Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank chi nhánh Ba Đình. Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng thương mại (NHTM) là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệu báo hiệu trạng thái sức khoẻ của nền kinh tế. Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh. Ngược lại, các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu kém. Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ. Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư, NHTM đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh. NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, là định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.

NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Trong số các nghiệp vụ kinh doanh của mình thì tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và cũng là nội dung chủ yếu của bản thân các nhân viên toàn hệ thống, Đây là nghiệp vụ tạo ra lợi nhuận cao nhất, nó chiếm khoảng 2/3 lợi tức nghiệp vụ ngân hàng có từ tiền lãi cho vay. Nhưng đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Có vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không chi trả được nợ khi đến hạn làm cho ngân hàng bị phá sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế.

Quá trình phát triển của Việt Nam theo hướng CNH-HĐH theo chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 của Đảng, Nhà nước đòi hỏi việc triển khai ngày càng nhiều các dự án đầu tư, với nguồn vốn trong và ngoài nước, thuộc mọi thành phần kinh tế. Trong đó, nguồn vốn cho vay của NHTM ngày càng phổ biến, cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ. Điều đó cũng đặt ra một thách thức không nhỏ đối với các NHTM về sự an toàn và hiệu quả của nguồn vốn cho vay. Để đi đến chấp nhận cho vay, thẩm định tín dụng là khâu quan trọng, quyết định chất lượng cho vay của ngân hàng, Thẩm định tín dụng ngày càng có ý nghĩa vô cùng to lớn, đảm bảo lợi nhuận, sự an toàn cho ngân hàng.

Những năm vừa qua, mặc dù các NHTM đã chú trọng đến công tác thẩm định nhưng nhìn chung kết quả đạt được chưa cao, chưa đem lại cho nền kinh tế một sự phát triển xứng đáng. Vì tầm quan trọng của công tác này đã tạo cho em một niềm say mê hứng thú đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu. Dưới sự hướng dẫn tận tình và những ý kiến đóng góp quý báu của cô giáo Th.s Lê Phương Lan, em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp đề tài: “Hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh Ba Đình: Thực trạng và giải pháp”.

Với những kiến thức tích lũy được trong thời gian thực tập thực tế tại Chi nhánh và trong thời gian học tập tại trường, em mong muốn sẽ đóng góp một phần công sức để hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng tại Chi nhánh.

Khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về tín dụng và hoạt động thẩm định tín dụng của ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng hoạt động thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank Chi nhánh Ba Đình.

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị giúp hoàn thiện hoạt động thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank Chi nhánh Ba Đình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. Khái quát về tín dụng ngân hàng: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng:

1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng:

Tín dụng đã ra đời từ lâu và trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều hình thức khác nhau. Vậy tín dụng là gì ?

Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người. Tín dụng theo nghĩa la tinh là creditim, là sự tín nhiệm, tin tưởng tên gọi này xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng người cho vay sẽ cho người cần vốn vay theo các điều kiện đã được thoả thuận trước như thời gian cho vay, thời gian hoàn trả, lãi suất tín dụng,… Trong quan hệ đó người cho vay tin tưởng rằng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thoả thuận, làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn. Mặc dù có thể diễn giải tín dụng bằng những từ ngữ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay.

Cùng với thời gian và sự phát triển của nền kinh tế qua từng thời kì và giai đoạn phát triển, các hình thức tín dụng được hình thành ngày càng nhiều và có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại, bổ sung lẫn nhau và có vai trò nhất định trong sự phát triển kinh tế.

Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các thể nhân trong nền kinh tế. Với công nghệ ngân hàng hiện nay, NHTM là người cho vay lớn nhất đối với các tổ chức kinh tế, dân cư và tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế.

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.

Các ngân hàng được sự trợ giúp về vốn của chính phủ mà ngân hàng đưa ra các mức lãi suất khác nhau cung cấp các hình thức thanh toán nhanh chóng thuận tiện. Chức năng quan trọng nhất là ngân hàng luôn tìm kiếm cơ hội để cho vay và trong một số trường hợp cho vay được chính phủ bảo lãnh. Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Với tư cách là tổ chức huy động để cho vay, ngân hàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thương nhân giúp họ có thêm vốn để bổ sung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng được cơ hội làm ăn tăng lợi nhuận cho chính mình.

Với tư cách là người huy động vốn, ngân hàng sẽ thực hiện việc tìm kiếm và thu hút vốn từ các tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn xã hội; là người cho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động kinh doanh và tiêu dùng. Tín dụng ngân hàng thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất xã hội. Cơ sở khách quan để hình thành chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng ngân hàng là do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội đã thường xuyên xuất hiện hiện tượng tạm thời thừa vốn ở các tổ chức cá nhân này, trong khi các tổ chức cá nhân khác lại có nhu cầu vốn. Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục. Tín dụng thương mại đã không giải quyết được vấn đề này, chỉ có ngân hàng là tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó khi ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm ba mối quan hệ chính:

  • Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp.
  • Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư.
  • Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác trong và ngoài nước.

Ngày nay, tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường.

1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng:

Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền lệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân.

Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.

Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế.

Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hình thức khác. Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.

Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.

Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.

2. Vai trò của tín dụng ngân hàng: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng có thể cho thấy vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự vận hành của nền kinh tế. Vai trò đó có thể được chỉ ra ở một số phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp, không chỉ đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước mà còn tác động đến cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Tín dụng thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển, thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển của đất nước.

Tín dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, ngay cả những hoạt động dịch vụ cũng không thể tách ly sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng.

Với các ngành sản xuất, chế biến, khai thác…để đảm bảo sản xuất ổn định cần thết phải có vốn để dự trữ nguyên vật liệu, thành phẩm bù đắp các chi phí sản xuất…Đồng thời để không ngừng nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm, tìm kiếm lợi thế trông cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải thường xuyên cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão hiện nay. Tất cả những công việc đó sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hỗ trợ của ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng.

Trong lĩnh vực lưu thông, để đảm bảo đưa được hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng, các doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ khối lượng hàng hoá cần thiết trang trải các chi phí lưu thông, thuế…Hơn nữa, để mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải dự trữ khối lượng hàng hoá lớn với chủng loại phong phú, nhưng thông thường các doanh nghiệp này không có nhiều vốn lưu động. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp này cần đến sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng.

Với các doanh nghiệp dịch vụ như vận tải, khách sạn, du lịch…sẽ hoạt động ra sao khi không có vốn của ngân hàng tham gia vào đầu tư xây dựng tang thiết bị vật chất, phương tiện vận tải…Khi bước vào kinh doanh trong lĩnh vực này đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn nên hầu hết các doanh nghiệp đều cần đến tín dụng ngân hàng và xem nó như là một trong những nguồn vốn có thể huy động cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.

Nói chung, một trong những nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lưu động và vốn cố định cho các chủ doanh nghiệp là vốn tín dụng ngân hàng vì nếu chỉ dựa vào vốn tự có thì quá ít ỏi, không đủ sức cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợ quan trọng cho các dự án kinh doanh của doanh nghiệp mới.

Thứ hai, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tái sản xuất mở rộng một cách đều đặn, tín dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa nội địa và xuất khẩu phục vụ thị hiếu của người tiêu dùng cũng như đòi hỏi khắt khe của người sản xuất. Ngân hàng với chức năng huy động vốn, tập trung mọi nguồn vốn trong và ngoài nước đã phần nào đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế. Thông qua hoạt động cấp tín dụng, hệ thống ngân hàng có khả năng thấy được nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng hiện tại cũng như tương lai, cùng với nguồn vốn của mình, tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy sự ra đời những ngành nghề mới, đáp ứng cho yêu cầu phát triển ngày càng đi lên của nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng nhất giúp các thành phần kinh tế thực hiện tái sản xuất mở rộng và ứng dụng công nghệ để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường.

Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn đầu tư và sản xuất để các tổ chức kinh tế và các cá nhân vay, góp phần mở rộng kinh doanh và hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp thường phải tích lũy từ lợi nhuận để đầu tư tái sản xuất mở rộng. Tuy nhiên, sự phát triển của nguồn vốn này thường không theo kịp nhu cầu phát triển và tái đầu tư của các doanh nghiệp. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp cần vốn phải tìm vốn để bù đắp, những thành phần có vốn nhàn rỗi lại muốn cho vay. Việc các thành phần thiếu vốn tìm được chủ thể khác thừa vốn tạm thời trong nền kinh tế là hết sức khó khăn và tốn kém. Sự có mặt của tín dụng ngân hàng được coi là chiếc cầu để kết nối nhu cầu của các thành phần đó. Nhờ việc ngân hàng đóng cả hai vai trò người đi vay và người cho vay mà vốn tiền tệ được tập trung lại một mốt trước khi được đầu tư vào các doanh nghiệp, các công ty làm ăn có hiệu quả và uy tín tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ. Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Tín dụng ngân hàng ngày nay càng ngày càng thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung tích luỹ và đầu tư vốn này, tạo cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nước ngoài đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.

Thứ tư, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, và các chương trình, dự án mang tính xã hội khác. Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người, giải quyết việc làm không thể chỉ dựa vào quỹ ngân sách Nhà nước hoặc trông chờ vào các khoản vay nước ngoài. Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò quan trọng trong việc đầu tư cho các dự án có ý nghĩa kinh tế và xã hội để giải quyết những việc như vậy. Thông qua tín dụng ngân hàng, Nhà nước tài trợ cho các đối tượng chính sách xã hội như học sinh, sinh viên, các hộ nông dân nghèo, các hộ sản xuất, các ngành nghề thủ công truyền thống. Tín dụng ngân hàng là công cụ quan trọng trong việc tổ chức đời sống dân cư. Dân cư sử dụng tín dụng để tiết kiệm tăng dự trữ của cải và cũng thông qua tín dụng để cải thiện nâng cao mức sống.

Thứ năm, tín dụng ngân hàng có vai trò tích cực trong việc hạn chế, xoá bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi góp phần tích cực vào việc xây dựng, bổ sung hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, thúc đẩy nền kinh tế và các thành phần kinh tế phát triển một cách lành mạnh, không bị khống chế bởi một số ít cá nhân.

Thứ sáu, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp chính sách quản lý kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách về tín dụng như là các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điều kiện cho vay khác cho mọi thành phần kinh tế theo mục tiêu định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước.

Thông qua hệ thống ngân hàng và tín dụng ngân hàng, Nhà nước điều chỉnh lượng tiền cung ứng trong lưu thông, bảo đảm sự cân đối tiền hàng, giữ cho tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và kiểm soát sự ổn định của thị trường giá cả và sức mua của đồng tiền.

Tín dụng ngân hàng là công cụ hữu hiệu để tài trợ cho các ngành, vùng kinh tế mũi nhọn vươn ra thị trường nước ngoài; cơ cấu lại các ngành và vùng còn kém phát triển cho nền kinh tế phát triển một cách cân đối, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh một cách toàn diện của nền kinh tế.

3. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi. Tuy nhiên, căn cứ vào một số tiêu thức khác nhau, ta có thể phân chia tín dụng ngân hàng thành một số cách như sau :

3.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng:

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được phân chia thành các loại sau:

  • Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
  • Tín dụng trung hạn: theo quyết định 127/2005/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm; còn đối với các nước trên thế giới, thời hạn này là từ 1 năm đến 7 năm.
  • Tín dụng dài hạn: có thời hạn từ 5 năm trở lên (theo tiêu chuẩn của Việt Nam) hoặc trên 7 năm (theo tiêu chuẩn thế giới).

Thời hạn tín dụng đó chính là khoảng thời gian mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng và nó được xác định cụ thể ngày, tháng, năm. Hay thời hạn tín dụng còn được hiểu là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng thu về. Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Tín dụng ngắn hạn thường gắn với những khoản vay của doanh nghiệp để bổ sung vào tài sản lưu động, bởi vòng quay tài sản lưu động thường thấp hơn một năm. Do vậy, doanh nghiệp có thể hoàn trả được số tiền vay ở ngân hàng trong một năm.

Các tài sản cố định như phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải, một số vật nuôi… các trang thiết bị nhanh hao mòn có nhu cầu nguồn vốn từ 1 năm đến 5 năm. Ngược lại, những công trình đầu tư lớn, thu hồi vốn lâu, thuộc tầm vĩ mô như : máy móc thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường… có nhu cầu nguồn vốn từ 5 năm đến 10 năm có khi tới 20 năm.

Tất nhiên cùng với độ dài của thời gian, việc thu hồi vốn đối với các dự án có thời hạn dài gặp nhiều khó khăn hơn do ở thời điểm hiện tại doanh nghiệp khó có thể tính hết được những khó khăn sẽ gặp trong tương lai. Do vậy, mức độ rủi ro của các khoản tín dụng có thời gian dài đối với ngân hàng sẽ tăng lên. Điều này lý giải một phần nào đó tại sao lãi suất các khoản cho vay dài hạn thường cao hơn các khoản cho vay ngắn hạn.

Phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với NHTM. Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của một NHTM.

3.2. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng :

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được phân chia thành các loại sau:

Cho vay có tài sản đảm bảo:

  • Là loại cho vay được ngân hàng cung ứng có kèm theo tài sản thế chấp, cầm cố hoặc phải có bảo lãnh của bên thứ ba.
  • Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất còn thiếu chắc chắn.
  • Loại cho vay này áp dụng cho khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng.

Cho vay không có tài sản đảm bảo:

  • Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Việc cho vay chỉ là sự đảm bảo uy tín của bản thân khách hàng đi vay.
  • Loại cho vay này chỉ áp dụng đối với các khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có năng lực tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả.

3.3. Căn cứ vào mục đích của tín dụng: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được chia thành các loại sau:

  • Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp: cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động trong các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
  • Cho vay tiêu dùng cá nhân: cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng. Hiện nay, ngân hàng còn tiến hành cho vay để trang trải chi phí thông thường của cuộc sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
  • Cho vay bất động sản: cho vay liên quan đến việc mua sắm xây dựng nhà ở, đất đai, bất động sản công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
  • Cho vay nông nghiệp: mục đích để trang trải các chi phí sản xuất trong nông nghiệp; thường được hưởng ưu đãi về lãi suất và được thực hiện nhờ vào bảo lãnh của bên thứ ba hoặc dựa vào hình thức tín chấp của các hiệp hội hoặc cá nhân có uy tín.

3.4. Căn cứ vào phương thức cho vay:

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được phân chia thành các loại sau:

  • Cho vay từng lần (còn được gọi là cho vay theo món):
  • Là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng đều phải làm các thủ tục cần thiết như: khách hàng lập hồ sơ vay vốn, ngân hàng xét duyệt cho vay, và kí hợp đồng tín dụng.
  • Thường được áp dụng để tài trợ cho các nhu cầu vốn kinh doanh.
  • Thực hiện với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên.

Cho vay theo hạn mức tín dụng:

  • Theo Quyết định 127/2005/QDD-NHNN thì hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định được ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
  • Ngân hàng và khách hàng xác định một hạn mức tín dụng và duy trì trong một thời gian nhất định.
  • Hạn mức tín dụng được xác định dựa trên phương án kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với tài sản đảm bảo, khả năng nguồn vốn của ngân hàng.
  • Quy mô của hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở dự tính về lượng vốn lớn nhất mà doanh nghiệp có thể cần tại bất cứ thời điểm nào trong suốt thời hạn duy trì hạn mức tín dụng.
  • Thường được áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn hoặc trả nợ thường xuyên hoặc có uy tín đối với ngân hàng.
  • Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng phải trả phí cam kết và yêu cầu khách hàng phải duy trì một số dư nợ tối thiểu về tiền gửi thanh toán tại ngân hàng.

3.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được phân chia thành các loại sau:

  • Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn.
  • Cho vay có nhiều kỳ trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
  • Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có thời hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của người đi vay mà họ có thể trả nợ bất kì lúc nào.

3.6. Căn cứ theo xuất xứ tín dụng:

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể chia thành các loại sau:

  • Cho vay trực tiếp: là hình thức ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu vay và người đi vay trực tiếp trả nợ cho ngân hàng.
  • Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát hành và còn trong thời hạn thanh toán; bao gồm:
  • Chiết khấu thương mại.
  • Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và các máy móc nông nghiệp trả góp.
  • Mua các khoản nợ của doanh nghiệp.

4. Quy trình cho vay:

Ta có thể miêu tả quy trình cho vay từ điều 14 đến điều 25 của quyết định 127/2005/QĐ-NHNN thông qua sơ đồ sau:

Hình 1: Quy trình cho vay tổng quát

II. Khái quát về thẩm định tín dụng tại các Ngân hàng thương mại:  Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

1. Khái niệm thẩm định tín dụng:

Thẩm định tín dụng là việc sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một dự án khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng.

Thẩm định tín dụng cố gắng phân tích và hiểu được tính khả thi thật sự của dự án về kinh tế đứng trên góc độ của ngân hàng. Khi lập dự án đầu tư, khách hàng do mong muốn được vay vốn, có thể đã thổi phồng và dẫn đến ước lượng quá lạc quan về hiệu quả kinh tế của dự án. Do vậy, thẩm định tín dụng cần phải xem xét đúng thực chất của dự án. Tuy nhiên, không phải vì thế mà thẩm định tín dụng ước lượng một cách bi quan khiến cho hiệu quả của dự án bị giảm sút đến nỗi quyết định không cho vay.

2. Vai trò của thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại:

Thẩm định tín dụng và quyết định cho vay là hai khâu riêng biệt nhưng có quan hệ gắn bó với nhau trong quy trình tín dụng. Thẩm định tín dụng với mục tiêu là đánh giá chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng được nhân viên tín dụng thực hiện trước khi lập tờ trình lên cho lãnh đạo phụ trách tín dụng quyết định cho vay. Do vậy, chất lượng công tác thẩm định tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ chính xác của quyết định cho vay. Ngược lại, tính chất quan trọng của quyết định cho vay hoặc giá trị lớn hay nhỏ của khoản vay đòi hỏi công tác thẩm định phải được tiến hành một cách kỹ càng, chi tiết và chuyên nghiệp. Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Thông thường những khoản vay dài hạn hoặc những khoản vay có giá trị lớn đòi hỏi công tác thẩm định phải được thực hiện chi tiết và kỹ lưỡng hơn những khoản vay ngắn hạn hoặc những khoản vay có giá trị nhỏ. Ngoài ra, đối tượng khách hàng cũng ảnh hưởng đến công tác thẩm định tín dụng. Rõ ràng là cho vay doanh nghiệp đòi hỏi thẩm định chi tiết và phức tạp hơn cho vay đối với khách hàng cá nhân. Mặt khác, cho vay với khách hàng mới đòi hỏi thẩm định kỹ càng hơn là cho vay đối với khách hàng truyền thống.

Từ đó, ta có thể dễ dàng nhận ra rằng thẩm định tín dụng là một trong những khâu rất quan trọng trong toàn bộ quy trình tín dụng. Điều đó được thể hiện ở những điểm sau:

  • Giúp đánh giá được mức độ tin cậy của phương án SXKD hoặc dự án đầu tư khách hàng đã lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn.
  • Phân tích, đánh giá mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay.
  • Giúp cho cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có thể mạnh dạn quyết định cho vay và giảm được xác suất hai loại sai lầm trong quyết định cho vay: đồng ý cho vay một dự án tồi và từ chối cho vay một dự án tốt.

3. Quy trình thẩm định tín dụng của Ngân hàng thương mại: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Quy trình thẩm định tín dụng là bản chỉ dẫn các bước tiến hành từ xem xét, thu thập thông tin cần thiết cho đến khi rút ra được kết luận sau cùng về khả năng thu hồi nợ cho vay. Toàn bộ quy trình thẩm định tín dụng được thể hiện thông qua sơ đồ sau:

4. Những nội dung chủ yếu của thẩm định tín dụng:

Mục đích của thẩm định tín dụng là đánh giá đúng thực chất của phương án sản xuất hoặc dự án đầu tư và kiểm soát rủi ro ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ khi cho vay. Khả năng thu hồi nợ vay phụ thuộc vào các yếu tố sau:

  • Tư cách của khách hàng vay vốn.
  • Tình hình tài chính của khách hàng.
  • Tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư.
  • Tài sản đảm bảo nợ vay.
  • Khả năng quản lý và kiểm soát rủi ro.

Do đó, để đảm bảo được mục tiêu thu hồi nợ, thẩm định tín dụng cần tập trung vào các nội dung chính sau:

4.1. Thẩm định tư cách khách hàng vay vốn: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Mục tiêu của thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn là đánh giá tư cách pháp nhân, tính chất hợp pháp và mức độ tin cậy đối với những thủ tục vay mà khách hàng phải tuân thủ.

a) Thẩm định điều kiện vay vốn:

Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, khách hàng muốn vay vốn ngân hàng phải thỏa mãn các điều kiện vay vốn bao gồm:

  • Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệu dân sự theo quy định của pháp luật.
  • Có mục đích vay vốn hợp pháp.
  • Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
  • Có phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả.
  • Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).

Thẩm định điều kiện vay vốn đơn giản chỉ là xem xét kỹ lại nhằm phát hiện xem khách hàng có thỏa mãn những điều kiện vay vốn như được chỉ ra trong qui chế tín dụng hay không. Trong các điều kiện vay vốn trên, thẩm định mục đích sử dụng vốn vay, thẩm định khả năng tài chính đảm bảo nợ vay và thẩm định tính chất khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư là quan trọng nhất.

b) Thẩm định mức độ tin cậy của hồ sơ vay:

Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng cần gửi cho tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại cho vay và khoản vay. Thông thường, bộ hồ sơ vay vốn gồm có:

  • Giấy đề nghị vay vốn.
  • Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng.
  • Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư.
  • Báo cáo tài chính của thời kì gần nhất.
  • Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay.
  • Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.

Thẩm định hồ sơ vay vốn là xem xét tính chân thực và mức độ tin cậy của những tài liệu khách hàng cung cấp cho ngân hàng khi làm hồ sơ vay vốn.

Tại khía cạnh này, nhân viên tín dụng cần chú ý thẩm định xem các tài liệu quy định trong hồ sơ vay có đầy đủ và hợp pháp hay không .

4.2. Thẩm định khả năng tài chính: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết là một trong những điều kiện tiên quyết để xem xét cho khách hàng vay. Điều kiện này đặt ra vừa tốt cho khách hàng, vừa tốt cho ngân hàng. Đối với khách hàng, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ giúp cho khách hàng yên tâm rằng họ sẽ trả được nợ khi đến hạn, do đó, giữ được uy tín cũng như các cam kết đã thỏa thuận. Đối với ngân hàng, khả năng tài chính giúp ngân hàng yên tâm hơn về khả năng trả nợ của khách hàng.

Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan, bản thân khách hàng cũng không thể đánh giá chính xác được khả năng tài chính của mình. Do vậy, thẩm định khả năng tài chính khách hàng là cần thiết. Để làm điều này, khi làm thủ tục vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp các báo cáo tài chính của các kì gần nhất. Dựa vào các báo cáo tài chính này, nhân viên tín dụng sẽ tiến hành phân tích nhằm thẩm định lại khả năng tài chính của khách hàng.

4.3. Thẩm định khả năng trả nợ:

Mục tiêu tối quan trọng của thẩm định tín dụng là đánh giá chính xác được khả năng trả nợ của khách hàng. Thẩm định khả năng tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng có nhược điểm là chỉ đánh quá được quá khứ và hiện tại, trong khi việc thu nợ lại xảy ra trong tương lai. Một khách hàng có tình hình tài chính tốt, do đó, có khả năng tài chính đảm bảo nợ vay trong quá khứ và hiện tại chưa chắc sẽ có tình hình tài chính và khả năng đảm bảo trả nợ tốt trong tương lai. Khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào sự khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư. Do đó, thẩm định tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư là công việc rất quan trọng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.

a) Thẩm định tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh:

Thẩm định tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh được nhân viên tín dụng thực hiện khi xem xét quyết định cho khách hàng vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mục tiêu của thẩm định phương án sản xuất kinh doanh là đánh giá một cách chính xác và trung thực tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh, qua đó, kết luận được khả năng thu hồi vốn khi cho vay để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh đó.

b) Thẩm định tính khả thi của dự án đầu tư:

Thẩm định tính khả thi của dự án đầu tư được nhân viên tín dụng thực hiện khi xem xét quyết định kho khách hàng vay trung hoặc dài hạn để tài trợ cho việc đầu tư vào một dự án. Mục tiêu của thẩm định dự án đầu tư là đánh giá một cách chính xác và trung thực tính khả thi của dự án, qua đó, kết luận được khả năng thu hồi vốn khi cho vay để thực hiện dự án đầu tư đó.

4.4. Thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Bảo đảm tín dụng là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Bảo đảm tín dụng có thể thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm bảo đảm bằng tài sản thế chấp, bảo đảm bằng tài sản cầm cố, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn tự có và vay bảo đảm bằng hình thức bảo lãnh của bên thứ ba. Nói chung bất kỳ tài sản hoặc quyền phát sinh từ tài sản có thể tạo ra ngân lưu đều có thể dùng làm bảo đảm tiền vay. Tuy nhiên, để bảo đảm tiền vay thực sự có hiệu quả thì đòi hỏi:

  • Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm.
  • Tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải có giá trị, có thị trường tiêu thụ.
  • Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản dùng làm bảo đảm tiền vay.

Do đó, mục tiêu của thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay là đánh giá một cách chính xác và trung thực xem tài sản đảm bảo nợ vay có thỏa mãn các yêu cầu nêu trên hay không. Nếu thỏa mãn thì khả năng thu hồi nợ được nâng cao, do có tài sản đảm bảo nợ vay phù hợp. Nếu không thì tài sản đảm bảo nợ vay không thể giúp ích gì thêm cho khả năng thu hồi nợ.

4.5. Ước lượng và kiểm soát rủi ro tín dụng:

Trong khi thẩm định tín dụng được tiến hành trước khi ra quyết định cho vay thì thu hồi nợ là công việc được thực hiện sau khi cho vay. Do đó, thẩm định tín dụng dù có thực hiện kĩ lưỡng và chuyên nghiệp đến đâu vẫn không thể hoàn toàn tránh khỏi sai sót. Không ai có thể đảm bảo chắc chắn việc thu hồi nợ một cách tuyệt đối cho đến khi món nợ được thu hồi. Tuy nhiên, ước lượng và kiểm soát rủi ro tín dụng có thể cung cấp được thông tin giúp cho nhân viên tín dụng và lãnh đạo ngân hàng tiên lượng được phần nào khả năng thu hồi nợ trước khi cho vay. Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

One thought on “Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp HT thẩm định tín dụng tại Vietinbank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464