Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Phương hướng
Bình đẳng giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống chính trị, kinh tế – xã hội. Sự phát triển của đất nước đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt có đầy đủ khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động của đời sống xã hội, mặc khác để phù hợp với luật pháp quốc tế trong bối cảnh hội nhập. Bình đẳng giới là vấn đề khá nhạy cảm, nhiều chủ thể quan tâm, hoàn thiện pháp luật bình đẳng giới giúp cho các chủ thể pháp luật đạt được vị trí bình đẳng nhau trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, khắc phục những bất bình đẳng giới trong xã hội từ trước đến nay. Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật bình đẳng giới nói riêng là một yêu cầu mang tính thường xuyên và liên tục của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể nói chung và phụ nữ nói riêng. Bình đẳng giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống chính trị, kinh tế – xã hội. Sự phát triển của đất nước đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt có đầy đủ khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động của đời sống xã hội, mặc khác để phù hợp với luật pháp quốc tế trong bối cảnh hội nhập. Bình đẳng giới là vấn đề khá nhạy cảm, nhiều chủ thể quan tâm, hoàn thiện pháp luật bình đẳng giới giúp cho các chủ thể pháp luật đạt được vị trí bình đẳng nhau trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, khắc phục những bất bình đẳng giới trong xã hội từ trước đến nay. Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật bình đẳng giới nói riêng là một yêu cầu mang tính thường xuyên và liên tục của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể nói chung và phụ nữ nói riêng.
3.1.1. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, quán triệt đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới gắn với việc kiên quyết và kiên trì chống tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” phân biệt đối xử với phụ nữ
Nhằm bảo đảm và thực hiện bình đẳng giới luôn là trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức và cộng đồng xã hội. Đây cũng là yếu tố thể hiện rõ nét nhất tinh thần nhân đạo cũng như mục tiêu mà Việt Nam đang hướng tới “xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
Do đó, để đảm bảo cho phụ nữ được tham gia lãnh đạo, quản lý các cơ quan nhà nước các cấp, Đảng và Nhà nước ta cũng đã cụ thể hóa quyền bình đẳng nam – nữ, nghiêm cấm việc đối xử với phụ nữ trong việc tham gia các hoạt động chính trị – kinh tế – văn hóa xã hội và gia đình trong nhiều văn bản. Điều 7 Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) – mà Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước vào ngày 29/7/1980, phê chuẩn vào ngày 27/11/1981 -cũng đã nêu rõ: “… áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và cộng đồng của đất nước và đặc biệt là phải đảm bảo cho phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với nam giới, được thụ hưởng các quyền sau: Tham gia bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý, được quyền ứng cử vào tất cả các cơ quan dân cử; được tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của chính phủ, tham gia vào bộ máy và các chức vụ nhà nước ở mọi cấp chính quyền; tham gia vào các tổ chức xã hội và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước”.
Ngày 15/7/2004, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị 27/2004/CT-TTg về tăng cường hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó nêu rõ: “Đảng và Nhà nước ta coi sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới là một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp phát triển đất nước” [30, tr.46]. Đồng thời Chỉ thị này cũng nêu yêu cầu các cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần phải quán triệt và thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về bình đẳng giới. Trong Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 7/6/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác cán bộ nữ cũng đã nêu rõ: “Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ” [14, tr.2]. Chỉ thị đã nhấn mạnh quan điểm của Đảng là nhằm làm tốt hơn nữa công tác cán bộ nữ và tăng cường sự tham gia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới và xây dựng đất nước.
Nghị quyết 11-NQ/TƯ ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là Nghị quyết được ban hành sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ về công tác cán bộ nữ và trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới.
Mục tiêu mà Nghị quyết 11-NQ/TƯ đề ra là: “Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực, đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực”.
3.1.2. Đảm bảo tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
Đây là quan điểm then chốt của toàn bộ quá trình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Bởi lẽ, trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức nhà nước là phải tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới bằng các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ cụ thể để đưa pháp luật về bình đẳng giới vào đời sống xã hội. Nhà nước phải quan tâm, chú trọng hơn đến bình đẳng giới nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể, bảo đảm công bằng xã hội được thực thi trên thực tế, làm cho nguyên tắc nam nữ bình đẳng trên mọi lĩnh vực thực sự thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện hiện nay, khi mà hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ngày càng hoàn thiện, thì việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới càng phải được chú trọng hơn. Vì vậy, trong quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về bình đẳng giới cần phải nắm vững quan điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bình đẳng giới; trên cơ sở đó, tăng cường và nâng cao hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới, cụ thể là:
Chính sách, pháp luật về bình đẳng giới cũng như thực hiện pháp luật về bình đẳng giới phải thể hiện rõ và xuyên suốt quan điểm của Nhà nước là Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới. (Điều 26 Hiến pháp năm 2013). Tại Điều này trách nhiệm tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội, không chỉ của nhà nước, xã hội mà còn có trách nhiệm của cả gia đình. Tại Khoản 2, Điều 36 “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”; tại Khoản 2, Điều 58 “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình”…
Quan điểm này phải được bảo đảm thực thi trên thực tế, được thẩm thấu trong các quan hệ chính trị – xã hội và trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể tham gia thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Các chủ thể thực hiện phải nắm bắt đầy đủ và tự giác tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất các quy định pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới.
Chính sách pháp luật về bình đẳng giới phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới được ghi nhận trong Luật Bình đẳng giới: nam nữ bình đẳng trên các lĩnh vực; nam – nữ không bị phân biệt đối xử về giới; biện pháp thúc đẩy về bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực hiện pháp luật; thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân (Điều 6 Luật Bình đẳng giới).
Chính sách pháp luật về bình đẳng giới phải gắn chặt với bảo vệ pháp luật về bình đẳng giới; quán triệt đầy đủ chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thực hiện pháp luật bình đẳng giới.
Xây dựng chính sách pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới phải đảm bảo thống nhất với Hiến pháp và các văn bản luật vì Nhà nước ta là Nhà nước đề cao Hiến pháp và pháp luật trong quản lý xã hội. Nhà nước và các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước, công dân vừa phải chấp hành, tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, vừa là chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được các chủ thể chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
3.1.3. Chính sách pháp luật về bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới phải phản ánh đúng đắn nhu cầu xã hội, xử lý hài hòa các yếu tố lợi ích, khách quan, toàn diện và sát với yêu cầu thực tiễn
Chính sách pháp luật về bình đẳng giới muốn được cuộc sống chấp nhận, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể thì phải khách quan, phản ánh đúng nhu cầu của xã hội. Hình ảnh những phụ nữ tiêu biểu cho những hy sinh, cống hiến to lớn vào sự nghiệp chung của dân tộc và trong công cuộc đổi mới hôm nay, hàng chục triệu phụ nữ đang có mặt trên khắp mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, bằng bản lĩnh, tài năng, trí tuệ và sức lao động của mình đang khẳng định vị thế trên tuyến đầu của sự nghiệp xây dựng đất nước – một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ. Thực tiễn đã cho thấy, đang xuất hiện ngày càng nhiều những nữ lãnh đạo, quản lý trong vai trò chính khách, nhà ngoại giao, nhà quản lý, chủ doanh nghiệp, anh hùng lao động… Cụ thể, phụ nữ chiếm 51,48% dân số, 48% lực lượng lao động xã hội.
Họ được coi là một nửa thế giới cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tất cả những điều đó đang dần tạo nên diện mạo, bản sắc riêng của giới lãnh đạo nữ và được xã hội đánh giá cao và ghi nhận. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới phải gắn với các nhu cầu thực tiễn, liên quan đến quyền lợi của cộng đồng nói chung và nữ giới nói riêng. Muốn vậy, quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật và thực hiện pháp luật bình đẳng giới phải sát và đáp ứng với yêu cầu thực tiễn, phản ánh đúng đắn nhu cầu điều chỉnh của xã hội, bảo đảm tính khách quan, toàn diện, bảo đảm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất để mọi chủ thể đều phải tuân thủ và chấp hành pháp luật không phân biệt giới, hoàn cảnh, địa vị xã hội.
3.1.4. Thực hiện pháp luật bình đẳng giới phải bảo đảm tính thường xuyên, liên tục, linh hoạt và sáng tạo đồng thời kế thừa, phát triển những thành tựu, khắc phục tồn tại, hạn chế, tiếp thu tiến bộ của thế giới và phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại
Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới phải được xác định là một quá trình thường xuyên, liên tục, linh hoạt và sáng tạo. Bởi lẽ, pháp luật mang tính khái quát rất cao, thể hiện tính điển hình, phổ biến nên để thẩm thấu trong từng quan hệ chính trị – xã hội cụ thể, pháp luật phải được các chủ thể thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, linh hoạt và sáng tạo. Hơn nữa, bản thân pháp luật không thể đi vào cuộc sống và được thực thi trên thực tế mà phải có sự hiểu biết vận dụng của các chủ thể thực thi, phải gắn với hành vi tích cực, chủ động của các chủ thể mà trước hết là người lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.
Các tư tưởng, quan điểm định kiến giới được nói và không nói thành lời của các chủ thể có trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật là điểm yếu có thể dẫn đến việc không sử dụng pháp luật, không tuân thủ pháp luật hay áp dụng sai pháp luật cho dù pháp luật vốn là công bằng và thích hợp. Hơn nữa, trong xã hội, do có sự không đồng đều giữa các chủ thể trong tiếp cận và sử dụng pháp luật, vì thế, thực hiện pháp luật bình đẳng giới phải linh hoạt và sáng tạo, có tính đến đặc trưng của một số nhóm đối tượng để có giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ họ tiếp cận, sử dụng pháp luật. Ngoài ra, thực hiện pháp luật bình đẳng giới phải biết kế thừa ưu điểm, khắc phục hạn chế, tiếp thu sự tiến bộ của thế giới, phát triển những giá trị, chuẩn mực được nhân loại tiến bộ thừa nhận; biết học hỏi kinh nghiệm các nước đi trước, tìm ra hướng đi có hiệu quả cho nước mình để tiến dần tới chuẩn mực quốc tế, hòa cùng dòng chảy văn minh nhân loại. Việc nước ta tích cực tham gia Công ước Cedaw về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ được Liên hiệp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ với 5/8 mục tiêu cơ bản hoàn thành trước hạn, trong đó có mục tiêu về bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, hiện Việt Nam được xếp thứ 47/187 quốc gia về chỉ số bình đẳng giới. Việt Nam cũng có tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội cao nhất trong khối các nước ASEAN. Đây là một trong những thành tựu quan trọng của Việt Nam trong việc thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội mà trong tiến trình thực hiện pháp luật bình đẳng giới phải bảo đảm tính kế thừa và phát triển.
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
3.2.1. Nhóm giải pháp chung đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
Một là,tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong việc cụ thể các chủ trương và định hướng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.
Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Ngãi luôn ý thức và đánh giá cao vai trò của phụ nữ toàn tỉnh Quảng Ngãi – một lực lượng quan trọng trong suốt chặng đường phát triển. tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cho việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh như:
Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 10/7/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Chương trình hành động số 88/CTHĐ-ĐCT ngày 28/8/2007 của Đoàn Chủ tịch TWHLHPN Việt Nam thực hiện Nghị quyết 11 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 07 tháng 7 năm 2011 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020;…
Quyết định số 408/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện đề án “Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2017-2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
Ban Thường vụ Hội Luật hiến pháp tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 02/CTHĐ-BTV ngày 29/10/2007 về thực hiện Nghị quyết và Kế hoạch số 70/KH-BTV ngày 01/11/2007 về việc triển khai, nghiên cứu, quán triệt và học tập Chương trình hành động của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị .
- Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi về việc sơ kết thực hiện Nghị quyết số 11/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (năm 2013);
- Kế hoạch số 71- KH/TU, ngày 22/7/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc thực hiện Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/01/2013 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị Khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”;
- Quyết định 1701/QĐ-UBND ngày 13/9/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi; Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Công văn số 5281/UBND-VX ngày 14/10/2015 về việc thực hiện Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 02/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020;
Tuy nhiên, có một thực tế là từ quyết tâm chính trị và chủ trương, đường lối đến việc triển khai thực hiện còn có khoảng cách khá rõ, bởi vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo và các quan niệm truyền thống về phụ nữ. Vì vậy, việc tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong các lĩnh vực là rất cần thiết. Tăng cường năng lực của tổ chức, bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước vê bình đăng giới và vì sự tiên bộ của phụ nữ vừa có chuyên môn nghiệp vụ vừa tâm huyết với công tác bình đẳng giới là yếu tố nền tảng, cần có cơ chề phôi hợp liên ngành hoạt động hiệu quả có ý nghĩa quan trọng bảo đảm công tác bình đăng giới đạt kêt quả tốt. Tăng cường năng lực cho bộ máy hoạt động bình đăng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ các ngành, các cấp.
Hai là,đảm bảo bình đẳng giới ngay trong quá trình xây dựng pháp luật Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, khi mà vẫn còn sự khác biệt giữa trẻ em gái và trẻ em trai, giữa nam và nữ trong việc tiếp cận và thụ hưởng nguồn lực thì vấn đề lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp quan trọng trong thúc đẩy bình đẳng giới. Đây là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Tăng cường sự phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Luật hiến pháp tỉnh trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật cho phụ nữ; hòa giải ở cơ sở và lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi đơn vị.
Bảo đảm quyền được thông tin về pháp luật của phụ nữ, kịp thời hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư, thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, hội viên phụ nữ.
Thực hiện lồng ghép nội dung về bình đẳng giới vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt ở các cấp trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu học. Đây được coi là một phương pháp tiếp cận, hay là một biện pháp chiến lược nhằm đạt được bình đẳng giới trên diện rộng trong xã hội bằng cách đưa yếu tố giới vào những yếu tố chủ đạo, mang tính chi phối về các ý tưởng, giá trị, quan niệm, thái độ, mối quan hệ và cách thức tiến hành mọi việc trong xã hội. Để từ đó nó tác động tới chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người trong xã hội
- Ba là, kiện toàn bộ máy thực hiện chiến lược về bình đẳng giới
Hiện nay, Quảng Ngãi đã có một bộ máy thực hiện chiến lược về bình đẳng giới (hay còn gọi là Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ) từ tỉnh đến địa phương. Bộ máy này được cơ cấu các thành viên là lãnh đạo chủ chốt ở tất cả các ngành, đơn vị; đây có thể coi là một cơ sở vững chắc để triển khai chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, điều thuận lợi của bộ máy này là: Trưởng Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ là đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các phó Trưởng ban là lãnh đạo Sở lao động, Thương binh và xã hội; Sở kế hoạch và đầu tư; Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh. Với Ban thư ký đặt tại Sở Lao động Thương binh và Xã hội của tỉnh, là một cơ quan liên ngành có nhiệm vụ tham mưu cho Chủ tịch ủy ban nhân dân thực hiện chiến lược về bình đẳng giới trong thời gian qua. Đồng thời, mỗi đơn vị cơ sở trên địa bàn thành phố, huyện cũng hình thành một bộ máy như vậy để cùng triển khai thực hiện chiến lược về bình đẳng giới. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
Trong số cán bộ làm công tác bình đẳng giới thì tỷ lệ nam nhiều hơn (chiếm 65%). Như vậy, với đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới còn mỏng và yếu như hiện nay là một khó khăn, rào cản cho việc triển khai thực hiện pháp luật bình đẳng giới. Để thực hiện pháp luật bình đẳng giới có hiệu quả hơn nữa thì cần hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới từ tỉnh đến cơ sở.
Bốn là, xây dựng chiến lược, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ, trong đó chú trọng đến công tác quy hoạch nguồn lãnh đạo nữ các cấp, các ngành.
Việc này không chỉ là để thực hiện bình đẳng giới về lĩnh vực chính trị mà còn gián tiếp để thực hiện bình đẳng giới trên các lĩnh vực khác, bởi chỉ khi có một đội ngũ cán bộ nữ, nguồn nhân lực nữ mạnh, có trí tuệ, hiểu biết và phẩm chất đạo đức tốt thì mới có thể thúc đẩy các quyền bình đẳng giới một cách toàn diện. Liên quan đến vấn đề trên, Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định “Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Ðảng”. Do đó “Các cấp ủy đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng quy hoạch cán bộ nữ trong quy hoạch tổng thể về cán bộ của Ðảng ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Ðối với cán bộ nữ, đồng thời với việc xây dựng quy hoạch, phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng để chủ động về nhân sự; đề bạt, bổ nhiệm cần bảo đảm tiêu chuẩn của từng chức danh, có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ, phát huy được thế mạnh, ưu điểm của cán bộ nữ. Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm”.
Trên tinh thần đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đặt ra chỉ tiêu phấn đấu đạt 80% trở lên các Sở và tương đương thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, UBND các quận, huyện có lãnh đạo chủ chốt là nữ; 70% trở lên số cơ quan Đảng, đoàn thể và quản lý nhà nước có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở đó có trên 30% nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Để thực hiện chỉ tiêu trên, cần thực hiện một số công việc sau:
Tiếp tục triển khai các văn bản hiện hành ở Trung ương và địa phương liên quan đến độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng đề bạt, bổ nhiệm, tuổi nghỉ hưu; tiến hành đánh giá tác động của các văn bản này đối với cơ hội của cán bộ nữ trong quy hoạch vào chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp; Thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao nhận thức giới và thực hiện lồng ghép giới trong chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong công tác tổ chức cán bộ; Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, lý luận…..cho cán bộ nữ trẻ, kể cả người đồng bào là nữ đặc biệt quy định cụ thể tỷ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức để làm cơ sở đánh giá; Các sở, ngành địa phương cần tiếp tục nâng cấp các kỳ thi tuyển để bổ nhiệm phù hợp chức danh lãnh đạo là nữ. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Năm là, kinh phí cho hoạt động bình đẳng giới
Một trong những nguyên nhân dẫn tới pháp luật bình đẳng giới còn chưa được thực hiện tốt là do kinh phí dành cho nội dung hoạt động này còn ít, có thể bị tùy tiện cắt giảm do đó các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới bị hạn chế phần nào. Vì vậy, nhà nước cần có chính sách ưu tiên lập ngân sách giới. Việc lập ngân sách giới có thể làm giảm những bất bình đẳng giới vì sẽ thể hiện kinh phí được sử dụng vào việc gì, cho ai, trong các giai đoạn phân tích, lập kế hoạch, phân bổ, chi tiêu và rà soát ngân sách. Trong ngân sách giới sẽ thể hiện: Chi tiêu chung và chi tiêu chuyên biệt về giới. Chi tiêu chung là ngân sách chung để chi tiêu cho toàn bộ hoạt động vì người dân ví dụ ngân sách cho sức khỏe, giáo dục, giao thông và việc làm. Loại chi tiêu này là đối tượng chủ yếu của ngân sách giới. Chi tiêu chuyên biệt bao gồm các ngân sách tập trung hướng tới đối tượng cụ thể nào đó (nam giới/phụ nữ, trẻ em trai hay trẻ em gái) nhằm giải quyết các nhu cầu về giới của họ. Loại chi tiêu này nhằm giải quyết các vấn đề về bất bình đẳng giới. Bất bình đẳng giới là một vấn đề có tính lịch sử, vì vậy hợp tác trong đấu tranh vì bình đẳng giới là một hoạt động cần thiết.
- Sáu là, chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện Luật bình đẳng giới
Như đã phân tích ở chương 2, hầu hết quy định trong các văn bản luật liên quan đến bình đẳng giới đều không bị ràng buộc bởi các điều khoản chế tài nếu như không thực hiện hoặc thực hiện không đúng mức, không đạt chỉ tiêu pháp lệnh.
Chính vì vậy, trong thời gian đến cần thực hiện nghiêm Nghị định số 55/2009/NĐCP ngày 10/6/2009 về quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.
Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới và mức phạt tương ứng trong từng lĩnh vực như: Chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế và gia đình.
Ngoài các hình thức phạt chính, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung như: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
Tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại; buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính gây thiệt hại về sức khoẻ, tinh thần; Buộc sửa đổi, bổ sung, thay thế, đính chính hoặc tiêu hủy các vật phẩm, văn hóa phẩm có nội dung cổ vũ, tuyên truyền, phổ biến về bất bình đẳng giới, định kiến giới…
Theo Nghị định này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới là một năm kể từ ngày hành vi vi phạm hành chính được thực hiện. Nếu quá thời hạn này thì không xử phạt nhưng vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định. Riêng với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi có dấu hiệu về bình đẳng giới thì bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án gửi quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi cho người có thẩm quyền xử phạt. Trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 3 tháng kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm…
Nghị định cũng phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, quy định về các thủ tục áp dụng hình thức xử phạt hành chính, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu và xử lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Quy định rõ việc chấp hành quyết định xử phạt, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt…
3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật tại tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Thứ nhất, đẩy mạnh hoạt động truyền thông – giáo dục nhằm nâng cao nhận thức pháp luật về bình đẳng giới đối với các chủ thể thực hiện
Các chủ thể thực hiện cần được quán triệt kỹ và sâu sắc hơn về hệ thống pháp luật hiện hành về bình đẳng giới với tư cách là điều kiện để đạt được bình đẳng giới thông qua các hoạt động truyền thông. Đây vốn là điểm mạnh của Quảng Ngãi, nhưng rõ ràng hiệu quả vẫn chưa như mong đợi. Muốn khắc phục những bất cập trong việc thực thi hệ thống pháp luật hiện hành về bình đẳng giới trong các lĩnh vực, các chủ thể thực hiện cần nắm kỹ những nội dung về bình đẳng giới (Điều 11 đến điều 18 của Luật Bình đẳng giới), cũng như chiến lược về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.
Để nâng cao nhận thức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, cần áp dụng các biện pháp khác nhau, trong đó việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào chương trình giáo dục ở các cấp bậc học. Thông qua việc lồng ghép đó, cần chuyển tải thông điệp rằng bình đẳng giới là một quyền cơ bản của mọi người, bao gồm cả nam và nữ. Đẩy mạnh và mở rộng mô hình tổ chức sinh hoạt Ngày pháp luật hàng tháng; chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai tổ chức “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hằng năm có hiệu quả, phù hợp với nhu cầu, nhận thức của các nhóm phụ nữ; tổ chức, hưởng ứng các cuộc thi tìm hiểu pháp luật. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, từng bước nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội,
Xây dựng và nhân rộng các Câu lạc bộ “Phụ nữ với pháp luật” tại các địa phương; phối hợp tổ chức các lớp tập huấn, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho phụ nữ Vì thế, bảo vệ và thúc đẩy bình đẳng giới là nghĩa vụ, trách nhiệm của mọi chủ thể, trong đó có Nhà nước, cơ quan, tổ chức và mỗi công dân, từ đó dần hình thành ý thức và văn hoá nhân quyền.
Như vậy, không chỉ tuyên truyền sâu rộng những nội dung về bình đẳng giới trong cộng đồng dân cư, các cơ quan truyền thông với ưu thế thông tin của mình, còn phải kịp thời phát hiện và phản ánh những bất cập và nhất là những vi phạm của các tập thể và cá nhân trong quá trình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, chẳng hạn có thể lồng ghép vào chuyên mục Ý kiến bạn nghe đài của Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Ngãi hoặc Ý kiến bạn đọc của Báo Quảng Ngãi nhằm tạo áp lực về dư luận đối với các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết.
Tuy nhiên, việc quán triệt kỹ và sâu sắc hơn về hệ thống pháp luật hiện hành về bình đẳng giới trong các lĩnh vực với tư cách là điều kiện để đạt được bình đẳng giới không chỉ thông qua các hoạt động truyền thông. Cần đưa nội dung về bình đẳng giới vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục, đặc biệt ở các cấp trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu học; đồng thời đưa nội dung về giới vào các chương trình bồi dưỡng về quản lý nhà nước, đào tạo về cao cấp lý luận chính trị nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ lãnh đạo chủ chốt. Thực hiện tốt giải pháp này cũng chính là đã thực hiện tốt Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 07/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược về bình đẳng giới giai đoạn 2011 -2020. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Thứ hai, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
Thực tế cho thấy, trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, các văn bản liên quan đến bình đẳng giới không bị ràng buộc bởi các điều khoản chế tài nếu như không thực hiện hoặc thực hiện không đúng mức, không đạt chỉ tiêu pháp lệnh. Chính vì vậy nên thời gian qua hầu như không đặt ra yêu cầu kiểm tra, giám sát, trong quá trình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới để kịp thời đôn đốc, chấn chỉnh các trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng mức, không đạt chỉ tiêu pháp lệnh. Hơn nữa, thực hiện Nghị định số 55/2009/NĐCP ngày 10/06/2009 của Chính phủ ban hành quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới. Đây là công cụ pháp lý quan trọng để xử lý về bình đẳng giới trong các lĩnh vực và gia đình. Do vậy, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Cần có những quy định cụ thể về quy trình, thủ tục kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.
- Thứ ba, nâng cao vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ các cấp của Quảng Ngãi
Cần tăng cường thực hiện chức năng đại diện của tổ chức; chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng, thực hiện các chủ trương, chính sách và quy định pháp luật về quyền bình đẳng giới. Hội cũng cần đẩy mạnh công tác tham mưu, đề xuất, tham gia giám sát và phản biện xã hội các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; giới thiệu nguồn cán bộ nữ; tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên… góp phần vào thành tựu chung về bình đẳng giới của Tỉnh Quảng Ngãi. Thông qua chức năng, nhiệm vụ của mình, các cấp hội phụ nữ cần khuyến khích mỗi hội viên không ngừng nâng cao sự hiểu biết, kiến thức xã hội, chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức về quyền bình đẳng giới. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền để từng bước nâng cao nhận thức về quyền bình đẳng giới của phụ nữ là một trong những công việc thường xuyên. Cần có những sáng kiến trong các chương trình, kế hoạch của Hội, như tổ chức thi tìm hiểu về Luật Bình đẳng giới và khuyến khích các gương điển hình, tiên tiến trong các phong trào của Hội, tránh bệnh hình thức, quan liêu. Thông qua mỗi hội viên để xây dựng hình ảnh phụ nữ thời đại mới, hình thành những giá trị, chuẩn mực mới về bình đẳng giới để từng bước đẩy lùi những quan niệm định kiến giới đã ăn sâu trong tiềm thức của các nhóm xã hội.
- Thứ tư, nâng cao vai trò của giới nữ trong thực hiện pháp luật về bình đẳng
Trong bối cảnh thực hiện công cuộc cải cách kinh tế- xã hội và hội nhập, bản thân người lao động nói chung và phụ nữ nói riêng không chỉ phải cần cù chịu khó, chịu đựng gian khổ, mà cần thông minh, nhạy bén với cái mới; phải tháo vát năng động đối phó với các tình huống xảy ra; độc lập suy nghĩ, phát huy năng lực trí tuệ cá nhân, dám quyết đoán và chịu trách nhiệm.
Yêu cầu nêu trên đặt ra cho tất cả mọi người lao động nam, nữ, với mức độ khác nhau, tùy công việc, ngành nghề, vị trí xã hội. Nhưng với phụ nữ lại có đặc điểm riêng do thiên chức làm mẹ và trách nhiệm nặng nề trong việc giáo dục con cái, chăm sóc gia đình. Như vậy, điều kiện làm việc, học tập, sinh sống của họ rõ ràng có nhiều khó khăn hơn nam giới. Câu hỏi đặt ra ở đây là chị em phải phấn đấu như thế nào để có thể tham gia có hiệu quả vào công cuộc đổi mới của đất nước cũng như tự tạo dựng cho bản thân mình và gia đình một cuộc sống hạnh phúc và có ý nghĩa? Để làm được điều đó, ngoài những yếu tố khách quan như các chính sách tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước, sự ủng hộ của cộng đồng và xã hội, của những người thân, thì sự phấn đấu và nỗ lực chủ quan của người phụ nữ là hết sức quan trọng và là yếu tố quyết định. Phụ nữ không thể trông chờ ai làm hộ cho mình, mà chính họ phải vươn lên, tự giải phóng và phải đấu tranh để giữ lấy quyền lợi và phát huy vai trò của mình trong đời sống xã hội. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
Thứ năm, có sự phối hợp giữa các cơ quan ở địa phương: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào việc xây dựng và đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước; Hướng dẫn lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào việc xây dựng và đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của ngành, địa phương.
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền, giáo dục Luật Bình đẳng giới và các văn bản pháp luật về bình đẳng giới; chủ trì, phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng chương trình, nội dung truyền thông, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tuyên truyền, giáo dục và cung cấp kiến thức, kỹ năng thực hành về bình đẳng giới. Sở Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu đưa nội dung về giới và bình đẳng giới vào các chương trình giáo dục trong nhà trường phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo. Ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức và chính sách, pháp luật về bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc ít người; vận động đồng bào dân tộc ít người phát huy các phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của dân tộc phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới. Các cơ quan thông tin tuyên truyền và các cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới; giới thiệu mô hình, điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt trong việc thực hiện bình đẳng giới; phê phán hành vi, cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Tiếp tục công tác hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền bình đẳng phụ nữ. Đẩy mạnh thực hiện lồng ghép vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được xác định có nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới. Tiếp tục phát huy việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch hoạt động của các Ban, ngành; trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tăng cường kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ về bình đẳng giới. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện có hiệu quả quyền bình đẳng giới lên một tầm cao hơn, vững chắc hơn.
Tăng cường công tác nghiên cứu về quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực. Xây dựng cơ sở dữ liệu về quyền bình đẳng của phụ nữ phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách về bình đẳng giới. Tiếp tục rà soát về hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và biện pháp thúc đẩy việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ được quy định tại Luật Bình đẳng giới.
Tiểu kết Chương 3
Chương 3 của luận văn đã tập trung phân tích, làm rõ phương hướng tiếp tục thực hiện pháp luật về bình đẳng giới và giải pháp thực hiện pháp luật bình đẳng giới ở Quảng Ngãi hiện nay. Những giải pháp mà luận văn đưa ra trên cơ sở việc phân tích những vấn đề lý luận về pháp luật bình đẳng giới, đặc điểm của pháp luật bình đẳng giới ở Quảng Ngãi, thực trạng pháp luật về bình đẳng giới, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật quốc tế, trong nước với mong muốn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Quảng Ngãi vừa đáp ứng điều kiện đặc thù trong nước, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Các giải pháp trên là một thể hoàn chỉnh, có quan hệ chặt chẽ với nhau nên cần được tiến hành đồng bộ để tạo cơ sở pháp lý nhằm tạo môi trường pháp lý bình đẳng giới phát triển lành mạnh, đúng pháp luật bảo đảm bình đẳng và phát triển cho phụ nữ và góp phần xây dựng tỉnh Quảng Ngãi văn minh từng bước hiện đại.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
Lịch sử xã hội loài người nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng đã chứng minh vai trò vô cùng quan trọng của phụ nữ. Trong bất kỳ cương vị nào, phụ nữ cũng luôn tỏ rõ năng lực của mình. Thấy rõ vai trò, vị trí của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng và Bác Hồ tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Đây không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá đúng vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam. Do đó, việc phụ nữ Việt Nam không chỉ xây dựng gia đình hạnh phúc mà còn tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội là cần thiết và không thể thiếu được, là yêu cầu của xã hội văn minh và phát triển.
Hàng loạt các bộ luật về kinh tế, xã hội và văn hóa đã được ban hành nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để phụ nữ tham gia hoạt động xã hội; bảo đảm các quyền con người, quyền phụ nữ, quyền tự do, quyền dân chủ với những chuẩn mực quốc gia, quốc tế. Nhờ đó, chúng ta đã tạo được hành lang pháp lý cần thiết để phát triển các mặt xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tốt mục tiêu Thiên niên kỷ mà nước ta đã cam kết với Liên hợp quốc. Những thành công về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và đời sống gia đình của những năm đổi mới đã góp phần quan trọng vào sự ổn định xã hội; tạo cơ sở vững chắc cho sự chăm lo, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em gái, phát triển các quyền năng của phụ nữ về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị.
Cần nhấn mạnh rằng, trước tư tưởng lạc hậu, sự tác động phức tạp của xã hội, Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội ở nước ta vẫn luôn quan tâm, chăm lo, dành những gì tốt nhất có thể làm để bảo vệ, bảo đảm các quyền của trẻ em, của phụ nữ. Điều đó thể hiện rõ quan điểm, chính sách nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời, thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ ta.
Xuất phát từ đặc điểm vai trò của phụ nữ, từ thực tiễn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới và thực thi quyền phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực chính trị văn hóa,kinh tế việc làm… của địa phương , luận văn nghiên cứu về thực trạng quyền bình đẳng của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực chính trị, việc làm, y tế, hôn nhân và gia đình và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện, bảo đảm quyền bình đẳng trên. Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho quyền của phụ nữ được phát triển, đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trên cơ sở pháp lý được quy định trong Hiến Pháp và pháp luật. Đây là điều kiện tạo cơ hội cần thiết cho phụ nữ nắm bắt được quá trình vận động của đời sống xã hội, tự thân phấn đấu vươn lên, tự quyết định được vận mệnh của mình. Tuy nhiên, trên thực tế nói riêng, phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi trong gia đình, họ vẫn phụ thuộc vào người đàn ông, sự bất bình đẳng vẫn hàng ngày tái diễn trong mỗi gia đình.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới” không nằm ngoài mục đích trên. Luận văn trước hết khẳng định quan điểm coi phụ nữ là một bộ phận không thể thiếu của cộng đồng dân cư Việt Nam và thế giới, là phân nửa của nhân loại, duy trì sự tồn tại của nhân loại trong mọi hoàn cảnh. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng cho những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Do đó quan niệm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình được xem xét từ khái niệm hôn nhân và gia đình, quyền bình đẳng nói chung và quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam về vấn đề này.
Với tầm hiểu biết hạn chế và trong phạm vi có hạn của luận văn này, tác giả đã phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn về quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình, pháp luật về quyền bình đẳng này để từ đó kiến nghị những giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình ở Việt Nam trong thời gian tới; mong muốn đóng góp một chút hiểu biết của mình vào sự phát triển của phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
