Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank chi nhánh Ba Đình. Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Khái quát về Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Ba Đình:

1. Quá trình hình thành và phát triển:

Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba Đình Hà Nội (hay gọi tắt là NHCT Ba Đình) ra đời từ năm 1959, với tên gọi lúc được thành lập là Chi điếm Ngân hàng Ba Đình trực thuộc ngân hàng Hà Nội.Với số lượng cán bộ lúc ban đầu thành lập là 10 người, trong bối cảnh kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhiệm vụ của ngân hàng là xây dựng cơ sở vật chất, củng cố tổ chức và hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu phục vụ chế độ bao cấp, không lấy lợi nhuận làm mục tiêu, hoạt động theo mô hình quản lý một cấp. Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

Trong bối cảnh ngành Ngân hàng thực hiện nghị định số 53 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) chuyển hoạt động từ cơ chế quản lý hành chính, kế hoạch hóa sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo mô hình quản lý ngân hàng hai cấp, lấy lợi nhuận làm mục tiêu trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng Ba Đình cũng đã được chuyển đổi thành một chi nhánh NHTM quốc doanh với tên gọi chi nhánh NHCT quận Ba Đình trực thuộc NHCT thành phố Hà Nội. Đến ngày 24/03/1993, thực hiện quyết định số 93/NHCT- TCCB của Tổng Giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam, NHCT Ba Đình thực hiện thí điểm mô hình tổ chức NHCT hai cấp (Trung ương-Quận), xóa bỏ cấp trung gian là NHCT Hà Nội cùng với việc đổi mới và tăng cường công tác cán bộ. Ngay sau khi nâng cấp quản lý cùng với việc đổi mới cơ chế hoạt động, tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực thì hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình đã có sức bật mới, hoạt động kinh doanh theo mô hình một NHTM đa năng, có đầy đủ năng lực, uy tín để tham gia cạnh tranh một cách tích cực trên thị trường và không ngừng tự đổi mới, hoàn thiện để thích nghi với các môi trường kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường.

Từ đó đến nay hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình được ổn định và phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kìm chế lạm phát, thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ, đưa lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những năm trước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức: Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình hiện có trụ sở tại số 126 Phố Đội Cấn-Ba Đình-Hà Nội, có mạng lưới các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm được bố trí nằm rải rác trên các địa bàn dân cư như Đội Cấn, Thành Công, Cống Vị, Quan Thánh, Cửa Nam, Kim Liên,… một số chợ lớn tại Hà Nội như Long Biên, Bưởi, Châu Long,… ngoài ra chi nhánh còn mở rộng địa bàn sang các quận Cầu Giấy, Tây Hồ, huyện Từ Liêm và các địa bàn khác.

Chi nhánh hiện nay có khoảng 280 cán bộ công nhân viên, 7 phòng nghiệp vụ; 3 phòng tín dụng và 15 quỹ tiết kiệm. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình có thể mô tả sơ lược qua sơ đồ sau:

Hình 3: Sơ đồ bộ máy tổ chức Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Ba Đình.

Các phòng nghiệp vụ trên có quan hệ với nhau dưới sự điều hành của ban giám đốc, thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng, hướng tới mục tiêu lợi nhuận trong phạm vi an toàn nhất định.

3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Vietinbank chi nhánh Ba Đình qua các năm: Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

3.1. Tình hình huy động vốn:

Bảng 1: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2006 – 2009

Trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2009, lãi suất biến động mạnh nhưng xu hướng chủ đạo là tăng lên. Lãi suất huy động trong năm 2006 nối tiếp đà tăng mạnh của năm 2005 vì vậy ngân hàng thu hút được một lượng lớn tiền gửi từ khu vực dân cư (2114 tỉ đồng) và doanh nghiệp (2050 tỉ đồng). Tuy nhiên đến năm 2007, cơn sốt lãi suất hạ nhiệt nên số tiền mà ngân hàng thu hút được giảm hơn so với năm 2006. Trong năm này, số tiền gửi từ khu vực các tổ chức kinh tế của ngân hàng ít hơn so với năm 2006 là 30 tỉ đồng, giảm một lượng không đáng kể (giảm 1,46%); trong khi tiền gửi từ khu vực dân cư sụt giảm khá lớn 10,5%. Sang năm 2008, do lãi suất huy động có xu hướng giảm là chính cùng với tác động của khủng hoảng của nền kinh tế Mĩ đến nền kinh tế của Việt Nam, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh, cần sử dụng nguồn tiền gửi để cố gắng duy trì và cải thiện tình hình kinh doanh nên nguồn tiền gửi từ khu vực doanh nghiệp giảm 16,4% so với năm 2007. Trái với tình hình của các doanh nghiệp, số vốn ngân hàng thu hút được từ khu vực dân cư chỉ giảm một lượng nhỏ do uy tín của ngân hàng là ngân hàng thương mại chính phủ nên các cá nhân sẽ yên tâm hơn so với việc gửi tại các ngân hàng thương mại khác trong tình hình kinh tế khó khăn. Đến năm 2009, cùng với gói kích cầu của chính phủ và cuộc đua lãi suất huy động trở lại, số vốn ngân hàng huy động được tăng mạnh. Từ khu vực doanh nghiệp, số tiền gửi vào ngân hàng tăng 45,6% so với năm 2008; trong khi ở khu vực cá nhân là 28,1%.

3.2. Tình hình hoạt động tín dụng: Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

Hình 4: Tình hình cho vay và tổng dư nợ

Hoạt động tín dụng được đánh giá là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho chi nhánh. Từ đồ thị trên, ta thấy doanh số cho vay liên tục tăng từ 5496 tỉ – 5996 tỉ – 6561 tỉ trong 3 năm 2006, 2007, 2008. Điều này cho thấy trong 3 năm này, ngân hàng diễn ra nhiều hoạt động cho vay với nhiều khách hàng. Đến năm 2009 có sự sụt giảm mạnh của doanh số cho vay xuống còn 4910 tỉ, tình trạng này có thể được lý giải là do sự cạnh tranh khá gay gắt của thị trường, ngân hàng cũ phải chia sẻ bớt thị phần với nhiều ngân hàng đang phát triển và mới thành lập. Tổng dư nợ của ngân hàng lại liên tục tăng qua từng năm, tốc độ tăng thường đạt trên 10%/năm.

Bảng 2: Tình hình các nhóm nợ giai đoạn 2006 – 2009

Các khoản nợ quá hạn tập trung chủ yếu ở khu vực cho vay doanh nghiệp. Đặc biệt trong năm 2007, cả năm nhóm nợ của ngân hàng đối với cho vay doanh nghiệp đều tồn tại. Tuy nhiên, với nỗ lực chấn chỉnh và cải thiện hoạt động, chi nhánh đã hạn chế được số nợ nằm trong nhóm nợ quá hạn trong 2 năm 2008 và 2009. Trong năm 2008, chi nhánh đã không còn tồn tại nợ có khả năng mất vốn; và đến năm 2009 thì món nợ có nguy cơ nhất chỉ nằm trong nhóm nợ dưới tiêu chuẩn với số tiền không lớn lắm so với tổng dư nợ của chi nhánh.

Bảng 3: Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu giai đoạn 2006 – 2009

Theo các con số thống kê từ bảng 3, tỉ lệ nợ xấu trong năm 2008 là cao nhất trong cả giai đoạn (2,38%). Thực trạng này có thể lí giải là do đây là năm nền kinh tế bị ảnh hưởng do khủng hoảng của nền kinh tế Mĩ, doanh nghiệp và CBTD khó có thể lường hết được những khó khăn, thay đổi mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, tỉ lệ này của chi nhánh trong giai đoạn này chưa bao giờ vượt qua ngưỡng cho phép (3%) của NHNN. Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

Vòng quay vốn tín dụng dùng để đo lường tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng, chỉ tiêu này cho thấy thời gian thu hồi nợ nhanh hay chậm. Nếu vòng quay vốn tín dụng nhanh chứng tỏ việc đưa vốn vào SXKD của ngân hàng đạt hiệu quả cao, và cũng chứng tỏ hiệu quả của công tác thẩm định tín dụng đối với các món cho vay của ngân hàng vì hoạt động này chiếm tỉ trọng chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng.

Bảng 4: Tình hình vòng quay vốn giai đoạn 2006 – 2008

Từ bảng trên ta có thể thấy khả năng thu hồi nợ và quay vòng vốn của chi nhánh tuy có giảm trong giai đoạn này nhưng vẫn ở mức hai con số.

3.3. Tình hình hoạt động dịch vụ khác:

Bên cạnh hoạt động chủ đạo là tín dụng, ngân hàng cũng phát triển các nghiệp vụ khác như kinh doanh ngoại tệ; chi trả kiều hối, séc du lịch; thanh toán quốc tế; thẻ tín dụng.

Đối với nghiệp vụ thanh toán quốc tế, mặc dù khối lượng thanh toán quốc tế phát sinh khá lớn, song chi nhánh vẫn đảm bảo an toàn không để xảy ra sai sót làm ảnh hưởng đến quyền lợi và uy tín của NHCT nói chung và chi nhánh nói riêng. Chi nhánh cũng phát triển hoạt động tư vấn giúp khách hàng lựa chọn phương thức thanh toán, điều tra thông tin đối tác nước ngoài để tránh rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Chúng ta có thể thấy được doanh số của nghiệp vụ này thông qua bảng sau:

Bảng 5: Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn 2006 – 2009

Bằng các nghiệp vụ thu đổi séc ngoại tệ, chi trả kiều hối; kinh doanh ngoại tệ, chi nhánh đã đáp ứng được nhu cầu khá lớn về ngoại tệ của doanh nghiệp và đem lại lợi nhuận cho chi nhánh. Tuy nhiên doanh số của các hoạt động này chưa được cao, hiệu quả đạt được cũng chưa ổn định. Chúng ta có thể thấy kết quả một cách chi tiết hơn thông qua các bảng sau: Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Thực trạng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Vietinbank

One thought on “Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Vietinbank

  1. Pingback: Khóa luận: Thẩm định tín dụng tại ngân hàng Viettinbank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464