Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)

Ngân hàng SCB có tên tiếng Việt là Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn. Tên giao dịch quốc tế là Saigon Commercial Bank. Với thương hiệu là SCB – Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn đã khẳng định việc hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam của mình ngày càng vững mạnh. Hội sở chính của Ngân hàng được đặt tại 927 Trần Hưng Đạo, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn được cấp giấy phép hoạt động: 00018/NH-GP và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số:4103001562. Là loại hình đơn vị công ty cổ phần tư nhân nhưng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn lại sở hữu vốn điều lệ lớn, nằm trong nhóm 5 Ngân hàng TMCP lớn của Việt Nam. Kể từ ngày 1/1/2012, vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (hợp nhất) là 10.584.000.000.000 đồng (Mười ngàn năm trăm tám mươi tư tỷ đồng). Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Ngân hàng TMCP Sài Gòn tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo giấy phép số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc NHNN Việt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của UBND thành phố Hồ Chí Minh cấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB).

SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam. Cụ thể: tính đến ngày 27/12/2010. Vốn điều lệ của SCB đạt 4.184.795.040.000 (Bốn ngàn một trăm tám mươi tư tỷ bảy trăm chín lăm triệu bốn mươi ngàn đồng) và ngày 30/09/2011 tổng tài sản của SCB đạt tới 77.985.000.000.000 (Bảy mươi bảy nghìn chín trăm tám lăm tỷ đồng), tăng gần 30% so với đầu năm 2011.

Ngày 26/12/2011 Thống đốc NHNN Việt Nam chính thức cấp giấy phép số 238/GP-NHNN về việc thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP Sài Gòn

(SCB) trên cơ sở hợp nhất và tự nguyện 3 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiabank). Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) theo quyết định số 2716/QĐ-NHNN ngày 26-12-2011 của thống đốc NHNN. Chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2012 với vốn điều lệ: 10.584.000.000.000 đồng, tổng tài sản của Ngân hàng: 154.000.000.000 đồng, nguồn vốn huy động từ tổ chức tín dụng, kinh tế và dân cư của Ngân hàng hơn 11.000.000.000.000 đồng. Lợi nhuận sau thuế lũy kế trên 1.300.000.000.000 đồng. Hiện nay, hệ thống từ Hội sở chính đến các chi nhánh, phòng giao dịch, quầy giao dịch, điểm giao dịch của SCB là trên khoảng 230 đơn vị được phân bố trải dài từ Nam ra Bắc. Mạng lưới rộng khắp này giúp cho khách hàng giao dịch thuận lợi và tiết kiệm nhất có thể.

SCB còn tạo dựng thế mạnh của mình bằng việc liên kết với các tổ chức tín dụng khác: ký hợp toàn diện với các Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV), Ngân hàng Ngoại thương (vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank)…SCB hiện đang đứng thứ 4 và tổng tài sản và đứng thứ 3 về dư nợ Tín dụng so với các Ngân hàng TMCP khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.

Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng

Trước hợp nhất, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng là Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hải Phòng trực thuộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Chi nhánh Hải Phòng được thành lập từ ngày 19/11/2007 tại 97 Điện Biên Phủ, Minh Khai, Hồng Bàng, Hải Phòng. Theo quyết định số 52/2011/QĐ/HĐQT ngày 30/12/2011 của HĐQT về việc đổi tên chi nhánh Hải Phòng thành chi nhánh Hồng Bàng và trụ sở được đặt tại số 5A, đường Hoàng Văn Thụ, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng để thuận tiện theo điều kiện phát triển của Ngân hàng.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng tuy mới chỉ đi vào hoạt động được hơn 6 năm nhưng SCB Hải Phòng đã xây dựng được lòng tin và sự yêu mến của đông đảo khách hàng tại địa phương nhờ sản phẩm đa dạng, phong phú với nhiều lợi ích vượt trội cùng phong cách phục vụ tận tình, chu đáo của đội ngũ cán bộ công nhân viên. Với những thành tựu trong 6 năm qua đạt được,

Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) – Chi nhánh Hồng Bàng ngày càng khẳng định được vị thế và uy tín của mình trên thị trường Ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

2.1.2.1. Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

2.1.2.2. Nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban

Bộ máy quản lý chi nhánh

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng hoạt động theo chức năng riêng đã được phân công với sự điều hành của ban lãnh đạo chi nhánh gồm:

Giám đốc chi nhánh: Ông Phạm Thống Nhất Trưởng phòng kế toán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên  Trưởng phòng kinh doanh: Ông Trương Anh Đức

 Trưởng bộ phận hành chính: Bà Vũ Thu Hà

 Giám đốc phòng GD Lạch Tray: Ông Lưu Dũng Anh

 Giám đốc phòng GD Trần Nguyên Hãn: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh

 Phó giám đốc phòng GD Đông Bắc: Bà Phạm Thị Nguyệt Minh

Chức năng, nhiệm vụ cơ bản

Nhìn vào sơ đồ cơ cấu tổ chức trên, ta thấy được cơ cấu tổ chức hoạt động của

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng bao gồm: Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Giám đốc chi nhánh

Nhiệm vụ: Chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ bộ máy quản lý của Ngân hàng, trực tiếp phụ trách phòng kinh doanh, phòng kế toán, bộ phận hành chính và 3 phòng giao dịch.

Chức năng:

 Lập chiến lược phát triển và các công cụ chiến lược triển khai trong chi nhánh ngân hàng.

 Lập kế hoạch làm việc, phân công công việc, ủy quyền và quản lý thực hiện công việc.

 Quản lý rủi ro và chất lượng nợ tại chi nhánh.

 Quản lý chất lượng dịch vụ tại chi nhánh.

 Xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp.

Phòng kinh doanh Nhiệm vụ:

Phụ trách việc tìm kiếm, liên hệ với khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn, nghiên cứu chiến lược kinh doanh và đề xuất chính sách ưu đãi với khách hàng.

Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kĩ thuật, danh mục khách hàng, lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và hiệu quả, thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền, tiếp nhận và thực hiện chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước… thường xuyên phân loại nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và hướng khắc phục.

Bộ phận tín dụng

Chức năng:

Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ tín dụng của khách hàng chuyển đến đảm bảo phù hợp với quy định của ngân và của pháp luật hiện hành.

Thực hiện các thủ tục để hoàn thành khoản vay.

Gặp gỡ khách hàng, nghiên cứu hồ sơ, chất vấn chuyên viên khách hàng, lập báo cáo tái thẩm định, đệ trình lên cấp có thẩm quyền xem xét và phê duyệt các khoản vay món thuộc hạn mức tín dụng, các khoản hạn mức tín dụng ngắn hạn.

Thực hiện tái thẩm định tất cả các khoản cho vay thể nhân theo sản phẩm, các khoản vay ngắn hạn, chiết khấu, mở L/C, bảo lãnh thuộc hạn mức khách hàng đã được cấp có thẩm quyền duyệt hạn mức.

Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu của cấp phê duyệt đối với các khoản vay. Kịp thời phát hiện những vi phạm và các dấu hiệu ảnh hưởng đến mức độ an toàn của khoản vay, trình cấp có thẩm quyền xử lý.

Ghi nhớ và thấu hiểu các chính sách tín dụng, thực hiện thẩm định tuân thủ các chính sách và có thể diễn giải nội dung áp dụng chính sách tín dụng vào hồ sơ cụ thể.

Hiểu rõ về các sản phẩm phục vụ khách hàng doanh nghiệp và các rủi ro tiềm ẩn của sản phẩm để đảm bảo nội dung chất lượng của công tác thẩm định.

Bộ phận thanh toán quốc tế

Chức năng:

Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu mở L/C của phòng Dịch vụ Ngân hàng Doanh nghiệp, các phòng giao dịch và các chi nhánh.

Mở thư tín dụng, chuyển cho Kiểm soát viên kiểm soát và cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Kiểm tra chứng từ hàng nhập khẩu, làm thông báo cho khách hàng trình cấp có thẩm quyền duyệt sau đó chuyển cho phòng Doanh nghiệp, các phòng giao dịch, các chi nhánh. Liên hệ với phòng Dịch vụ Ngân hàng Doanh nghiệp, phòng giao dịch, chi nhánh khi bộ chứng từ đến hạn thanh toán.

Làm điện thông báo ra nước ngoài khi bộ chứng từ có sai sót, hủy L/C, hay các vấn đề liên quan đến L/C khi có phát sinh. Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, phát điện đi.

Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền quốc tế. Ghi sổ chứng từ chuyển tiền và thanh toán L/C. Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát sinh. Lưu các hồ sơ có liên quan.

Phòng kế toán

Nhiệm vụ:

Trong tổ chức, quản lí công tác kế toán, tài chính giúp cho Ngân hàng hoạt động theo đúng quy định của Ngân hàng và Nhà nước, giúp Giám đốc Ngân hàng điều hành và quản lí nguồn vốn và tài sản của Ngân hàng một cách chính xác, an toàn, hiệu quả và phát triển vốn theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Tham mưu xây dựng về công tác kế toán, tài chính. Tính toán và phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của Ngân hàng một cách đầy đủ, chính xác tuyệt đối, trung thực, kịp thời và có hệ thống, tổ chức thiết lập đầy đủ hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán, tổ chức bảo quản lưu trữ các chứng từ kế toán, phân tích tình hình tài chính, hoạt động của Ngân hàng qua đó tham mưu cho Giám đốc tổ chức quản lí hoạt động tài chính, phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Bộ phận kế toán nội bộ

Chức năng:

Kế toán chi tiêu nội bộ (quản lý và hạch toán các khoản chi tiêu của Ngân hàng).

Kế toán thuế.

 Kế toán tài sản (bao gồm cả quản lý và hạch toán TSCĐ, công cụ lao động, vật liệu, chi phí chờ phân bổ của Ngân hàng).

 Các khoản thanh toán nội bộ trong hệ thống (điền chuyển vốn, thu chi hộ).

Bộ phận kế toán giao dịch

Chức năng:

 Nhận và chi trả gốc cộng lãi tiền gửi.

 In sổ phụ.

 Trả lời thắc mắc về lãi suất huy động.

Bộ phận ngân quỹ

Chức năng:

Thực hiện thu, chi tiền mặt, ngân phiếu thanh toán và các loại ngoại tệ. Kiểm tra, kiểm soát các loại chứng từ trước khi thu, chi: chữ kí, chứng minh thư nhân dân, số tiền…

Đối chiếu bảng kê thu, chi tiền khớp đúng với chứng từ thực tế.

Kiểm tra phát hiện tiền giả, lập biên bản thu giữ theo đúng quy định hiện hành. Chọn lọc tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, loại bỏ tiền theo quy định.

Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục nộp/lĩnh tiền, giải đáp mọi thắc mắc cho khách hàng về các nghiệp vụ liên quan. Nhập số liệu vào máy, căn quỹ cuối ngày.

Phòng hành chính

Nhiệm vụ: Thực hiện công tác giao dịch, tiếp đón khách hàng đến liên hệ công tác. Đứng đầu là trưởng phòng chịu trách nhiệm chỉ đạo các cán bộ của phòng mình trong công việc quản lí công tác tổ chức cán bộ của chi nhánh, công việc mua sắm và thanh lí các tài sản của cơ quan phục vụ theo yêu cầu công tác của Ngân hàng.

Chức năng:

Phân tích năng suất lao động, các chỉ tiêu đo lường kết quả công việc của các cán bộ nhân viên làm cơ sở tư vấn cho Lãnh đạo về các giải pháp tăng năng suất lao động.

Tiếp nhận hồ sơ nhân sự, nhập, lưu trữ, tổng hợp và cung cấp các thông tin nhân sự trên toàn hệ thống.

Tham mưu về bố trí vị trí công việc toàn hệ thống căn cứ vào kế hoạch kinh doanh, kế hoạch nhân sự và thay đổi nhân sự trong từng thời kì.

Các phòng giao dịch

Thực hiện công tác huy động tiền gửi của dân cư và Doanh nghiệp, thực hiện cho vay đối với cá nhân, Doanh nghệp vừa và nhỏ.

2.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ đang có tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

  • Cá nhân
  • Tiền gửi tiết kiệm
  • Tiền gửi thanh toán
  • Phát hành giấy tờ có giá
  • Doanh nghiệp
  • Tiền gửi có kì hạn
  • Tiền gửi thanh toán
  • Phát hành giấy tờ có giá

2.1.3.2 Hoạt động cho vay Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Với cá nhân

Cho vay tiểu thương

Cho vay chứng minh năng lực tài chính đối với khách hàng các nhân

Cho vay cầm cố sổ/ thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá và số dư tài khoản tiền gửi

Cho vay ủy thác

Cho vay du lịch cho người cao tuổi – Với doanh nghiệp

Cho vay ủy thác

Vay ngắn hạn

Vay trung và dài hạn

Cho vay cầm cố chứng khoán niêm yết để kinh doanh chứng khoán

Cho vay VNĐ tài trợ xuất khẩu lãi suất USD

2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ khác

Với khách hàng cá nhân có:

Dịch vụ chuyển tiền

Dịch vụ ngân quỹ (dịch vụ kiểm đếm, dịch vụ thu đổi khác mệnh giá, dịch vụ thu/chi hộ tận nơi, dịch vụ giữ hộ vàng)

Dịch vụ khác ( dịch vụ kí quỹ để thành lập doanh nghiệp và duy trì doanh nghiệp, dịch vụ xác nhận số dư chứng minh năng lực tài chính)

Với khách hàng doanh nghiệp có:

  • Bao thanh toán
  • Dịch vụ ngân quỹ
  • Thanh toán quốc tế
  • Dịch vụ kí quỹ để thành lập doanh nghiệp và duy trì doanh nghiệp
  • Dịch vụ thanh toán tự động hóa đơn trong nước

2.1.4. Những thuận lợi và khó khăn Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

2.1.4.1. Những thuận lợi

Vị trí địa lý:

Nằm ở trung tâm thành phố Hải Phòng, đông đúc dân cư, giao thông thuận tiện giúp chi nhánh huy động được các nguồn tiền nhàn rỗi từ trong dân cư cũng như nền kinh tế.

Cơ sở hạ tầng:

Sở hữu hạ tầng kì thuật ngân hàng hiện đại, SCB có lợi thế rõ nét trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao. Các dịch vụ: SCB Internet Banking, SMS Banking, Bill Payment….đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, dần tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) cho khách hàng. Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Thuận lợi khác:

SCB- chi nhánh Hồng Bàng luôn nhận được sự quan tâm, theo dõi, giúp đỡ và hỗ trợ về mọi mặt công tác từ phía chi nhánh như hỗ trợ về vốn, bổ sung chuyên môn, trang bị cơ sở vật chất – công nghệ Ngân hàng để mở rộng và nâng cao hoạt động kinh doanh của chi nhánh.

Tinh thần đoàn kết đồng tâm hợp lực của các cán bộ công nhân viên trong đơn vị, là thế mạnh nội tại đã tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh Hồng Bàng vượt qua nhiều thử thách gay go để đứng vững và tồn tại, phát triển trong nền kinh tế thị trường.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn có 1 số chi nhánh ưu đãi khác với các ngân hàng khác: hỗ trợ 1 phần phí bảo hiểm, giảm lãi suất nếu doanh thu chuyển về ngân hàng. Điều này làm tăng lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng khác.

2.1.4.2. Những khó khăn

Ngoài những thuận lợi nêu trên SCB chi nhánh Hồng Bàng trong quá trình hoạt động kinh doanh cũng gặp không ít khó khăn, thử thách.

Hoạt động trên địa bàn có rất nhiều Ngân hàng thương mại cũng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng nên luôn phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, do đó dễ dẫn tới những rủi ro.

Cơ sở vật chất của chi nhánh tuy đã được đầu tư song vẫn chưa đáp ứng

được yêu c  đòi hỏi ngày càng cao trong kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng. Sản phẩm Ngân hàng còn đơn điệu chưa thật sự hấp dẫn để thu hút khách hàng, nguồn vốn huy động chưa được khai thác triệt để, không đủ đáp ứng cho nhu cầu của người vay.

Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu kinh doanh ngân hàng trong cơ chế thị trường. Vì vậy cũng gây nhiều khó khăn trong việc bố trí cán bộ và hoạt động kinh doanh của chi nhánh.

Còn giữ tâm lý thụ động chờ khách hàng đến với mình mà không chủ động tìm kiếm mở rộng đối tượng khách hàng.

Kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn dẫn đến dòng tiền của khách hàng tổ chức luân chuyển qua ngân hàng bị tiết giảm làm cho kênh huy động vốn từ các tổ chức kinh tế gặp nhiều trở ngại.

Kinh tế toàn cầu suy thoái dẫn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn thua lỗ hoặc bị phá sản, giải thể… gây khó khăn cho chi nhánh trong việc mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp đó.

2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011– 2013

Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã mở rộng quy mô hoạt động và ngày càng phát triển. Không những thế mà công tác huy động vốn, sử dụng vốn được chú trọng không kém, nhiều hình thức tiếp cận khách hàng được sử dụng. Từ đó đã nâng cao được hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.

Bảng 1: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2011 – 2012 – 2013

Thu nhập từ lãi và các khoản tương tự tăng dần qua các năm từ 88.248,4 triệu đồng sang 119.943,6 triệu đồng, tăng thêm 31.695,2 triệu đồng ứng với 35,92%. Năm 2013 tốc độ tăng trưởng lên tới 165.051 triệu đồng, tăng 45.107,4 triệu đồng ứng với 37,61%. Trong những năm này thu nhập chủ yếu kiếm được từ lãi suất cho vay. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có những chỉ thị yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay để đảm bảo nguồn vốn cần thiết cho doanh nghiệp nhưng với tình hình thực tế như hiện nay, nguồn vốn huy động ngày càng khan hiếm, lạm phát tăng cao thì lãi suất cho vay không thể giảm trong thời gian ngắn. Việc tăng thu nhập cũng làm tăng chi phí lãi. Có thể nói đây là định hướng mục tiêu kinh doanh đúng đắn của Ngân hàng.

Chi phí lãi năm 2011 là 66.217,7 triệu đồng sang năm 2012 tăng lên 99.142,5 triệu đồng (tăng thêm 32.924,8 triệu đồng tương ứng với 49,72%) và năm 2013 là 139.273,4 triệu đồng (tăng thêm 40.130,9 triệu đồng tương ứng với 40,48%). Xét về chênh lệch thì giai đoạn 2011 – 2012 tăng nhiều hơn. Đó là do tốc độ tăng của tiền gửi khách hàng trong năm 2012 là lớn nhất (45.107,4 triệu đồng), điều đó lí giải một cách hợp lý cho chi phí lãi tăng.

Nhưng xét thấy thu nhập lãi thuần năm 2012 là 20.081,1 triệu đồng thấp nhất trong 3 năm (2011 là 22.030,7 triệu đồng và 2013 là 25.777,6 triệu đồng). Năm 2011 so với năm 2012, thu nhập lãi giảm 1.229,6 triệu đồng tương ứng với 5,58%. Mức chênh lệch giữa thu nhập và chi phí này giúp ta nhận thấy rằng trong năm 2012 ngân hàng nắm trong tay lợi thế về huy động nhưng đã không xử lý tốt trong quản lý, sử dụng và gây ra lãng phí làm tăng chi phí lãi. Tuy nhiên, do năm 2012 cũng là năm kinh tế gặp nhiều biến động nên việc không cân đối được giữa thu nhập và chi phí là điều không thể tránh khỏi.

Vận dụng tốt thế mạnh và cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã làm cho mức thu nhập từ hoạt động dịch vụ của mình tăng dần qua các năm. Năm 2011 là 1.168,4 triệu đồng; năm 2012 tăng thêm 3.279,8 triệu đồng ứng với 280,71% và 2013 là 4.991,5 triệu đồng. Khác với việc quản lý từ lãi, ngân hàng đã xử lý tốt chi phí từ hoạt động dịch vụ với số tiền là 376,8 – 370,6 – 434,7 triệu đồng, tỷ lệ thuận với thu nhập ở giai đoạn 2011 – 2012 – 2013.

Lãi từ hoạt động dịch vụ năm 2011 là 719,6 triệu đồng, năm 2012 là 4.077,6 triệu đồng (giai đoạn 2011 – 2012tăng 3286 triệu đồng ứng với 415,11%), một mức tăng báo hiệu tốt cho việc điều hành quản lý và phát triển tốt các hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Sang năm 2013 lãi từ hoạt động dịch vụ là 4.556,8 triệu đồng, mức lãi vẫn tăng nhưng chỉ là 11, 75% tương ứng với 479,2 triệu đồng trong giai đoạn 2012 – 2013.

Lãi thuần từ hoạt động khác của ngân hàng thì lại giảm đi ở giai đoạn này từ 139,9 triệu đồng trong năm 2011 xuống 59,677 triệu đồng trong năm 2012 ( giảm 80,223 triệu đồng tương ứng với 57,34%) và năm 2013 còn 36,3 triệu đồng (giảm 23,377 triệu đồng tương ứng với 39,17% so với năm 2012). Do chú trọng tới các sản phẩm hay ngành nghề chính của mình nhằm cải thiện và nâng cấp chúng nên các hoạt động khác ngoài chuyên môn ngân hàng đã thu hẹp lại. Điều đó làm cho lãi thuần giảm xuống đáng kể.

Để đáp ứng kịp thời nhu cầu hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nên chi phí hoạt động tăng dần qua các năm. Chi phí hoạt động năm 2011 là 8.510 triệu đồng sang năn 2012 tăng lên 10.378,2 triệu đồng (tăng 1.868,2 triệu đồng tương ứng với 21,95%). Năm 2013, chi phí hoạt động là 14.458,4 triệu đồng (tăng 4.080,2 triệu đồng tương ứng với 39,32%). Tuy nhiên chi nhánh luôn cố gắng trong việc kiểm soát những rủi ro, quản lý tốt chi phí và thu nhập cho thấy kết quả của việc hoạt động hiệu quả đã đem lại kết quả kinh doanh khả quan.

2.2.2. Hoạt động huy động vốn Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng luôn xác định vốn giữ vai trò quyết định, khách hàng luôn được đặt lên hàng đầu của hoạt động kinh doanh, Ngân hàng là bạn hàng thực hiện đi vay để cho vay, nhằm huy động tạo lập nguồn vốn lớn.

Bảng 2: Cơ cấu huy động vốn theo kì hạn năm 2011 – 2013

Nếu phân loại tiền theo thời gian ta sẽ có được 3 loại là: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng.

Nhìn qua bảng số liệu ta thấy tiền gửi không kỳ hạn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh. Vì tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn các nhu cầu đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán. Do nhận định nguồn tiền gửi không kỳ hạn là nguồn tiền có tính chất kém ổn định nhưng chi phí hoạt động rất thấp, hưởng chênh lệch cao nên ngân hàng cần có nhiều biện pháp để đẩy mạnh nguồn tiền này.

Năm 2011 tiền gửi không kỳ hạn là 69.324 triệu đồng, chiếm 7,56% trong tổng vốn huy động. Năm 2012 còn 38.499 triệu đồng, tỷ trọng chiếm 4,03% vốn huy động, tỷ lệ giảm 44,46%, đây là năm mà tiền gửi không kì hạn giảm mạnh nhất trong 4 năm 2010-2013. Sang năm 2013 tiền gửi không kì hạn là 99.110 triệu đồng, tăng trở lại một cách mạnh chiếm tỷ trọng những 10,04% nguồn vốn huy động. So với năm 2012 năm 2013 tăng 60.611 triệu đồng ứng với 157,43%, tăng 150% so với năm trước. Năm 2013 tiền gửi không kì hạn tuy chiếm 10,04% nhưng vẫn còn thấp so với mặt bằng của các chi nhánh Ngân hàng trên địa bàn. Lãi suất của tiền gửi không kì hạn thường rất thấp cho nên nguồn vốn này tăng nhiều sẽ giúp cho Ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư. Nên Ngân hàng cần quan tâm tới đẩy mạnh nguồn tiền này hơn nữa. Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Loại tiền thứ 2 chính là tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng. Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền, được xếp vào loại tiền gửi ngắn hạn của Ngân hàng, lãi suất sẽ cao hơn tiền gửi không kì hạn. Nhìn vào bảng số kiệu ta thấy tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn đưới 12 tháng tăng đều qua các năm 2011 – 2013, tuy năm 2013 có giảm so với năm 2012 nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao. Năm 2011 là 598.244 triệu đồng chiếm 65,24%. Sang năm 2012 loại tiền này là 710.333 triệu đồng tăng 122.089 triệu đồng ứng với 18,74%. Năm 2012 tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng chiếm 75,53% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động. Năm 2013 tiền gửi ngắn hạn là 689.429 triệu đồng chiếm 69,84%. So với năm 2012 tiền gửi ngắn hạn giảm 20.904 triệu đồng ứng với 2,94%.Đây là năm duy nhất trong 3 năm 2011-2013 loại tiền gửi này giảm tỉ trọng trong vốn huy động, giảm 8,76%.Tuy vậy với tỉ trọng là 69,84% thì con số này vẫn đứng chủ đạo trong 3 loại tiền gửi. Việc giảm tỷ trọng này là do loại tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh vào năm 2013 như ta đã phân tích ở trên.

Loại tiền gửi thứ 3 chính là tiền gửi trung và dài hạn . Đây là nhóm tiền gửi mà có tính ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng, theo nguyên tắc kì hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Nhìn chung ta thấy tiền gửi trung và dài hạn trong chi nhánh luôn đứng vững từ 20-29% trong tổng vốn huy động. Nhưng trong 3 năm 2011-2013 thì tỉ trọng của loại tiền này giảm đều qua các năm. Điều này có thể có thể hiểu được vì trong những năm kinh tế khó khăn, khủng hoảng tài chính kéo dài trên thế giới và không ngoại trừ thị trường Việt Nam, việc giữ ổn định những khoản tiền huy động với kì hạn dài là rất khó. Năm 2011 tiền gửi trung và dài hạn là 249.422 triệu đồng chiếm 27,2%. Năm 2012 loại tiền này chiếm 20,44% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động ứng với tương ứng với 154.900 triệu đồng. So với năm 2011 tiền gửi trung và dài hạn giảm 94.522 triệu đồng ứng với 37,89%. Nhưng tới năm 2013 khi tiền gửi trung và dài hạn tăng nhưng không tăng được bằng năm 2011. Tiền gửi kì hạn trung và dài hạn là 198.616 triệu đồng vào năm 2013 ứng với tỉ trọng 20,12%. So với năm 2012 năm 2013 đã tăng 43.716 triệu đồng ứng với 28,22%.

Bảng 3: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tệ qua các năm 2011 – 2013

Năm 2011 số nội tệ huy động được là 802.091 triệu đồng, chiếm 87,47% trong tổng vốn huy động. Đến năm 2012 thì nội tệ chỉ còn 771.245 triệu đồng, giảm 30.846 triệu đồng tương ứng với 3,85% so với 2011. Tỷ trọng nội tệ năm 2012 là 771.245 triệu đồng còn 85,43% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 2,13% so với năm 2011. Năm 2012 là năm kinh tế gặp nhiều khó khăn, chịu nhiều ảnh hưởng của biến động xã hội nên tổng nguồn vốn huy động năm 2012 là 903.732 triệu đồng, giảm 13.258 triệu đồng so với năm 2011. Nhưng tới năm 2013 nội tệ tăng 57.077 triệu đồng so với 2012 (nội tệ năm 2013 là 828.322 triệu đồng) ứng với 7,4%. Đó là tín hiệu đáng mừng cho chi nhánh khi mà số nội tệ huy động đã tăng. Vì nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động nên nếu việc huy động nội tệ giảm sẽ ảnh hưởng tới lượng tiền mà ngân hàng huy động. Tuy năm 2013 tăng số tiền huy động bằng nội tệ nhưng so với tổng nguồn vốn huy động là 987.155 triệu đồng lại giảm 1,43% so với năm 2012 ứng với 83,91%.

Năm 2011 số ngoại tệ là 114.899 triệu đồng, chiếm 12,53% trong tổng vốn huy động. Đến năm 2012 ngoại tệ là 132.487 triệu đồng tăng 17.588 triệu đồng ứng với 15,31%. Tỷ trọng ngoại tệ của năm 2012 tăng 2,31% ứng với 14,66% so với năm 2011. Năm 2013, ngoại tệ chiếm 16,09% ứng với 158.833 triệu đồng trên tổng nguồn vốn huy động 987.155 triệu đồng ;so với năm 2012 ngoại tệ tăng 26.346 triệu đồng tăng 19,89% giúp cho tỷ trọng tăng tương ứng với 1,43%.

Việc tăng nội tệ giúp ta thấy được công tác huy động vốn của ngân hàng với đối tượng khách hàng trong nước. Đây gần như là nhóm khách hàng quan trọng của ngân hàng. Qua đó ta thấy được ngân hàng đã tạo được lòng tin đối với nhóm khách hàng trong nước. Còn xét về ngoại tệ chính là đối tượng khách hàng quốc tế hay các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu. Việc ngoại tệ tăng giảm không đều chính là do nền kinh tế trong nước chịu ảnh hưởng của biến động nền kinh tế thế giới.

2.2.3. Hoạt động cho vay Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

Trong năm 2013, kinh tế đất nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Khách hàng của chi nhánh chiếm phần lớn là doanh nghiệp kinh doanh sắt thép, vận tải biển, đầu tư dự án…nên chịu nhiều biến động lớn và suy giảm về doanh thu, hàng hóa ứ đọng, tiêu thụ khó khăn….phát sinh nhiều nợ xấu.

Do tình hình kinh tế không thuận lợi trong giai đoạn 2011 – 2013, chi nhánh thực hiện phát triển tín dụng theo định hướng Nghị quyết 11 của Chính phủ, tập trung thu hồi nợ xấu và đặc biệt thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát khoản vay. Đồng thời chi nhánh quán triệt thực hiện nghiêm túc chỉ thị số 01/ CT-NHNN ngày 13/02/2012 của NHNN về việc: tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả và công văn số 674/ NHNN-CSTT ngày 13/02/2012 của NHNN về việc kiểm soát tín dụng năm 2012 và những năm sau đó.

Để kiểm soát tăng trưởng và cơ cấu danh mục tín dụng, chi nhánh luôn bám sát chỉ tiêu được giao và những chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, SCB nhằm đảm bảo chủ động thực hiện, đặc biệt kiểm soát dư nợ cho vay ngoại tệ, dư nợ cho vay trung dài hạn, dư nợ cho vay phi sản xuất đồng thời chi nhánh hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ

Trước bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn đang gặp khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng mở rộng đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Qua biểu đồ trên ta thấy hoạt động cho vay của Ngân hàng trong các năm qua có sự biến động liên tục. Từ năm 2011 đến năm 2013 dư nợ cho vay của Ngân hàng từ 639.856 triệu đồng tăng lên 936.317 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 46,33%. Sở dĩ dư nợ cho vay tăng như vậy là do Chính phủ đưa ra các gói kích cầu nhằm khuyến khích nền kinh tế. Tận dụng cơ hội đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã có những quyết định đúng đắn trong chiến lược kinh doanh của mình như giảm lãi suất cho vay, cung cấp các sản phẩm tín dụng đa dạng nhiều ưu đãi… để thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Từ năm 2012 đến năm 2013, dư nợ cho vay của Ngân hàng bị giảm xuống từ 936.317 triệu đồng trong năm 2012 xuống còn 875.176 triệu đồng trong năm 2013. Mặc dù đến năm 2013, dư nợ cho vay của Ngân hàng có giảm xuống tuy nhiên lượng giảm này không đáng kể khi lạm phát tăng cao, diễn biến phức tạp về mặt bằng lãi suất cùng với sự tăng trưởng nóng của một số kênh đầu tư nhưng rủi ro cao như vàng, ngoại tệ, chứng khoán…

Để hiểu rõ hơn hoạt động cho vay tại Ngân hàng, ta xem xét bảng kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại Ngân hàng:

Bảng 4: Bảng kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

Xem xét bảng kết cấu trên ta thấy, tỷ trọng dư nợ cho vay tại Ngân hàng chủ yếu là các khoản cho vay nội tệ: năm 2011 dư nợ cho vay nội tệ tại Ngân hàng chiếm 91,37%, năm 2012 là 87,84% và năm 2013 là 85,08%. Ngân hàng tập trung chủ yếu cho vay nội tệ là do khi cho vay ngoại tệ, Ngân hàng không những phải đối phó với những rủi ro thông thường mà còn phải đối phó với rủi ro tỷ giá, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và nợ công.

Hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng chủ yếu xuất phát từ 2 hoạt động cho vay chính, đó là: cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước và cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư.

Bảng 5: Bảng cơ cấu cho vay theo hình thức cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

Qua bảng cơ cấu dư nợ cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng, ta thấy hoạt động cho vay chủ yếu là cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước; các khoản cho vay này chiếm một tỷ trong rất lớn trong cơ cấu dư nợ cho vay của Ngân hàng. Chi nhánh mới được thành lập nên việc Ngân hàng quan tâm trước tiên đó là cho khách hàng trong nước biết đến thương hiệu của Ngân hàng do đó trong những năm vừa qua chi nhánh rất chú trọng đến việc cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Hơn nữa, với diễn biến phức tạp của nền kinh tế hiện nay cùng với sự xuất hiện của các Ngân hàng nước ngoài làm cho sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng trở nên gay gắt thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng nên tập trung vào các hoạt động truyền thống như cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Để giảm thiểu rủi ro, Ngân hàng nên mở rộng ra các hoạt động khác để đa dạng hóa danh mục cho vay của Ngân hàng, thu hút nhiều khách hàng hơn, không chỉ khách hàng trong nước mà cả khách hàng nước ngoài. Trong cơ cấu dư nợ cho vay của Ngân hàng còn có hoạt động cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư; hoạt động này chỉ chiểm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng do hoạt động này là hoạt động mới tại Ngân hàng. Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng SCB

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng SCB

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464