu sót của một con người; song đứng trên khía cạnh pháp luật quy định như vậy đã xóa bỏ quyền tự quyết, chủ động trong vấn đề li hôn của người vợ. Hơn thế nữa, người nam giới có thể cũng vi phạm những điều tương tự nhưng lại chẳng có quy định nào cho phép người vơ được bỏ chồng. Hay nói cách khác, quan niệm “chồng là giềng mối của vợ”, “xuất giá tòng phu” đã ăn sâu vào tiềm thức của xã hội phong kiến và làm bật nên vấn đề bất bình đẳng giới thời kì này.

Tuy trong Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931 cũng có những quy định cho phép người chồng đơn phương đệ đơn ly hôn với người vợ nhưng xét về khía cạnh nhân văn và việc phải trải qua sự phán quyết của tòa án cho thấy sự bình đẳng và quyền của người phụ nữ đã được chú trọng hơn rất nhiều.

2.1.3. Quyền tái hôn Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Thứ nhất, Ở thời cận đại, người phụ nữ sau khi mất chồng hoặc li hôn có quyền tái hôn và quyền này phụ thuộc sự tự quyết của bản thân người phụ nữ. Tuy bộ DLBK 1931 có quy định về thời hiệu mà người phụ nữ được phép tái hôn (“mười tháng kể từ ngày án tiêu hôn đã thành nhất định” nhưng xét về bản chất người phụ nữ sau khi chồng mất hoặc li hôn sẽ quay trở lại trạng thái ban đầu như người phụ nữ chưa từng kết hôn và hưởng đầy đủ tính tự quyết của quyền này.

Trong khi đó, ở thời nhà Nguyễn, người phụ nữ sau khi chồng chết hoặc li hôn có khả năng tái hôn và cũng có thể quy trở lại với tư cách một người phụ nữ chưa từng kết hôn, song cũng giống như trước khi lấy chồng, họ hoàn toàn không có quyền tự quyết đối với cuộc hôn nhân của mình mà phải chịu sự sắp xếp, bố trí của gia trưởng trong tông tộc của mình nếu đã trở về nhà mẹ đẻ hoặc gia trưởng trong tông tộc nhà chồng nếu vẫn còn ở lại nhà chồng cho các cộc kết hôn tiếp theo. Họ chỉ có quyền phản đối cuộc tái hôn mang tính chất cưỡng ép, không phụ thuộc vào nguyện vọng của cá nhân mình. Trường hợp duy nhất mà họ được thể hiện thái độ và nguyện vọng của họ là khi: “người đàn bà chồng chết sau khi đã mãn tang, muốn ở vậy thì thủ tiết ở nhà chồng”. Người nhà chồng và họ hàng nhà chồng trong trường hợp này không được phép cưỡng ép người đó đi lấy chồng, nếu cưỡng ép sẽ phải chịu hình phạt. Tuy điều luật này bảo vệ quyền tự quyết của người phụ nữ, song xét cho cùng, thực ra nó đang bảo vệ quan niệm phụ nữ có chồng cần “thủ tiết” để làm nổi bật quan niệm của xã hội phong kiến về “ trinh tiết liệt nữ”, “phụ nữ chỉ thờ một chồng”. Quy định như vậy mang nặng lễ giáo phong kiến hoàn toàn không đếm xỉa đến quyền được hưởng hạnh phúc hôn nhân của người phụ nữ. Hình phạt đối với những người ép buộc chỉ mang tính chất trừng phạt những kẻ muốn phá hỏng hình tượng “thờ chồng” mà xã hội áp đặt lên vai người phụ nữ.

Thứ hai, đối tượng được phép tái hôn được mở rộng và thời hạn cấm tài hôn bớt khắc nghiệt hơn so với thời nhà Nguyễn. Theo Hoàng Việt Luật Lệ khi người chồng qua đời thì vợ lẽ được phép tái hôn ngay, còn vợ cả phải chờ mãn tang chồng (3 năm) mới được tái giá. Đến Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931, quy định về vợ lẽ, vợ cả trong vấn đề tái hôn đã không còn, tất cả đều như nhau, sau khi tiêu hôn đã thành thời hiệu 10 tháng có thể tái hôn. Tuy có nới lỏng và tiến bộ hơn so với thời đại trước nhưng DLBK 1931 vẫn còn sự bất bình đẳng trong đó khi người chồng không cần phải chờ những thời hiệu này mà có thể được phép tái hôn ngay.

2.2. Quyền về tài sản Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Thời cận đại, theo quy định của Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931, trong tương quan với nam giới người phụ nữ đã được hưởng quyền bình đẳng về tài sản hơn nhiều so với thời nhà Nguyễn. Điều này được thể hiện rõ trong quyền đối với tài sản trong quan hệ hôn nhân và quyền đối với tài sản trong quan hệ thừa kế.

2.2.1. Tài sản trong quan hệ hôn nhân

Dưới thời nhà Nguyễn, người phụ nữ hầu như không có quyền tài sản trong quan hệ hôn nhân. Mọi tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu, quản lý và sử dụng, định đoạt của người chồng. Điều này được thể hiện ở việc, các quy định về việc người phụ nữ được thừa hưởng và quản lý tài sản trong HVLL vô cùng ít ỏi. Đối với phụ nữ đã lập ra đình, “Hoàng Việt luật lệ” có một điều lệ quy định về quyền được thừa kế tài sản của phụ nữ. Điều lệ của điều luật “Lập đích tử vi pháp” (Lập con đích trái phép) quy định: “Người đàn bà chồng chết không có con trai mà thủ tiết thờ chồng thì được hưởng phần gia sản của chồng và dựa vào trưởng họ tìm người đúng thứ bậc trên dưới cho kế tự. Nếu như cải giá thì số tài sản đó và toàn bộ đồ trang sức đều trả lại cho gia đình chồng trước”. Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Đối với phần tài sản thông thường, nếu người chồng chết mà người vợ vẫn thủ tiết thì phần tài sản đó vẫn do người vợ quản lí, chỉ khi nào người mẹ chết thì con cái mới được phân chia tài sản. Ngay cả của hồi môn ( phần tài sản mà người phụ nữ được gia đình nhà mẹ đẻ cho riêng) cũng không nằm trong quyền định đoạt của người phụ nữ thời nhà Nguyễn. Người phụ nữ ngay cả cải giá cũng không được mang theo của hồi môn đó. Của hồi môn chỉ được nhận lại trong trường hợp người phụ nữ bị người trong gia đình nhà chồng (ông bà, cha mẹ, mẹ đích, mẹ kế, mẹ nuôi) phi lý đánh thành tật. Và hơn thế nữa của hồi môn chỉ được trả cho vợ cả, còn vợ bé không nhận được bất cứ thứ gì dù bị đánh chết.

Chính vì vậy, người phụ nữ thời nhà Nguyễn đối mặt với tình trạng vô sản. Thân thể và tính mạng của người phụ nữ không được coi trọng, chưa kể đến sự phân chia thứ bậc, đẳng cấp giữa vợ lẻ và vợ cả.

Đến thời cận đại, Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931 quy định bình đẳng hơn về quyền tài sản giữa phụ nữ và nam giới. Ở thời kì này người phụ nữ đã bắt đầu có những quyền tài sản cơ bản. Cụ thể theo quy định của bô Dân Luật Bắc Kì 1931, kể từ khi quan hệ hôn nhân được bắt đầu cho đến khi kết thúc, căn cứ vào chế độ tài sản vợ chồng do cả hai bên quyết định, người phụ nữ được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt các tài sản sau:

Trường hợp 1: Hai vợ chồng đã lập tư ước hôn nhân (thỏa thuận về tài sản chung và tài sản riêng của hai vợ chồng) thì sự phân chia tài sản sẽ làm theo như cách thức đã định trong khi kết hôn (Điều 147).

Trường hợp 2: Hai vợ chồng không lập tư ước hôn nhân, tài sản của đôi vợ chồng sẽ được quy về chế độ tài sản pháp định (Điều 112). Khi đó tài sản riêng của cả vợ và chồng đều mặc định thành tài sản chung của hai vợ chồng. Người vợ trong trường hợp này có những quyền sau:

Thứ nhất, nếu li hôn và cả hai vợ chồng có con chung thì người vợ sẽ được một phần trong tài sản chung của hai vợ chồn. Phần ấy tùy theo kỷ phần mà người vợ đã góp vào hay đã tăng thêm cho của chung. Trong trường hợp người vợ gian thông mà li hôn cái phần ấy sẽ bị bớt đi một nửa.

Thứ hai, nếu li hôn và cả hai vợ chồng chồng có con chung thì người vợ được lấy lại phần kỷ phần của mình còn hiện vật và được một nửa của chung trừ kỹ phần của người vợ đi rồi. Trong trường hợp người vợ vì gian thông mà li hôn chỉ nhận được một phần tư tài sản chung, đã trừ kỷ phần của người chồng đi rồi.

Trong mọi trường hợp, người vợ khi ly hôn được lấy lại các đồ tư trang, phục sức của mình.

Tuy nhiên nếu là người vợ thứ li hôn thì sẽ không được hưởng phần tài sản chung.

Qua những quy định kể trên, có thể nhận thấy, so với thời nhà Nguyễn, người phụ nữ Việt Nam thời cận đại đã bước đầu có những quyền lợi về tài sản. Tuy nhiên quyền lợi này vẫn không mang sự công bằng, khi đi kèm theo nó là các điều kiện về nhân phẩm, đạo đức và đặc biệt cả điều kiện về con cái. Điều mà không phải chỉ người phụ nữ là có thể quyết định được. Điều này cho thấy sự bất bình đẳng giới trong vấn đề tài sản chỉ mới được cải thiện bước đầu so với thời phong kiến mà thôi, bất bình đẳng vẫn còn tồn tại giữa người nam và người nữ trong gia đình.

2.2.2. Tài sản trong quan hệ thừa kế Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Những quy định trong HVLL dù rất ít ỏi nhưng đã bước đầu quan tâm đến quyền lợi kinh tế của người phụ nữ,

Người con gái khi còn ở với bố mẹ trong trường hợp đặc biệt có thể được quyền thừa kế tài sản: “Tài sản của hộ dân tuyệt tự, nếu quả là trong hộ không có người thừa kế, thì cho người con gái hưởng”(Hoàng Việt Luật Lệ, quyển 6:

Hộ Luật). Như vậy, theo quy định chỉ trong trường hợp hộ dân tuyệt tự thì người con gái mới thừa kế tài sản, ngược lại nếu hộ dân không tuyệt tự thì người con gái không được phân chia tài sản thừa kế.

Đối với phụ nữ đã lập gia đình, HVLL có một điều luật quy định về quyền được thừa kế tài sản của phụ nữ. Điều lệ của điều luật “Lập đích tử vi pháp” (Lập con đích trái phép) quy định: “Người đàn bà chồng chết không có con trai mà thủ tiết thờ chồng thì được hưởng phần gia sản của chồng và dựa vào trưởng họ tìm người đúng thứ bậc trên dưới cho kế tự. Nếu như cải giá thì số tài sản và toàn bộ trang sức trả lại cho gia đình chồng trước”.(Hoàng Việt Luật Lệ, Quyển 6: Hộ Luật: Lập đích vi tử pháp)

Đối với phần tài sản thông thường, nếu người chồng chết mà người vợ vẫn thủ tiết thì phần tài sản đó vẫn do người vợ quản lí, chỉ khi nào người mẹ chết thì con cái mới được phân chia tài sản. Việc phân chia tài sản cho con cái được quy định trong điều lệ thứ nhất điều luật “Ti ấu tư thiện dụng tài” như sau: “Ngoại trừ phẩm tước tập ấm thì phải theo nguyên tắc là con trai và phân biệt giữa dòng đích và dòng thứ, trước hết phải chọn con cháu ngành trưởng dòng đích còn đối với việc phân chia gia tài và ruộng đất của người chết được chia đều cho các con không phân biệt con vợ cả, vợ thứ hay nàng hầu, chỉ căn cứ vào tổng số con cái mà thôi”. Những chế định trên cho thấy trong phân chia tài sản của người chết không có sự phân biệt con trai, con gái, con vợ cả, vợ lẽ, con nàng hầu ngoại trừ thừa kế tập ấm, quan tước.

Ở thời cận đại, khi tư tưởng bình đẵng giới đã bắt đầu manh nha trong xã hội và trở nên ngày một phổ biến hơn, những quy định về quyền thừa kế tài sản của người phụ nữ Bắc Kì có những biến đổi, theo chiều hướng tích cực.

Quyền thừa kế của người vợ theo bộ DLBK 1931 được quy về hai hình thức thừa kế, đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Về thừa kế theo di chúc, Điều 312 DLBK có quy định: người cha có thể lập chúc thư để định đoạt tài sản của mình nhưng phải giữa quyền lợi cho vợ chính.

Về thừa kế theo pháp luật: Trong thời kì thực dân phong kiến, vị trí của người vợ vẫn không được xem trọng và bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nên không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân. Bộ DLBK quy định việc thừa kế theo pháp luật theo tư tưởng nối tộc, khi chia di sản theo pháp luật như sau:

Thứ tự thứ nhất: Các con ( con đẻ, con nuôi, con vợ cả, con vợ lẽ, con trai, con gái); nếu không còn con cháu thì người để lại di sản mới được hưởng di sản của ông bà.

Thứ tự thứ hai: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của người để lại di sản, nếu người để lại di sản không còn con cháu.

Thứ tự thứ ba: ông nội, bà nội, nếu ông bà nội không còn thì các cụ nội của người để lại di sản được hưởng.

Thứ tự thứ tư: anh chị, em ruột. Nếu anh chị, em ruột chết trước thì con của anh, chị, em ruột được hưởng và cháu của anh, chị, em ruột sẽ được hưởng di sản, nếu con của anh chị em ruột cũng đã chết.

Thứ tự thứ năm: Những người bên họ ngoại của người để lại di dản được hưởng sau khi đã xác định bên họ nội không còn ai thừa kế hoặc có nhưng đều bị coi là không xứng. ( Điều 337-343, DLBK 1931). Ta không hề thấy bóng dáng của người vợ trong các quy định này. Thậm chí bộ dân luật bắc kì thì người vợ góa chỉ là người thừa kế cuối cùn của người chồng khi không còn thân thuộc nào khác bên nọ nội của người chồng. Vì vậy, đây được xem là một bước thụt lùi của pháp luật thời cận đại so với pháp luật nhà Nguyễn.

Kết luận chương 2 Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

Như vậy, so với Hoàng Việt Luật Lệ, những quyền của người phụ nữ trong vấn đề hôn nhân và tài sản có xu hướng mở rộng hơn trong Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931. Xét về hầu hết các khía cạnh, các nhà làm luật đã tạo một khoảng mở rộng lớn hơn, cho người phụ nữ nhiều quyền tự quyết hơn và cũng tính toán nhiều hơn đến quyền lợi và địa vị của họ trong xã hội. Bộ DLBK 1931 coi trọng quyền lợi của người phụ nữ hơn, cũng vì thế khoảng cách về quyền lợi của nam và nữ trong luật cũng được thu hẹp lại.

Tuy nhiên, sự bất bình đẳng là vẫn còn trong xã hội, cả hai bộ luật đều tôn trọng quyền lợi và địa vị của nam giới nói chung và địa vị của người chồng nói riêng khi cho họ nhiều hơn những quyền tự quyết và định đoạt so với người vợ.

Ở thời kì này, vẫn chưa có chế độ hôn nhân một vợ một chồng chứng tỏ xã hội vẫn còn mang nặng tính phong kiến và quan niệm của nho giáo về các vấn đề liên quan đến phụ nữ vẫn ăn sâu vào trong tiềm thức xã hội.

Sự cải thiện về quyền lợi của người phụ nữ ở DLBK 1931 so với Hoàng Việt Luật Lệ được đánh giá là tiến bộ, nhân văn. Điều đó phản ánh sự tất yếu là xu thế chung trong sự phát triển của xã hội pháp luật. Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Nguyên nhân chuyển biến quyền hôn nhân và tài sản

3 thoughts on “Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản

  1. Pingback: Khóa luận: Chuyển biến về quyền hôn nhân và tài sản của phụ nữ

  2. Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản says:

    Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản

  3. Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản says:

    Khóa luận: Bước chuyển biến rõ rệt về quyền hôn nhân và tài sản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464