Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị – hành chính, văn hóa – xã hội tác động đến công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp, có xu hướng thấp dần từ tây sang đông với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển, phía tây của tỉnh là sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng, có nơi núi chạy sát biển. Khí hậu ở Quảng Ngãi là khí hậu nhiệt đới và gió mùa, nên nhiệt độ cao và ít biến động. Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình 25-26,9 °C. Khí hậu nơi đây phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, gồm có mùa mưa và mùa nắng Những điều kiện tự nhiên của Quảng Ngãi đã có những ảnh hưởng rất lớn đến đặc điểm dân cư, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh nhà đồng thời hiệu quả thực hiện các chính sách của nhà nước về bình đẳng nói chung và bình đẳng giới nói riêng.

Biến động về tăng trưởng kinh tế cùng với những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới ít nhiều ảnh hưởng đến công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ các nước trong đó có Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng. Quảng Ngãi đang trong quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng về kinh tế, đặc biệt là ngành công nghiệp có khu Kinh tế Dung Quốc. Nền kinh tế thị trường có thể ảnh hưởng đến mọi người, song những tiêu cực này chủ yếu rơi vào phụ nữ, biến đổi khí hậu, môi trường có tác động khác nhau đến cả nam và nữ.

2.2. Tình hình triển khai thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi

2.2.1. Về chỉ đạo triển khai thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Trong quá trình xây dựng và phát triển Tỉnh Quảng Ngãi, bình đẳng giới thực sự là vấn đề được quan tâm là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Nhận thức về bình đẳng giới với sự quyết tâm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi và của các cơ quan, ban ngành, đội ngũ cán bộ công chức cũng như nhân dân được nâng lên. Thực hiện tốt chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới là tạo điều kiện cho cả nam và nữ được tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát, các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới được triển khai nghiêm túc, toàn diện.

Thực hiện đầu tiên về ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là cơ quan Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp đó Hội Luật hiến pháp tỉnh Quảng Ngãi và một số Sở Tư pháp, Sở LĐTB và XH tỉnh tiếp tục triển khai các văn bản thực thi nhiệm vụ. Cụ thể như: Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 10/7/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Chương trình hành động số 88/CTHĐ-ĐCT ngày 28/8/2007 của Đoàn Chủ tịch TW Hội Luật hiến pháp Việt Nam thực hiện Nghị quyết 11 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 07 tháng 7 năm 2011 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020;…Quyết định số 408/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện đề án “Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới “ tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2017-2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Ban Thường vụ Hội Luật hiến pháp tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 02/CTHĐ-BTV ngày 29/10/2007 về thực hiện Nghị quyết và Kế hoạch số 70/KH-BTV ngày 01/11/2007 về việc triển khai, nghiên cứu, quán triệt và học tập Chương trình hành động của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị. Quyết định số 66/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2016 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quy định việc bố trí và mức hỗ trợ cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 12 tháng 09 năm 2014 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quy định mức thù lao hàng tháng đối với thành viên Đội công tác xã hội tình nguyện tại xã, phường thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 19 tháng 08 năm 2014 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quy định một số mức chi có tính chất đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận phát luật cho người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;

  • Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi về việc sơ kết thực hiện Nghị quyết số 11/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (năm 201
  • Kế hoạch số 71- KH/TU, ngày 22/7/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc thực hiện Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/01/2013 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị Khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”;
  • Quyết định 1701/QĐ-UBND ngày 13/9/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi;
  • Công văn số 5281/UBND-VX ngày 14/10/2015 về việc thực hiện Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 02/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020;

Mở các hội nghị triển khai tới các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh. Qua đó, giao nhiệm vụ cụ thể và chỉ đạo các Sở, Ban, ngành, đoàn thể và UBND các cấp xây dựng kế hoạch hoạt động cho ngành mình, cấp mình.

Các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các ngành, các đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã xác định được trách nhiệm và vai trò lãnh đạo, chỉ đạo công tác bình đẳng giới. Các huyện, thành phố đã có kế hoạch chuyên đề về Bình đẳng giới. Công tác triển khai, kiểm tra, đánh giá, tổ chức hội nghị sơ kết tình hình thực hiện các hoạt động về bình đẳng giới được các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương quan tâm, thường xuyên thực hiện.

Điều đó thể hiện cam kết chính trị của lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi trong việc thúc đẩy vai trò, vị thế của phụ nữ và bình đẳng giới trong thời kỳ hội nhập.

2.2.2. Về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Công tác truyền truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới được triển khai rộng khắp từ trung ương tới địa phương bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, góp phần chuyển đổi nhận thức, hành vi của các cấp, các ngành, đơn vị và người dân trong thực hiện bình đẳng giới ngày một tốt hơn.

Nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã chủ trì và phối họp với các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai các hoạt động truyền thông về lĩnh vực này. Một số kết quả nổi bật đạt được như sau:

Nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, Diễn đàn Đối thoại chính sách về bình đẳng giới được tô chức với sự tham của hơn 200 đại biểu là đại diện các Sở, ban,Ngành các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế.

Tham dự Diễn đàn các đại biểu đã đánh giá cao những tiến bộ vượt bậc của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ, như xóa đói giảm nghèo và xóa bỏ chênh lệch giới tính trong giáo dục, đồng thời xác định những trở ngại của Việt Nam trong thúc đẩy quyền của phụ nữ và trẻ em gái. Trên cơ sở đó, Diễn đàn cũng cho rằng việc đưa bình đẳng giới vào các mục tiêu phát triển bền vững và chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015 là rất cần thiết nhằm góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thực chất và đảm bảo quyền con người của phụ nữ trên mọi lĩnh vực.

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới được đẩy mạnh ở các ngành, các cấp và được lồng ghép với nhiều hình thức và nội dung khác nhau về các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác Bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến được thực hiện đồng bộ, thường xuyên trên các kênh truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp với những nội dung, hình thức phong phú, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng nhóm đối tượng.

Các mô hình truyền thông về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được duy trì hoạt động và tiếp tục mở rộng, một số mô hình được cải tiến để phù hợp với đặc điểm và thế mạnh của mỗi ngành, đoàn thể và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Hệ thống phát thanh của huyện, thành, thị và cơ sở đã phát huy được hiệu quả tốt trong công tác tuyên truyền.

Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, Báo Quảng Ngãi, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Tư pháp, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Lao động – TB&XH đã chủ động và thường xuyên phối hợp trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động tuyên truyền về Luật Bình đẳng giới, về Chiến lược, Chương trình quốc gia và các chủ trương, chính sách liên quan đến công tác Bình đẳng giới trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Phối hợp thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật bình đẳng giới, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Bảo đảm phát huy vai trò phản biện xã hội của Hội Luật hiến pháp các cấp đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã thực hiện công tác thông tin, giáo dục về công tác bình đẳng giới có hiệu quả, thiết thực và phù hợp với từng đối tượng.

Công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền được tăng cường cả về chất lượng, số lượng và hình thức đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các ngành, các cấp; các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng; của các gia đình và toàn xã hội đối với công tác Bình đẳng giới; quan tâm, chăm lo cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Biên tập, in và cấp phát hơn 1.500 cuốn tài liệu hệ thống hoá các văn bản chính sách, pháp luật về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ và 52.000 tờ rơi, tờ gấp làm tài liệu tuyên truyền cho các ngành, các cấp.

2.2.3. Về kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng

Năm 2013, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 557/QĐ-UBND ngày 17/4/2013 về việc kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi. Qua nhiều lần kiện toàn, đến ngày 13/9/2017 UBND tỉnh kiện toàn lại Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi tại Quyết định số 1701/QĐ-UBND.

Cơ cấu tổ chức bao gồm đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; Các Phó Trưởng Ban là Lãnh đạo các Sở, ngành: Sở Lao động –Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh; Các ủy viên là đại diện Lãnh đạo các sở, ban, ngành, hội đoàn thể liên quan.

Hoạt động hàng năm của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh theo hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ. Trong đó, tập trung các nhiệm vụ trọng tâm:

  • Tổ chức tuyên truyền, triển khai Luật bình đẳng giới, Nghị quyết số 57/NQ-CP của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ CNH-HĐH đất nước và các chính sách, các quy định, văn bản của tỉnh về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ.
  • Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ nữ về kiến thức nâng cao về Luật Bình đẳng giới, các kỹ năng cần thiết cho cán bộ nữ, kỹ năng chuẩn bị cho việc ứng cử HĐND các cấp…
  • Nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ. Cử và tạo điều kiện cho cán bộ nữ được tham gia đào tạo, học tập nâng cao trình độ, tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng và nghiệp vụ về chuyên môn và về công tác bình đẳng giới do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức.
  • Thông tin tuyên truyền về bình đẳng giới trên các phương tiện thông tin đại chúng (Báo Quảng Ngãi, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Quảng Ngãi, Đài Truyền thanh và Phát lại truyền hình cấp huyện, thành phố….) .
  • Tổ chức kiểm tra, giám sát công tác bình đẳng giới và hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tại một số địa phương, đơn vị.
  • Chỉ đạo công tác tổ chức và triển khai hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ của các sở, ban, ngành, đoàn thể và các huyện, thành phố.

2.2.4. Về xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Công tác tổ chức và bộ máy cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ của các ngành, các cấp thường xuyên được kiện toàn, phù hợp với thực tế của từng địa phương, đơn vị, đảm bảo mỗi cấp, ngành đều có cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lồng ghép giới cho trên 500 người làm công tác tham mưu hoạch định chính sách, cán bộ pháp chế các cơ quan, đơn vị và cán bộ Đoàn.

Tổ chức đi tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ quản lý, làm công tác chuyên môn về bình đẳng giới tại các tỉnh có nhiều kinh nghiệm trong việc triển khai thực hiện công tác bình đẳng giới.

Cử cán bộ tham gia tích cực các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ công tác bình đẳng giới, các lớp nâng cao năng lực, đào tạo giảng viên nguồn do Bộ Lao động – TB&XH tổ chức. Tham dự các hội nghị, hội thảo tham vấn về công tác bình đẳng giới và kinh nghiệm tổ chức bộ máy làm công tác bình giới đã dần hình thành nên một bộ phận cán bộ nòng cốt có đủ kiến thức, năng lực, kỹ năng để tổ chức triển khai thực hiện công tác bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh.

Hiện nay 100% cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp của tỉnh được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức hàng năm.

2.2.5. Về bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Năm 2014, thực hiện chủ trương về tiết kiệm chi ngân sách, các cơ quan thuộc Sở đã phối hợp, điều hành, phân bổ kinh phí ngân sách cho hoạt động bình đẳng giới tại các phòng ban địa phương và tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược và Chương trình hành động quốc gia vê bình đăng giới theo hướng tiết kiệm, hiệu quả. Chủ tịch UBND tỉnh quan tâm và dành tỷ lệ kinh phí phù hợp cho công tác bình đẳng giới trong quá trình xem xét, thông qua ngân sách nhà nước bằng việc ban hành một số Quyết định như sau:.

Quyết định số 66/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2016 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quy định việc bố trí và mức hỗ trợ cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 12 tháng 09 năm 2014 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quy định mức thù lao hàng tháng đối với thành viên Đội công tác xã hội tình nguyện tại xã, phường thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;

Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 19 tháng 08 năm 2014 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quy định một số mức chi có tính chất đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận phát luật cho người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

2.2.6. Về giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới

Công tác kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch hành động được thực hiện thường xuyên và đảm bảo chất lượng. Hàng năm, Đoàn kiểm tra liên ngành gồm đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Sở Thông tin- Truyền thông, Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch… tổ chức kiểm tra, giám sát công tác Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các huyện, thành phố. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức về Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ cho các cấp ủy Đảng, cơ quan, đoàn thể của địa phương, đồng thời giúp địa phương khắc phục những hạn chế, tồn tại trong giai đoạn 2011- 2020.

Sở Lao động – TB&XH đã đề xuất, phối hợp với Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh ban hành Kế hoạch số 3760/KH-BVSTBPN về việc kiểm tra công tác bình đẳng giới và hoạt động Vì sự tiến bộ của phụ nữ để tổ chức kiểm tra tại 03 sở, ngành, 14/14 huyện, thành phố, thị xã và 23 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh về tình hình thực hiện pháp luật và công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Nâng cao năng lực, kiến thức cho đội ngũ cán bộ thanh tra về bình đẳng giới, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

Tiếp tục triển khai thực hiện các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới, trong đó có Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.

2.3. Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

2.3.1. Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trên các lĩnh vực

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Trước xu thế hội nhập quốc tế, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp, với những điểm mới quan trọng, nổi bật là đề cao quyền con người. Cụ thể tại Chương II của Hiến pháp quy định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Theo đó, nội dung của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật được quy định tại Điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”.

Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 11 Luật Bình đẳng giới quy định bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị như sau:

  • Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.
  • Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.
  • Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
  • Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức [30, Điều 11].

Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy tài năng của mình và tham gia những vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các đơn vị, doanh nghiệp…Những đảm bảo về mặt pháp lý đó đã và đang ngày càng tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam tham gia các công tác xã hội, công tác quản lý, công tác lãnh đạo trong các cấp Đảng ủy cũng như tham gia vào quản lý của bộ máy nhà nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Một số chỉ tiêu cụ thể như: Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp trong nhiệm kỳ ngày càng tăng; trong đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo quản lý hiện nay có 02 đ/c là nữ giữ chức vụ UV BTV Thành ủy, có 55/400 cán bộ nữ được đề bạt, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo thuộc diện BTV thành ủy quản lý. Hiện có 7/52 đồng chí lãnh đạo nữ là UVBCH Đảng bộ thành phố, chiếm 13,46%; có 14/88 đ/c là Giám đốc, Phó Giám đốc (chiếm 15,9%); đặc biệt có 24/119 đồng chí nữ được quy hoạch vào các chức danh chủ chốt của quận, huyện (tỷ lệ 20,1%); ở cấp phường, xã có 292/817 (tỷ lệ 35,7%) Đặc biệt chú trọng đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ trong cơ cấu theo tinh thần Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu.

Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% đến 40%.

Tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều chủ trương biện pháp để thực hiện như ban hành Đề án phát triển và tạo nguồn cán bộ nữ giữ các chức danh diện Ban Thường Vụ Tỉnh ủy quản lý đến năm 2020. Trong các nhiệm kỳ qua, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy đều tăng hơn trước, cụ thể:

  • Bảng 2.1. Tỷ lệ nữ cấp ủy các nhiệm kỳ Đại hội
  • Bảng 2.2. Nữ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh từ khóa VI đến khóa IX

Tỷ lệ cán bộ nữ diện Ban thường vụ Tỉnh ủy quản lý luôn có xu hướng năm sau cao hơn năm trước ( tính đến 3/2016, tổng số cán bộ diện Ban thường vụ tỉnh ủy quản lý 400 đồng chí, trong đó có 55 cán bộ nữ, chiếm tỷ lệ 13,75%). Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã quan tâm đúng mức đến công tác đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu bầu vào các chức danh Ban thường vụ Tỉnh ủy quản lý, trong đó nữ 33 đồng chí ( tỷ lệ 12%); các sở, ngành, quận huyện thường xuyên rà soát đội ngũ cán bộ, kịp thời bố trí, bổ nhiệm 1.285 cán bộ vào các chức danh theo phân cấp quản lý cán bộ, trong đó nữ 281 đồng chí, đạt 21,86%.

  • Bảng 2.3. Tỷ lệ nữ Ban Thường vụ cấp ủy các nhiệm kỳ Đại hội

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ, có biện pháp, chủ trương để đưa cán bộ nữ vào quy hoạch các chức danh cao hơn; nhiệm kỳ 2010-2015, quy hoạch Tỉnh ủy khóa XXI gồm 58 đồng chí, trong đó nữ có 12 đồng chí, tỷ lệ 20,69% ( khóa XX tỷ lệ nữ 10,81%); quy hoạch lãnh đạo cấp sở, ngành của tỉnh 236 đồng chí, trong đó nữ có 56 đồng chí, tỷ lệ 23,7% ( khóa XX tỷ lệ nữ 13,58%);quy hoạch ban chấp hành đảng bộ cấp thành phố, huyện có 340 đồng chí, trong đó nữ có 24 đồng chí, tỷ lệ 36,17% ( khóa XX tỷ lệ nữ 20,8%); đặc biệt có 119 đồng chí được quy hoạch vào các chức danh chủ chốt của thành phố, huyện có 24 nữ, tỷ lệ 20,1% ( khóa XX tỷ lệ nữ 16,3%); ở cấp phường, xã, tổng số cán bộ quy hoạch ban chấp hành, các chức danh chủ chốt có 817 đồng chí, trong đó có 292 nữ, tỷ lệ 35,7% ( khóa XX tỷ lệ nữ 27,13%).

Việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh quản lý đã được UBND tỉnh Quảng ngãi mạnh dạn triển khai từ năm 2010 đến nay. Có 35 lượt thi tuyển đã được tổ chức tại 13 cơ quan hành chính và 15 đơn vị sự nghiệp; qua đó, 91 người đã được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý với 53 cán bộ là nữ, chiếm 58,24%. Số lượng cán bộ nữ tập trung chủ yếu ở ngành giáo dục. Với định hướng mở rộng đối tượng thi tuyển, chính sách này được kỳ vọng sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia vào sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố; đồng thời mở ra cơ hội cho những nữ công chức, viên chức có năng lực tham gia vào công tác quản lý, điều hành tại cơ quan, đơn vị tại địa phương.

Hàng năm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo tổ chức đánh giá cán bộ, rà soát và bổ sung quy hoạch cán bộ, xem xét cơ cấu, bố trí cán bộ nữ ở các ngành, các lĩnh vực, đảm bảo tỷ lệ và chất lượng. Nhờ đó, số lượng cán bộ nữ lãnh đạo trong các cấp, các ngành tăng lên đáng kể. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

  • Bảng 2.4. Số liệu cán bộ nữ đang giữ chức danh trưởng phòng, phó trưởng phòng các phòng, ban thuộc khối Đảng, đoàn thể
  • Bảng 2.5. Số liệu cán bộ nữ đang giữ chức danh giám đốc, phó giám đốc sở; chủ tịch, phó chủ tịch UBND thành phố huyện; trưởng phòng, phó trưởng phòng sở ngành, UBND thành phố huyện; chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân/Ủy ban nhân dân phường, xã

Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ cũng được quan tâm. Giai đoạn 2013-2016 đã cử 1.421 lượt cán bộ nữ đi đào tạo chuyên môn trình độ Đại học, sau đại học; 1.873 lượt cán bộ nữ đi bối dưỡng nghiệp vụ, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ…; Về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị – hành chính, từ năm 2013 đến nay, đã có 2.815 cán bộ, công chức được đào tạo lý luận chính trị (Trung cấp 2.056; cao cấp 759), trong đó có 1.082 cán bộ nữ, chiếm 38,44%; Nhằm tạo nguồn cán bộ trẻ lâu dài và chiến lược đến năm 2020, đến nay đã có 492 học viên cử đi học/522 lượt ( trong đó có 422 đại học với 254 nữ, chiếm 60,1%; thạc sĩ, tiến sĩ 100 học viên, nữ chiếm 55%).

Công tác phát triển đảng viên nữ cũng luôn được quan tâm. Hầu hết các tổ chức cơ sở Đảng đều thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng phát triển đảng viên nữ trong đoàn thanh niên, trong công nhân viên chức lao động ở các ngành. Trong giai đoạn 2010-2015, có 9.532 nữ trong tổng số 23.632 đảng viên mới kết nạp, chiếm tỷ lệ 40,3%.

Đến nay, đa số cán bộ nữ được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị, 100% cán bộ nữ diện Tỉnh ủy quản lý có trình độ từ đại học trở lên và đã qua chương trình đào tạo cao cấp chính trị. Trong quá trình thực hiện công tác cán bộ, các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã có những quy định cụ thể về việc ưu tiên cho cán bộ nữ trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, thi tuyển, về tăng tỷ lệ nữ ở các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể. Bên cạnh đó, các ngành, các địa phương cũng có sự quan tâm về vật chất và tinh thần đối với cán bộ nữ được cử đi đào tạo.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động việc làm

Hiến pháp năm 2013, Quyền bình đẳng giới được ghi nhận trong quyền tự do kinh doanh: “Công dân có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33); “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” (Điều 32); Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu (Điều 35). Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Cá nhân không phân biệt nam hay nữ đều có quyền như nhau trong việc lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật. Đặc biệt, Luật doanh nghiệp sửa đổi 2012 (Điều 9) cụ thể hoá quyền này, mọi cá nhân không phân biệt nam nữ đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp. Sự ra đời của Luật doanh nghiệp đã góp phần bảo đảm việc thực hiện quyền tự do kinh doanh của các công dân nói chung và của phụ nữ nói riêng theo nguyên tắc “mọi công dân có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật”. Quyền này còn được cụ thể hoá trong Luật Hợp tác xã năm 2013 (Điều 10) quy định cá nhân có quyền khởi xướng thành lập hợp tác xã và tham gia hợp tác xã. Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã tạo ra một khung pháp lý thông thoáng bảo đảm cho phụ nữ dễ dàng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao vị trí kinh tế của người phụ nữ trong xã hội.

Thể chế hóa quan điểm của Hiến pháp, Khoản 1, 2 Điều 13 Luật Bình đẳng giới quy định bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động gồm: 1. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác. 2. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh. Trên cơ sở Hiến pháp cũng như các nguyên tắc của Luật Bình đẳng giới, nhà nước ta đã tạo dựng cơ sở pháp lý về lao động việc làm cho người lao động nói chung và cho lao động nữ nói riêng ngày càng được hoàn thiện, thể hiện qua các văn bản pháp lý đã được ban hành như: Bộ Luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội.

Chỉ đạo đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chỉnh sách khuyến khích phát triển kinh tế- xã hội, tạo việc làm mới tại các điạ phương, đơn vi đã góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động, phát triển ngành nghề, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới ngày càng nhiêu việc làm và việc làm ổn định. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là giải quyết việc làm được xây dựng thành mục tiêu chiến lược trong các Nghị quyết của cấp uỷ, HĐND, UBND các cấp và các ngành. Những hoạt động phối hơp giữa các Sở, ngành phối họp với Ngân hàng Nông nghiệp và phát ưiển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên…. Đã tạo dựng các điều kiện, môi trường bình đẳng cho phụ nữ và nam giới ở các địa phương trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và tăng thu nhập, cải thiện đời sống ngày càng hiện đại văn minh.

Theo Điều tra lao động – việc làm của Cục thống kê tỉnh, tăng tỷ lệ sử dụng lao động nữ ở khu vực nông thôn lên 75% vào năm 2010 và lên 80% vào năm 2015 Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

  • Bảng 2.6: Dân số trong độ tuổi lao động và tham gia trong nền kinh tế (2010-2015)

Căn cứ số liệu ở bảng trên và dân số trong độ tuổi lao động ở khu vưc nông thôn và tỷ lệ dân sô nữ có thể ước thực hiện chỉ tiêu này của KHHĐ là tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nữ ở khu vực nông thôn đạt từ 80 – 85% vào năm 2015.

  • Bảng 2.7: Cơ cẩu lao động phân theo ngành kinh tể (2010,2015,2017)

Qua số liệu thống kê (năm 2017 có phân tích giới) có thể nói, phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trọng toàn bộ nền kinh tế, tổng số lao động nữ đang làm việc tại các thành phần kinh tế chiếm tỷ lệ 50,54% tương đương với tỷ lệ dân số nữ và tham gia nhiều trong khu vực phi nông nghiệp, tuy nhiên lực lượng lao động nữ vân chủ yêu chiêm tỷ lệ cao ở các ngành giáo dục- đào tạo và y tê.

  • Bảng 2.8: Số lao động được giải quyết việc làm hàng năm(2010-2015)

Tại các báo cáo của các Sở, ngành, địa phương cho thấy xu thế bình đẳng giới trong thực hiện các chương trình, đề án và chính sách phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo dần được quan tâm.

Nhìn chung, phân bố cơ cấu nam, nữ trong các ngành nghề cho thấy, nam giới vẫn thường chiếm tỷ lệ cao hơn ở những nhóm việc như công nhân, lãnh đạo, dịch vụ cá nhân, công việc chuyên môn kỹ thuật và lực lượng vũ trang. Phụ nữ thường chiếm tỷ lệ cao ở một số nhóm nghề khác như nông nghiệp, buôn bán nhỏ, nhân viên văn phòng.

Vị thế việc làm của lao động nữ cũng có sự thay đổi tích cực. Trong 5 năm qua, từ 2010 đến 2015, nhóm lao động làm công ăn lương tăng rất mạnh trong cơ cấu phân bố lao động, từ 18,6% (2010) lên tới 30% (2015), trong đó lao động nam chiếm 50,03% và lao động nữ chiếm 49,07% (2015). Tỷ trọng lao động nữ trong số người làm công ăn lương tăng mạnh thể hiện sự thay đổi theo hướng giảm sự bất bình đẳng giới về việc làm có thu nhập ổn định giữa nam và nữ. Đây là một chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình bình đẳng giới của Quảng Ngãi có nhiều tiến bộ; giảm tỷ lệ thất nghiệp lao động nữ thành thị xuống còn 4,75%. Tổ chức 132 phiên giao dịch việc làm, trong đó có 23 phiên giao dịch di động tại các địa phương có di dời, giải tỏa, qua đó đã giới thiệu, giải quyết việc làm cho 42.690 lao động, trong đó có nhiều lao động nữ, lao động vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, lao động khuyết tật.

Ngoài ra, lãnh đạo tỉnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp tạo việc làm (trong chương trình xây dựng tỉnh “3 có”(Có nhà ở, Có việc làm, Có nếp sống văn hoá văn minh đô thị”) và cải thiện đời sống cho phụ nữ ở nông thôn, khu vực giải toả, tái định cư, lao động nữ dôi dư khi cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, đào tạo nghề cho lao động nữ; đồng thời có chính sách về nhà ở, chăm lo đời sống văn hoá, tinh thần, bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo báo cáo, từ năm 2011 đến thời điểm báo cáo, ước toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho khoảng 256.360 lao động (bình quân mỗi năm giải quyết cho 36.480 lao động/năm). Riêng năm 2017, giải quyết việc làm mới và thêm việc làm cho khoảng 39.500 lao động. Tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp chiếm tỷ lệ 30% Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Quy mô, chất lượng lao động qua đào tạo nghề cũng dần được nâng lên, mạng lưới cơ sở dạy nghề của tỉnh ngày càng phát triển. Năm 2017, tiếp tục tăng lên 40 cơ sở (đầu năm 2015 có: 30 cơ sở). Năm 2017, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề so với tổng số lao động ước đạt 49% (trong đó, lao động nữ là 38%, đạt 100% kế hoạch năm).

Việc cho vay vốn giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, hàng năm ngân sách tỉnh bổ sung 08 tỷ đồng để cho vay giải quyết việc làm (từ 2017 đến 2020 Ngân sách tỉnh bố trí 20 tỷ/năm), nguồn quỹ cho vay đạt hiệu quả cao, không có vốn tồn đọng, vốn vay được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước tỉnh có 85% tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn từ chương trình xóa đói giảm nghèo, từng bước đáp ứng nhu cầu vay vốn sản xuất, kinh doanh của phụ nữ nghèo và cận nghèo, hạn chế tình trạng “tín dụng đen”. Góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, tăng tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Giáo dục là một trong những chính sách được ưu tiên ở Việt Nam và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục. Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn, có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành;

Điều 14 Luật Bình đẳng giới quy định nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo như sau: 1. Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng. 2. Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo. 3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. 4. Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ. Đặc biệt, chính sách giáo dục đối với phụ nữ đã có sự quan tâm kịp thời.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi: “Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới”. Hiến pháp Việt Nam công nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong giáo dục và đào tạo. Trẻ em trai và trẻ em gái, phụ nữ và nam giới đều có quyền tham gia vào tất cả các cấp giáo dục của xã hội

Đối với tỉnh Quảng Ngãi, mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2010 – 2020, trong 05 năm qua bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được thể hiện như sau:

Tỉnh Quảng NgÃi chú trọng triển khai tốt chương trình xoá mù chữ và phổ cập tiểu học, trung học cơ sở cho phụ nữ, nhất là địa bàn các xã miền núi, xã phường ven biển. Đến nay, tỷ lệ phụ nữ độ tuổi 15-45 biết chữ là 186.353/187.354 người, đạt 99,46%. Trong những năm gần đây, tỉnh đã duy trì được kết quả phổ cập tiểu học và THCS đúng độ tuổi ở 100% xã phường, hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học có 55/56 xã phường, đạt tỷ lệ 98,21%, 56/56 xã phường và 14/14 huyện, thành phố đạt chuẩn xoá mù chữ (đạt 100%). Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Sở Nội vụ tham mưu UBND tỉnh ban hành nhiều chính sách về công tác cán bộ, chính sách đào tạo, thu hút cán bộ, công chức, trong đó có lồng ghép các nội dung về bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức nữ được nâng cao năng lực và tham chính. Hàng năm, tỉnh cử gần 3.500 lượt cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó cán bộ nữ chiếm khoảng 40%, có 167/372 cán bộ nữ được đào tạo sau đại học, chiếm 44,9%; có 5.351/13.052 cán bộ được cử đi đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học… chiếm 41%; đào tạo cao cấp lý luận chính trị trên 30%; bồi dưỡng kỹ năng quản lý điều hành cán bộ nữ chiếm 32%.

Ngành cũng chú trọng đến công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ, trong đó đặc biệt quan tâm đến đội nữ cán bộ quản lý, nữ giáo viên trẻ, có năng lực, có hướng phát triển bổ sung vào đội ngũ cán bộ quy hoạch, kế cận hàng năm. Toàn tỉnh có 01 Phó giám đốc Sở, 03/10 Trưởng phó phòng Sở, 03/07 Trưởng phòng, 06/19 Phó trưởng phòng các phòng Giáo dục và đào tạo thành phố, huyện; 04/19 hiệu trưởng, 20/51 phó hiệu trưởng trường THPT, 01/08 Giám đốc, 05/11 Phó giám đốc các Trung tâm Giáo dục thường xuyên là cán bộ nữ và tất cả Ban giáo hiệu các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở đều có nữ tham gia. Riêng năm 2015, Sở Giác dục và đào tạo đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm 01 Phó giám đốc Sổ bổ nhiệm 03 nữ và bổ nhiệm 03 nữ cán bộ quản lý các đơn vị, trường học.

Đặc biệt, ngành Giáo dục và Đào tạo đã chú trọng đến công tác đào tạo sau đại học, đào tạo nghiệp vụ quản lý trường học cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp để có được đội ngũ cán bộ công chức viên chức có trình độ cao, đáp ứng với yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo; trong đó, tạo điều kiện đến cán bộ công chức viên chức nữ được tham gia học tập.

Nhờ làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nên 100% cán bộ, giáo viên các bậc học đạt trình độ chuẩn hóa, trong đó có trên 85% trở lên đạt trình độ trên chuẩn; có 659 thạc sĩ ( có 492 nữ, tỷ lệ 74,7%) và 8 tiến sĩ ( có 01 nữ); 08 cán bộ, giáo viên ( 03 nữ, 37,5%) tham gia nghiên cứu sinh và 83 cán bộ, giáo viên ( 65 nữ, 78,3%) học cao học các chuyên ngành tại các trường đại học trong và ngoài nước.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó” ( Điều 40). Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Điều 15 Luật Bình đẳng giới quy định nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ như sau: Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế [34, Điều 15].

Ngoài ra, Đảng và nhà nước còn ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị trong đó có Nghị quyết 153 về công tác cán bộ nữ năm 1967, Nghị quyết 04 năm 1993, Nghị quyết 11 năm 2007 trong đó khẳng định việc tạo điều kiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng cán bộ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật. Chỉ thị 37/1994 nêu rõ: “Đặc biệt chú ý chính sách khuyến khích tài năng phụ nữ trong các trường học, trong mọi lĩnh vực hoạt động. Những nữ khoa học có tài, những cán bộ nữ quản lý giỏi cần được khuyến khích sử dụng, khi cần thiết có thể nghỉ hưu ở tuổi 60 như nam giới” Chỉ tiêu 4 trong kế hoạch hành động của Chương trình quốc gia giai đoạn 2011-2016 đạt tỷ lệ nữ cán bộ công chức được bồi dưỡng về hành chính, tin học và ngoại ngữ 30% trở lên vào năm 2010; đạt tỷ lệ nữ tham gia các khoả bổi dưỡng, huấn luyện, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài nước tương đương tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong các lĩnh vực tương ứng vào năm 2010.

Nhìn chung các Sở, ngành đã có sự đổi mới về tư duy, nhận thức và quan tâm đến việc cử CBCC nói chung và nữ CBCC nói riêng đi học tập, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhất là khi thực hiện kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở 2 giai đoạn 2010-2015 và 2015-2020, tại nhiều địa phương tỷ lệ này đạt từ 25-30%. Các huyện miền núi (6/14 huyện, thành phố) thuộc Chương trình 135 hỗ trợ, phụ nữ và nam giới được Chương trình 135 giai đoạn II bồi dưỡng các lớp tin học vãn phòng và hỗ trợ kỹ thuật, vốn vay để sản xuất kinh doanh, ngoài ra nằm trong Chiến lược giới, Chương trình 135 giai đoạn II do Phòng Kinh tế đối ngoại (Sở Kế hoạch và Đầu tư) đã tổ chức nhiều khoá tập huấn về bình đẳng giới cho hàng ngàn lượt người.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

Mục đích phấn đấu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong đó cốt lõi là làm cho mỗi con người Việt Nam được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực. Do vậy, phải đặt vấn đề, bình đẳng và bình đẳng giới trong văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao. Luật phổ cập giáo dục năm 1991, Luật Giáo dục 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoạt động thể dục, thể thao là môn học bắt buộc trong các trường học từ mầm non đến đại học đối với học sinh nam và nữ nhằm mục đích rèn luyện thân thể. Hiến pháp 2013 quy định: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc…” (Điều 37); Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa ( Điều 41); Tỉnh Quảng Ngãi ngày càng quan tâm đến bảo đảm các hoạt động phúc lợi công cộng, văn hoá, giải trí, thể thao cho nhân dân, trong đó có phụ nữ, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có thể nói, nhu cầu tham gia các hoạt động giải trí, thể thao và thưởng thức đời sống văn hoá là nhu cầu chung của mọi người. Tỉnh Quảng Ngãi luôn xem việc tham gia hoạt động vui chơi, giải trí, thưởng thức văn học, nghệ thuật, tham gia các hoạt động thể dục, thể thao là một trong những quyền công dân nam cũng như nữ cần được vận động và khuyến khích.

Bên cạnh đó, bảo đảm bình đẳng giới (BĐG) trong lĩnh vực văn hoá và thông tin là mục tiêu thứ 5 trong chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020. Theo nội dung chiến lược, để đảm bảo mục tiêu này cần đạt được 2 chỉ tiêu cơ bản gồm: chỉ tiêu 1 là đến năm 2015 giảm 60% và đến năm 2020 giảm 80% sản phẩm văn hoá, thông tin mang định kiến giới. Tăng thời lượng phát sóng các chương trình, chuyên mục và số lượng các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới. Chỉ tiêu 2 là đến năm 2015 có 90% và đến năm 2020 có 100% Đài PTTH Trung ương và địa phương có chuyên mục, chuyên đề nâng cao nhận thức về bình đẳng giới Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Để thực hiện mục tiêu này, trong 5 năm qua ( 2011-2015), tỉnh đã ban hành nhiều văn bản đề nghị các cơ quan báo chí thành phố xây dựng các chương trình, chuyên trang, chuyên mục và thời lượng thích hợp tuyên truyền hiệu quả chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện Luật Bình đẳng giới, hướng sự quan tâm của cộng đồng đến phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số; giới thiệu, phổ biến các kinh nghiệm hay, mô hình làm tốt công tác thực hiện bình đẳng giới, nhất là các mô hình câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, bình đẳng và không có bạo lực, mô hình tư vấn, hỗ trợ phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới và buôn bán người, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản linh hoạt, dễ tiếp cận và miễn phí dành cho chị em phụ nữ. Đồng thời, Sở Văn hóa thong tin tỉnh cũng đã hướng dẫn, nhắc nhở phòng Văn hoá – Thông tin các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch chi tiết nhằm thông qua những hình thức tuyên truyền, cổ động phù hợp để tuyên truyền thường xuyên, sâu rộng các nội dung về bình đẳng giới.

Các cơ quan báo chí địa phương và báo chí trung ương đóng chân trên địa bàn thành phố không ngừng đăng tải các tin bài phản ánh công tác tuyên truyền về bình đẳng giới. Sau 05 năm, đã có hơn 1.200 tin bài có nội dung tuyên truyền về bình đẳng giới, đề cao vai trò của người phụ nữ trong thời đại mới.

Báo chí tỉnh Quảng Ngãi tích cực phản ảnh những hoạt động của phụ nữ trong xây dựng và phát triển thành phố trên các lĩnh vực chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh, góp phần xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; giới thiệu, biểu dương các gương điển hình phụ nữ vượt lên hoàn cảnh khó khăn riêng để hoàn thành niệm vụ, giữ vững truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới; qua đó ngày càng khẳng định địa vị người phụ nữ trong xã hội và gia đình. Các bài viết tuyên truyền, phổ biến Luật bình đẳng giới, Nghị định số 70/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân gia đình, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, các chủ trương, chính sách của Tỉnh ủy, UBND tỉnh có liên quan đến công tác phụ nữ và bình đẳng giới được báo chí chú trọng về nội dung và hình thức phản ánh. Đặc biệt, cùng với việc tuyên truyền đề cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong thời đại mới, các cơ quan thông tấn báo chí còn thường xuyên cập nhật công tác phòng chống bạo lực gia đình, chống buôn bán phụ nữ, thực thi Luật Bình đẳng giới trên địa bàn thành phố. Tiêu biểu như các tin, bài: Hội trại bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình, Triển khai thí điểm các hoạt động tháng hành động phòng, chống bạo lực gia đình, Cần chung tay phòng chống bạo lực phụ nữ và trẻ em gái,; Hành động để chống bạo lực giới; Quảng Ngãi quyết tâm không bạo lực phụ nữ, trẻ em gái,…

Các Đài phát thanh, truyền hình ở địa phương, tiêu biểu là Đài phát thanh truyền hình Quảng Ngãi đã thành lập và duy trì nhiều chuyên mục, chuyên đề nâng cao nhận thức về bình đẳng giới. Hiện nay, Đài phát thanh-truyền hình Quảng Ngãi có 02 chuyên mục chuyên đề về công tác phụ nữ và bình đẳng giới, gồm: Phụ nữ và phát triển; Dân số và đời sống với thời lương 15 phút/ chương trình. Các chuyên mục, chuyên đề đã thực hiện nhiều phóng sự về hoạt động của phụ nữ và bình đẳng giới; các hội nghị, hội thảo, tập huấn về giới và bình đẳng giới, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, lựa chọn sinh con theo giới tính, vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội,… Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế

Điều 38 Hiến pháp 2013 quy định: Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng.

  • Điều 17 Luật Bình đẳng giới quy định nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế như sau:

Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.

Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ [30, Điều 17]

Sở Y tế đã đưa việc duy trì tỷ số giới tính khi sinh thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế, trong đó có nội dung 100% các cơ sở y tế cam kết không thông báo giới tính thai nhi cho phụ nữ có thai và người thân của họ và không loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính, kết quả tỷ số giới tính khi sinh <110 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái. và đã tổ chức kiểm tra 80% hoạt động này tại các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập. Đã thiết lập hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản về cấp cứu sản khoa, làm mẹ an toàn. Thường xuyên mở các lớp đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao kỹ năng cho người đỡ đẻ và các nội dung chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và sau khi đẻ. Các cơ sở y tế đã được trang bị đầy đủ các trang thiết bị, cơ số thuốc thiết yếu theo quy định của Bộ Y Tế, do vậy mà trong 4 năm liên tục 2011- 2015 không có tử vong mẹ liên quan đến tai biến sản khoa, thực hiện tốt nhiệm vụ đỡ đẻ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em từ tuyến cơ sở đến tuyến thành phố. Ngoài ra, nhiều dịch vụ chăm sóc sức khoẻ được thực hiện và mở rộng như khu khám chữa bệnh phụ khoa, chăm sóc thai sản, cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, mạng lưới cung cấp thuốc chữa bệnh thuận tiện… Tỉnh Quảng Ngãi đầu tư thành lập Bệnh viện sản – Nhi, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho chị em phụ nữ được chăm sóc điều trị theo hướng chuyên khoa sâu;

Tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục tăng cường nhân lực cho tuyến y tế cơ sở. Sở Y tế giao Bệnh viện đa khoa tỉnh và bệnh xá Đặng Thùy Trâm –Đức Phổ chuyên khoa có trách nhiệm luân chuyển, hỗ trợ tuyến và tăng cường bác sĩ từ các Trung tâm y tế cho các trạm y tế thiếu bác sĩ theo lịch 1-3 buổi/tuần; đảm bảo 100% các trạm y tế đều có nữ hộ sinh. Ngành y tế thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn về chuyên môn cho cán bộ tuyến y tế cơ sở, cán bộ y tế thôn; có kế hoạch tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho lao động nữ trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại. Tổ chức tập huấn chuyên môn cho các đơn vị y tế tại doanh nghiệp, chú trọng đến việc khám sức khoẻ cho lao động nữ tại cơ quan. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Có chính sách ưu đãi đối với bác sĩ công tác tại trạm y tế phường, xã; có chính sách hỗ trợ 100% chi phí khám, chữa bệnh đối với phụ nữ thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và phụ nữ nghèo bị bệnh ung thư; hỗ trợ 80% chi phí khám, chữa bệnh tại bệnh viện sau khi trừ đi phần chi của BHYT đối với phụ nữ thuộc diện hộ nghèo khi khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi. Đã có trên 500 lượt phụ nữ nghèo và đặc biệt nghèo được khám chữa bệnh.

Kết quả đến nay, tỷ lệ phụ nữ thành phố được tiếp cận với dịch vụ y tế đạt 100%; tỷ lệ phụ nữ mang thai tiếp cận dịch vụ chăm sóc và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con 100%; tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 3 lần đạt 99,6%.

Hoạt động truyền thông chuyển đổi hành vi thông qua tư vấn, tập huấn, nói chuyện chuyên đề, toạ đàm, hội thảo, xây dựng phóng sự, chuyên trang về công tác dân số-KHHGĐ, về dự án Phòng chống HIV/AIDS được đẩy mạnh; hoạt động chăm sóc sức khoẻ sinh sản và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em được chú trọng. Trong năm 2016, các cơ quan chức năng của tỉnh đã tổ chức nói chuyện trực tiếp, in và cấp phát 30.000 tờ rơi về chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho các trường THPT trên địa bàn thành phố; 100% các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông thực hiện tốt chương trình giáo dục ngoại khoá về giới tính, chăm sóc sức khoẻ trẻ em gái, sức khoẻ sinh sản vị thành niên… nhờ đó mà đã giảm tỷ lệ phá thai từ 50,2% năm 2010 xuống còn 38,9% năm 2016.

Ngoài ra, thành phố cũng đẩy mạnh hoạt động nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành y tế; hỗ trợ giảm thiểu hậu quả đối với sức khỏe của người bệnh là nạn nhân của bạo lực gia đình.

Bên cạnh các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ của thành phố, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các sở ngành, đoàn thể duy trì thường xuyên hoạt động tổ chức khám chữa bệnh định kỳ cho 100% cán bộ, công chức, lao động nữ tại đơn vị.

Tỉnh Quảng Ngãi tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý trong ngành nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới. Tỷ lệ cán bộ nữ trong tổng số cán bộ lãnh đạo quản lý của ngành: Ban giám đốc Sở: 01/05, chiếm 20%; Trưởng phòng, phó phòng chuyên môn của Sở: 04/13, chiếm 30%; ban giám đốc các đơn vị trực thuộc: 16/77, chiếm 20%. Trong công tác tuyển chọn luôn có ưu tiên đối tượng nữ, không có sự phân biệt về giới trong tiêu chí tuyển dụng; xem xét, bố trí và sử dụng công chức viên chức nữ vào các vị trí quản lý, trưởng, phó các Khoa, Phòng; đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội nữ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực; thực hiện chế độ chính sách tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiệm vụ được giao và có cơ hội phát triển đối với nữ công chức, viên chức và người lao động như chế độ nghỉ ốm, nghỉ thai sản, 100% được khám sức khỏe theo đình kỳ. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình

Với mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh nhà nước ta luôn chủ trương kiên quyết loại bỏ sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tháng 8/2002, Quốc hội ra quyết định thành lập Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em. Trong những năm gần đây, vị trí, vai trò của gia đình trong nuôi dạy và phát triển các thế hệ người Việt Nam tương lai được đặc biệt chú trọng.

Chủ trương đó đã được thể hiện trong một số văn bản quan trọng như: Hiến pháp 2013 quy định: Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em ( Điều 36); Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em. (Điều 37).

Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); Pháp lệnh Dân số 2008 đã tiếp tục thể chế hoá điều này. Tháng 5/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy ngày 28/6 làm “Ngày gia đình Việt Nam”. Điểm nổi bật là Tỉnh ủy Quảng ngãi đã ban hành Chỉ thị 25-CT/TU về “đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình” trên địa bàn thành phố, từ đó nhiều mô hình, cách làm hay được các cấp, các ngành xây dựng và thực hiện có hiệu quả như: Hội thi với chủ đề: “Gia đình văn hoá”, “Gia đình thành đạt”, “Chung tay phòng, chống bạo lực gia đình”, “Gia đình thể thao”, “Cùng nói lời yêu thương”; tổ chức Ngày hội “Vì một gia đình không có bạo lực”nhằm tuyên truyền trong cộng đồng về xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống bạo lực gia đình tại các quận, huyện, xã phường, các “địa chỉ tin cậy” trong cộng đồng nhằm giúp đỡ và hỗ trợ những phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình và phụ nữ có nguy cơ bị bạo lực gia đình. Hình thành các câu lạc bộ như “Gia đình hạnh phúc”, “Phòng, chống bạo lực gia đình”, “Bình đẳng giới”, “Gia đình không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội”, “Mẹ và con gái”, “Phụ nữ  với pháp luật”…, thu hút sự tham gia của nhiều gia đình với những điều kiện sống và hoàn cảnh khác nhau vào các hoạt động xã hội nhằm chia sẻ những vấn đề thường gặp trong cuộc sống, cung cấp cho các gia đình những kiến thức về bạo lực gia đình và phổ biến những tác hại của bạo lực gia đình đối với mỗi cá nhân. Tăng cường vai trò nòng cốt của cán bộ, hội viên các tổ chức chính trị xã hội trong phong trào xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Nói không với bạo lực gia đình”… Sự nỗ lực của các cấp đã tạo chuyển biến đáng kể trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình và xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” trên địa bàn toàn tỉnh. Từ năm 2011 đến năm 2015 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 954 vụ bạo lực gia đình; trong đó hơn 70% nạn nhân bị bạo lực gia đình được tư vấn về pháp lý và sức khỏe, được hỗ trợ và chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp (địa chỉ tin cậy); 70% đối tượng gây ra bạo lực gia đình được tư vấn tại các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình tại các địa phương. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Công tác tư vấn và giải quyết đơn thư về hôn nhân gia đình, bạo lực gia đình luôn được Ngành tư pháp, Hội Liên hiệp phụ nữ (HLHPN) quan tâm. Trong thời gian qua, đã tham gia hòa giải 539 trường hợp, tư vấn 197 trường hợp và giải quyết 259 đơn thư về hôn nhân gia đình, mâu thuẫn gia đình và bạo lực gia đình.

Ngoài ra, Các cấp Hội phụ nữ đã khai thác và thực hiện hiệu quả các dự án quốc tế, trong đó có nâng cao năng lực phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ, phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em, thực hiện bình đẳng giới như Dự án phát triển cộng đồng bền vững (Enda), Chương trình thúc đẩy phụ nữ tham chính (PyD), Chương trình nâng cao năng lực tài chính nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình (Caecid)

Với nhiều giải pháp đồng bộ, việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình đã đạt được nhiều tiến bộ. Trên bình diện chung, trong gia đình người chồng đã biết chia sẻ với vợ công việc nhà, chăm sóc con; người vợ cũng đã chủ động chia sẻ với chồng gánh nặng kinh tế gia đình. Việc phân công, sắp xếp lại công việc trong gia đình một cách hài hòa, hợp lý cho các thành viên trong gia đình đã được quan tâm, chú trọng nhiều hơn; sự hưởng thụ về đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ ngày càng được nâng lên.

Quá trình thực hiện pháp luật bình đẳng giới trên thực tế được thuận lợi, bao gồm: 1) Nâng cao nhận thức về pháp luật bình đẳng giới cho các chủ thể để tất cả các chủ thể đều nắm được các quyền, nghĩa vụ của mình và của chủ thể khác. Việc giúp các chủ thể hiểu biết pháp luật bình đẳng giới là đảm bảo cho các chủ thể đạt được một số hiểu biết nhất định, qua đó tự điều chỉnh hành vi xử sự của mình trong các quan hệ; giúp họ nhận thức, hiểu rõ bản chất ưu việt của pháp luật xã hội chủ nghĩa; thấy được pháp luật bình đẳng giới là phương tiện có hiệu lực sắc bén giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khỏi sự xâm hại của hành vi vi phạm pháp luật. Thực hiện pháp luật bình đẳng giới là quá trình giáo dục ý thức của các chủ thể có trách nhiệm trong thúc đẩy phụ nữ tham gia chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,…; là xác định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của họ đối với nhà nước, xã hội; 2) Giúp các chủ thể thấy được quyền, nghĩa vụ, hành vi được phép và không được phép làm để họ chủ động và tự giác thực hiện quyền, nghĩa vụ, ứng xử theo pháp luật một cách tự giác. Qua đó thúc đẩy các chủ thể tham gia tích cực vào việc thiết lập, bảo vệ trật tự, kỷ cương; đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật với tinh thần tự giác cao. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới còn gắn với quá trình giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày, giúp cho các chủ thể nắm được các tình huống pháp lý, cách xử sự đối với tình huống để tham gia tích cực vào các quan hệ pháp luật trong xã hội.

Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền hợp pháp khác của mình. Các quyền tự do này được pháp luật quy định dưới dạng tiềm năng mà chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện mà không bị pháp luật bắt buộc hoặc ngăn cấm. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Như vậy, sử dụng pháp luật rộng hơn và bao hàm tuân thủ pháp luật. Hình thức này gắn với tổ chức thực hiện quy phạm pháp luật quy định hành vi được phép thực hiện. Vận dụng lý luận trên, nội dung sử dụng pháp luật bình đẳng giới là các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện trên thực tế quyền năng pháp lý của mình được pháp luật quy định nhằm biến chúng thành hành vi thực tế, hợp pháp hoặc căn cứ vào quy định cho phép của pháp luật để thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình. Nội hàm của nó gồm các hoạt động của chủ thể mang tính tích cực, chủ động, nhằm thực hiện quyền pháp lý, việc được phép làm và thuộc về quyền hạn của mình trong quan hệ với chủ thể khác một cách đúng đắn, không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Hình thức này giúp các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân biết được giới hạn hành vi mà pháp luật cho phép thực hiện, biết sử dụng pháp luật để tích cực, chủ động tham gia vào các quan hệ trong xã hội, để thực hiện quyền và yêu cầu các chủ thể khác phải tôn trọng các quyền đó. Khi giới hạn các quyền bị xâm hại, đe dọa xâm hại hoặc không được tôn trọng, họ có thể yêu cầu các chủ thể hoặc cơ quan có thẩm quyền can thiệp buộc các chủ thể phải tôn trọng. Thực hiện tốt hình thức này là bảo đảm quan trọng để các quy phạm pháp luật cho phép được thực hiện trên thực tế.

2.3.2. Đánh giá chung

  • Kết quả đạt được

Nhìn chung, công tác bình đẳng giới đã nhận được sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương. Bình đẳng giới đã dần trở thành nội dung xuyên suốt trong triển khai hoạt động trên tất cả các lĩnh vực đời sống chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội với nhiều thành tựu nổi bật được quốc tế đánh giá và ghi nhận. Nghiên cứu, phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ thúc đẩy bình đẳng giới, trong đó tập trung tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế như: Mô hình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, khởi sự và phát triển doanh nghiệp theo mô hình chuỗi giá trị sản phẩm; mô hình “Vận dụng các nguyên tắc trao quyền cho phụ nữ trong thực hiện bình đẳng giới” tại doanh nghiệp để hướng dẫn cách thức trao quyền cho phụ nữ trong kinh doanh, từng bước nâng cao khả năng canh tranh góp phần cho sự phát triển bên vững của doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu về các chuẩn mực quốc tế, trong đó có tiêu chuẩn lao động; mô hình Câu lạc bộ nữ công nhân nhà trọ tại khu công nghiệp, khu chế xuất để tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận tốt hơn các thông tin, dịch vụ công và tham gia các hoạt động đoàn thể tại nơi cư trú.

Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó trọng tâm là hoạt động tổ chức thành công Diễn đàn phụ nữ và kinh tế APEC 2017. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Kết quả thực hiện bình đẳng giới trong thời gian qua đã góp phần tích cực vào việc thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDGs) và những khuyến nghị của ủy ban về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (ủy ban CEDAW).

Công tác xây dựng thể chế, chính sách về bình đẳng giới có tiến bộ, hệ thống văn bản pháp luật về bình đẳng giới tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý đảm bảo cho việc thi hành Luật. Công tác lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được quan tâm thực hiện với số lượng các dự án luật, nghị định và văn bản quy phạm pháp luật được lồng ghép vấn đề bình đẳng giới tăng dần qua từng năm

Công tác truyền truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới được triển khai rộng khắp từ trung ương tới địa phương bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, góp phần chuyển đổi nhận thức, hành vi của các cấp, các ngành, đơn vị và người dân trong thực hiện bĩnh đẳng giới ngày một tốt hơn.

Mặc dù năm 2002 Thủ tướng Chính phủ mới phê duyệt và ban hành Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 nhưng dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Ban vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi tổ chức thực hiện Chiến lược thông qua KHHĐ ở 2 giai đoạn ( 2006- 2010 và 2011-2015).

Bên cạnh đó cùng với các hành lang pháp lý về bình đẳng giới của Chính phủ, sự ra đời của Nghị quyết số 11-NQ-TW của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ngãi ban hành Chương trình hành động số 17/CTr -TƯ về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản dưới luật như Nghị định số 70/2008/NĐ-CP, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP; Nghị định số 55/2009/NĐ-CP.. .và các chương trình phối hợp liên ngành nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực.

Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Ban Vì sự tiên bộ của phụ nữ cấp tỉnh, huyện, thành phố dần được kiện toàn theo chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức đã góp phần giúp các cơ quan nhà nước và người dân nhận thức tốt hơn về vấn đề bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, đồng thời thấy rõ trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân nghiêm túc hơn trong việc thực hiện Luật Bình đãng giới và các Nghị định của Chính phủ, thực sự chăm lo cho công tác vi sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới mà không coi đó chỉ là trách nhiệm của Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp.

Đối với thực hiện các chỉ tiêu trong 5 mục tiêu của Chiến lược Quốc gia và cũng là thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu KHHĐ vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh, nhìn chung các địa phương, đơn vị thực hiện tương đối có hiệu quả, các chỉ tiêu về giới đã được gắn trong chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội tạo đà cho việc thực hiện Chiến lược Quốc gia và KHHĐ vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh đạt được nhiều kết quả khả quan. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật về lao động đối với lao động nữ tiếp tục được duy trì tại các ban ngành và từng đơn vị doanh nghiệp, cấp xã phường địa phương nhằm tăng cường nhận thức và trách nhiệm của lãnh đạo các cấp ngành, địa phương và doanh nghiệp trong thực hiện bình đẳng giới và chính sách đối với lao động nữ. về cơ bản địa phương đã thực hiện sáp nhập và tổ chức lại bộ phận giúp việc cơ quan thường trực bình đẳng giới,

Hoạt động hợp tác quốc tế về bình đẳng giới được đẩy mạnh trong năm vừa qua đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế trong thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vai trò của phụ nữ.

  • Hạn chế

Việc quán triệt, tổ chức triển khai công tác bình đẳng giới chưa nhận được sự quan tâm sâu sát, đầy đủ của nhiều cơ quan, đơn vị.

Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới còn nhiều hạn chế số lượng các vụ việc được phát hiện còn thấp, chưa tách riêng được số liệu xử phạt về binh đẳng giói do thường được tổng hợp chung trong số liệu xử phạt của các lĩnh vực.

Công tác thống kê về bình đẳng giới đã được quan tâm thực hiện nhưng còn gặp nhiều khó khăn, số liệu đánh giá thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đắng giới được thu thập từ số liệu báo cáo thống kê nhưng một số Bộ, ngành, địa phương chưa chấp hành nghiêm túc chế độ thống kê, báo cáo, chưa ban hành chế độ báo cáo thống kê cấp cơ sở. Một số chỉ tiêu thống kê mang tính định tính, không phù hợp với thực tiễn.

Đội ngũ cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới còn rất ít về số lượng, hạn chế về chất lượng dẫn đến khó khăn trong tham mưu và triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại cả cấp Trung ương và địa phương công tác hoạt động bình đẳng giới còn mỏng (nhất là tại các địa phương) nên chưa thực sự phát huy được vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc tham gia đánh giá về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật và các chương trình, dự án khác.

Kinh phí triển khai các hoạt động hạn hẹp chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao và bố trí muộn dẫn đến việc triển khai các hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý gặp nhiều khó khăn, không chủ động.

  • Một là, do hạn chế của hệ  thống pháp luật hiện hành về bình đẳng giới.

Mặc dù đã có cơ sở pháp lý và chính sách đảm bảo bình đẳng giới, tuy nhiên hệ thống pháp luật hiện hành về bình đẳng giới vẫn còn những hạn chế nhất định. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những nhược điểm trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Quảng Ngãi và không chỉ riêng Quảng Ngãi là hầu hết quy định trong các văn bản luật liên quan đến bình đẳng giới trên lĩnh vực chính trị đều không bị ràng buộc bởi các điều khoản chế tài nếu như không thực hiện hoặc thực hiện không đúng mức, không đạt chỉ tiêu pháp lệnh. Chẳng hạn nếu Quảng Ngãi không đạt chỉ tiêu pháp lệnh 30% nữ đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố đã nêu trong Chiến lược Quốc gia Vì Sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam (nay là Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới) thì cũng không bị luật pháp chế tài gì cả. Chính vì vậy nên thời gian qua hầu như không đặt ra yêu cầu kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân của cả hệ thống chính trị trong quá trình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị để kịp thời đôn đốc, chấn chỉnh các trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng mức, không đạt chỉ tiêu pháp lệnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

  • Hai là, do hạn chế về năng lực quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

Năng lực thể chế của các tổ chức, cơ quan chức năng về quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật bình đẳng giới chưa đủ mạnh và thiếu hệ thống, đặc biệt là trong các lĩnh vực thu thập thông tin, phân tích giới, báo cáo và giám sát công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong các lĩnh vực. Nhiều địa phương không bố trí được cán bộ chuyên trách mà chỉ bố trí cán bộ kiêm nhiệm làm công tác bình đẳng giới. Hiện nay, các chỉ số đánh giá về tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới thường chỉ tập trung vào đo lường hiện trạng bất bình đẳng giới, ví dụ: tỷ lệ phụ nữ trong cấp ủy, Hội đồng nhân dân các cấp,… mà thiếu chỉ sổ giám sát và đánh giá quá trình vận động, thực hiện quy phạm pháp luật về bình đẳng giới để hướng tới đạt được bình đẳng giới thực chất và bền vững trong mọi hoạt động đời sống xã hội.

  • Ba là, nhận thức của cộng đồng, xã hội và gia đình.

Cộng đồng xã hội và gia đình vẫn còn nặng nề tư tưởng trọng nam khinh nữ, vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội bị coi nhẹ, cách nhìn nhận về phụ nữ trong tham gia các hoạt động, lĩnh vực vẫn còn hẹp hòi.

Công tác tuyên truyền, giáo dục về giới và bình đẳng giới chưa thường xuyên, sâu rộng, chưa sát với đối tượng. Các cấp, các ngành, đoàn thể chưa có sự quan tâm đúng mức về vấn đề này. Nhận thức của phụ nữ về quyền lợi của mình còn nhiều hạn chế, nhất là phụ nữ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

  • Nguyên nhân và kinh nghiệm đúc kết

Trước hết, phải nói đến vai trò cấp lãnh đạo. chỉ đạo của địa phương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã ban hành các văn bản lãnh đạo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, từ đó nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và xã hội về bình đẳng giới ngày càng được nâng lên. Việc lồng ghép các nội dung bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được các ngành, các địa phương chú trọng;

Cho đến nay, chưa có một văn bản nào của Chính phủ về thể chế hóa chủ trương của Đảng về quy hoạch phát triển cán bộ nữ trong phạm vi tổng thể toàn quốc – thậm chí trong phạm vi tổng thể toàn tỉnh/thành phố – về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và đề bạt cán bộ nữ trên cơ sở bình đẳng với nam giới, có tính đến điều kiện về giới. Một số chính sách cán bộ nữ trước đây còn nặng về huy động và khai thác sự đóng góp của phụ nữ chứ chưa chú ý đến trách nhiệm phải bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ. Ngoài ra chúng ta đang thiếu những chính sách cụ thể trong chiến lược xây dựng quy hoạch, đào tạo – bồi dưỡng, sử dụng và đề bạt cán bộ nữ cho phù hợp với từng ngành nghề cũng như thiếu chính sách giảm gánh nặng gia đình cho phụ nữ, nói khác đi là thiếu một hệ thống chính sách kinh tế – xã hội đồng bộ cho phụ nữ.

Các văn bản quy định về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ còn rời rạc, tản mạn; chưa có bộ luật hay văn bản nào quy định riêng về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ. Điều này dẫn đến việc thực thi các văn bản pháp luật không hiệu quả, hay nói cách khác, tính khả thi và hiệu lực của các văn bản pháp luật liên quan đến quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ cần được xem xét thêm.

Công tác triển khai, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị thực sự chưa đạt hiệu quả, chưa phù hợp với từng đối tượng tham gia, chưa đều khắp đối với tất cả đối tượng cần thiết, mới chủ yếu tập trung ở bộ phận cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ và cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Do tư tưởng trọng nam khinh nữ ăn sâu trong nếp nghĩ của đại bộ phận dân cư. Quan niệm nho giáo cho rằng phụ nữ phải tuân theo các quy tắc của “tam tòng, tứ đức”. Tam tòng: Tại gia tòng phụ; Xuất giá tòng phu; Phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) và tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh (giỏi nữ công gia chánh nghĩa là Công, giữ gìn dung nhan đẹp đẽ cho chồng nghĩa là Dung, ngôn từ dịu dàng gọi là Ngôn, giữ gìn trinh tiết cho chồng gọi là Hạnh). Nho giáo cho rằng phục vụ vô điều kiện cho nam giới là chức năng, nhiệm vụ, thiên chức của phụ nữ. Những quan niệm và nguyên tắc này đã cột chặt cuộc đời người phụ nữ vào cái xiềng của gia đình ngay cả khi chồng của họ đã chết. Đó là quan điểm “chồng chúa, vợ tôi” rất phổ biến trong xã hội Việt Nam thời phong kiến. Thời đại ngày nay, người phụ nữ đã được giải phóng và được coi trọng hơn nhiều so với thời phong kiến, họ được tham gia vào các công việc xã hội, được làm các công việc như nam giới như: Làm ruộng, buôn bán, làm dịch vụ, làm khoa học,.. Tuy nhiên khi tham gia các công việc gia đình cũng như xã hội phụ nữ vẫn luôn gặp phải các rào cản và một thái độ kìm hãm phụ nữ, đó là sự không thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình và của người chồng trong việc nhà, việc chăm con, là sự không công nhận tài năng của phụ nữ, không tin vào khả năng lãnh đạo của phụ nữ.

  • Thứ hai, do sự tự ti và ỷ lại không muốn vươn lên cũng là một rào cản trong thực hiện bình đẳng giới.

Công việc gia đình vẫn được coi là công việc không được trả công và phần lớn đều do phụ nữ đảm nhiệm. Khác với nam giới, phần lớn phụ nữ cho rằng đạt được thành tích hoặc chức vụ lãnh đạo là tốt nhưng không đạt được cũng không sao, nhưng chăm sóc một gia đình êm ấm, hạnh phúc là trách nhiệm của họ. Để “êm cửa êm nhà” một số phụ nữ cứ âm thầm chịu đựng, hy sinh nên nhẫn nhục, không dám đấu tranh với cả những điều vô lý nhất. Đứng trước sự nghiệp và gia đình họ thường chọn gia đình, nhiều chị em sau khi xây dựng gia đình đã thôi việc ở cơ quan để về chăm sóc gia đình. Khác với nữ giới, nam giới có thể thanh thản cống hiến cho sự nghiệp của mình với hậu phương vững chắc là đã có vợ chăm sóc gia đình. Định kiến giới, phong tục tập quán ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng làm việc của phụ nữ. Cũng bởi những định kiến này phụ nữ thường hay tự ti, cứ nghĩ rằng chắc là mình không làm được việc, chị em có tâm lý an phận, không có ý chí tiến thủ, tạm chấp nhận với hoàn cảnh và điều kiện hiện tại, không có tinh thần phấn đấu vươn lên khẳng định vai trò và vị trí của mình. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp, người lãnh đạo điều hành, có ý nghĩ việc này giao cho nam giới làm sẽ tốt hơn phụ nữ. Điều đó dẫn đến việc thực thi pháp luật bình đẳng giới khó khăn nhất là việc thực hiện bình đẳng giới trong học tập.

  • Thứ ba, do công tác tuyên truyền pháp luật. Nhiều quy định bình đẳng giới chưa được phụ nữ biết đến nhất là phụ nữ vùng sâu, vùng xa, phụ nữ nghèo. Đó là do công tác tuyên truyền pháp luật còn mang nặng tính hình thức, chưa gắn với thực tiễn.
  • Thứ tư, do thực hiện pháp luật bình đẳng giới chưa nghiêm.

Tuy có chuyển biến về nhận thức nhưng kết quả chưa cao một số cán bộ lãnh đạo các cấp còn ngại đi tập huấn nâng cao nhận thức giới, về công tác vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới, dẫn đến việc chỉ đạo triển khai còn nhiều lúng túng, thiếu sâu sát có nơi coi công tác này không phải là công tác trọng tâm của chính quyền. Cán bộ lãnh đạo nhiều nơi xem nhẹ việc tập huấn nâng cao nhận thức giới, về công tác vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới, dẫn đến việc chỉ đạo triển khai còn nhiều lúng túng, thiếu sâu sát, có nơi coi công tác này không phải là công tác trọng tâm của chính quyền. Nhiều chính sách, chủ trương đề ra nhưng việc kiểm tra quá trình thực hiện chưa triệt để, chỉ dựa vào báo cáo, mặt khác các báo cáo phản ánh chưa đầy đủ. Chương trình công tác hàng năm triển khai còn chậm. Công tác kiểm tra hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới chưa thường xuyên.

Khi xây dựng các KHHĐ còn mang tính hình thức, các chỉ tiêu đề ra cao và đề ra quá nhiều chỉ tiêu, nhưng biện pháp và tồ chức thực hiện thiếu đồng bộ giữa các Sở, ban, ngành, địa phương và sự chỉ đạo của Thương trực Ban dẫn đến tính khả thi không cao, thêm vào đó là thiếu hệ thống số liệu tách biệt giới.

Công tác VSTBPN mang tính liên ngành do đơn vị quản lý nhà nước làm thường trực Ban nhưng thiếu tính nhạy bén, tính chủ động và thiếu sự hợp tác giữa các cơ quan nên chưa đáp ứng yêu cầu của công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 2 của luận văn tập trung phân tích thực trạng thực hiện pháp luật bình đẳng giới trên các lĩnh vực: Chính trị; kinh tế; lao động việc làm; y tế; văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao và trong gia đình. Qua đó, cho thấy thực hiện pháp luật về bình đẳng giới rất đa dạng, phong phú; pháp luật bình đẳng giới đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và nam giới, vì lợi ích cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Tuy nhiên, còn nhiều tồn tại, bất cập trong xây dựng và tổ chức thực hiện, đòi hỏi cần phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật về thực hiện bình đẳng giới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, của nhân dân cũng như nhu cầu của phụ nữ trong tình hình mới.

Bảo đảm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó thể hiện vai trò và vị trí của người phụ nữ được nhìn nhận như thế nào trong xã hội. Sự tiến bộ của phụ nữ trên mọi mặt nhất là lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, học tập, lao động là thước đo trình độ phát triển của xã hội. Cùng với các vấn đề khác, các điểm kết luận sơ bộ trên đây sẽ được giải quyết trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464