Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank chi nhánh Ba Đình. Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

II. Thực trạng hoạt động thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Ba Đình:

1. Thời gian thẩm định tín dụng và quyết định cho vay:

Đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Theo quyết định số 221/QĐ – HĐQT – NHCT35, thời gian thẩm định tín dụng và quyết định cho vay đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình như sau:

Đối với khách hàng là tổ chức kinh tế (TCKT):

Theo quyết định số 222/QĐ – HĐQT – NHCT35, thời gian thẩm định tín dụng và quyết định cho vay đối với khách hàng là tổ chức kinh tế như sau:

Từ Sổ tay tín dụng và quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng mã số QT.35.02 của NHCT VN, ta rút ra được quy trình thẩm định tín dụng đối với mỗi loại khách hàng như sau:

2.1. Khách hàng là cá nhân/hộ gia đình:

Hình 5: Quy trình thẩm định tín dụng với khách hàng là cá nhân/hộ gia đình Cán bộ chấm điểm tín dụng (CB CĐTD) thực hiện từ bước 1 đến bước 5, bước 7, và cán bộ quản lý rủi ro (CB QLRR) thực hiện bước 6.

Tại bước 2, CB CĐTD chấm dựa trên các tiêu chí về tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian công tác, thời gian làm công việc hiện tại, tình trạng nhà ở, cơ cấu gia đình, số người sống phụ thuộc, thu nhập cá nhân hàng năm, thu nhập của gia đình hàng năm. Tại bước này, nếu khách hàng đạt tổng điểm < 0 thì chấm dứt quá trình chấm điểm, từ chối cấp tín dụng hoặc ngừng cấp tín dụng. Nếu khách hàng đạt tổng điểm > 0 thì tiếp tục bước tiếp theo.

Các tiêu chí cần được xem xét tại bước 3 là: tình hình trả nợ NHCT, tình hình chậm trả lãi, tổng nợ hiện tại (VND hoặc tương đương), các dịch vụ khác sử dụng của NHCT, số dư tiền gửi tiết kiệm trung bình (VND) tại NHCT.

Việc cộng tổng số điểm chấm các thông tin nhân thân và điểm chấm tiêu chí quan hệ với ngân hàng và nhân với trọng số tương ứng như sau để xác định điểm tổng hợp:

Căn cứ hồ sơ khách hàng do CB CĐTD chuyển đến, thông tin từ các nguồn khác (nếu có), CB QLRR rà soát theo các nội dung:

  • Thẩm định tính trung thực, hợp pháp, hợp lệ các thông tin làm căn cứ chấm điểm.
  • Rà soát việc xác định các chỉ tiêu, mức điểm cho từng chỉ tiêu đã đảm bảo tuân thủ các quy định.
  • Lập báo cáo rà soát. Trường hợp không nhất trí với kết quả của phòng CĐTD thì nêu rõ những điểm chưa chính xác để phòng CĐTD chỉnh sửa, trình lãnh đạo phòng QLRR.

Sau khi tiếp nhận kết quả rà soát của phòng QLRR, CB CĐTD hoàn thiện hồ sơ chấm điểm, xếp hạng khách hàng.

Lãnh đạo phòng CĐTD kiểm soát, phê duyệt hồ sơ chấm điểm, xếp hạng khách hàng, trình lãnh đạo NHCV phê duyệt.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2. Khách hàng là tổ chức kinh tế: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Hình 5: Quy trình thẩm định tín dụng với khách hàng là Tổ chức kinh tế CB CĐTD thực hiện từ bước 1 đến bước 6, bước 8, và CB QLRR thực hiện bước 7.

CB CĐTD căn cứ vào ngành nghề/lĩnh vực SXKD chính đăng ký trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và/hoặc hoạt động SXKD thực tế của tổ chức kinh tế (TCKT). Trường hợp TCKT hoạt động đa ngành nghề thì ngành nghề/lĩnh vực nào đem lại trên 50% doanh thu hàng năm được xem là ngành SXKD chính của TCKT đó. Trường hợp không có ngành nghề nào đáp ứng được điều kiện trên, NHCV được lựa chọn ngành có tiềm năng nhất theo kế hoạch và xu hướng phát triển của TCKT là ngành nghề/lĩnh vực SXKD chính.

Các tiêu chí sử dụng để chấm điểm và xác định quy mô tổ chức kinh tế gồm: nguồn vốn kinh doanh, lao động thực tế sử dụng bình quân trong 3 năm gần nhất, doanh thu thuần và giá trị nộp ngân sách nhà nước (NSNN) (không kể số thiếu của kỳ trước nộp kỳ này). Xếp loại quy mô tổ chức kinh tế theo thang điểm sau:

(Nguồn: Quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng) CB CĐTD tiến hành thẩm định các BCTC, lập bảng cân đối kế toán sau điều chỉnh theo Hướng dẫn phân tích BCTC DN trong hệ thống NHCT VN.

Các số liệu trên cân đối kế toán sau điều chỉnh, chấm điểm các chỉ số tài chính của DN/HTX sẽ được CB CĐTD thực hiện tùy thuộc vào kết quả xác định ngành nghề/lĩnh vực SXKD và quy mô của DN/HTX. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Nguyên tắc áp dụng khi tiến hành đánh giá: Đối với mỗi tiêu chí, chỉ số thực tế gần với trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữa hai trị số thì áp dụng thang điểm của trị số có thang điểm thấp hơn.

Các chỉ số tài chính cần chấm điểm tín dụng với quy mô:

  • Doanh nghiệp lớn (thang điểm áp dụng từ 1 đến 10) bao gồm: khả năng trả lãi, nợ phải trả/EBITDA, tổng thu nhập trước thuế/doanh thu, nợ dài hạn/nguồn VCSH, nợ phải trả/nguồn VCSH, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh/tổng nợ, tỷ lệ thanh toán ngắn hạn, tổng thu nhập trước thuế/nguồn VCSH.
  • Doanh nghiệp vừa và nhỏ (thang điểm áp dụng từ 3 đến 10) là: khả năng trả nợ lãi, tỷ lệ thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ vốn vay (nợ/VCSH), tổng thu nhập trước thuế/doanh thu, nợ dài hạn/nguồn VCSH, tổng thu nhập trước thuế/nguồn VCSH.

Trong các tiêu chí tài chính đã nêu ở trên (đối với cả doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ), tiêu chí nào có điểm từ 7 đến 10 thì việc đánh giá điểm tín dụng chỉ để báo cáo chứ không cho vay với khách hàng này.

  • Các chỉ số tài chính cần chấm điểm tín dụng với phân loại doanh nghiệp theo ngành hoạt động SXKD:
  • Chỉ tiêu thanh khoản: khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh.
  • Chỉ tiêu hoạt động: vòng quay hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, hiệu quả sử dụng tài sản.
  • Chỉ tiêu cân nợ: nợ phải trả/tổng TS, nợ phải trả/nguồn VCSH, nợ quá hạn/tổng dư nợ NH.
  • Chỉ tiêu thu nhập: tổng thu nhập trước thuế/doanh thu, tổng thu nhập trước thuế/tổng TS, tổng thu nhập trước thuế/nguồn VCSH.

Các chỉ số cần đánh giá đối với mỗi loại tiêu chí phi tài chính như sau:

  • Tiêu chí lưu chuyển tiền tệ: hệ số khả năng trả lãi, hệ số khả năng trả nợ gốc, xu hướng của lưu chuyển tiền tệ thuần trong quá khứ, trạng thái lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động, tiền và các khoản tương đương tiền/VCSH.
  • Tiêu chí năng lực và kinh nghiệm quản lý: kinh nghiệm của người đứng đầu điều hành DN trong lĩnh vực kinh doanh của phương án xin cấp tín dụng, kinh nghiệm của người đứng đầu điều hành DN, môi trường kiểm soát nội bộ, thành tựu và thất bại của đội ngũ lãnh đạo điều hành DN, tính khả thi của phương án kinh doanh và dự toán tài chính.
  • Tiêu chí tình hình và uy tín giao dịch với ngân hàng: trả nợ gốc đúng hạn, số lần gia hạn nợ, nợ quá hạn trong quá khứ, số lần mất khả năng thanh toán đối với các cam kết với NHCV, thời gian duy trì tài khoản với NHCV, số lượng giao dịch trung bình hàng tháng với tài khoản tại NHCV, số lượng các loại giao dịch với NHCV, số dư tiền gửi trung bình tháng tại NHCV, số lượng ngân hàng khác mà khách hàng duy trì tài khoản.
  • Tiêu chí môi trường kinh doanh: triển vọng ngành, được biết đến, vị thế cạnh tranh, số lượng đối thủ cạnh tranh, thu nhập của DN xin cấp tín dụng chịu ảnh hưởng của quá trình đổi mới, cải cách DN nhà nước.
  • Tiêu chí các đặc điểm hoạt động khác: đa dạng hóa các hoạt động, thu nhập từ hoạt động xuất khẩu, sự phụ thuộc vào các đối tác, lợi nhuận sau thuế cảu DN trong những năm gần đây, tài sản bảo đảm.

Sau khi hoàn tất việc chấm điểm theo các tiêu chí trên, tiến hành tổng hợp điểm các tiêu chí phi tài chính với trọng số áp dụng như sau:

CB CĐTD xác định điểm tổng hợp để xếp hạng DN/HTX bằng cách cộng tổng số điểm tài chính và phi tài chính và nhân với trọng số như sau:

Hạng khách hàng được xếp theo 10 mức theo quy định của NHCT VN có mức độ rủi ro từ thấp đến cao với số điểm như sau:

3. Thực trạng triển khai tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Ba Đình: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

3.1. Khách hàng là cá nhân/hộ gia đình:

Chúng ta sẽ xem xét việc thẩm định tín dụng với khoản vay của khách hàng cá nhân của cán bộ tín dụng tại NHCT chi nhánh Ba Đình trong thực tế để có thể nắm rõ hơn các bước tiến hành của quy trình này.

Hồ sơ được xem xét là hồ sơ thế chấp vào tháng 7 năm 2009 để vay vốn tiêu dùng của:

  • Ông Đào Xuân Tùng sinh ngày 17/11/1981; chứng minh nhân dân số 012971893; nơi công tác: Trung tâm truyền dẫn viễn thông điện lực.
  • Bà Nguyễn Thu Trà sinh ngày 11/08/1980; chứng minh nhân dân số 012622597; nơi công tác: Ngân hàng công thương chi nhánh Ba Đình.

Thu thập thông tin về khách hàng

Nguồn thông tin lấy chủ yếu từ hồ sơ khách hàng nộp cho cán bộ tín dụng gồm có: hộ khẩu thường trú, giấy chứng nhận kết hôn, chứng minh nhân dân của hai vợ chồng, giấy phép xây dựng, hồ sơ thiết kế nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy xác nhận của cơ quan chủ quản về lương của vợ và chồng người đi vay, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án vay – trả nợ.

Định giá tài sản đảm bảo 45

Sau khi nhận được quyết định thành lập tổ định giá lại tài sản thế chấp, tổ thẩm định và người đại diện của NHCT chi nhánh Ba Đình ra hiện trường thăm dò thực tế tài sản đảm bảo và lập biên bản định giá tài sản thế chấp.

  • Tài sản thế chấp: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại địa chỉ xóm 1B, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
  • Hiện trạng tài sản thế chấp:
  • Hình thái tài sản: đất và nhà ở hình chữ nhật tại vị trí 3 mặt ngõ rộng ở khu dân cư đông đúc; giao thông, sinh hoạt thuận tiện.
  • Hồ sơ nhà là bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 600257, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H0912, số quyết định: 3901/QĐ-U do ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm cấp ngày 6/12/2005 đã sang tên ông Tùng và bà Trà số 2410 ngày 12/06/2009.
  • Hiện trạng tài sản: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại địa chỉ xóm 1B, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội có diện tích là 50 m2.
  • Định giá tài sản thế chấp
  • Phương pháp, căn cứ định giá: quyết định số 612/QĐ – HĐQ
  • NHCT35 và công văn 148/CV – NHCT35, căn cứ giá thực tế thị trường thực tế tại thời điểm định giá.
  • Giá trị định giá: hai bên thỏa thuận và thống nhất định giá tài sản thế chấp như sau:
  • Giá trị quyền sử dụng đất: 50 m2 * 25 triệu * 70% = 875 triệu đồng.
  • Tổng giá trị tài sản thế chấp: 875 triệu đồng.
  • Nghĩa vụ được bảo đảm: giá trị nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản bảo đảm là 875 triệu đồng; số tiền cho vay lớn nhất là 400 triệu đồng.
  • Đánh giá tính thanh khoản của tài sản đảm bảo: tài sản thế chấp nói trên thuộc quyền sở hữu của ông Tùng và bà Trà. Căn nhà nằm ở vị trí giao thông sinh hoạt thuận tiện, căn nhà thuận tiện mua bán, chuyển nhượng, có tính thanh khoản cao.

CBTD tiến hành thẩm định khách hàng

Phương án trả nợ:

Vợ chồng ông Tùng bà Trà có nhu cầu xin vay vốn để xây nhà là thực tế, có nguồn thu nhập ổn định từ công việc. Trong cuộc sống, ông Tùng bà Trà hàng ngày luôn chấp hành tốt pháp luật nhà nước, hiện tại đang khỏe mạnh, hàng ngày vẫn đi làm, lao động tạo ra thu nhập thường xuyên.

  • Thu nhập từ lương ổn định: 17 triệu đồng bao gồm lương của ông Tùng là 7 triệu đồng, lương của bà Trà là 10 triệu đồng. (Có xác nhận của cơ quan).
  • Tổng thu nhập: 17 triệu đồng. Chi phí sinh hoạt gia đình: 6 triệu đồng.
  • Thu nhập ròng dùng để trả nợ: 17 triệu – 6 triệu = 11 triệu đồng.

Sau khi cân đối các khoản thu chi sinh hoạt của gia đình, ông Tùng bà Trà có đủ khả năng trả nợ gốc và lãi vay NH.

Khách hàng không vay nợ bất kỳ cá nhân, tổ chức tín dụng khác, cam kết chỉ quan hệ tín dụng duy nhất với NHCT chi nhánh Ba Đình.

Kế hoạch trả nợ: Trả nợ gốc và lãi trong 60 tháng/60 kỳ, gốc và lãi trả hàng tháng và lãi tính riêng trả nợ kèm theo gốc hàng tháng.

Khả năng trả nợ > 0 do:

(11000000 * 60 tháng) – (400000000 gốc + 164074500 lãi vay) = 95925500 Số tiền lãi thu được khi ngân hàng giả quyết cho vay: 69387000 hồ sơ món vay chưa thông qua khâu thẩm định rủi ro nên chưa thể lập được hợp đồng tín dụng, vì vậy ngày trả nợ luôn để trống trong tờ trình thẩm định.

Nợ vay và tài sản của khách hàng:

  • Tài sản và nợ của vợ chồng ông Tùng và bà Trà: đất và nhà của ông Tùng và bà Trà + 2 xe máy.
  • Các khoản nợ: đến thời điểm xin vay, khách hàng không có dư nợ và không vay nợ bất kỳ các cá nhân, các tổ chức tín dụng khác, chỉ có quan hệ duy nhất với chi nhánh Ba Đình NHCT VN.

Bảo đảm tiền vay: Có – hình thức thế chấp tài sản.

Số hợp đồng thế chấp và địa chỉ đăng ký thế chấp luôn được bỏ trống vì hồ sơ món vay chưa được thông qua; chỉ khi HĐTD ra quyết định cho vay thì mới có hợp đồng thế chấp và hợp đồng tín dụng. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Chấm điểm tín dụng:

Kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng: 73,4 điểm, loại Aa

  • Chấm điểm các thông tin cá nhân cơ bản: 79 điểm * 60% = 47,4 điểm
  • Chấm điểm tiêu chí quan hệ với ngân hàng: 65 điểm * 40% = 26 điểm

Kết luận và đề xuất của CBTD:

Nhu cầu xin vay của khách hàng có mục đích rõ ràng, thực sự cần thiết, phương án trả nợ cụ thể, khả thi, tài sản đảm bảo dễ chuyển nhượng trên thị trường, đủ đảm bảo cho tiền vay, họ có đủ điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng.

Đề nghị cho vay với số tiền 400 triệu đồng, phương thức cho vay: từng lần; thời gian vay: 60 tháng; lãi suất: 13%/năm; kỳ hạn trả nợ gốc: 1 tháng, kỳ hạn trả nợ lãi: 1 tháng; có tài sản đảm bảo.

CB QLRR rà soát lại kết quả thẩm định

  • Mức độ rủi ro tín dụng xét về tư cách khách hàng ở mức độ: trung bình. Khách hàng không thuộc danh mục không được cho vay, cần hạn chế cho vay theo quy định của NHCT; có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự. Đây là khách hàng mới lần đầu tiên đặt quan hệ tín dụng với chi nhánh. Tại thời điểm vay vốn, khách hàng không có nợ dưới tiêu chuẩn.
  • Hồ sơ khách hàng: hồ sơ pháp lý, hồ sơ vay vốn đầy đủ theo quy định.
  • Phương án vay vốn của khách hàng có rủi ro ở mức độ trung bình.

Hiện tại khách hàng có mức thu nhập từ tiền lương hàng tháng tương đối ổn định. Tuy nhiên vì thời gian cho vay dài nên có thể có sự thay đổi về nơi làm việc và thu nhập nên rủi ro từ việc không đảm bảo trả nợ trong suốt thời gian vay vốn có thể xảy ra. Thêm vào đó, ông Cương – người nhận thầu thi công cho ông Tùng bà Trà chưa có hồ sơ chứng minh năng lực thi công.

Rủi ro về biện pháp bảo đảm tiền vay của khách hàng ở mức trung bình

Rủi ro pháp lý: trung bình.

  • Rủi ro giảm giá trị tài sản bảo đảm: Tài sản thế chấp nằm trong ngõ. Phòng khách hàng cá nhân định giá đất 25 triệu/m2 theo giá thị trường. Tuy nhiên, tại hồ sơ của phòng khách hàng cá nhân chưa lưu căn cứ xác định tài sản bảo đảm tại khoản 11.1.2 của quyết định 612/QĐ – HĐQT – NHCT35.
  • Rủi ro thanh khoản: trung bình. Tài sản bảo đảm là bất động sản nằm trong nội thành, giá trị tài sản bảo đảm không lớn lắm, tính thanh khoản khá, việc mua bán chuyển nhượng trên thị trường khá thuận lợi nếu phải thanh lý tài sản bảo đảm.
  • Việc vay tiền của khách hàng có rủi ro ở mức độ trung bình.

Để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro đề nghị phòng khách hàng cá nhân:

  • Để phòng ngừa rủi ro việc nhận tài sản bảo đảm là ngôi nhà cấp 4 trên đất nhưng ngôi nhà này khách hàng sẽ phá đi xây lại, sẽ không tồn tại trên thực tế, hợp đồng thế chấp tài sản ký với khách hàng (qua công chứng) cần thỏa thuận tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất. Mọi công trình do khách hàng xây mới trên diện tích đất đang thế chấp cho ngân hàng đều thuộc tài sản thế chấp theo hợp đồng đã ký.
  • Chỉ nên định giá phần giá trị quyền sử dụng đất không định giá nhà vì nhà khách hàng sẽ phá đi xây lại. Sau khi việc xây nhà hoàn thành phòng khách hàng cá nhân và khách hàng định giá lại và nhận tài sản là ngôi nhà mới xây làm bảo đảm tiền vay. Trường hợp công chứng không đồng ý việc thỏa thuận chỉ nhận giá trị quyền sử dụng đất mà yêu cầu cả giá trị tài sản trên đất là nhà cấp 4 thì các bên cần thỏa thuận quy định rõ. Bên thế chấp được quyền phá dỡ ngôi nhà cấp 4 để xây dựng . Phần xây dựng mới hoàn toàn thuộc tài sản thế chấp.
  • Kết hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý khách hàng để biết được những biến động về thay đổi công việc của khách hàng, đảm bảo chắc chắn phần trả nợ từ lương. Để đảm bảo chắc chắn nguồn trả nợ trong trường hợp thu nhập giảm sút, cần yêu cầu khách hàng bổ sung nguồn trả nợ khả thi.
  • Vì thời gian cho vay kéo dài, phòng khách hàng cá nhân cần quy định điều khoản lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng theo lãi suất thả nổi cụ thể, để đảm bảo vẫn linh hoạt và đúng quy định khi lãi suất thị trường có biến động theo hướng:
  • Lãi suất cơ sở: lãi suất huy động trả lãi sau có kì hạn tương ứng của NHCT tại thời điểm cho vay.
  • Biên độ: 3,5%
  • Không thấp hơn lãi suất thỏa thuận NHCT quy định trong từng thời kì. Tại thời điểm kí hợp đồng tín dụng, lãi suất cho vay là 13%/năm.

3.2. Khách hàng là tổ chức kinh tế: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Để hiểu rõ hơn về quy trình thẩm định tín dụng với khách hàng là tổ chức kinh tế, chúng ta sẽ xem xét các bước thực hiện quy trình này trong thực tế với hồ sơ xin vay vốn trị giá 500 tỷ đồng của Công ty Thông tin di động VMS năm 2009 với thời hạn duy trì giới hạn tín dụng là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng:

Thu thập thông tin:

Sau quá trình tiến hành điều tra, CBTD đã tổng hợp như sau:

  • Tên khách hàng: Công ty Công ty Thông tin di động – VMS.
  • Địa chỉ: 218 Trần Duy Hưng – Cầu Giấy- Hà Nội.
  • Mã số thuế: 010068629.
  • Ngành nghề kinh doanh: Tổ chức thiết kế xây dung, phát triển mạng lưới và triển khai cung cấp dịch vụ mới về thông tin di động có công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại và kinh doanh dịch vụ di động.
  • Người đại diện: Ông Lê Ngọc Minh – Chức vụ giám đốc.
  • Loại hình khách hàng: Doanh nghiệp nhà nước.
  • Khách hàng cũng đang có quan hệ tín dụng tại 3 tổ chức tín dụng: HongKong and Shanghai Bank, Sở giao dịch NHNT Việt Nam, Chi nhánh NHĐT và PT Thăng Long.
  • Khách hàng có cơ cấu các loại vay nợ được phân bố như sau:

Tiến hành CĐTD và lập tờ trình thẩm định và đề nghị cấp GHTD: Phần I: Thẩm định về khách hàng vay vốn:

Hồ sơ pháp lý của khách hàng khá đầy đủ và chi tiết.

Quy mô của doanh nghiệp:

Do công ty hoạt động SXKD trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thông tin di động nên cơ cấu tài sản ngắn hạn và dài hạn như trên là hợp lý. Chất lượng tài sản tương đối tốt đảm bảo đáp ứng nhu cầu SXKD và đảm bảo khả năng chi trả tại mọi thời điểm đến hạn thanh toán. Trong tổng nguồn vốn của công ty thì nguồn VCSH chiếm tỷ trọng lớn nhất, hoạt động SXKD của công ty được tài trợ chủ yếu bằng nguồn VCSH cho thấy khả năng tự chủ về tài chính của công ty là rất cao.

Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán 58

Hiện nay công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, tài sản dài hạn của công ty phát huy hiệu quả tốt khả năng sinh lời của tài sản và VCSH rất cao. Công ty có tình hình tài chính lành mạnh, cơ cấu vốn hợp lý so với ngành nghề kinh doanh, chất lượng về tài sản của công ty tương đối tốt, khả năng thanh toán của công ty đảm bảo và ở mức cao. Tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của công ty cao, khả năng sinh lời cao cho thấy hiệu quả trong việc sử dụng tài sản và nguồn VCSH. TSCĐ của công ty được đầu tư bằng nguồn vốn cố định.

Phần II: Thẩm định phương án SXKD và nhu cầu vốn của khách hàng:

Mục đích vay: thanh toán các hợp đồng nhập khẩu vật tư, thiết bị vận hành và phát triển mạng lưới, các hợp đồng trong nước và các chi phí khác phục vụ hoạt động kinh doanh theo đăng ký kinh doanh.

Tài sản đảm bảo: cho vay và bảo lãnh áp dụng không có bảo đảm bằng tài sản.

Thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm của công ty luôn phát triển cùng với sự phát triển chung của thị trường dịch vụ di động. Phương diện tài chính của phương án

Nhu cầu vốn, nguồn vốn thực hiện phương án:

  • Dự kiến doanh thu thực hiện: 26325 tỷ đồng.
  • Tổng nhu cầu vốn để thực hiện phương án: 8900 tỷ đồng.
  • VCSH của khách hàng tham gia: 3300 tỷ đồng.
  • Vốn vay NH TMCP Ngoại Thương: 3500 tỷ đồng.
  • Vốn vay HSBC: 1400 tỷ đồng.
  • Vay NH BIDV – Chi nhánh Thăng Long: 170 tỷ đồng.
  • Vay NHCT – Chi nhánh Ba Đình: 500 tỷ đồng.
  • Căn cứ vào tình hình tài chính năm 2008 thì nguồn vốn tham gia vào phương án của công ty là hoàn toàn khả thi.
  • Tính toán lại hiệu quả tài chính trả nợ của phương án kinh doanh:
  • Năm 2008 tăng trưởng doanh thu là 122% so với năm 2007. Với kế hoạch doanh thu năm 2009, doanh thu tăng 151% so với năm 2008.
  • Về chi phí là 20424 tỷ đồng.

Năm 2008 tổng chi phí của công ty là 12206 tỷ đồng bao gồm:

  • Chi phí SXKD: 10980 tỷ đồng. 60
  • Chi phí bán hàng: 397 tỷ đồng.
  • Chi phí quản lý doanh nghiệp: 689 tỷ đồng.
  • Lợi nhuận trước thuế: 5901 tỷ đồng tăng 101% so với năm 2008, có tốc độ tăng tương đương với năm 2008 so với năm 2007.
  • Năm 2009, công ty đã trúng thầu dự án 3G với tổng dự toán là 6000 tỷ đồng, theo tiến độ từ nay đến năm 2011 thì công ty sẽ hoàn tất công nghệ 3G trên cả nước, do đó nhu cầu về vốn của công ty để thực hiện dự án là rất lớn. Ngoài ra công ty còn đầu tư nâng cấp các thiết bị mạng do đó nhu cầu vốn thực tế của công ty sẽ lớn hơn nhu cầu vốn mà công ty đề nghị tại Chi nhánh. Hiện tại công ty đề nghị GHTD là 500 tỷ đồng, tuy nhiên Phòng dự kiến đến cuối năm 2009 thì nhu cầu vay vốn của công ty có thể lên đến 1800 tỷ đồng.

Kết luận: Căn cứ vào tốc độ tăng trưởng qua từng năm thì hiệu quả tài chính của phương án là khả thi. Doanh thu, lợi nhuận và khấu hao của công ty đảm bảo cho khả năng trả nợ vay ngân hàng.

 Dự báo mức độ rủi ro và phương án khắc phục

  • Rủi ro kinh doanh: thấp. Công ty hoạt động kinh doanh mặt hàng có nhu cầu cao trong tương lai.
  • Rủi ro tài chính: Hiện nay công ty có nguồn vốn kinh doanh lớn nên khả năng tự chủ tài chính đảm bảo có khả năng thanh toán được các khoản nợ.
  • Đơn vị đủ điều kiện vay không có tài sản đảm bảo.
  • Dự kiến cơ hội và lợi ích của NHCT trong quan hệ với khách hàng

Với hạn mức tín dụng: 1800 tỷ đồng, thời hạn: 12 tháng, lãi suất: 8,5%/năm đối với VNĐ và 4,5% đối với USD.

  • Dự kiến dư nợ VNĐ là 200000 triệu đồng x 8,5%/năm = 17 tỷ đồng.
  • Dự kiến nợ USD là 100000 triệu đồng x 4,5%/năm = 4,5 tỷ đồng.
  • Tiền gửi khoảng từ 100-150 tỷ đồng.

Phần III: Kết luận và đề xuất:

Về tình hình tài chính: Hoạt động SXKD của công ty có sự tăng trưởng, tình hình tài chính lành mạnh. Hệ số thanh toán ngắn hạn và thanh toán nhanh của công ty có thể đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Khả năng sinh lời của nguồn VCSH và khả năng tự tài trợ khác cao cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả, có khả năng thực hiện phương án kinh doanh năm 2009.

  • Khả năng tiêu thụ sản phẩm: Công ty VMS là một trong những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn tại thị trường viễn thông trong nước. Thị trường dịch vụ di động trong nước vẫn phát triển chậm một nhịp so với thế giới , do đó dự kiến năm 2009 thị trường dịch vụ di động vẫn phát triển mạnh.
  • Đối với cho vay không có bảo đảm bằng tài sản thì công ty đáp ứng đầy đủ các điều kiện: hệ số tự tài trợ > 20%, vốn lưu động dòng dương, ROE là 41%, chấm điểm xếp hạng tín dụng là AA.
  • Trình NHCT VN xin chủ trương cấp GHTD là 1800 tỷ đồng.
  • Phương thức cho vay: theo hạn mức tín dụng.
  • Thời hạn cấp GHTD: đến 10/5/2010.
  • Hình thức đảm bảo tiền vay: không có bảo đảm bằng tài sản.

Nhận xét: Trong tờ trình thẩm định tín dụng, CBTD phân tích khá kỹ cơ cấu tài sản và nguồn vốn của khách hàng. Tuy nhiên CBTD chưa nêu ra được căn cứ để xác định tại sao cơ cấu của khách hàng như trên lại là hợp lý.

CBTD cũng chưa đưa ra được lý do cụ thể cho việc đánh giá tốc độ tăng trưởng theo kế hoạch của khách hàng là hợp lý.

Kiểm tra và lập báo cáo kết quả thẩm định rủi ro tín dụng: CBQLRR tiến hành đánh giá việc thẩm định tín dụng và lập báo cáo về kết quả thẩm định rủi ro tín dụng.

Đánh giá mức độ rủi ro tín dụng xét về tư cách khách hàng: thấp.

Khách hàng không thuộc danh mục không được cho vay, cần hạn chế hoặc ngừng quan hệ tín dụng.

Công ty Thông tin di động là doanh nghiệp nhà nước hạng 1 trực thuộc tập đoàn Bưu chính viễn thông, là doanh nghiệp đầu tiên khai thác dịch vụ thông tin di động với thương hiệu MobiFone. Ngày 2/4/2009, MobiFone là một trong 4 mạng di động được công bố trúng tuyển giấy phép 3G

Tư cách pháp lý của DN: Đầy đủ theo quy định của pháp luật.

  • Hồ sơ pháp lý và hồ sơ vay vốn của công ty đầy đủ theo quy định.
  • Đánh giá rủi ro về hoạt động SXKD của khách hàng: thấp.

Thị phần hoạt động: Tính đến cuối năm 2008, MobiFone là mạng di động lớn nhất Việt Nam, chiếm 41% thị trường thông tin di động.

Theo định giá sơ bộ của Credit Suisse – đơn vị tư vấn cổ phần hóa cho MobiFone, giá trị thương hiệu MobiFone khoảng hơn 2 tỷ USD. Đây là đánh giá có tính tới tình hình khó khăn hiện tại của nền kinh tế.

Đánh giá rủi ro về tình hình tài chính của khách hàng: trung bình.

Cơ cấu nguồn vốn tính đến thời điểm 31/12/2008: VCSH chiếm 75% trên tổng nguồn vốn, giảm 4% so với năm 2007 do tốc độ tăng của nợ phải trả lớn hơn tốc độ tăng của nguồn VCSH, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm 2008 tăng tương đương 262% thực sự là một điều bất ngờ trong hoàn cảnh đầy khó khăn của nền kinh tế.

Cơ cấu sử dụng nguồn vốn: Tổng tài sản năm 2008 là 14 tỷ đồng, tăng 66,7% so với năm 2007 trong đó tài sản ngắn hạn chiếm 69,4% tổng tài sản. Đầu tư tài chính ngắn hạn 4484 tỷ đồng là tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTC.

Thực tế doanh nghiệp vẫn có những khoản phải thu quá hạn thanh toán vì số trích dự phòng phải thu khó đòi hiện là 106 tỷ đồng.

Theo đánh giá của phòng khách hàng DN lớn, trả trước người bán có giá trị lớn (chiếm gần 10% tổng tài sản), tuy nhiên cũng không có chi tiết để đánh giá chất lượng.

Hàng tồn kho của công ty hầu như không mất giá và lượng sản phẩm hỏng hầu như không đáng kể do đặc thù ngành nghề kinh doanh.

Phần chi phí xây dựng cơ bản dở dang khá lớn chưa quyết đoán, chưa tính để thu hồi khấu hao TSCĐ trong khi DN đang đầu tư mới mạng 3G. Do vậy cũng chưa có số liệu chi tiết để đánh giá các khoản đầu tư này có hay không những hạng mục đầu tư chưa đưa vào khai thác mà không còn phù hợp.

Đầu tư dài hạn khác: 468 tỷ, trong đó có 409 tỷ vào chứng khoán dài hạn chưa trích lập dự phòng giảm giá.

Chi phí trả trước dài hạn: 250 tỷ. Khoản này đã trả nhưng chưa tính vào chi phí SXKD. Tuy nhiên chi phí phải trả lại tương ứng là 352 tỷ, khoản chi phí này đã tính trước vào chi phí SXKD nhưng chưa chi nên tổng cộng kết quả kinh doanh của DN không bị giảm.

Công ty đã sử dụng vốn hợp lý, TSCĐ được tài trợ bằng nguồn vốn cố định và công ty có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn.

  • Tình hình tài chính đến 31/12/2008 cho thấy khách hàng có nguồn VCSH lớn, công ty hoạt động chủ yếu bằng nguồn VCSH, khả năng thanh toán cao, hiệu quả sử dụng vốn cao chứng tỏ công ty có tiềm lực tài chính vững vàng.
  • Tình hình vay nợ tại các TCTD:

Đến ngày 15/04/2009, tổng số dư cấp tín dụng tại sở giao dịch NHNT VN và chi nhánh NHĐTPT Thăng Long là 13,128 tỷ và 374432176 USD.

Tổng cộng 649,474 tỷ.

Công ty là khách hàng có nguồn tiền gửi lớn tại chi nhánh trong nhiều năm, được xếp vào loại khách hàng chiến lược về tiền gửi.

Kết quả chấm điểm và rà soát kết quả chấm điểm xếp hạng khách hàng: _ Kết quả chấm điểm xếp hạng của Phòng khách hàng: AA.

Kết quả rà soát của phòng QLRR: AA.

Phần II: Phương án SXKD.

  • Thông tin cơ bản về phương án:
  • Dự kiến doanh thu thực hiện: 26325 tỷ.
  • Tổng nhu cầu vốn để thực hiện phương án: 8900 tỷ.
  • VCSH: 3300 tỷ. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank
  • Tổng nhu cầu vốn vay: 5570 tỷ trong đó vay NHCT 500 tỷ.
  • Mục đích vay vốn: nhập khẩu vật tư, thiết bị vận hành và phát triển mạng lưới, các hợp đồng và các chi phí khác phục vụ hoạt động kinh doanh theo đăng ký kinh doanh.
  • Thời hạn vay vốn: 12 tháng trên từng giấy nhận nợ.
  • Đánh giá rủi ro về phương án của khách hàng: Trung bình.

Hiện nay do nhu cầu cần giải ngân khẩn trương của DN mà nhu cầu xin cấp giới hạn tín dụng của công ty vượt quyền phán quyết theo ủy quyền của TGĐ đối với chi nhánh. Do đó trong thời gian trình NHCTVN, phòng khách hàng đề nghị HĐTD chi nhánh họp và duyệt GHTD 100 tỷ trong mức phán quyết được ủy quyền.

Từ tờ trình đề nghị của phòng khách hàng, ta có thể thấy công ty đầu tư TSCĐ bằng nguồn vốn ngắn hạn. Tuy nhiên tại hồ sơ chưa có chi tiết nhu cầu đầu tư các đối tượng có tính chất như TSCĐ để có thể đánh giá khả năng đưa vào chi phí, khả năng thu hồi từ lợi nhuận trong năm trả cho các khoản này.

Phần III: Biện pháp bảo đảm tiền vay.

DN đủ điều kiện cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

Phần IV: Kết luận và đề xuất.

Trong SXKD, DN có thể gặp phải những rủi ro sau:

  • Rủi ro cạnh tranh: hoạt động trong lĩnh vực chịu sự cạnh tranh gay gắt nên công ty đã phải chia sẻ bớt thị phần và tăng chi phí dưới hình thức khuyến mãi để cạnh tranh; các mạng đi sau vẫn có cơ hội do sự thay đổi công nghệ không ngừng, ưu thế của MobiFone so với các mạng khác đang giảm đi.
  • Rủi ro về khoa học công nghệ: 3G đòi hỏi phải có sự nâng cấp mạnh mẽ về máy móc cũng như con người. Do đó đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công nghệ mới là một vấn đề cần thiết.
  • Rủi ro thanh toán: mục đích vay vốn là để phục vụ chủ yếu cho đối tượng là TSCĐ, thời gian thu hồi dài hơn 12 tháng, với tiềm lực tài chính của khách hàng có thể đảm bảo một số vật tư, thiết bị thu hồi dưới 12 tháng. Tuy nhiên việc đầu tư mới mạng 3G tập trung trong năm 2009-2010 và chưa chi tiết nhu cầu để tính tỷ trọng có thể thu hồi dưới 12 tháng dễ dẫn đến nguy cơ rủi ro không trả nợ đúng hạn.

Đề xuất:

  • Việc xác định thời hạn cho vay cần chi tiết nhu cầu vốn vay của khách hàng về các đối tượng vay là nhu cầu vốn lưu động hay TSCĐ để đánh giá khả năng trả nợ ngân hàng đúng hạn của khách hàng, căn cứ chu kỳ SXKD, thời gian thu hồi vốn của các đối tượng thuộc dự án để định ra thời hạn cho phù hợp.
  • Trong quá trình cho vay, phòng khách hàng DN lớn cần đánh giá kỹ về chất lượng TS có của khách hàng để khẳng định tiềm lực tài chính đảm bảo cho việc đầu tư hiệu quả.

III. Đánh giá công tác thẩm định tín dụng tại chi nhánh Ba Đình: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

1. Những mặt tích cực và hạn chế của công tác thẩm định tín dụng tại chi nhánh Ba Đình:

1.1. Những mặt tích cực của công tác thẩm định tín dụng:

Những thành công mà hoạt động thẩm định tín dụng đem lại cho chi nhánh trong thời gian qua được thể hiện ở tình hình sử dụng vốn mà tiêu biểu là tổng dư nợ và nợ quá hạn hàng năm. Tổng dư nợ hàng năm của chi nhánh tăng đáng kể (trên 10%/năm). Điều này chứng tỏ hoạt động tín dụng đã được đẩy mạnh, khách hàng ngày càng tin tưởng và đến với chi nhánh ngày càng nhiều hơn. Ngoài ra, từ các số liệu về các nhóm nợ của ngân hàng tại bảng 2, ta có thể thấy công tác thẩm định tín dụng của ngân hàng đã được cải thiện qua từng năm khi số nợ tại các nhóm có nguy cơ được hạn chế, không có nợ nhóm 4 và nhóm 5. Nợ quá hạn của ngân hàng luôn dưới 3% cho thấy rằng công tác thẩm định ở chi nhánh đã làm khá tốt nhiệm vụ của mình khi xác định được hầu như tất cả những yếu tố có ảnh hưởng đến phương án dự án/SXKD của khách hàng xin vay vốn.

Trong quá trình thẩm định tín dụng, chi nhánh có sự tổ chức khá hợp lý, phân công nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng đối với từng cán bộ, không những thuận lợi đối với cán bộ thực hiện công tác thẩm định mà còn thuận lợi với khách hàng vay vốn. Chi nhánh cũng có một đội ngũ cán bộ tín dụng trẻ nhiệt tình với công việc. Với nhiệt huyết và sự cẩn trọng của mình, họ đã giúp cho khách hàng thỏa mãn được nhu cầu vay vốn.

Ngoài ra, chi nhánh nói riêng và NHCT VN nói chung đã rút ngắn thời gian thẩm định và cho vay để khách hàng có điều kiện tiếp cận nguồn vốn vay của chi nhánh một cách nhanh chóng. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Thái độ của các CBTD ngày một nâng cao, thể hiện sự năng động, tính thân thiện và chuyên nghiệp mỗi khi tiếp xúc với khách hàng.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị thông tin phục vụ cho quá trình thẩm định tín dụng của chi nhánh đang được nâng cấp và ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình hiện đại hóa ngành ngân hàng đang diễn ra hiện nay.

1.2. Những mặt hạn chế của công tác thẩm định tín dụng:

Bên cạnh tính tích cực của việc rút ngắn thời gian thẩm định tín dụng, cách làm này nhiều khi lại mang đến một số hệ quả không mong muốn.

Trong quá trình thẩm định khách hàng, các CBTD vẫn trực tiếp tiếp xúc với khách hàng khá nhiều, điều này dễ dẫn đến việc nảy sinh các tiêu cực trong việc đưa ra quyết định tín dụng một cách khách quan.

Các CBTD không có đủ thời gian để đánh giá một cách kĩ lưỡng các tiêu chí cần thiết với một phương án cho vay. Do khối lượng và áp lực công việc lớn, nhiều khi CBTD rất dễ mắc sai sót hoặc để ý chí chủ quan ảnh hưởng tới quyết định thẩm định tín dụng.

Trong công tác thẩm định tín dụng, có một số cán bộ thiếu sự quan tâm tới tính chính xác của thông tin, số liệu nêu trong phương án vay vốn mà chỉ thụ động lắp số liệu vào công thức đã được quy định để tính toán.

Các thông tin chủ yếu lấy từ hồ sơ của khách hàng mang tính rủi ro khá cao. Việc tham khảo các nguồn thông tin khác còn khá hạn chế. Vì vậy nguồn thông tin phục vụ cho công tác thẩm định còn chưa thể hiện tính đa chiều.

Nhiều cán bộ tín dụng sau khi thẩm định tín dụng với một phương án cho vay thì chỉ thu thập thêm các giấy tờ yêu cầu trong quá trình giải ngân mà chưa thực sự quan tâm đến phương án vay vốn đó bằng cách đánh giá lại hiệu quả của món vay, so sánh các yếu tố dự đoán khi thẩm định với thời điểm khi dự án của khách hàng diễn ra để đưa ra kết luận kịp thời tham mưu cho lãnh đạo.

Trong nhiều quá trình thẩm định của nhiều phương án xin vay, các cán bộ tín dụng và quản lý rủi ro mới chỉ dừng lại việc ở việc xem xét ở trạng thái tĩnh, không đi sâu xem xét những thay đổi có thể có ảnh hưởng đến tính hiệu quả của phương án xin vay trong điều kiện biến đổi của nền kinh tế, của thị trường như biến đổi giá, lạm phát giá cả,…

Trong việc xác định chi phí của phương án xin vay, các khoản tính toán mới chỉ mang tính áng chừng, hầu hết dựa vào số liệu khách hàng. Trong một số hồ sơ thẩm định với phương án kinh doanh các mặt hàng, dịch vụ mới, các cán bộ tín dụng chưa chỉ ra được chi phí cụ thể của phương án kinh doanh. Việc tính toán đôi khi chỉ đảm bảo đủ khoản mục nhưng chưa đảm bao chính xác hợp lí.

2. Một số nguyên nhân: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

2.1. Nguyên nhân khách quan:

Cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật của Nhà nước:

Hiện nay, hệ thống luật về hoạt động tín dụng nói chung và thẩm định tín dụng nói riêng của các ngân hàng thương mại vẫn đang được sửa đổi và bổ sung nhưng chưa thực sự cụ thể. Hoạt động thẩm định tín dụng là một nhân tố quan trọng trong quá trình tín dụng, kết quả của hoạt động này ảnh hưởng rất lớn tới quyết định cho vay của ngân hàng và tính an toàn của phương án cho vay. Tuy nhiên, quá trình này chỉ được nêu khá sơ sài trong hai điều 14 và 15 của quyết định 127/2005/QĐ – NHNN về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

Hiện nay, chúng ta cũng chưa có một chế tài quy định việc cung cấp thông tin và xử lý việc cung cấp thông tin sai lệch của khách hàng, chưa có một hình thức xử phạt pháp lý và hành chính cụ thể nào đối với việc cố tình cung cấp sai thông tin.

Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của các ngân hàng. CIC là nơi lưu trữ một lượng lớn dữ liệu về các doanh nghiệp, các thành viên có thể cung cấp, khai thác, sử dụng với mục đích nâng cao chất lượng tín dụng nhưng hiện nay những dữ liệu đó chưa được cập nhật một cách thường xuyên do có một số tổ chức tín dụng không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ về khách hàng do lo ngại về vị thế cạnh tranh.

Tình hình kinh tế xã hội: Kinh tế chính trị thế giới có rất nhiều bất ổn, nền kinh tế lớn nhất thế giới lâm vào khủng hoảng, sự biến động của các đồng tiền chủ chốt đã làm giá của nhiều nguyên vật liệu tăng cao. Nền kinh tế của Việt Nam cũng chịu không ít ảnh hưởng từ sự khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ, sức ép tăng giá bán của nhiều loại vật tư, hàng hoá trong nước đặc biệt là những mặt hàng quan trọng như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thép, than, xăng dầu… Sản xuất kinh doanh có dấu hiệu giảm sút, xuất hiện tình trạng khó khăn về tài chính. Tình hình đó đã có tác động rất lớn đến các dự tính đối với các phương án vay vốn của khách hàng, đến các chỉ tiêu ước lượng trong quá trình thẩm định tín dụng.

Thời điểm kiểm toán tài chính và thời điểm lập bảng chấm điểm tín dụng trong nhiều trường hợp có thời gian quá cách xa nhau nên gây khó khăn cho CBTD trong việc đánh giá đúng tình hình hoạt động của khách hàng tại thời điểm mong muốn.

2.2. Nguyên nhân chủ quan: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

Cơ sở vật chất:

Để thực hiện tốt hoạt động thẩm định tín dụng cần có hệ thống tin học để tính toán và chấm điểm tự động như một số nước đã áp dụng. Các cán bộ của ngân hàng hiện nay vẫn thực hiện công việc thẩm định theo cách thủ công, dễ xảy ra sai sót, nhiều khi mất đi tính khách quan của công việc, mất nhiều thời gian để kiểm tra.

Nguồn thông tin phục vụ công tác thẩm định:

Do nguồn thông tin từ trung tâm CIC còn hạn chế, tính trung thực của các nguồn thông tin khác chủ yếu được xác định dựa vào cảm giác chủ quan của các cán bộ tín dụng nên việc thu thập đánh giá thông tin của phương án xin vay vẫn mang tính chủ quan khá cao.

Hiệu quả của việc thu thập thông tin còn chưa cao dẫn đến các cán bộ tín dụng thường sử dụng các thông tin từ hồ sơ khách hàng chứa nhiều yếu tố chủ quan, không thực sự đáng tin cậy.

Cán bộ thẩm định tín dụng:

Một lượng không nhỏ cán bộ tham gia thẩm định có tuổi đời còn trẻ. Bên cạnh thế mạnh là lòng nhiệt huyết, năng nổ nhưng cũng tạo ra cho ngân hàng một số khó khăn nhất định. Các cán bộ trẻ còn thiếu kinh nghiệm trong công tác thẩm định, chưa có nhiều mối quan hệ tin cậy để có thể kiểm tra được nguồn thông tin một cách chính xác. Do vậy, các phòng khách hàng của chi nhanh hầu như luôn phải lập ra một tổ thẩm định gồm một cán bộ đã có kinh nghiệm và cán bộ trẻ, điều này làm cho việc thẩm định các món vay khác bị ảnh hưởng ít nhiều khi một cán bộ phải đảm đương cùng việc thẩm định hai phương án vay vốn khác nhau.

Ngoài ra, việc thẩm định khía cạnh kỹ thuật tại chi nhánh còn gặp nhiều khó khăn. Các cán bộ phòng khách hàng chủ yếu tốt nghiệp các trường khối kinh tế, hầu như không có khả năng đánh giá các yếu tố về mặt kỹ thuật của phương án vay vốn. Điều này dẫn đến việc đánh giá sai về chi phí của phương án vay vốn, ảnh hưởng đến các chỉ số tài chính mà cán bộ tín dụng sẽ đánh giá. Để giải quyết vấn đề này, phương án trước mắt của chi nhánh là thuê các chuyên viên đánh giá kĩ thuật bên ngoài.

Quy chế thẩm định tín dụng:

Trong quá trình thẩm định tín dụng, khi phân tích các hệ số tài chính, ngân hàng ít quan tâm, chỉ tính sơ sài đến nhóm hệ số về tăng trưởng, phân tích hòa vốn, đòn cân nợ. Chi nhánh chủ yếu vẫn quan tâm đến hiệu quả tài chính của dự án khi để ý khá nhiều đến tỉ suất thu nhập nội bộ (IRR), giá trị hiện tại ròng (NPV), khả năng trả nợ của phương án xin vay mà chưa quan tâm đến thời gian thu hồi vốn cho vay.

Ngoài ra trong thẩm định khách hàng, một số nhân tố cần thiết chưa được cán bộ tín dụng quan tâm, phân tích rõ ảnh hưởng. Đó là các chỉ số dự báo trước khi cho vay như giá vàng, tỷ giá hối đoái, lạm phát và các biến cố có thể dự đoán được mà các nguồn thông tin ngoài ngân hàng và các báo cáo nghiên cứu thị trường đưa ra.

Quy trình thẩm định tín dụng chủ yếu tập trung vào giai đoạn trước khi cho vay mà ít quan tâm đến giai đoạn trong và sau khi cho vay. Trong nhiều trường hợp, chi nhánh để các bất cập từ các khoản vay xảy ra rồi mới đi giải quyết hậu quả.

Nguyên nhân từ phía khách hàng:

Với mục đích được vay vốn từ ngân hàng, nhiều khách hàng sẵn sàng bưng bít thông tin thật, cung cấp thông tin sai lệch.

Một số phương án vay vốn ngân hàng chỉ để phục vụ cho một phần của kế hoạch dự án của khách hàng. Như vậy, việc tính toán hiệu quả kinh tế của phương án rất khó khăn, dễ dẫn đến nhiều sai sót và hiểu lầm trong công tác xác định hiệu quả của phương án vay vốn.

Đối với khách hàng là doanh nghiệp, sự bảo mật thông tin là một trong những nguyên nhân gây trở ngại cho công tác thẩm định tín dụng. Các doanh nghiệp hoạt động đều có những thông tin bí mật mang tính cạnh tranh với các doanh nghiệp khác hoặc những thông tin về cách thức làm ăn riêng của doanh doanh nghiệp, vì thế doanh nghiệp thường không muốn tiết lộ thông tin. Khi đó, cán bộ thẩm định tín dụng sẽ khó phát hiện đầy đủ tình hình thực tế về doanh nghiệp, từ đó dẫn đến đánh giá thiếu chính xác trong quá trình cho vay. Hiện nay, trong số các khách hàng của chi nhánh, tỉ trọng các doanh nhiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng. Mà các doanh nghiệp này thường hoạt động mang tính chất gia đình, nên báo cáo tài chính thường không xác thực, khó cho ngân hàng trong việc xác định khả năng tài chính thực của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464