Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank chi nhánh Ba Đình. Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Định hướng phát triển của ngân hàng trong thời gian tới:

1. Định hướng hoạt động:

Nguyên tắc cơ bản của NHCT VN nói chung và của chi nhánh nói riêng trong chính sách kinh doanh là cạnh tranh bằng lãi suất, phí tín dụng, chất lượng sản phẩm dịch vụ và tiện ích ngân hàng. Chi nhánh không cấp tín dụng ưu đãi theo thành phần kinh tế hoặc ngành hàng mà căn cứ vào: Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

  • Khách hàng phải đạt tiêu chuẩn xếp hạng tín dụng cao.
  • Khối lượng giao dịch qua ngân hàng đạt độ lớn nhất định.
  • Doanh thu của ngân hàng từ các dịch vụ cung cấp cho khách hàng đạt đến độ lớn nhất định.
  • Phương án/dự án vay vốn khả thi cao và có rủi ro thấp.

Để thu hút các khách hàng trong nhóm ngành hàng chiến lược, áp dụng các cơ chế khuyến khích như:

  • Áp dụng mức lãi suất và phí phù hợp hỗ trợ giảm chi phí cho khách hàng.
  • Ưu tiên mức độ đáp ứng yêu cầu vốn ở mức lớn nhất có thể.
  • Hỗ trợ khách hàng trong các dịch vụ ngân hàng hiện đại áp dụng kỹ thuật công nghệ thông tin như dịch vụ ngân hàng điện tử, quản lý tiền mặt, tư vấn tài chính,…Giới thiệu và áp dụng với những khách hàng với những sản phấm mới và hiện đại.

Ngoài ra, chi nhánh còn có các phương hướng như sau:

  • Duy trì và giữ nhịp độ tăng trưởng tín dụng, tăng cường chất lượng và hiệu quả tín dụng.
  • Ngừng đầu tư và rút dần dư nợ từ các khách hàng làm ăn thua lỗ hoặc sản xuất kinh doanh không ổn định, tình hình tài chính không lành mạnh.
  • Tốc độ tăng dư nợ hàng năm đạt 20-25%.
  • Phát triển dịch vụ ngân hàng, tăng tốc độ thu dịch vụ từ 10-20%.
  • Giữ tỉ lệ nợ xấu luôn dưới 3%.
  • Chuẩn bị nhân lực kế thừa.
  • Hoàn thiện văn hóa ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Định hướng hoạt động thẩm định tín dụng: Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Thẩm định tín dụng với tư cách là một hoạt động có khâu tổ chức điều hành, quy trình riêng cũng như đội ngũ cán bộ thực hiện nên trước khi đưa ra giải pháp hoàn thiện, quy trình cũng cần phải có định hướng rõ ràng. Dưới góc độ ngân hàng, nhằm phát huy tối đa các lợi thế tiềm năng của chi nhánh, đạt được mục tiêu đề ra trong hoạt động đầu tư tín dụng cũng như chiến lược phát triển chung, chi nhánh có những định hướng cho hoạt động thẩm định tín dụng như sau:

  • Thẩm định tín dụng phải đứng trên quan điểm của người cho vay để xem xét tính khả thi, hiệu quả của phương án xin vay, nhận thức rõ lợi ích của ngân hàng gắn liền với lợi ích của phương án xin vay.
  • Công tác thẩm định tín dụng phải được quán triệt toàn chi nhánh, không chỉ các cán bộ trực tiếp thẩm định mà có cả các bộ phận khác với mức độ yêu cầu công việc khác nhau.
  • Thẩm định tín dụng phải được tiến hành thường xuyên liên tục với tất cả các phương án xin vay tại thời điểm trước và trong khi cho vay.

II. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định tín dụng: Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

1. Giải pháp chung cho Ngân hàng Công thương:

1.1. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thu thập thông tin

Nguồn thông tin là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của công tác phân tích tín dụng doanh nghiệp. Thông tin đầy đủ là cơ sở cần thiết để cán bộ tín dụng có thể phân tích và đưa ra nhận định chính xác về khách hàng, từ đó có những quyết định hợp lý trong việc đáp ứng nhu cầu cho vay của khách hàng . Ngoài ra nguồn thông tin đầy đủ cũng giúp cho ngân hàng nắm bắt được những diễn biến của môi trường trong và ngoài nước, những biến động kinh tế và những thay đổi trong chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước, từ đó ngân hàng đề ra các biện pháp kịp thời, nhằm điều chỉnh các hoạt động tránh những rủi ro thiệt hại và ổn định để phát triển.

Nguồn thông tin chủ yếu sử dụng để đánh giá khách hàng gồm: thông tin từ bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi đến, thông tin lưu trữ tại ngân hàng, thông tin do cán bộ tín dụng đi kiểm tra thực tế, thông qua các mối quan hệ, phỏng vấn các đối tượng có quan hệ với khách hàng. Có thể nhận thấy các nguồn thông tin này là do ngân hàng tự tìm hiểu, do đó các thông tin này không trọn vẹn và thiếu tính khách quan. Ngân hàng Công thương cần thiết phải có những giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thu thập thông tin liên quan đến đối tượng cho vay như:

  • Quán triệt đến tất cả cán bộ từ hội sở chính đến các chi nhánh để mọi người nhận thấy được vai trò, tác dụng của những thông tin từ các nguồn ngoài ngân hàng liên quan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và của khách hàng nói riêng.
  • Việc thu thập, xử lý nguồn thông tin phải được thực hiện thường xuyên và có sự sàng lọc kỹ càng.
  • Xây dựng hệ thông thông tin thu thập được trên các nguồn ngoài ngân hàng đảm bảo tính đồng nhất về nội dung thông tin; nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng thông tin của cán bộ tín dụng; hoàn thiện kỹ năng sử dụng thông tin trong thẩm định khách hàng tại cơ sở.
  • Cán bộ tín dụng phải không ngừng hoàn thiện kỹ năng sử dụng hệ thống thông tin trên các nguồn ngoài ngân hàng, phục vụ tốt công tác, nhằm rút ngắn thời gian và hỗ trợ tốt trong thẩm định tín dụng.
  • Thiết lập và nâng cao các mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác trong và ngoài nước để có thể giúp đỡ các chi nhánh tìm kiếm, xác định thông tin mỗi khi cần thiết.
  • Cập nhật thông tin từ các ấn phẩm báo chí trong và ngoài nước. Nguồn thông tin này thường rất nhạy bén, có thể đưa ra những dự báo có tính chính xác khá cao về các vấn đề mà chính phủ có thể đưa ra cải cách, về những mối quan tâm của xã hội. Đây là cơ sở để các cán bộ tín dụng tiên đoán trước được phần nào thay đổi của nền kinh tế để có đánh giá chính xác nhất có thể về tương lai của phương án vay vốn cũng như giúp họ có sự chuẩn bị trước đối với các sự thay đổi trong mọi mặt của nền kinh tế và chính trị.

1.2. Giải pháp về tổ chức điều hành công tác thẩm định tín dụng Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Hoàn thiện trong công tác tổ chức thẩm định tín dụng là một vấn đề quan trọng đối với bất cứ một ngân hàng nào bởi nó không chỉ làm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng mà còn tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày một phát triển. Vì vậy, ngân hàng cần thiết phải đưa ra các giải pháp hiệu quả để từng bước đạt được sự tối ưu nhất về mặt tổ chức của công tác này.

Một giải pháp tốt cho vấn đề này là thực hiện phân công cán bộ thẩm định theo các căn cứ: theo mục đích, lĩnh vực hoạt động của khách hàng hoặc theo thời gian của khoản vay hoặc theo quy mô của khoản vay.

Đối với phân công cán bộ thẩm định theo mục đích, lĩnh vực thẩm định của khách hàng nghĩa là sẽ phân công cán bộ tín dụng ra thành các nhóm, mỗi nhóm sẽ phục trách một mục đích hoặc một lĩnh vực nhất định. Thực hiện mô hình này có ưu điểm là chuyên môn hóa cán bộ tín dụng trong từng lĩnh vực, họ sẽ trở nên am hiểu hơn về hoạt động của khách hàng và như vậy kết quả của quá trình thẩm định tín dụng sẽ đảm bảo chất lượng hơn.

Phân công cán bộ tín dụng thành 2 hoặc 3 nhóm, mỗi nhóm phụ trách thẩm định theo từng thời gian của khoản vay: ngắn, trung và dài hạn. Các cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn và giàu kinh nghiệm sẽ được phân công thẩm định các phương án vay dài hơi. Với giải pháp này, ngân hàng sẽ tận dụng tối đa chất xám của các cán bộ tín dụng, đồng thời các cán bộ tín dụng trẻ sẽ có nhiều cơ hội để thẩm định với các khoản vay ngắn hạn, từ đó tích lũy kinh nghiệm cho bản thân.

Giải pháp phân công cán bộ tín dụng thẩm định theo quy mô khoản vay có nghĩa là các cán bộ tín dụng có chuyên môn nghiệp vụ giỏi sẽ được đề cử thẩm định các khoản vay lớn hoặc các khoản vay không có tài sản đảm bảo.

Ngoài ra, trong giải pháp về tổ chức điều hành công tác thẩm định tín dụng, việc thường xuyên kiểm tra giám sát là một điều tất yếu. Việc chú trọng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ sẽ giúp ngân hàng phát huy những mặt làm tốt, chấn chỉnh kịp thời những hạn chế.

1.3. Giải pháp về nhân lực

Ngân hàng Công thương cần chú ý hoạt động đào tạo cán bộ công nhân viên. Con người luôn là trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động thẩm định tín dụng luôn gắn liền với sự có mặt của yếu tố con người. Để hoàn thiện hơn nữa công tác thẩm định, Ngân hàng Công thương cần chú ý đến hai yếu tố quan trọng, đó là trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp. Với mục đích đó, ngân hàng cần:

  • Chú trọng đến việc xây dựng đội ngũ kế cận, tránh tình trạng bị hụt mất một khoảng thời gian khi phải đào tạo cùng lúc quá nhiều nhân viên mới. Việc tuyển nhân viên mới cần chú trọng đến các kĩ năng mềm, khả năng làm việc của nhân viên trong tương lai hơn là xem nhân viên đó biết được những gì. Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank
  • Tăng cường tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ (nghiệp vụ thẩm định; phương pháp điều tra, thu thập thông tin về khách hàng; phương pháp phân tích tín dụng trong đó đi sâu vào nghiệp vụ phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế và năng lực tài chính; các phương pháp phân tích ngành kinh tế và hệ thống pháp luật…), các kiến thức tổng hợp về hoạt động kinh tế, xã hội, kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin, nâng cao năng lực phân tích, đo lường các tỷ lệ bảo đảm an toàn, đánh giá và kiểm soát một cách chặt chẽ rủi ro cho cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ tín dụng. Thường xuyên giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ nhân viên ngân hàng, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc.

Tổ chức các kì kiểm tra theo định kì và ngẫu nhiên với năng lực và đạo đức của các cán bộ tín dụng. Yêu cầu một cán bộ tín dụng cần có được:

  • Nắm vững quy trình, thủ tục, biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ.
  • Biết thu thập xử lý các thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá khách hàng, phương án dự án .

Nắm vững chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước của ngành, của địa phương có liên quan đến dự án, phương án xin vay vốn và khách hàng.

Nắm vững các phương pháp phân tích năng lực tài chính thẩm định khách hàng, đánh giá một dự án, một phương án, một món vay.

  • Nắm vững luật ngân hàng nước ngoài và các văn bản luật liên quan đến tín dụng.
  • Nắm vững tình hình kinh tế, xã hội, tài chính, kỹ thuật và thị trường liên quan đến lĩnh vực được giao.
  • Cán bộ tín dụng cần có đức tính trung thực, có bản lĩnh và phong cách làm việc khẩn trương khoa học.
  • Cần có chế độ tuyển dụng và đào tạo cán bộ tín dụng giỏi trong từng lĩnh vực (kinh tế, thị trường, kĩ thuật,…), vì hầu hết các cán bộ thẩm định đều tốt nghiệp các trường kinh tế nên đã hạn chế chất lượng thẩm định tín dụng.
  • Có chính sách thu hút và ưu đãi các chuyên gia giỏi để thu hút được đội ngũ này về làm việc cho ngân hàng, hoặc mời làm cố vấn, cộng tác viên cho ngân hàng.
  • Cùng với các yêu cầu đặt ra đối với mỗi cán bộ thẩm định, ngân hàng cần khuyến khích cán bộ tự học tập để nâng cao kiến thức bằng cách hỗ trợ kinh phí hoặc khuyến khích bằng cách tạo các cơ hội phát triển cho nhân viên phấn đấu, có chế độ khen thưởng kịp thời khi cán bộ thẩm định hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

1.4. Giải pháp hỗ trợ thẩm định Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Ngân hàng cần xây dựng hệ thống thông tin nội bộ. Hệ thống này cần thường xuyên được cập nhật và bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy. Một khách hàng có thể có quan hệ tín dụng với nhiều chi nhánh, do đó hệ thống này sẽ giúp cho các chi nhánh biết được thông tin về khách hàng một cách nhanh nhất và chính xác. Điều này sẽ giúp rút ngắn mà vẫn đảm bảo chất lượng công tác thẩm định.

Ngân hàng Công thương vẫn cần xây dựng một hệ thống, quy trình thẩm định cụ thể hơn, cập nhật các phương pháp tiên tiến trên thế giới nhưng vẫn dựa trên các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về công tác thẩm định tín dụng, hướng dẫn cụ thể cho các cán bộ thẩm định tại chi nhánh trong toàn quốc.

Ngân hàng cũng cần lập quỹ hỗ trợ cho thẩm định. Bản thân lãnh đạo các ngân hàng và các cán bộ làm công tác thẩm định tín dụng đều nhận thức được sự cần thiết của những khoản chi phí hỗ trợ. Mặc dù còn nhỏ lẻ, không thường xuyên song đã có những cuộc gặp gỡ tiếp xúc trực tiếp, đi thực tế khách hàng, đi thu thập và tìm hiểu thông tin,… đều cần đến chi phí. Việc thẩm định tín dụng không phải chỉ trong một thời gian ngắn, không phải chỉ hạn chế trong giai đoạn kiểm tra trước khi vay. Cán bộ thẩm định còn phải thường xuyên gặp gỡ, kiểm tra liên tục trong quá trình giải ngân. Do đó, ngân hàng nên xem xét lập ra một quỹ riêng để hỗ trợ cho công tác thẩm định, nó sẽ giảm bớt khó khăn cho cán bộ khi tiến hành thẩm định có điều kiện công tác tốt hơn. Kinh phí hỗ trợ này là nguồn khuyến khích động viên vật chất và tình thần lớn cho các cán bộ thẩm định với công việc của mình. Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Tăng cường kiểm tra sau khi giải ngân là một cách hữu hiệu để phát hiện ra sai sót trong công tác thẩm định khách hàng. Từ đó, các cán bộ tín dụng sẽ rút ra cho mình bài học và kinh nghiệm cho những tình huống tương tự sau này cũng như tự nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, từng bước hoàn thiện hơn công tác thẩm định tín dụng tại ngân hàng.

1.5. Giải pháp xây dựng chiến lược khách hàng

Công tác thẩm định tín dụng có đạt được hiệu quả cao hay không phụ thuộc một phần vào khách hàng. Nếu quan hệ của ngân hàng và khách hàng tốt đẹp và bền vững thì việc cung cấp các khoản vay đơn giản hơn rất nhiều. Do vậy ngân hàng cần xây dựng cho mình một chiến lược khách hàng thông qua các giải pháp sau:

Củng cố và phát triển khách hàng truyền thồng

Sở dĩ ngân hàng cần xây dựng cho mình một chính sách khách hàng lâu dài bởi vì việc thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Thông qua các mối quan hệ lâu dài với khách hàng, ngân hàng sẽ có điều kiện tham gia vào các hoạt động của khách hàng, làm công tác tư vấn, xem xét về mặt tài chính các cơ hội đầu tư. Từ đó, ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách hàng một cách chính xác, đầy đủ, làm cơ sở để ngân hàng thực hiện quá trình thẩm định tín dụng.

Mở rộng có chọn lọc đối với các đối tượng khách hàng Ngân hàng nên tích cực trong công tác thu hút khách hàng thuộc nhiều thành phần kinh tế để cho vay. Trong nền kinh tế hiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều khách hàng tiềm năng, ngân hàng cần phải nhạy bén để đạt được hiệu quả cho vay cao nhất. Tuy nhiên, việc mở rộng phạm vi khách hàng cần chú ý đến chất lượng, không nên chạy theo số lượng vì với đối tượng cho vay mới, quá trình thẩm định tín dụng sẽ khó khăn và có thể kéo dài hơn thường lệ.

Tư vấn giúp khách hàng trong hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh Một điều kiện quan trọng để ngân hàng xét duyệt cho khách hàng vay là phải có phương án khả thi. Đối với các đối tượng khách hàng có quy mô nhỏ thì việc xây dựng các phương án không dễ dàng, thường được lập sơ sài, tính toán theo kiểu thu chi đơn thuần, không phản ánh được hết nội dung của phương án xin vay cũng như hiệu quả đem lại cho ngân hàng. Vì vậy, việc lập phương án cần có sự tư vấn hỗ trợ của ngân hàng, giúp tăng tỉ lệ các phương án cho vay hiệu quả, loại bỏ các phương bán không có tính khả thi. Đây cũng là một điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, đồng thời cũng là lá chắn tốt với những rủi ro từ phía khách hàng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.

2. Giải pháp riêng cho chi nhánh Ba Đình: Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Chi nhánh cần đẩy mạnh việc nghiên cứu đặc điểm, khả năng, thói quen, nhu cầu mong muốn của từng loại khách hàng kể cả hiện tại và tương lai. Đồng thời đẩy mạnh việc marketing ở mọi khâu, mọi bộ phận nghiệp vụ, phòng ban nội bộ ngân hàng. Thực hiện tốt điều này sẽ giúp ngân hàng thu hút được lượng khách hàng đông đảo, qua đó có cơ hội mở rộng đầu tư tín dụng với chất lượng cao, nâng cao uy tín của ngân hàng.

Phối hợp với ban Thẩm định của NHCT và các chi nhánh khác để tổ chức các buổi trao đổi và học tập kinh nghiệm cho các cán bộ tín dụng (đặc biệt là các cán bộ trẻ) về nghiệp vụ giám sát khách hàng vay vốn, về pháp lý, ngoại ngữ và tin học.

Thành lập một bộ phận thu thập, phân tích các thông tin về các chương trình đầu tư phát triển của thành phố, của quận, của các bộ ngành,… và tình hình của các khách hàng hiện tại và các khách hàng hướng tới trong tương lai để có thể lên kế hoạch tiếp cận cụ thể với các chính sách phù hợp.

Thành lập thư viện điện tử, bộ phận cập nhật và xử lí các thông tin kinh tế và kĩ thuật một cách thường xuyên trên mọi lĩnh vực một cách có hệ thống để xây dựng nguồn thông tin an toàn phục vụ công tác thẩm định tín dụng khi cần.

Trong quá trình thành lập thư viện điện tử, chi nhánh cần liên tục tổ chức các buổi hội thảo nhằm mục đích trau dồi, hướng dẫn nghiệp vụ với các cán bộ mới; cũng như cập nhật thông tin về sự thay đổi của tình hình thị trường, giá cả,…cho toàn chi nhánh để nâng cao kiến thức trong việc xác định chi phí thực tế của các phương án xin vay, tránh phụ thuộc vào các thông tin được đưa ra trong hồ sơ xin vay.

Tiếp tục và nâng cao kiểm soát việc tiến hành quá trình thẩm định tín dụng. Ngoài ra, chi nhánh nên yêu cầu các cán bộ tín dụng thường xuyên thẩm định tín dụng lại với khoản vay trong quá trình giải ngân theo chu kỳ để xác định các yếu tố đã ước lượng có chính xác không, từ đó có thể đưa ra các biện pháp để hạn chế rủi ro của khoản vay.

Gắn trách nhiệm và quyền lợi của mỗi khoản vay vào các cán bộ liên quan. Chi nhánh có thể thực hiện chính sách thưởng, phạt dựa vào kết quả của công việc. Kết quả lao động của tín dụng là doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ, số món cho vay, tỷ lệ thu lãi và tỷ lệ nợ quá hạn. Nếu khoản vay có lãi, trả nợ đúng hạn thì cán bộ tín dụng sẽ được thưởng một phần trăm nhất định từ lãi thu được. Ngược lại, nếu hiệu quả của khoản vay không tốt, cán bộ sẽ bị trừ một phần trăm lương cố định.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ, không thụ động đợi Hội sở chính cử các đoàn thanh tra xuống kiểm tra. Việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc, chế độ quy định, nâng cao ý thức cán bộ công nhân viên.

Tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận nghiệp vụ. Công việc thẩm định tín dụng không chỉ là công việc của riêng bộ phận thẩm định và cán bộ thẩm định mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các bộ phận khác. Việc tham gia đóng góp ý kiến và cung cấp các thông tin cần thiết từ các bộ phận khác sẽ giúp cho kết quả thẩm định hiệu quả hơn, đầy đủ hơn.

III. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Ba Đình: Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

1. Kiến nghị với chính phủ, các cơ quan bộ ngành liên quan:

Hệ thống chính sách Nhà nước có ảnh hưởng và chi phối tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội,…Một sự thay đổi dù nhỏ hay lớn trong chính sách của Nhà nước ngay lập tức có ảnh hưởng đến toàn xã hội. Các chính sách của Nhà nước được cán bộ, ngành và chính quyền địa phương thành lập các văn bản cụ thể ban hành xuống từng cơ quan đơn vị. Về lĩnh vực ngân hàng, các hoạt động luôn bị ảnh hưởng bởi các chính sách kinh tế-tài chính của Nhà nước. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và hoàn thiện không chỉ cần nỗ lực của riêng ngân hàng mà còn cần sự giúp đỡ, phối hợp của các cơ quan hữu quan khác.

1.1. Xây dựng, củng cố và hoàn thiện các cơ quan tư vấn và cơ quan cung cấp thông tin

Thông tin tin cậy về các doanh nghiệp và về tình hình kinh doanh là điều kiện quan trọng nhất nhằm nâng cao chất lượng công tác đánh giá khách hàng trong hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, việc tổng hợp thông tin, đánh giá xếp loại đối với từng loại đối tượng khách hàng hiện chưa có cơ quan nào chính thức thực hiện. Chính phủ, người dân và các doanh nghiệp Việt Nam đang dần nhận thức một cách rõ nét hơn sự quan trọng của các bảng đánh giá xếp hạng uy tín trong nền kinh tế. Sự thiếu hụt thông tin tin cậy đang là vấn đề ngày càng cấp thiết nhất là khi Nhà nước và các thành phần kinh tế muốn hạn chế một cách tối đa các ảnh hưởng của các luồng thông tin sai sự thật ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Để làm được điều này, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành, nghiên cứu thành lập các tổ chức, công ty chuyên thu thập thông tin, tư vấn đánh giá chuyên mua bán thông tin, xếp hạng đối với từng loại đối tượng khách hàng. Trong việc thành lập các bảng xếp hạng, các chỉ số xếp hạng uy tín, Chính phủ nên học tập kinh nghiệm từ các thị trường phát triển, xây dựng các chỉ số xếp hạng đối với từng đối tượng chuyên biệt theo mô hình các chỉ số đáng tin cậy trên thế giới.

Hiện nay tại Việt Nam, chúng ta mới chỉ thấy sự phát triển bước đầu của chỉ số VNR500 trong việc đánh giá và xếp hạng 500 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam. VNR500 là một bảng xếp hạng được xây dựng theo mô hình của Fortune 500, bằng cách thu thập những số liệu thống kê về doanh thu, lợi nhuận, số lượng lao động… của các doanh nghiệp Việt Nam để cung cấp cho tất cả mọi người một bức tranh toàn cảnh về các doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong từng các lĩnh vực, ngành nghề. Tuy nhiên, chỉ số này hầu như chỉ hướng tới những doanh nghiệp lớn nhất trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các thành phần kinh tế cá nhân/hộ gia đình cũng đóng góp và ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của nền kinh tế. Để khắc phục điều này chúng ta có thể tạo ra các chỉ số VNR400 đánh giá các doanh nghiệp có vốn hóa nhỏ và VNR600 đánh giá các doanh nghiệp có vốn hóa trung bình được xây dựng theo mô hình của chỉ số S&P 400 và S&P 600.

Ngoài ra, chúng ta rất cần có chỉ số tương đương với chỉ số DowJones. Đây là một chỉ số rất hiệu quả phản ánh được rất nhiều mặt của nền kinh tế. Trong quá trình phát triển đất nước, nếu Chính phủ phát triển được chỉ số này sẽ phản ánh một cách khái quát về tình hình công nghiệp, vận tải và dịch vụ của nền kinh tế. Thông qua thị trường chứng khoán đang phát triển, chỉ số này sẽ phản ánh một cách kịp thời nhất với tình hình thay đổi của các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Việc thành lập các bảng xếp hạng và chỉ số này không chỉ giúp chính phủ và các bộ nắm được hiệu quả của hoạt động của từng ngành nói chung và từng loại đối tượng nói riêng mà còn cung cấp một nguồn thông tin vô cùng tin cậy cho các ngân hàng trong việc thẩm định tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tổ chức này có thể thành lập dưới dạng một cơ quan nhà nước do Nhà nước trực tiếp quản lí hoặc có thể là công ty kinh doanh chuyên thu thập và bán các sản phẩm thông tin. Nhà nước cũng cần phải quy định các cơ sở pháp lý cho việc mua bán thông tin do các tổ chức này cung cấp.

Để hỗ trợ tốt cho việc tạo nguồn thông tin cho công tác thẩm định tín dụng của ngân hàng, các bộ chủ quản như: bộ công nghiệp, bộ công thương, bộ xây dựng, bộ tài chính, bộ kế hoạch và đầu tư,… cần tiến hành thu thập thông tin, trao đổi xử lý và chuẩn hóa các thông tin một cách thường xuyên và định kì. Các Bộ cần ban hành các định mức thông số kĩ thuật của ngành, xây dựng và cập nhật một bảng biểu các chi phí đối với các nguyên vật liệu liên quan đến công nghệ của ngành. Có như vậy, các cán bộ tín dụng mới có cơ sở đáng tin cậy để đánh giá và tiên đoán về tính hiệu quả của phương án cho vay, qua đó mới thể hiện được hết mục đích của quy trình thẩm định tín dụng, góp phần nâng cao chất lượng của công tác này.

1.2. Tăng cường quản lý nhà nước với hoạt động tín dụng

Đây là một chính sách hết sức quan trọng trong lĩnh vực quản lý tài chính ngân hàng của Nhà nước, nó tác động đến hoạt động tín dụng nói chung và ảnh hưởng đến công tác thẩm định tín dụng nói riêng của các ngân hàng.

Hiện nay, môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng được hoàn thiện, đầy đủ, rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. NHNN đã chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới một loạt quyết định, thông tư phù hợp với cơ chế hiện nay làm cho hoạt động tín dụng được thuận lợi hơn, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức tín dụng. Một số văn bản pháp lý quan trọng được tập trung ban hành trong thời gian qua gồm:

  • Luật Ngân hàng nhà nước do Quốc hội ban hành quy định về hoạt động của Ngân hàng nước, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật các Tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 cho phù hợp với sự phát triển của mọi thành phần tổ chức tín dụng trong nền kinh tế,…
  • Quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro mới trong quyết định 493/2005/QĐ – NHNN, bổ sung một số điều kiện về quy định tỷ lệ bảo đảm an toàn của tổ chức tín dụng tại quyết định 34/2008/QĐ – NHNN, thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày 26/2/2010 quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và các văn bản hướng dẫn thực hiện thông tư này; quy định về lãi suất cho vay theo Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam,….
  • Từ các văn bản quy phạm pháp luật chung, mỗi ngân hàng lại tự ban hành cho mình những văn bản cụ thể riêng (quy định việc ban hành cho vay đối với khách hàng, văn bản pháp lý liên quan đến bảo đảm tiền vay, hướng dẫn thẩm định tín dụng với các khách hàng,…) để điều hành, quản lý hoạt động phù hợp với tình hình của mình.

Tuy nhiên, NHNN vẫn cần theo dõi sát sao tình hình kinh tế để ban hành các văn bản, cơ chế về hoạt động tín dụng cho phù hợp với thực tế từng thời kì phát triển của nền kinh tế và của tín dụng ngân hàng.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần tăng cường công tác thanh tra kiểm tra, giám sát đối với hoạt động này của ngân hàng. Nhà nước ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm trong việc lập các tổ chức thanh tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra bất thường các tổ chức tín dụng để theo dõi và xử lý các vi phạm trong hoạt động tín dụng.

Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan chức năng tạo điều kiện giúp đỡ ngân hàng trong việc thẩm định cho vay, hoàn thiện thủ tục vay vốn, đẩy nhanh quá trình xử lý tài sản thế chấp khi khách hàng không trả được nợ ngân hàng,…

1.3. Hoàn thiện hệ thống kế toán, quy định thực hiện hệ thống kế toán đồng bộ thống nhất, thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Trong những năm gần đây, chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) đã có những thay đổi rất lớn, thậm chí chúng ta đã dùng một số chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS) áp dụng cho Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống kế toán của chúng ta vẫn còn tồn tại một số điểm khác biệt chuẩn mực quốc tế như việc chỉ là khuyến khích hay bắt buộc lập báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ, mức độ trình bày nổi bật của lãi trên mỗi cổ phiếu cơ bản và pha loãng,…. Thực tế này đang gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi áp dụng các chuẩn mực để lập báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến mức độ tin cậy, mức độ được chấp nhận của báo cáo tài chính trên phương diện quốc tế. Do đó, để hoàn thiện hệ thống kế toán, Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan có liên quan rà soát lại, hoàn thiện nội dung của các chuẩn mực kế toán đã ban hành, chỉnh sửa những điểm còn chưa thống nhất với chuẩn mực quốc tế, tổng kết đánh giá hiệu quả của quá trình soạn thảo các chuẩn mực đã ban hành nhằm rút ra kinh nghiệm bổ ích cho các lần ban hành sau. Cùng với đó, các cơ quan có liên quan cần tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu các chuẩn mực kế toán quốc tế để ban hành những nội dung chủ yếu của một số chuẩn mực mà Việt Nam chưa có, như chuẩn mực 32 – Công cụ tài chính, chuẩn mực 36 – Tổn thất tài sản, chuẩn mực 39 – Đánh giá và ghi nhận thông tin tài chính,…Những chuẩn mực này đều là những chuẩn mực khó nên quá trình soạn thảo cần tiến hành thận trọng để có thể hiểu và xác định cách thức áp dụng vào Việt Nam cho phù hợp.

Hiện nay, việc hợp nhất báo cáo tài chính ở nhiều tập đoàn kinh tế ở nước ta rất phức tạp và mất nhiều thời gian. Do có nhiều tập đoàn kinh tế ở nước ta có quy mô quá lớn, các đơn vị thành viên lên tới hàng trăm. Các công ty con trực thuộc tập đoàn lại phân cấp thành nhiều công ty con cấp dưới. Mỗi đơn vị thành viên áp dụng các phương pháp kế toán áp dụng không thống nhất. Trong khi đơn vị thành viên có quy mô vừa và nhỏ áp dụng chế độ kế toán theo quyết định 48/2006/QĐ – BTC thì các đơn vị có quy mô lớn và công ty mẹ lại áp dụng theo quyết định 15/2006/QĐ – BTC. Để cải thiện tình trạng này, Nhà nước cần yêu cầu các tổ chức kinh tế lớn thực hiện một chế độ kế toán thống nhất, có thể động viên các tổ chức này bằng cách hỗ trợ một phần kinh phí tăng thêm khi áp dụng quyết định 15/2006/QĐ – BTC với nhiều đòi hỏi.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần phải ban hành quy chế bắt buộc kiểm toán và công khai quyết toán của doanh nghiệp. Hiện nay, Nhà nước mới chỉ quy định việc bắt buộc kiểm toán đối với các doanh nghiệp muốn và đang niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, phần lớn những đối tượng mà quy trình thẩm định tín dụng đánh giá lại là những thành phần không niêm yết cổ phiếu. Điều này làm cho việc thực hiện chi tiết các bước trong quy trình thẩm định tín dụng khó khăn hơn rất nhiều khi mà cán bộ tín dụng dường như phải đóng vai trò kiểm toán viên đi kiểm tra lại các báo cáo của doanh nghiệp.

Việc thực hiện kiểm toán phải tiến hành thường xuyên, những tài liệu cân đối kế toán và kết quả tài chính phải được kiểm toán trong và sau quá trình thẩm định tín dụng của ngân hàng. Nhà nước cũng cần quy định rõ các biện pháp chế tài, biện pháp xử lý nghiêm trong các trường hợp đối tượng đi vay cung cấp thông tin giả để nhằm mục đích trục lợi. Nếu thực hiện được như vậy, các cán bộ tín dụng mới có những thông tin chính xác trong quá trình đánh giá, giải ngân vốn.

2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước: Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

NHNN phải căn cứ vào quy hoạch định hướng tương lai phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ để định hướng cho hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Bằng việc ban hành các văn bản, quy định về hoạt động tín dụng đối với các tổ chức tín dụng, NHNN sẽ quản lý hoạt động tín dụng theo từng giai đoạn phát triển của đất nước. Từ đó, các ngân hàng có cơ sở để sắp xếp, điều chỉnh hoạt động tín dụng của mình, trong đó có công tác thẩm định tín dụng, để phù hợp với định hướng tín dụng của NHNN.

NHNN cần thiết phải nghiên cứu và ban hành một cẩm nang chung về quy trình, nội dung, chỉ tiêu, thang điểm thẩm định tín dụng trong từng ngành hẹp được quốc tế công nhận để đảm bảo thống nhất, nâng cao hiệu quả phân tích đánh giá khách hàng. Những nội dung này cũng phải đảm bảo tính linh hoạt và thường xuyên xây dựng, hoàn thiện để đảm bảo phù hợp. Mục tiêu này giúp tránh được tình trạng với một khách hàng mà mỗi ngân hàng xếp hạng một mức, điều này gây ra khó khăn và nhầm lẫn trong quá trình cập nhật thông của trung tâm CIC.

NHNN cần tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đánh giá an toàn hoạt động đối với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính.

NHNN cần hỗ trợ cho các ngân hàng trong công tác thẩm định tín dụng về mặt công nghệ thông tin, đào tạo bồi dưỡng cán bộ tín dụng. NHNN nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho các cán bộ tín dụng chủ chốt của các ngân hàng do các chuyên gia trong và ngoài nước giảng dạy.

NHNN cần xem xét đánh giá lại toàn bộ các quy định hiện hành về hoạt động tín dụng để kịp thời sửa chữa hoàn thiện những thiếu sót, vướng mắtc từ các tổ chức tín dụng khi áp dụng hoạt động động thực tế. Bên cạnh đó, NHNN cũng cần quan tâm đến phản hồi của các ban lãnh đạo các ngân hàng khi áp dụng các quy định vào thực tiến, cần tham khảo những khó khăn và tính khả thi thực hiện các quy định đó để từ đó đề ra các biện pháp khắc phục và sửa đổi kịp thời; tiến tới đưa ra chính sách đạt được các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

NHNN cần hoàn thiện, nân cao chất lượng hệ thông thông tin tín dụng, đặc biệt là hệ thống thông tin tín dụng của NHNN. NHNN cần chỉ đạo thực hiện nghiêm tức quy định hoạt động thông tin tín dụng ban hành theo quyết định 117/2004/QĐ – NHNN ngày 08/09/2004 của Thống đốc NHNN và các quyết định, chỉ thị của NHNN có liên quan đến hoạt động tín dụng, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng theo hướng hiệu quả, an toàn và bền vững. Trung tâm thông tin tín dụng CIC hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của ngành ngân hàng. Trung tâm cần được nâng cấp nhiều hơn nữa, để có thể cập nhật một cách nhanh nhất các thông tin. Trung tâm cần phối hợp với tất cả các cơ quan liên quan của Chính phủ để thu thập thông tin đa dạng và phong phú về mọi ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. Khi cần thiết, trung tâm có thể thiết lập một số chi nhánh tại các thành phố lớn. CIC cần nhanh chóng củng cố đội ngũ cán bộ , áp dụng công nghệ mới, hiện đại hóa tất cả các công đoạn xử lý nghiệp vụ để tạo ra nhiều sản phẩm thông tin, đẩy mạnh việc thu thập và cung cấp thông tin nhằm hỗ trợ có hiệu quả đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng và phục vụ cho hoạt động giám sát của NHNN. Đồng thời đi sâu vào phân tích đánh giá xếp loại tín dụng ngân hàng, kịp thời dự báo, hạn chế rủi ro tín dụng. Việc đầu tư của Nhà nước vào hệ thống thông tin tín dụng có thể nâng cao hiệu quả của việc cung cấp thông tin tín dụng của khách hàng cho ngân hàng.

NHNN nên yêu cầu các ngân hàng cung cấp đầy đủ thông tin về tất cả khách hàng của mình, yêu cầu các tổ chức kinh tế cập nhật thông tin của đơn vị mình vào cuối mỗi tháng hoặc mỗi quý. Để kiểm tra tính trung thực của các thông tin được đưa lên, Ngân hàng Nhà nước nên thường xuyên tổ chức các đoàn cán bộ thanh tra đột xuất đến các tổ chức này, nếu tổ chức nào vi phạm sẽ bị xử lí về tài chính và sẽ bị khiển trách công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

KẾT LUẬN

Ngân hàng – một trong những phát minh lớn của nhân loại ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình dưới sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia. Sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia ít nhiều phản ánh được vị thế của quốc gia đó trên thương trường quốc tế. Đối với Việt Nam, nền kinh tế thị trường và yêu cầu của quá trình đổi mới đất nước đòi hỏi hệ thống ngân hàng cần phải luôn luôn hoàn thiện các hoạt động kinh doanh còn có nhiều thiếu sót của mình, trong đó có hoạt động tín dụng. Để nâng cao được hiệu quả của hoạt động tín dụng, chúng ta cần chú trọng hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng – một trong những nhân tố quan trọng trong việc mở rộng tín dụng an toàn và hiệu quả ở các NHTM. Tuy nhiên đây là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng, vì vậy cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng và toàn diện trước khi có thể đưa ra những giải pháp đồng bộ phối hợp nỗ lực của các bên liên quan. Nếu thực hiện được điều đó thì thẩm định tín dụng sẽ là một công cụ đắc lực của các NHTM trong việc giúp nhà nước, đẩy mạnh công cuộc CNH – HĐH đất nước, tăng sức mạnh cạch tranh của Việt Nam trên thị trường thế giới.

Chủ đề nghiên cứu ngày không phải là mới, song nó luôn là vấn đề cấp thiết và là sự quan tâm hàng đầu trong quá trình kinh doanh của ngân hàng nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Những vấn đề đã đề cập trong khóa luận tốt nghiệp này chỉ là một khía cạnh hoạt động của hoạt động ngân hàng. Hy vọng rằng qua những suy nghĩ đó, em có thể đóng góp một phần bé nhỏ cho nhiệm vụ nâng cao hiệu quả thẩm định tín dụng Ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung. Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn nhiều hạn chế thiếu xót, em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, đặc biệt là cô giáo Th.s Lê Phương Lan đã nhiệt tình giúp em hoàn thành chuyên đề này. Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

One thought on “Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464