Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.3. Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.
2.3.1. Tình hình hoạt động tín dụng
2.3.1.1. Dư nợ tín dụng
Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động quan trọng và mang lại nguồn thu chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá và cho thuê tài chính. Đối với các ngân hàng thương mại thì cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất và với Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng cũng vậy, hoạt động tín dụng chủ yếu của Ngân hàng là hoạt động cho vay. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Bảng 6: Tình hình hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng
Nguồn: Trích báo cáo tổng hợp SCB – chi nhánh Hồng Bàng năm 2011 – 2013 Qua bảng số liệu ta thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng năm 2011 có số dư nhỏ nhất là 639.856 triệu đồng, tuy nhiên vẫn tăng so với năm trước đó là 58.646 triệu đồng ứng với 10,09%. Năm 2012 là có số dư lớn nhất với 936.317 triệu đồng, so với năm 2011 đã tăng lên 46,33%. Nguyên nhân là do trong năm 2012 các doanh nghiệp tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh để phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế; hơn nữa cùng với sự thay đổi cơ chế thị trường thì các Ngân hàng thương mại cũng đổi mới cơ chế tín dụng, áp dụng chính sách lãi suất thỏa thuận…tạo điểu kiện cho các doanh nghiệp đến vay vốn sản xuất kinh doanh. Tuy đến năm 2013, hoạt động tín dụng của Ngân hàng có giảm nhưng số giảm không quá lớn, so với năm 2012 thì bị giảm 6,74%. Đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu, cơ chế chính sách tuy có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với các Ngân hàng khác trên địa bàn…Sau đây, ta xem xét cụ thể hơn về tỷ trọng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng:
Bảng 7: Tỷ trọng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng
Nhận thấy hoạt động tín dụng tại Ngân hàng chủ yếu tập trung vào cho vay mà trong đó cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước là chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2011, dư nợ của hoạt động cho vay này chiếm 100% nguyên nhân là do trong năm này Ngân hàng chỉ tập trung vào một hoạt động cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước mà chưa quan tâm đến các loại hình cho vay khác. Đến năm 2012 dư nợ của hoạt động cho vay này chiếm 98,00% và đến năm 2013 thì chiếm 98,02% do trong 2 năm 2012 và 2013 ngoài hoạt động cho vay này Ngân hàng còn mở rộng thêm cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư.
Trong hoạt động cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước thì Ngân hàng chủ yếu tập trung vào 2 loại hình cho vay là cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn mà trong đó chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Cho vay dài hạn chiếm tỷ trọng thấp vì loại hình này chứa đựng nhiều rủi ro nhất là trong bối cảnh kinh tế 2011 – 2013. Trong giai đoạn 2011 – 2013 thì cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Có sự thay đổi trong cơ cấu thời hạn cho vay là do xuất phát từ nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp trong từng thời kì, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam như hiện nay thì năm 2013 là năm thứ 6 kinh tế Việt Nam rơi vào trì trệ, tăng trưởng dưới mức tiềm năng, hàng loạt Doanh nhiệp giải thể và ngừng hoạt động nên các phương án đầu tư lâu dài, mở rộng sản xuất kinh doanh bị đình trệ, chính vì vậy cho vay dài hạn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng. Bên cạnh đó thì các Doanh nghiệp tập trung vào các dự án vay vốn ngắn và trung hạn để đẩy nhanh vòng quay vốn.
Dư nợ hoạt động tín dụng Ngân hàng có sự biến động liên tục qua các năm nguyên nhân là do trong giai đoạn 2011 – 2013 môi trường kinh tế bất ổn định. Bắt đầu từ năm 2011, các hoạt động điều hành tín dụng được Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo mục tiêu nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, kiểm soát cho vay ngoại tệ và chống đô la hóa. Tại thời điểm tháng 8/2011, lãi suất cho vay lên đến 20-25%/ năm làm cho khách hàng giảm việc vay vốn. Tuy nhiên tại thời điểm này Ngân hàng Nhà nước đã đề ra lộ trình giảm dần các mức lãi suất điều hành và lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng, phù hợp với xu hướng giảm của lạm phát. Lãi suất cho vay VND đã giảm mạnh từ mức 17 – 19% / năm vào cuối năm 2011 xuống 12 – 15%/ năm vào cuối năm 2012. Hiện nay lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên đang dao động quanh mức 7 – 9%/năm. Chính vì vậy, dư nợ cho vay năm 2012 và 2013 có sự cải thiện đáng kể.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.3.1.2. Doanh số cho vay Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Bảng 8: Cơ cấu và doanh số cấp tín dụng theo ngành kinh tế
Sự phát triển của danh mục tín dụng theo ngành phản ánh tình hình phát triển kinh tế chung của địa bàn. Doanh số cấp tín dụng của chi nhánh đối với các ngành Công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ chiếm trên 80% tổng dư nợ. Xu thế này phù hợp với chiến lược hoạt động của chi nhánh trong giai đoạn sắp tới: tập trung vào các ngành đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng.
Từ năm 2011 đến năm 2013, doanh số cấp tín dụng cho ngành công nghiệp tuy giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số cấp tín dụng của chi nhánh. Tuy có nhiều sự biến động của ngành đóng tàu Việt Nam năm 2011 cũng đã ảnh hưởng nhiều đến các công ty đóng tàu ở Hải Phòng làm giảm tỷ trọng dư nợ tại ngành công nghiệp nhưng do có một số ngành công nghiệp nhẹ của thành phố như sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm, điện… vẫn từng bước phát triển vững chắc làm cho dư nợ tại ngành công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Nhưng thực tế tại Ngân hàng cho thấy, trong giai đoạn 2011 – 2013, SCB chỉ tập trung cho vay ngắn hạn (lên tới trên 70% tổng vốn cho vay) nhưng doanh số cấp tín dụng cho ngàng công nghiệp vẫn là lớn nhất (45,46% năm 2011, năm 2012 tăng lên 52,84%, và năm 2013 là 46,64%) mà những ngành công nghiệp ở Hải Phòng chủ yếu là công nghiệp nặng; điều này chứng tỏ Ngân hàng đang tiềm ẩn những rủi ro cao khi lấy ngắn cho vay dài. Chính vì vậy, cán bộ tín dụng cần phải thận trọng hơn trong khâu thẩm định dự án, sát sao hơn trong những danh mục đầu tư của khách hàng để hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra.
Việc cho vay đối với ngành thương mại, dịch vụ cũng chiếm tỷ trọng cao và chi nhánh nhận thấy đây là thị trường tiềm năng, do đó cũng mở rộng cho vay đối với các đối tượng này. Từ năm 2011 đến 2013, doanh số cấp tín dụng của chi nhánh chi lĩnh vực thương mại, dịch vụ có xu hướng tăng: từ 34,11% (năm 2012) tăng lên 40,13% (năm 2013). Đây cũng là một trong những ngành thế mạnh của Hải Phòng nên việc tăng tỷ trọng cho vay đối với những ngành này là hướng đi rất đúng đắn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Hoạt động cho vay trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp có xu hướng giảm đi trong giai đoạn này tuy nhiên giảm không đáng kể.
2.3.2. Hiệu suất sử dụng vốn
Bảng 9: Hiệu suất sử dụng vốn H1
Đây là chỉ tiêu phản ánh sự tương quan giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay trực tiếp khách hàng, nhận thấy chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn trên của Ngân hàng năm 2011 và năm 2013 đều nhỏ hơn 1, điều này cho thấy trong những năm vừa qua Ngân hàng huy động đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn, tuy nhiên trong năm 2011 hiệu suất sử dụng vốn chỉ đạt 69,78%, nguồn vốn huy động được nhiều mà nhu cầu sử dụng lại ít nên có hiện tượng ứ đọng vốn. Riêng năm 2012, hiệu suất sử dụng vốn lớn hơn 1 chứng tỏ Ngân hàng sử dụng tương đối tốt nguồn vốn huy động, tuy vốn huy động được không đáp ứng đủ nhu cầu cho vay nhưng với số lượng không đáng kể, Ngân hàng không để vốn ứ đọng, tạo lợi nhuận cho Ngân hàng. Nói chung hiệu suất sử dụng vốn mà Ngân hàng có được là tương đối tốt.
Bảng 10: Hiệu suất sử dụng vốn H2
Năm 2011 chỉ tiêu này là 93,39% có nghĩa là cứ trong 100 đồng thuộc tài sản Có thì có 93,39 đồng được sử dụng để cho vay trực tiếp khách hàng, đến năm 2012 thì tăng lên 97,78 đồng và đến năm 2013 giảm xuống còn 94,72 đồng. Tuy hệ số này có giảm nhưng đây vẫn là một mức khá lớn, Ngân hàng đang sử dụng vốn cho vay quá nhiều nên có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản.
2.3.3. Tình hình thu nợ Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thông qua việc đánh giá khả năng thu hồi các khoản nợ đến hạn, đồng thời đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch tín dụng của Ngân hàng, kế hoạch cho vay và đôn đốc thu hồi nợ. Tỷ lệ này càng cao càng tốt.
Bảng 11: Tỷ lệ thu nợ đến hạn
Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình thu nợ đến hạn của Ngân hàng chưa thực sự tốt, chỉ đạt 73,58% năm 2011, năm 2012 tăng lên 79,34% và năm 2013 là 80,70%. Đây là một kết quả chưa tốt, tuy nhiên trong tình hình kinh tế khó khăn như giai đoạn 2011 – 2013 thì hoạt động của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, chưa thể trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn được. Để khắc phục tình trạng này, các cán bộ tín dụng cần nắm bắt rõ hoạt động của khách hàng để có phương hướng xử lý nợ hợp lý. Mặt khác các khoản vay giải ngân cần được cán bộ tín dụng chú trọng đến khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiêp, đến hạn trả nợ cần thông báo, nhắc nhở khách hàng trả nợ đúng hạn.
Tỷ lệ thu lãi của Ngân hàng giai đoạn này chưa thực sự ổn định. Năm 2011 thu lãi tốt nhất đạt 95,82%, hai năm tiếp theo tỷ lệ thu lãi giảm dần, lần lượt là 93,47% trong năm 2012 và 93,19% trong năm 2013. Tỷ lệ thu lãi trên 95% thể hiện công tác thu lãi được Ngân hàng thực hiện khá tốt và chỉ có năm 2011 là Ngân hàng làm được điều này. Trong 2 năm 2012 và năm 2013 tỷ lệ thu lãi có xu hướng giảm cùng với tình hình suy thoái của kinh tế, cán bộ tín dụng cần sát sao hơn trong việc thông báo và nhắc nhở khách hàng đến kì nộp lãi để nâng tỷ lệ thu lãi cao lên.
2.3.4. Tỷ lệ nợ quá hạn
Trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại, nợ quá hạn phát sinh là điều không thể tránh khỏi và với Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng cũng vậy. Trong hoạt động tín dụng của mình, Ngân hàng cũng phát sinh các khoản nợ mà khách hàng chưa trả được khi đến hạn. Ta xem xét cụ thể tình hình dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng qua bảng sau: Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Bảng 12: Tình hình dư nợ và tỷ lệ nợ quá hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.
Tình hình dư nợ quá hạn của Ngân hàng đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Nếu như năm 2011, tổng dư nợ quá hạn của Ngân hàng chỉ có 38.176 triệu đồng, chiếm 5,97% tổng dư nợ cho vay thì đến năm 2012 đã tăng lên 67.578 triệu đồng tăng 29.176 triệu đồng so với tổng dư nợ quá hạn năm 2011tương ứng với 7,22% tổng dư nợ cho vay; sang đến năm 2013 thì số dư nợ quá hạn này lại tiếp tục tăng lên 73.134 triệu đồng, tăng 5.547 triệu đồng so với năm 2012, ứng với 8,36% tổng dư nợ cho vay. Ta có thể thấy trong giai đoạn này tốc độ tăng của nợ quá hạn nhanh hơn so với tốc độ tăng của tổng dư nợ. Nguyên nhân là do trong giai đoạn 2011 – 2013 các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế làm những quan hệ làm ăn, hợp đồng kinh tế bị thay đổi hoặc huỷ bỏ hàng loạt. Chính nguyên nhân này dẫn đến tình trạng các khoản vay của họ không trả đúng thời hạn dẫn đến nợ quá hạn ngày một tăng, chất lượng tín dụng của Ngân hàng suy giảm.
Sau đây ta đi xem xét cụ thể về cơ cấu nợ quá hạn:
- Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn có sự thay đổi liên tục qua các năm, tỷ lệ này cao nhất vào năm 2012 với 6,10%. So với năm trước đó là năm 2011, số dư nợ quá hạn ngắn hạn năm 2012 và năm 2013 tăng lên rất nhiều chứng tỏ Ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn cho vay ngắn hạn gây nên rủi ro trong hoạt động tín dụng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên do số vốn huy động ngắn hạn cũng tăng nên tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn tăng không đáng kể. Nguyên nhân là do Ngân hàng lấy ngắn cho vay dài, SCB cho vay trong ngành công nghiệp quá cao làm cho vòng quay tín dụng chậm dẫn đến chất lượng tín dụng suy giảm. Chính vì vậy, cán bộ tín dụng cần phải thận trọng hơn trong khâu thẩm định dự án để có những quyết định cho vay đúng đắn.
- Tỷ lệ nợ trung hạn quá hạn: năm 2011 vẫn là năm Ngân hàng có tỷ lệ thấp nhất với 7,91%, sang đến năm 2012 thì tỷ lệ này tăng lên là 16,67%, so với năm 2011 thì tỷ lệ này tăng lên hơn gấp 2 lần – một mức tăng quá nhanh chỉ trong vòng 1 năm. Đến năm 2013, tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng, đạt mức 15,81%. Ngân hàng cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa khách hàng vay vốn cũng như khả năng trả nợ của khách hàng để việc thu hồi vốn nhanh chóng hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng.
- Tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn: trong năm 2011 tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn của Ngân hàng là 9,28%, đến năm 2012 tỷ lệ này tăng lên 10,82%, năm 2013 tỷ lệ này là 12,02%. Ta thấy tỷ lệ này tăng đều qua các năm mà không có xu hướng giảm, điều này cho thấy việc thu hồi vốn cho vay dài hạn của Ngân hàng cũng ngày càng khó khăn hơn, khi dư nợ cho vay càng lớn thì việc kiểm soát khả năng trả nợ của khách hàng ngày càng khó khăn . Năm 2013, Ngân hàng có số dư nợ cho vay dài hạn ít hơn so với năm 2012 ( dư nợ cho vay dài hạn năm 2012 là 74.774 triệu đồng, năm 2013 là 60.505 triệu đồng) nhưng tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn lại rất lớn cho thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đang ngày càng gặp nhiều rủi ro.
Tỷ lệ dư nợ quá hạn tại Ngân hàng ngày càng tăng chứng tỏ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngày càng gặp rủi ro, các khoản dư nợ gốc và lãi Ngân hàng chưa thu hồi được ngày càng tăng lên, chất lượng tín dụng giảm xuống làm cho hiệu quả hoạt động tín dụng cũng bị giảm sút. Thực tế này đòi hỏi Ngân hàng cần chú trọng chấp hành nghiêm túc quy chế cho vay và các văn bản chỉ đạo của Hội sở về công tác tín dụng, chi nhánh phải thức hiện thật thận trọng trong việc phân tích đánh giá khách hàng để có quyết định tín dụng phù hợp, bảo đảm dư nợ tín dụng lành mạnh, phát triển an toàn.
2.3.5. Tỷ lệ nợ xấu Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Nếu như nợ quá hạn phản ánh sự yếu kém về mặt tài chính và là dấu hiệu rủi ro tín dụng của Ngân hành thì nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của Ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Do đó việc xem xét tình hình dư nợ xấu là rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Như đã nghiên cứu, nợ xấu là các khoản nợ thuộc từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo quy định về phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước. Sau đây là bảng dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.
Bảng 13: Tình hình dư nợ và tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.
Dư nợ xấu của Ngân hàng có sự biến động qua các năm 2011, 2012 và Nếu như trong năm 2011 số dư nợ xấu của Ngân hàng chỉ có 10.442 triệu đồng thì đến năm 2012 đã là 20.299 triệu đồng tăng gấp đôi so với năm 2011, đến năm 2013 lại giảm một chút so với năm 2012 xuống còn 19.924 triệu đồng. Điều này tương ứng với tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng có xu hướng ngày càng tăng. Nếu như năm 2011 chỉ có 1,64% (trong 100 đồng có 1,64 đồng dư nợ xấu) thì đến năm 2012 đã tăng lên 2,17% (trong 100 đồng dư nợ có 2,17 đồng nợ xấu) và năm 2013 là 2,29%, tăng lên 0,12% so với năm 2012. Điều này chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng ngày càng khó khăn, vốn của Ngân hàng lúc này không còn là rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng ngày càng tăng là do sự biến động của tình hình kinh tế trong nước trong những năm vừa qua đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho việc thu hồi vốn của Ngân hàng trở nên khó khăn. Hơn nữa, sự biến động kinh tế trong và ngoài nước như khủng hoảng kinh tế, tình hình kinh tế chính trị phức tạp, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị áp lực từ nhiều phía…dẫn đến khả năng trả nợ của khách hàng bi suy giảm. Hoạt động cho vay chính của Ngân hàng là cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước nên khoản nợ xấu phát sinh chủ yếu ở khoản cho vay này (chiếm 84,53% đến 100% tổng dư nợ xấu).
Cũng giống như dư nợ quá hạn, khi xem xét có cấu dư nợ xấu thì ta thấy các khoản dư nợ xấu ngắn hạn luôn lớn hơn dư nợ xấu trung và dài hạn. Tuy nhiên, nếu so sánh về tỷ lệ thì tỷ lệ dư nợ xấu ngắn hạn luôn thấp nhất bởi hoạt động tín dụng trung dài hạn tuy giúp Ngân hàng thu được lợi nhuận cao hơn so với tín dụng ngắn hạn nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn.
Những khoản nợ xấu nói trên nguyên nhân tập trung chủ yếu là ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, quản lý yếu kém dẫn đến thua lỗ, không thể trả nợ tiền vay cho ngân hàng đúng hạn được. Tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng làm cho chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng giảm xuống ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Do đó Ngân hàng cần đưa ra các chính sách thích hợp để giảm thiểu các khoản nợ xấu này đồng thời Ngân hàng phải giám sát chặt chẽ khoản vay để các doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích, hạn chế tình trạng làm ăn thua lỗ.
2.3.6. Tỷ lệ sinh lời tín dụng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Bảng 14: Kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013
Theo số liệu trên ta thấy tỷ suất sinh lời của hoạt động tín dụng trong 3 năm qua có xu hướng giảm. Mỗi một đồng tín dụng bỏ ra thu được về 0,0523 đồng lợi nhuận vào năm 2011, đến năm 2012 thu được 0,0376 đồng, sang năm 2013 chỉ thu được 0,0299 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên đây là tỷ lệ tương đối cao bởi lợi nhuận của chi nhánh vẫn dựa trên hoạt động tín dụng là chính, thu nhập từ hoạt động dịch vụ khác vẫn còn hạn chế. Và con số này cũng phần nào thể hiện sự cố gắng đáng kể của chi nhánh trong hoạt động tín dụng trước hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay.
Ta thấy mức đóng góp của hoạt động tín dụng vào tổng lợi nhuận của Ngân hàng chiếm một tỷ trọng lớn. Điều này không chỉ thấy ở SCB mà đây là điểm nổi bật trong tổng lợi nhuận ở hầu hết các Ngân hàng thương mại hiện nay. Tuy nhiên mức đóng góp của tín dụng vào tổng lợi nhuận Ngân hàng có biến động nhưng chênh lệch không lớn. Năm 2011, mức đóng góp từ hoạt động tín dụng là 66,29%, năm 2012 xuống còn 63,23% và sang năm 2013 giảm 3,44% so với năm 2012 xuống còn 59,79%. Mức đóng góp này giảm nhẹ là do chi nhánh đang dần nâng cao được hiệu quả của các hoạt động dịch vụ khác. Phát triển các dịch vụ Ngân hàng để tăng thu từ các dịch vụ đó là một trong những giải pháp nhằm tăng thu nhập của chi nhánh trong thời gian tới.
2.3.7. Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng thể hiện tốc độ luân chuyển các khoản vay mà Ngân hàng cấp cho nền kinh tế, nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng thu được bao nhiêu nợ để có thể lại cho vay mới. Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng qua cơ cấu cho vay. Thực tế, vòng quay vốn tín dụng chỉ phản ánh một khía cạnh của chính sách tín dụng là thiên về cho vay ngắn hạn hay dài hạn. Nếu vòng quay càng nhanh, chứng tỏ Ngân hàng thiên về cho vay ngắn hạn, nếu vòng quay chậm chứng tỏ Ngân hàng thiên về cho vay trung dài hạn.
Bảng 15: Vòng quay vốn tín dụng
Qua bảng số liệu trên ta thấy từ năm 2011 đến năm 2013 số vòng quay của vốn tín dụng đang chậm dần đi. Năm 2011, vòng quay vốn tín dụng là 0,85 vòng/ năm, năm 2012 là 0,75 vòng /năm, đến năm 2013 chỉ còn 0,71 vòng/ năm. Nguyên nhân là do dư nợ tín dụng trung và dài hạn của chi nhánh đang tăng dần trong giai đoạn 2011 – 2013 nhưng dư nợ ngắn hạn vẫn là chủ đạo nên vòng quay giảm không đáng kể. Trong bối cảnh kinh tế giai đoạn 2011 – 2013, Ngân hàng phần lớn tập trung cho những dự án ngắn hạn để giảm thiểu tối đa mức rủi ro, nhưng ta có thế thấy cơ cấu cho vay của chi nhánh đang dịch chuyển từ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung dài hạn để tiếp thêm vốn cho những dự án lớn, có thời gian đầu tư lâu dài cho phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên Ngân hàng và cán bộ tín dụng cần chú ý đến khoản vay trung dài hạn để đảm bảo chất lượng tín dụng cho Ngân hàng do đây là các khoản vay có thời gian dài, dễ chịu tác động của các thay đổi trong nền kinh tế.
2.3.8. Trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo và tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng nhóm nợ được Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kì. Dựa trên những quy định của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng có Bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:
Bảng 16: Bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng của Ngân hàng. Dựa theo bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, chi nhánh có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:
Bảng 17: Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng giai đoạn 2011 – 2013 ngày càng tăng. Năm 2011, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng là 1,06%, năm 2012 là 1,24% và đến năm 2013 là 1,38% (tăng 0,32% so với năm 2011). Điều này cho thấy càng ngày Ngân hàng càng gặp nhiều rủi ro về tín dụng làm cho chất lượng tín dụng suy giảm. Tuy nhiên, SCB Hồng Bàng luôn chấp hành theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo phân loại nợ, trích lập dự phòng theo đúng số dư tín dụng đã cấp, không vì lợi nhuận cao trước mắt nên có thể phần nào hạn chế được rủi ro.
Trong hoạt động kinh doanh luôn tồn tại những rủi ro thường trực do vậy các Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào và nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng đến việc trả nợ của doanh nghiệp từ đó sẽ gây bất lợi cho Ngân hàng. Chính vì vậy Ngân hàng phải luôn theo dõi sát sao các khoản nợ và đưa ra được các giải pháp đúng đắn và kịp thời nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất và đảm bảo sự hài lòng của khách hàng thì chi nhánh Ngân hàng cũng đã nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo yếu tố an toàn trong kinh doanh.
Thủ tục cho vay đơn giản, phù hợp với quy chế cho vay:
Theo quyết định 284/2002-QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và theo Điều 16 trong quyết định số 08/ QĐ – HĐQT của chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn ban hành về các thủ tục vay vốn của khách hàng. Tại SCB – chi nhánh Hồng Bàng thì chi nhánh vẫn từng bước giảm bớt thủ tục đối với các nghiệp vụ nhưng vẫn đảm bảo độ an toàn tối đa. Khách hàng được hướng dẫn chu đáo, tận tình trong quá trình làm thủ tục vay vốn. Quy trình thẩm định một món vay chặt chẽ hơn, với mỗi món vay được cán bộ tín dụng nghiên cứu, thẩm định khách hàng vay vốn sau đó lãnh đạo phòng tín dụng kiểm tra hồ sơ khách hàng và thẩm định lại. Với những khoản vay lớn có tài sản thế chấp thì lãnh đạo (Giám đốc, phó giám đốc) cũng tham gia thẩm định và xem xét việc phê duyệt hoặc không phê duyệt món vay. Ngoài việc phê duyệt món vay còn dựa trên các chỉ tiêu như: tính khả thi của dự án, tình hình tài chính của khách hàng, tính chất và năng lực pháp lý của khách hàng, uy tín của khách hàng…Mọi món vay đều có hợp đồng tín dụng kí kết theo sự thỏa thuận của Ngân hàng và khách hàng.
Thời gian xét duyệt
Các dự án trong quyền phán quyết
Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Việt Nam, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng sẽ thông báo chấp thuận hoặc không chấp thuận cho vay.
Các dự án vượt quyền phán quyết (SCB chi nhánh Hồng Bàng phải trình lên cấp trên phê duyệt).
Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Việt Nam, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng sẽ thẩm định và làm đầy đủ thủ tục trình lên Hội Sở chính.
Tại Hội sở chính trong thời gian không quá 05 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ ngày nhận đủ hồ sơ trình, Hội sở chính sẽ thông báo chấp thuận hoặc không chấp thuận gửi SCB chi nhánh Hồng Bàng để thông báo cho khách hàng biết.
Cơ sở vật chất, khoa học công nghệ Ngân hàng
Chi nhánh đã trang bị hệ thống camera trong toàn Ngân hàng. Camera được đặt khắp mọi nơi cần thiết để đảm bảo an toàn cho Ngân hàng; mặt khác, Ban giám đốc cũng có thể theo dõi thái độ làm việc, phục vụ khách hàng của cán bộ trong Ngân hàng để điều chỉnh kịp thời. Quy trình giao dịch được cải tiến đảm bảo nhanh gọn, chính xác, tạo tâm lý thoải mái và tin tưởng ở khách hàng. Ngoài ra chi nhánh đã được trang bị lại và nâng cao chất lượng máy tính ở tất cả các phòng, đặc biệt là phòng kinh doanh và phòng kế toán. Nhờ có hệ thống này mà những công việc giấy tờ và quản lý trở nên gọn nhẹ, tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng có nhiều thời gian tiếp cận khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Bảng 18: Diễn biến lượng khách hàng đến giao dịch tín dụng (2011 – 2013)
Số khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh có sự thay đổi qua các năm, thể hiện tình hình kinh tế tạo địa bàn có sự biến động. Năm 2012, số khách hàng đến giao dịch tín dụng giảm 622 lượt do suy thoái kinh tế nên nhu cầu của người dân giảm nhẹ. Nhưng năm 2013, số khách hàng đến giao dịch tín dụng lại tăng thêm 733 lượt, đây cũng chính là thành công của chi nhánh trong công tác mở rộng tín dụng. Việc thực hiện tiếp xúc, thẩm định và chi vay khách hàng đều diễn ra trực tiếp giúp cho chi nhánh sớm lựa chọn được khách hàng truyền thống và lâu dài nhưng chi phí cho một món vay thường cao, thời gian thẩm định dài. Chi nhánh cũng đã có các biện pháp thu hút khách hàng đến giao dịch tại Ngân hàng nhiều hơn nữa như đưa ra các chính sách khuyến mại cho khách hàng khi đến gửi tiền, chuyển khoản hay làm thẻ ATM….
Trình độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ Ngân hàng
Có thể nói những đổi mới trong công tác tín dụng không chỉ bởi những quy định mới trong quy chế mà còn được quyết định bởi trình độ, đạo đức, nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng. Với phương châm đầu tư để đổi mới toàn bộ đội ngũ cán bộ tín dụng, chi nhánh đã tạo điều kiện cho các cán bộ tín dụng cũ đi học thêm. Thay đổi đội ngũ quản lý trực tiếp mới, tuyển mới những cán bộ tín dụng trẻ, có trình độ, có lòng nhiệt tình và hăng say công việc.
Đặc biệt, maketing Ngân hàng cũng được thực hiện một cách rõ nét hơn. Tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng được quán triệt và thay đổi rõ rệt ở từng cán bộ tín dụng: phục vụ chu đáo, hướng dẫn tận tình với phong cách rất trang nhã và lịch sự đã tạo cho khách hàng một tâm lý thoải mái và thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch với chi nhánh hơn.
Tuy nhiên các cán bộ tín dụng cần được học các khóa tập huấn kiến thức thực tế mới để nâng cao nghiệp vụ, tiếp cận những công nghệ mới và các tình hình kinh tế, chính trị đặc biệt để có thể đưa ra những quyết định tín dụng chính xác. Ngoài ra, các cán bộ tín dụng có năng lực, trình độ nhưng cũng nhiều trường hợp năng lực đó không được sử dụng triệt để, nhiều khoản vay chỉ được xét duyệt qua loa trên cơ sở tài liệu do khách hàng cung cấp. Đây cũng là vấn đề mà các lãnh đạo Ngân hàng cần quan tâm xem xét để cải thiện nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.
2.4. Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
2.4.1. Những kết quả đạt được
Mặc dù môi trường cho hoạt động tín dụng của các Ngân hàng TMCP còn gặp nhiều khó khăn, song được sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, sự giúp đỡ của các cơ quan hữu quan và sự nỗ lực của toàn bộ nhân viên trong Ngân hàng, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng trong những năm qua đã đạt được những thành tựu sau:
Một là: Công tác phục vụ khách hàng có nhiều đổi mới thích hợp với nền kinh tế thị trường. Phong cách phục vụ, giao dịch văn minh, lịch sự tạo được ấn tượng, uy tín đối với khách hàng, tăng được số lượng khách hàng, mở rộng thị phần.
Hai là: Doanh số cho vay của Ngân hàng luôn giữ ở mức ổn định, quy mô dư nợ chênh lệch không đáng kể. Cơ cấu cho vay không chỉ bó hẹp trong khu vực doanh nghiệp quốc doanh mà còn mở sang cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp và cá nhân.
Ba là: Công tác thu nợ quá hạn, nợ khó đòi được chú trọng đúng mức; phân loại nợ quá hạn, kiểm tra đối chiếu nợ được tiến hành thường xuyên. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn được Ngân hàng chú trọng kiểm tra và điều chỉnh ở mức an toàn.
Bốn là: Ngân hàng đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi. Ngân hàng từng bước gắn mình với doanh nghiệp qua vai trò tư vấn.
Năm là: Trong quá trình cho vay, Ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập… của khách hàng trong phạm vi cho phép.
Sáu là: Ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ có đủ tài năng, có trách nhiệm và nhiệt tình công tác và phòng tín dụng tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
2.4.2.1. Những hạn chế về chất lượng tín dụng
Như đã nói ở trên, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng có chất lượng tín dụng khá tốt. Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn một số hạn chế. Vì vậy, chi nhánh cần phải có những biện pháp nhằm duy trì các chỉ tiêu đồng thời xử lý những chỉ tiêu hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng của mình trong giai đoạn tới. Những hạn chế đó là:
Thứ nhất: Với đối tượng cho vay: SCB chi nhánh Hồng Bàng vẫn chưa có chiến lược đa dạng khách hàng. Ngân hàng chỉ mới chú trọng đến các doanh nghiệp nhà nước và một số khách hàng truyền thống mà bỏ qua một số khách hàng làm ăn có hiệu quả. Tuy Ngân hàng đã cho vay vốn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng số món vay còn ít và quy mô nhỏ. Đây là một điều đáng tiếc vì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng có tiềm lực và nhu cầu về vốn là rất lớn. Hơn nữa, Nhà nước rất khuyến khích cho vay công bằng đối với các thành phần kinh tế nhằm tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế cùng phát triển. Vì vậy, nếu Ngân hàng mở rộng hơn nữa cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sẽ vừa có tác dụng tốt đối với nền kinh tế và vừa giúp
Ngân hàng tăng thêm thị phần, tăng thu nhập, cũng như thực hiện đúng chủ trương mag Nhà nước đề ra.
Thứ hai: Thông qua việc đánh giá tình hình các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại Ngân hàng trong những năm gần đây, nhận thấy các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại Ngân hàng có xu hướng ngày càng tăng làm cho chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng giảm xuống ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, Ngân hàng cần đưa ra những chính sách thích hợp để giảm thiểu những khoản nợ này.
Thứ ba: Nhìn chung, hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng tuy có tăng trưởng trong những năm vừa qua nhưng đang có xu hướng chậm lại. Đặc biệt từ năm 2011 đến năm 2012 còn giảm 1,45 %, sang năm 2013 mới tăng trở lại 9,23%. Do đó , Ngân hàng cần chú trọng hơn đến hoạt động này.
Thứ tư: Công tác Marketing Ngân hàng tuy bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu còn có những hạn chế, điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng dư nợ.
Thứ năm: Trình độ của cán bộ chuyên môn có có nhiều bất cập. Đội ngũ cán bộ có trình độ, nhanh nhẹn, nhiệt tình, hàng hái học hỏi nhưng còn thiếu kinh nghiệm, không lường hết được rủi ro hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng còn thiếu cán bộ được đào tạo theo chuyên ngành chuyên môn kỹ thuật để thẩm định tính khả thi hiệu quả của dự án. Khâu kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Ngân hàng vẫn chưa được thực hiện đúng mức, cán bộ làm công tác thanh tra còn thiếu về số lượng, kinh nghiệm thực tế và trình độ chuyên môn.
2.4.2.2. Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
Những hạn chế trên đây về chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra.
Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
Xét về chính sách tín dụng: Sau các vụ án kinh tế lớn thì hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng SCB nói riêng có xu hướng thận trọng trong việc cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Tâm lý của các cán bộ tín dụng cho rằng, cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là mạo hiểm, có tỷ lệ rủi ro cao, điều này làm giảm lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặt khác, do đặc điểm riêng của kinh tế ngoài quốc doanh nên doanh số cho vay không lớn, lợi nhuận mang lại ít hơn so với cho vay các tổng công ty trong khi vốn tự có của doanh nghiệp lại thấp. Vì vậy, khách hàng thuộc các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là đối tượng chủ yếu của SCB – chi nhánh Hồng Bàng.
Xét về quy trình tín dụng: Cán bộ Ngân hàng tuy đều được phổ biến một cách cụ thể về quy trình tín dụng nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế nhất định:
Công tác thu thập thông tin thường dựa vào số liệu do khách hàng cung cấp và cũng có tham khảo thêm một số thông tin thu thập từ bên ngoài. Nhưng nhiều khi công tác này chưa tốt dẫn đến việc đánh giá không đúng hiệu quả của dự án cũng như khả năng thực tế của khách hàng. Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro giữa chi nhánh và SCB Việt Nam cũng như với Ngân hàng Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặc dù Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã có phòng chuyên trách thông tin phòng ngừa rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng nhưng đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực sự là công cụ tốt để ngăn ngừa rủi ro, tiêu cực trong Ngân hàng.
Công tác đánh giá tài sản thế chấp: Việc đánh giá tài sản thế chấp cả về giá trị và tính pháp lý của tài sản đôi khi chưa được chính xác dẫn đến việc làm giảm chất lượng tín dụng. SCB chi nhánh Hồng Bàng định giá tài sản thế chấp theo quy định chung, có tham khảo thêm giá thị trường đó tại thời điểm định giá. Các tài sản thế chấp mà doanh nghiệp sử dụng để đảm bảo tiền vay của Ngân hàng chủ yếu là đất đai, nhà ở, máy móc thiết bị. Mức giá của các loại này thường không ổn định nên việc định giá đúng là rất khó khăn.
Công tác kiểm tra, giám sát khi cho vay đôi khi còn mang tính hình thức, không phát hiện kịp thời những sai phạm hoặc có phát hiện nhưng chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu. Đó cũng là nguyên nhân gây phát sinh nợ quá hạn.
Xét về hoạt động Marketing Ngân hàng: Ngân hàng chủ yếu chỉ tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo, khuếch trương, còn việc vận dụng Marketing nhằm nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, nâng cấp chất lượng dịch vụ còn chưa tốt. Ngân hàng cũng chưa có những biện pháp thích hợp nhằm lôi kéo khách hàng.
Xét về trình độ cán bộ: Còn có một số cán bộ chưa nắm bắt nhu cầu và sự thay đổi của thị trường, chưa đủ khả năng kinh nghiệm để đánh giá tính hiệu quả và mức độ rủi ro của khoản vay kể từ khi xét duyệt cho vay.
Ngân hàng chưa có chế độ đãi ngộ, thưởng phạt hợp lý đối với các cán bộ vị trí khác nhau và cường độ làm việc khác nhau. Điều này dẫn đến hiện tượng có một số cán bộ tín dụng ngại cho vay, sợ trách nhiệm và chưa tâm huyết với công việc.
Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
- Do trình độ quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế nên thường thua thiệt trong kinh doanh, làm thất thoát vốn và những chi phí không cần thiết dẫn đến không đủ sức đứng vững trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường.
- Khách hàng cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, về tài chính không đầy đủ, nếu có thì không kịp thời và sai lệch so với thực tế. Điều này gây khó khăn trong công tác kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng.
- Vốn tự có của các Doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thấp, trong khi tín dụng trung – dài hạn thì tỷ lệ vốn tự có của doanh nghiệp tham gia đầu tư phải đảm bảo 30-50% tổng vốn đầu tư của dự án, Ngân hàng chỉ cho vay phần vốn còn thiếu tức là 50-70% vốn đầu tư của dự án. Do không đáp ứng đủ các điều kiện về vốn tự có, về tài sản thế chấp, về tính khả thi của dự án nên không đủ điều kiện để Ngân hàng có thể cho vay.
Nguyên nhân khác
Sự không ổn định của môi trường kinh tế trong nước và trên thế giới đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt là thị trường xuất khẩu (nhất là một số mặt hàng nông sản giảm mạnh), sự cắt giảm liên tục lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của các doanh nghiệp.
Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý cũng như môi trường pháp lý cho kinh doanh tín dụng chưa được hoàn thiện nên không đảm bảo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế. Mặt khác, sự thay đổi cơ chế, chính sách của Nhà nước đã khiến cho hoạt động tín dụng còn gặp nhiều khó khăn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng Ngân hàng SCB

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB